|
c
Lô
Sơn Chân Diện Mục
Tuệ
Sỹ
3
Sách Tục
Truyền đăng lục chép:
Dòng thiền
Huệ Năng, đời thứ 14, pháp tự của Đông Lâm Chiếu Giác
Thường Tổng thiền sư: Nội hàn Tô Thức cư sĩ.
Nội hàn,
Đông Pha cư sĩ, Tô Thức, tự Tử Chiêm. Nhân ngủ đêm tại
chùa Đông lâm (trên Lô sơn), cùng với Chiếu Giác luận về
đề tài "vô tình", rồi tỉnh ngộ. Sáng ra, làm bài kệ trình
sư:
Khê thanh
tiện thị quảng trường thiệt
Sơn sắc
khởi phi thanh tịnh thân
Dạ lai
bát vạn tứ thiên kệ
Tha nhật
như hà cử tợ nhân
Suối reo
vẫn Pháp âm bất tuyệt
Màu non
kia Chân thể Như lai
Đêm đó
tám vạn bốn nghìn kệ
Ngày sau
nói lại làm sao đây?
Ít lâu sau,
đến Kinh nam. Nghe đồn thiền sư Ngọc Tuyền Thừa Hạo, biện
luận sắc bén đụng không nổi. Ông mới thay đổi y phục,
trá hình tìm đến xin ra mắt. Hạo hỏi:
- Tánh danh
của tôn quan?
Ông đáp:
- Tôi tên
Cân; tức là Cân hết thảy các cái Cân trưởng lão trong thiên
hạ.
Hạo hét
lên một tiếng, rồi hỏi:
- Nặng bao
nhiêu?
Ông không
đáp được. Rồi từ đó khâm phục.
Về sau, qua
Kim sơn; ở đó có bức chân dung của Ông. Ông đề giỡn vào
đó:
Tâm tợ
dĩ hôi chi mộc
Thân như
bất hệ chi châu
Vấn nhữ
bình sinh hà nghiệp
Hoàng
châu Quỳnh châu Huệ châu
Tâm như
than củi tro tàn
Thân như
thuyền lỏng theo ngàn nước trôi
Hỏi ông
công nghiệp một đời
Hoàng
châu, Quỳnh, Huệ, những ngày những năm..
Hoàng châu,
Quỳnh châu, Huệ châu, vân vân châu; những đoạn đường
đày ải hình hài; những ngày tháng đoạn trường khổ luî.
Cuộc đời Ông như một con thuyền buông lỏng, thả trôi cho
nước cuốn. Nhưng cuộc thơ của Ông thì sao: khổ lụy? Phiêu
bồng? Đọa đày? Viễn mộng? Đâu là chân tướng, chân thể,
chân tâm? Chân diện mục của Lô sơn, không phải là dễ thấy.
Ông bị biếm
trích ở Hoàng châu, rồi sau qua Tứ châu; 51 tuổi, được
ân xá, chiếu hồi về triều. Cuộc đời ông bây giờ sẽ
bắt đầu một đoạn đường danh vọng tột cùng. Sau năm
năm trường đày ải, trên đường trở về triều, ngang qua
Tiền đường, Ông gặp Dương Kiệt. Dương Kiệt, tự Thứ
Công, hiệu Vô Vi cư sĩ, bấy giờ đang làm quan ở bộ Lễ.
Kiệt vâng mạng triều đình hộ tống vương tử Triều tiên,
đạo hiệu Nghĩa Thiên tăng thống, đi du lãm các danh thắng
vùng đất Giang nam. Ông làm bài tiễn Dương Kiệt và tự viết
lời dẫn cho bài thơ:
" Vô Vi cư
sĩ đã có lần phụng sứ lên Thái sơn tuyệt đỉnh, được
thấy mặt trời lúc gà bắt gáy nửa đêm. Lại đã có lần
hữu sự ngang qua Hoa sơn, ngày trùng cửu (ngày lễ hoa cúc,
mồng 9-9), uống rượu trên ngọn Liên hoa phong. Nay Ông lại
phụng chiếu cùng Tăng thống Cao ly sang chơi Tiền đường.
Tất cả đều là do vương sự mà lại được cái vui thế
ngoại. Quả là kỳ diệu, chưa từng có."
Lời dẫn
hé cho thấy một góc trời trong cõi thi ca của Ông; một góc
cạnh nào đó của Lô sơn chân diện mục. Cuộc chơi trong
cõi mộng của thi ca còn có phong độ phiêu bồng của những
cuộc giao tình phương ngoại; cuộc giao tình với ngoài kia
những phương trời diệu vợi. Lô sơn hùng vĩ, phiêu bồng,
nhưng u ẩn. Lòng núi dấu kín những tâm sự nghìn năm không
nói; lòng núi ủ kín những cuộc đời trầm mặc; những thân
thể khô gầy như hạc như trúc, những tâm hồn nguội lạnh
như tro tàn mùa đông. Núi âm thầm, cho gió ngàn gào thét,
cho mây trời vần vũ, và những dòng thác từ trên tuyệt đỉnh
cao mà mù đổ ào xuống. Lô sơn đồng vọng một cõi thi ca
bát ngát. Cõi thi ca trùng trùng điệp điệp những ẩn ngữ
kỳ diệu. Khách phàm trần bươn bả, thuyền đỗ bến Bành
lãi hay Tầm dương, chỉ thấy đó là một cõi đẹp của khói
mờ sương phủ; chỉ thấy đó là một bầu trời trong chiều
tà rồi nắng quái, trong nắng quái rồi chiều tà. Làm sao
thấy và nghe những tình tự u trầm trong đó? Hoặc u trầm,
hoặc cuồng nộ, Lô sơn có thiên hình vạn trạng. Những chiếc
nón hoàng quan của đạo sĩ, những chiếc áo phá nạp của
thiền tăng; đầu này vẳng tiếng Huỳnh đình, đầu kia dội
tiếng chuông triêu mộ. Nhữnng hình bóng và những âm hưởng
đó, từ thế kỷ này đến thế kỷ khác, bên dòng lịch sử
trường mộng của nhân sinh đổ ầm xuống; có những cuộc
thi gan tuế nguyệt diễn ra trong lạnh lùng, cô tịch. Ngày
và đêm, đày đọa hình hài và tâm não, đứng trơ vơ, kinh
đảm hãi hùng, trên chiếc cầu độc mộc, bắc ngang qua ghềnh
sinh tử. Phương ngoại là cõi của ngày tháng phiêu bồng,
có trăng thanh gió mát, có nắng quái tà dương, có xuân lan
thu cúc, có đủ tất cả mọi thứ thanh nhàn, tiêu sái, phóng
dật.mà người đời mong ước. Nhưng đó chỉ là Lô sơn từ
bến Tầm dương nhìn lại, hay từ bến Bành lãi trông sang.
Xa hay gần, cao hay thấp, Lô sơn đẹp trong thiên hình vạn
trạng. Giữa lòng Lô sơn, ngày tháng u trầm trôi qua trong một
phương trời đọa đày viễn mộng. Phải chăng đây đã là
nơi sơn cùng thủy tận của một cõi thi ca bát ngát?
Từ khi bước
ngang qua:
Một vùng
cỏ mọc xanh rì
Nước
ngâm trong vắt thấy gì nữa đâu
Và từ đó
đã bước ngay vào một trường thiên lịch sử đọa đày,
khổ lụy:
Mối tình
đòi đoạn vò tơ
Giấc
hương quan luống lần mơ canh dài
Song sa
vò võ phương trời
Nay hoàng
hôn đã lại mai hôn hoàng
Tình cố
quận, tình tha hương, trong những ngày lưu lạc, và chân trời
phương ngoại cho những ngày tháng tiêu dao, hồn thơ bay cao
vút đến mấy vạn trời mây, vẫn còn đồng vọng Lô sơn;
một chiếc cầu độc mộc cheo leo, bắc ngang qua bên này và
bên kia, hai bên bờ của một cõi sống và chết, mà bên dưới
là vực thẳm tuyệt mù, dội lên những ẩn ngữ kỳ lạ của
dòng lịch sử kinh hoàng, trôi ào ạt trong cái lặng lẽ vô
thanh vô tức. Ẩn ngữ cùng tuyệt của thi ca đồng vọng từ
đó, hay từ đâu? Lô sơn đẹp trong thiên hình vạn trạng,
và chân diện mục của Lô sơn ra sao?
Ông viết
về Sâm Liêu Tử, một người bạn trong mối giao tình thi ca,
và trong cuộc giao tình phương ngoại:
"Đông Pha
cư sĩ nói: Thưa! Sâm Liêu Tử, có cái thân lạnh mà đạo
giàu. Văn thì rành rõi mà nói năng chậm chạp. Bên ngoài mềm
nhũn mà bên trong cứng cỏi. Đối với người thì không ganh
đua mà đối với cái quấy của bạn bè thì hay châm chọc.
Hình khô tâm tro lạnh mà thích nói lời cảm khái với thời,
thưởng ngoạn với vật, và không thể vong tình. Đó là chỗ
mà tôi gọi là Sâm Liêu Tử có năm điều không thể hiểu."
Xưa kia, Lý
Bạch cũng có một người bạn tên Sâm Liêu Tử. Đông Pha
cũng có một người bạn như vậy. Sâm Liêu Tử của Đông
Pha là biệt hiệu của tăng Đạo Tiềm, một sư tăng tu ở
Tiền đường. Đạo Tiềm rất sính thơ. Trước khi Đông Pha
đáo nhiệm Tiền đường hai người đã biết nhau, qua giấc
mộng. Nên khi tới Tiền đường, Đông Pha liền đi tìm gặp
ngay Đạo Tiềm, rồi viết Ứng mộng ký (?). Hai người
qua lại và làm thơ với nhau. Thơ của họ được khắc nhiều
nơi các vách đá trong vùng Giang Triết.
Năm nguyên
hựu thứ 6 (1091), từ Tiền đường, Ông được lịnh gọi
trở về triều, Ông để lại bài tưø, theo điệu "Bát
thanh cam châu", tặng Sâm Tiêu Tử:
Hữu tình
phong vạn lý quyển triều lai,
Vô tình
tống triều qui.
Vấn Tiền
đường giang thượng,
Tây hưng
phố khẩu,
Kỷ độ
tà huy.
Bất dụng
tư lương kim cổ,
Phủ ngưỡng
tích nhân phi,
Thùy tợ
Đông pha lão,
Bạch
thủ vong ky.
Ký thủ
Tây hồ tây bạn,
Chánh
xuân sơn hảo xứ
Không
thúy yên phi.
Toán thi
nhân tương đắc,
Như ngã
dữ quân hi.
Ước
tha niên đông hoàn hải đạo,
Nguyện
Tạ công nhã ý mạc tương vi.
Tây châu
lộ,
Bất ưng
hồi thủ,
Vị ngã
triêm y.
Hữu tình
thì ngọn gió từ một vạn dặm cuộn sóng tới. Vô tình thì
đưa con sóng trở về. Thử hỏi, trên sông Tiền đường,
và phố khẩu Tây hưng, qua mấy độ tà hy? Không kể gì kim
hay cổ; cúi và ngửa, thấy người xưa đã khác. Xem chừng
lão Đông Pha, đầu bạc dửng dưng đời.
Nhớ lấy
cảnh bờ tây của Tây hồ, sắc xuân lồng lộng, trời xanh
thăm thẳm, khói mưa mù. Người thơ tương đắc, như tôi với
ngài, phỏng được bao nhiêu? Hẹn sang năm, vượt bỏ dặm
ngàn trở lại đây, giữ mãi tấm lòng hoài vọng không bao
giờ thôi. Đường Tây châu, đừng có quay đầu, vì tôi mà
đẫm áo.
Đó là cuộc
giao tình tương đắc của những người bạn thơ. Ngoài cuộc
đó, còn là cuộc giao tình phương ngoại. Phương ngoại du,
là cuộc chơi của những mặt công hầu rám nắng, trong một
thuở tạm thời rửa mặt đi bàn chuyện Không hư, bàn cái
Không và cái Hữu của tử sinh trường mộng. Thì ở đó,
một tấm lòng thơ đã mở ra bao trùm cả hai cõi. Lời thơ
sẽ lai láng cho tình thơ nồng nàn. Lời thơ sẽ điềm đạm
cho trời thơ nghiêm nghị. Lời thơ sẽ phiêu bồng cho trời
thơ lãng đãng. Lời thơ sẽ ngậm ngùi cho trời thơ cô tịch.
Lời thơ sẽ cay đắng cho trời thơ đày đọa. Lời thơ vần
vũ, và trời thơ trùng trùng điệp điệp bao la. Làm sao để
mở rộng tấm lòng của mình cho thành tấm lòng của trời
thơ lồng lộng, nhìn thẳng vào chân diện mục của Lô sơn,
ba mươi sáu ngọn núi xanh cao ngất?
Thơ Ông tiễn
Đạo Tiềm nói:
Thượng
nhân học Khổ Không
Bách niệm
dĩ hôi lãnh
Kiếm
đầu duy nhất quyết
Tiều
cốc vô tân dĩnh
Hồ vi
trục ngã bối
Văn tự
tranh ủy bính
Tân thi
như ngọc tiết
Xuất
ngữ tiện thanh kỉnh
Thối
Chi luận thảo thơ
Vạn sự
vị tường bính
Ưu sầu
bất bình khí
Nhất
ngụ bút sở sính
Phả quái
Phù đồ nhân
Thị thân
như khâu tỉnh
Đồi
nhiên ký đạm bạc
Thùy dữ
phát hào mãnh
Tế tư
nãi bất nhiên
Chân xảo
phi ảo ảnh
Dục linh
thi ngữ diệu
Vô áp
Không thả Tĩnh
Tĩnh cố
liễu quần động
Không
cố nạp vạn cảnh
Duyệt
thế tẩu nhân gian
Quán thân
ngọa vân lĩnh
Hàm toan
tạp chúng hảo
Trung hữu
chí vị vĩnh
Thi Pháp
bất tương phương
Thử ngữ
đương cánh thỉnh
Đó là một
bài thơ, hay một bài văn luận về phép làm thơ, gọi nó là
thế nào cũng được. Lô sơn có thiên hình vạn trạng, nhìn
ngang hay nhìn dọc, tùy. Ông nói, đại khái như thế này:
Thượng nhân
học về cái lẽ Khổ Không; một trăm thứ niệm tưởng đã
là tro lạnh hết. Cũng tợ thể vung lưỡi kiếm một cái là
y như gió thổi chẻ hạt thóc lép, không còn chút bụi cám.
Tại sao ngài lại phải chạy theo bọn tôi, tranh đua cái vẻ
rực rỡ của văn tự? Bài thơ bọn tôi mới làm, nó đẹp
như tán vụn viên ngọc lóng lánh; lời thơ vừa ra là đã
trong veo kỳ lạ. Hàn Thối Chi (Hàn Dũ) luận cách viết chữ
thảo, mà chưa hề bỏ bê mọi việc. Cái u sầu, cái khí bất
bình, nội một nét bút là hàm tất cả.
Lạ thay,
những người đi tu Phật, coi thân này như là gò, như là giếng,
chật hẹp và tù túng, nên chịu cảnh đạm bạc trơ vơ, thì
đi bộc bạch cái hào, cái mãnh với ai?
Tuy nhiên,
suy nghĩ kỹ thì không phải thế. Cái ảo diệu không phải
là cái ảo ảnh. Muốn cho lời thơ tuyệt diệu, thì phải
là đừng gò ép, vừa Không và vừa Tĩnh. Tĩnh cho nên thâu
tóm hết mọi vọng động. Không cho nên bao hàm vạn cảnh.
Ngắm nhìn sự đời, bôn ba giữa đời, mà thấy mình như
nằm trên chóp đỉnh mây cao. Đủ hết các thứ mặn nồng,
chua chát; trong đó có cái hương vị tuyệt vời.
Thơ và Pháp
(Đạo) không chống trái nhau, không hại nhau. Cái đó lại
nhờ Thượng nhân hạ quyết.
Nhờ hạ
quyết? Không nhờ, cũng đã quyết. Người học Thiền, học
từ cái khổ đau, hư ảo; học cho thân tâm ra là thứ tro tàn
nguội lạnh. Học như thế là học để mà đọa đày. Sở
đạt của sở học đó, là buông thả, hóa thành cái Không
và trở thành cái Tĩnh. Buông thả, thì không câu chấp, không
còn bị ràng buộc. Cũng tiêu dao như hồn thơ thoát sái và
lãng mạn. Tâm Tĩnh, thì trầm lặng như mặt nước không gợn
sóng, phản chiếu trọn vẹn ngoại cảnh. Tâm Không, thì Tâm
rộng như mặt biển bao la, dung nạp tất cả ngân hà tinh đẩu.
Người học Thiền chịu đọa đày cho thân mình gầy, cho tâm
mình nguội, trong đó có cái diệu dụng phi thường của nó.
Người làm thơ, cuộc đời bị đày ải truân chiên, trong
đó cũng có cái ảo diệu của vị chua, vị mặn. Suốt đời
học Thiền; suốt đời vẫn đày đọa thân tâm; đày đọa
trong cái Không và cái Tĩnh. Đày đọa đó, mà kỳ thực không
là đày đọa. Cũng vậy, suốt đời làm thơ, thì suốt đời
khổ lụy lao đao; nhưng không là khổ lụy lao đao. Chỗ ảo
diệu đó, chưa đạt đến cõi thượng thừa của thi ca, làm
sao hiểu nổi?
Nhưng, ai
nói người học Thiền phải chịu đày đọa thân tâm? Họ
nhàn hạ, họ thong dong, họ tiêu sái; họ lãng đãng như Lô
sơn thấp thoáng giữa mây trắng và sương mù. Tuy nhiên như
thế, nhưng ai quyết rằng tâm hồn đó trầm mặc như nước
hồ không dao động? Giữa lòng Lô sơn, giải Ngân hà trên
bầu trời cô tịch không ngừng đổ xuống ầm ầm như sấm
sét.
Thi sĩ và
Thiền sư cùng lao đao, và cùng tiêu sái, trong cùng một cõi
trầm mặc phiêu bồng, vừa Không vừa Tĩnh. Ngọc đường
kim mã hay Giang bắc Giang nam; lão thần nghinh ngang nơi ngọc
đường kim mã, hay lão thần cô quạnh nơi Hoàng châu, Huệ
châu., đày ải hay không đày ải, hồn thơ vẫn điềm đạm
bao la trong trời thơ huy hoàng bát ngát.
Thế thì,
cái chỗ đọa đày viễn mộng nghe chừng như là phải kinh
hoàng táng đảm, nó làm cho đất liền cũng trở thành sa mạc,
với nóng cháy và với gió rét kinh hồn. Thế mà lại khác
hẳn. Đó là cõi Không Không và Tĩnh Tĩnh, cõi của mây trời
trên đỉnh núi. Khách phàm trần chưa bước tới nổi, nên
cứ tưởng là nơi khổ lụy tột cùng, hoặc huy hoàng tráng
lệ. Cả hai, vừa phải vừa không phải. Lô sơn có thiên hình
vạn trạng. Cõi thơ có trùng trùng ẩn ngữ.
Đạt tới
cõi thượng thừa của Thơ, như người học Thiền chứng chỗ
Không tịch của Đạo; cái đó vừa khó vừa dễ. Học Thiền
ba mươi năm, 30 năm đày đọa thân tâm, mà không thành. Phẫn
chi, bỏ đi; bất chợt thấy một cánh hoa rơi, cõi Không tịch
cũng hoát nhiên, đột ngột mở ra. Chỗ ảo diệu đó, khó
giảng cho thông. Cho nên, không thể nào lấy tay chỉ thẳng
vào cõi Thơ, rồi bảo đây là chân diện mục của nó. Nói
được một cách dễ dãi, hay không dễ dãi, như thế chẳng
khác nào đàn bà con nít cũng biết giảng chỗ ảo diệu của
Ngộ Thiền. Ông viết trong bài bạt của khắc kinh Lăng già
như thế này:
". chỉ lấy
theo chỗ giản tiện; được một câu kinh, một bài kệ, tự
cho là liễu chứng. Cho đến cả bọn đàn bà, con nít, dong
tay cười giỡn, đua nhau bàn bạc hương vị Thiền. Kẻ cao
thì vì danh, kẻ thấp thì vì lợi. Cái dư ba mạt lưu đó
không đâu không chảy tới. Mà cái vi diệu cảu Phật pháp
đã mất rồi. Chẳng khác nào thầy làng quê mùa. (may mà chữa
lành bịnh nhẹ)."
đại khái,
nơi cõi Thiền cũng có cái khó phân biệt Chân và Ngụy. Cõi
thơ há lại không? Nhưng chỉ thẳng vào chỗ đó, không thể
được. Nó không phải là chỗ dị đồng giữa con chó và
con cọp, hay giữa cọp thực và cọp giấy.
Quả nhiên,
điều thấy rõ là Ông đã giảng giải thế nào là Thơ, và
thế nào là Thiền. Và cũng thấy rõ là trong đó có chỗ đồng
và chỗ dị. Nhưng chỉ thẳng vào những chỗ đó, thiên nan
vạn nan.
Có thể đọc
lại bài thơ Ông tặng Đạo Tiềm, đã dẫn ở trên kia. Bài
thơ:
Vị văn
Lô nhạc đa chân ẩn
Cố tựu
cao nhân đoạn túc phan
Dĩ hỉ
Thiền Tâm vô biệt ngữ
Thượng
hiềm thế phát hữu thi ban
Dị đồng
mạc vấn nghi tam ngữ
Vật ngã
chung đương phó bát hoàn
Đáo hậu
dữ quân khai bắc hộ
Cử đầu
tam thập lục thanh sơn.
TÔ ĐÔNG
PHA
"Những Phương
Trời Viễn Mộng"
Tuệ Sỹ
|