c
Lô
Sơn Chân Diện Mục
Tuệ
Sỹ
2
Trong những
ngày tháng bị đày ải ở Hoàng châu; ngày thiếu cơm, chiều
thiếu gạo; (ông làm ruộng), trời nắng ruộng khô, lúa mọc
không nổi; (Ông kêu trời), trời mưa thì xối xả, nhà dột
như mảng bè trôi. Ông làm một bài thơ dài gởi cho bạn.
Mấy câu đầu như sau:
Đông Pha
tiên sinh vô nhất tiền
Thập niên
gia hỏa thiêu phàm duyên
Hoàng kim
khả thành hà khả tắc
Chỉ hữu
sương bính vô do huyền
Long Khâu
cư sĩ diệc khả liên
Đàm Không
thuyết Hữu dạ bất miên
Hốt văn
sư tử Hà đông hống
Trụ trượng
lạc thủ tâm mang nhiên
.....
Đông Pha
tiên sinh không một tiền
Mười
năm đèn lửa xin hai bên
Hoàng
kim làm được sông lấp được
Chỉ có
tóc sương không chịu đen
Long Khâu
cư sĩ cũng vô duyên
Bàn Không
bàn Hữu thức suốt đêm
Bỗng
nghe sư tử Hà đông rống
Hốt hoảng
tâm thần rơi gậy thiền
.....
Bài thơ làm
gởi tặng Trần Quí Thường. Có lẽ trong số những người
bạn, Thường là người được ông mến chuộng và kính phục
nhất, về cốt cách cũng như về đời sống.
Trần Tháo
tự Quí Thường, hiệu Long Khâu cư sĩ; cũng được gọi là
Phương Sơn Tử. Đọc bản tiểu sử của Quí Thường do ông
viết cũng có thể thấy sự mến phục của ông như thế nào.
Bản tiểu sử được viết:
"Phương Sơn
Tử, người ẩn cư trong
khoảng Quang
Hoàng. Thiếu thời, hâm mộ Chu Gia và Quách Giải. Bọn hào
hiệp trong làng xóm đều qui phụ theo. Hơi lớn, biết chiều
luî người, và đọc sách; muốn lấy việc đó mà chen chân
với đời. Nhưng rồi không gặp. Đến tuổi xế, về ẩn
lánh trong khoảng Quang Hoàng, nơi chỗ gọi là Kỳ đình. Ở
nhà tranh, ăn rau trái, không giao thiệp với người đời. Bỏ
xe ngựa, vứt áo mão, đi bộ. (.)
"Tôi bị
biếm trích ở Hoàng châu, qua Kỳ đình, thì thấy. Mới kêu:
Hỡi ôi! Đó là cố nhân của tôi, Trần Tháo Quí Thường
đó. Sao lại ở đây? Phương Sơn Tử cũng kinh ngạc, hỏi
tôi tại sao đến đây. Tôi nói duyên cớ. Ông cúi đầu không
đáp; rồi ngửa lên trời mà cười. Gọi tôi ngủ lại nhà.
Tường vách xơ xác, nhưng vợ con trông chừng có vẻ thoả
ý. Tôi giật mình lấy làm kinh ngạc.
"Tự nghĩ,
Phương Sơn Tử khi thiếu thời, ưa rượu và thích kiếm, xài
tiền như đất cát. (.)
"Tôi nghe
nói trong khoảng Quang Hoàng có nhiều dị nhân, thường thường
giả bộ ngây dại, dơ bẩn, khó gặp được. Phương Sơn Tử
cũng trong hạng đó ư?"
Trong cái
được mến phục đã ẩn hiện một phần cốt cách và cuộc
đời của mình. Phần đó nằm ngoài ven trời viễn mộng.
Đông Pha
tiên sinh và Long Khâu cư sĩ, mỗi người ở mỗi ven trời,
cùng nhìn nhau qua một cõi mộng, và cũng mang những khổ lụy
hình hài như nhau. Khổ lụy của hình hài, mà lại khôi hài.
Đông Pha tiên sinh có tài làm ra vàng, có thể lấp được
sông, nhưng không thể làm cho tóc của mình đừng bạc trắng.
Long Khâu cư sĩ say sưa đạo lý thượng thừa, nhưng không
giữ nổi cây gậy của đạo đó trong tay, khi nghe tiếng sư
tử Hà đông rống:
Hốt văn
sư tử Hà đông hống
Trụ trượng
lạc thủ tâm mang nhiên
Tâm mang nhiên,
tâm sững sờ ngơ ngác, là lúc sắp tỏ ngộ, sắp hoát nhiên
đại ngộ. Thế thì, là chuyện đùa hay chuyện thật, mà chân
tướng của nó, của cõi mộng đó, ra sao? Chân diện mục
của Lô sơn không dễ gì khám phá.
Bất thức
Lô Sơn chân diện mục
Chỉ duyên
thân tại thử sơn trung
Từ thượng
cổ, Lô sơn đã quyến rũ những người tiêu dao thế ngoại.
Tương truyền, trong buổi giao thời giữa nhà Thương và nhà
Chu, trên một nghìn năm trước Tây lịch, có người tên Khuông
Tục, trốn đời, hay lánh đời, đến ẩn dưới núi, lập
nhà tranh (lô) ở đó, và sau đắc đạo tiên. Vì vậy, núi
được gọi là Lô sơn, hoặc Khuông sơn.
Đời Tam
quốc, có đạo gia Đổng Phụng chân nhân đến tu tiên và
luyện đan tại đây. Bấy giờ Thái thú Giao chỉ là Sĩ Nhiếp
mất đã ba ngày; tiên ông cho một hoàn thuốc, cạy răng đổ
vào miệng, đổ nước vào, rồi nâng đầu lên cho thuốc chạy
xuống cổ. Trong khoảng bữa cơm, nhan sắc tươi lại như thường.
Một nửa ngày, đứng dậy, đi lại được. Bốn ngày sau,
nói năng như bình thường. Đến đời đường, có Từ Tri
Chương làm bài ký cho miếu thờ của Chân nhân. Đến thời
Đông Pha, người ta vẫn còn đọc được bài ký đó.
Thời Đông
Tấn, tăng Tuệ Viễn cất am tu ở đó, nơi sườn núi bắc;
phía dưới có khe Hổ khê, nơi Tuệ Viễn dừng chân mỗi khi
tiễn khách; và trọn đời thề không bước qua khe đó. Sư
cùng mười tám người bạn cùng ẩn cư tại chùa Đông lâm,
đời sau kính trọng, gọi họ là "Đông lâm thập bát hiền".
Trải qua
nhiều đời, Lô sơn càng quyến rũ, từ đạo gia, tăng lữ,
công khanh, văn sĩ, thi sĩ, vân vân. Từ Tấn cho đến Đường,
Tống, đã có rất nhiều bài thơ lưu đề rất nổi tiếng,
từ Tạ Linh Vân, Bảo Chiêu cho đến Mạnh Hạo Nhiên, Lý Bạch,
Hàn Dũ, Bạch Cư Dị, vân vân.
Ở đây,
xin trích một ít bài để thưởng thức cảnh trí Lô sơn.
Thơ của
Mạnh Hạo Nhiên, buổi chiều thuyền đỗ bến Tầm dương,
vọng về Lô sơn:
Quải tịch
kỷ thiên lý
Danh sơn
đô vị phùng
Bạc châu
Tầm dương quách
Thủy kiến
Hương lô phong
Thường
độcViễn Công truyện
Vĩnh hoài
trần ngoại tung
Đông lâm
tinh xá cận
Nhật mộ
đản văn chung
Lang thang
mấy vạn dặm
Lô sơn
vẫn tít mù
Bến Tầm
dương thuyền đỗ
Chợt
thấy đỉnh Hương lô
Từng
đọc truyện Tuệ Viễn
Hoài mộ
gót phiêu du
Chùa đông
lâm gần đó
Sớm tối
nghe chuông đưa
Từ bến
Tầm dương, nhìn lên thấy một ngọn trong dãy Lô sơn, mây
vần vũ như khói bốc từ lò hương, ngọn núi đó gọi là
Hương lô phong.
Lý Bạch
có đến sáu bài thơ về Lô sơn. Bài được truyền tụng
rất nhiều là "Lô sơn dao", bài ca từ Lô sơn: "Ta vốn là
người cuồng nước Sở, cuồng ca cười Không Khâu. Tay cầm
gậy lục ngọc, sớm từ Hoàng hạc lâu.đi tìm khắp các núi
non, vân vân." Bài thơ đó dài quá, không tiện trích ra ở
đây. Dãy Lô sơn núi non trùng trùng, mây bay điệp điệp.
Sông hồ in bóng Lô sơn như từng chấm nốt ruồi xanh xanh
trên mặt nước trong xanh kiều diễm. Những thác nước từ
chóp đỉnh cao tuyệt mù đổ xuống, như giải Ngân hà treo
chênh vênh bên cầu Tam thạch. Từ giã sư tăng chùa Đông lâm,
Lý Bạch lưu đề bài thơ:
Đông lâm
tống khách xứ
Nguyệt xuất
bạch viên đề
Tiếu biệt
Lô sơn Viễn
Hà phiền
quá Hổ khê
Đường
đông lâm tiễn khách
Vượn
trắng gọi trăng ngàn
Chào Lô
sơn ở lại
Suối
Cọp cách hồng trần
Lô sơn ba
mặt là nước, một mặt đất liền. Trước mặt, phía nam,
là sông Trường giang đổ vào khúc Cửu giang. Phía tây là
bến Tầm dương, phía đông là bến Bành lãi. Núi có bảy
ngọn lớn chập chùng, chân núi chiếm một khoảng rộng chừng
năm trăm dặm. Cảnh trí hùng vĩ được ông ghi lại trong hai
bài thơ, vịnh hai nơi: đình Thấu ngọc chùa Khai tiên và cầu
Tam giáp chùa Thê hiền. Đại khái như sau:
Đình Thấu
ngọc, nói theo nghĩa đen của nó là đình "đánh răng". Thác
nước từ đỉnh cao chót vót đổ xuống, mà Lý Bạch nói
là trông giống như giải Ngân hà đổ xuống; thác đổ đến
phía đông chùa Khai tiên, chảy thành dòng suối; hai bên đá
nhấp nhô như những hàng răng ngọc, có lẽ vì thế mà gọi
là Thấu ngọc đình:
Cao nham hạ
xích nhật
Thâm cốc
lai bi phong
Phách khai
thanh ngọc giáp
Phi xuất
lưỡng thanh long
Loạn mạt
tán như sương
Tuyệt đàm
dao thanh không
Dư lưu hoạt
vô thanh
Khoái tả
song thạch hồng
Vân vân..
Sườn
cao tuôn nắng đỏ
Hang sâu
động gió rầu
Chẻ đôi
mõm thanh ngọc
Hai rồng
bạc đổ ào
Bọt nước
bay sương trắng
Đầm
tuyết rung trời cao
Dòng suối
tuôn lặng lẽ
Chảy
xiết qua hang sâu
......
Rồi đến
cầu Tam giáp, phía đông chùa Thê hiền. Những tảng đá trải
qua hàng vạn năm thi đua kêu gào với những dòng nước vỗ
ầm như sấm sét. Cầu bắc ngang qua một khe nước sâu hun
hút không thấy đáy. Sóng cuốn những con cá trôi nổi bập
bềnh; tiếng sóng kinh hoàng cho đếùn vượn khỉ leo lên cây
cũng rụng rời rớt xuống đất. Hơi lạnh thấm vào xương
tủy của núi. Cỏ và cây cứng, và gầy. Giữa lớp mây mù
kéo qua các hốc trống, khua lên những âm thanh như tiếng nhạc
tấu lên từ những tiếng kim tiếng thạch. Chiếc cầu uốn
cong treo lơ lửng trên suối như mảnh trăng vòng cung.
Núi non bên
trong rầm rộ với những tiếng reo hò, gào thét của thác
nước, của gió ào ạt và mây vần vũ. Nhưng ở ngoài xa,
chỉ thấy chập chùng một dãy núi, ẩn hiện mơ hồ giữa
đám mây trắng và sương mù. Thế thì, đâu là chân diện
mục của Lô sơn?
Trong thời
kỳ bị biếm trích ở Hoàng châu, ông mới có dịp lên dạo
Lô sơn. Ông nói, khi mới đến Lô sơn, thấy cảnh núi non
thanh kỳ tú lệ, quả là điều mơ ước được thấy từ
trước. Tăng và tục trong núi thấy ông, ai cũng nói: "Tô Tử
Chiêm đến rồi đó".
Ông tự cho
là mình có duyên rất đậm đà với Lô sơn. Trước ngày ông
đến, ngài viện chủ Viên thông thiền viện đã được báo
mộng; cho đến chiều hôm sau thì ông lên. Sư nói: "Hôm qua
nằm mộng thấy bửu cái bay xuống, chỗ đó liền có lửa
cháy sáng lên. Há không là điềm báo tốt đẹp cho ngày hôm
nay sao?" Ông cảm động, làm tặng ngài viện chủ một bài
thơ thất luật, có hai câu 5 và 6 như sau:
Tụ lý bửu
thơ do vị xuất
Mộng trung
phi cái dĩ tiên truyền
Bửu thơ
trong tay áo chưa lôi ra, mà bửu cái từ trời đã bay xuống
báo mộng trước.
Ông ghé lại
đề thơ nơi sơn phòng của Lý Thường, tại Bạch thạch tăng
xá. Lý Thường, tự Công Trạch, vốn là bạn của ông Thường
trước khi ra làm quan, đọc sách tại đây. Sách vở chất
chứa hàng vạn quyển. Sau khi Thường ra làm quan, chỗ đó
được dọn thành thư viện, lấy tên là "Lý thị sơn phòng".
Ông có viết bài ký cho sơn phòng này. Ông lưu đề tại đây
một bài thơ tứ tuyệt.
Ngẫu tầm
lưu thủ thượng thôi ngôi
Ngũ lão
thương nhan nhất tiếu khai
Nhược kiến
Trích tiên phiền ký ngũ
Khuông sơn
đầu bạch tảo qui lai
Ông nói,
ngẫu hứng lần theo dòng suối mà lên đến chỗ cao chót vót
đó.
Ngọn Ngũ lão, như năm ông già lão da mồi, cùng nở nụ cười
chào đón. Nếu có gặp Trích tiên Lý Bạch, nhờ nhắn hộ
là bao giờ đầu tóc bạc trắng hãy trở về Khuông sơn, tức
Lô sơn. Ông nhắc đến Lý Bạch, có lẽ gợi hứng từ bài
thơ "Trông về ngọn Ngũ lão trên Lô sơn" của Lý bạch với
lời hẹn trong hai câu thơ:
Cửu giang
tú sắc khả lãm kết
Ngô tương
thử địa sào vân tung
Lô sơn với
dòng Cửu giang thanh kỳ tú lệ, sẽ chọn nơi này lập tổ
trên ngọn tùng cao vút tận mây.
Đến chùa
Đông lâm, ông đề một bài tứ tuyệt lên vách, và kể từ
đó, Lô sơn trở thành môït ẩn ngữ kỳ lạ cho thi ca:
Hoành khan
thành lãnh trắc thành phong
Viễn cận
cao đê các bất đồng
Bất thức
Lô sơn chân diện mục
Chỉ duyên
thân tại thử sơn trung
Lô sơn, nhìn
ngang, thấy nó như một ngọn núi cao; nhìn nghiêng, lại thấy
nó là một dải núi dài. Nhìn thấy gần, hay xa, thấy núi
cao hay núi thấp. Lô sơn ẩn hiện thiên hình vạn trạng. Vậy
thì, chân diện mục của Lô sơn làm sao mà biết cho nổi?
Cứ vào trong núi thì biết.
Một bài
thơ khác, được truyền tụng thịnh hành trong giới Thiền
tông, nói là của ông. Nhưng không rõ ông làm lúc nào. Trong
các tập thi văn của ông, không thấy có. Bài thơ nói khá
tinh tế về đạo Thiền, cũng khó biết rõ chân diện mục
như Lô sơn.
Lô sơn yên
tỏa Triết giang triều
Vị đáo
sinh bình hận bất tiêu
Đáo đắc
hoàn lai vô biệt sự
Lô sơn yên
toả Triết giang triều
Bài dịch
thơ bằng tiếng Việt hay nhất (không nhớ dịch giả):
Mù tỏa
Lô sơn sóng Triết giang
Khi chưa
đến đó hận muôn vàn
Đến
rồi về lại không gì lạ
Mù tỏa
Lô sơn sóng Triết giang
TÔ ĐÔNG
PHA
Những Phương
Trời Viễn Mộng
Tuệ Sỹ
|