Kính
thưa quý vị đồng tu.
Nhận
lời mời của quý vị, hôm nay có duyên cùng quý vị bàn về
tam quy y trong Phật pháp tại Bờ biển Vàng (Golden coast) Queensland
- Australia. Ðối với Phật pháp đây là đề tài rất quan
trọng, là chỗ nhập môn tu học của chúng ta. Trước khi nói
đến tam quy, đầu tiên phải có nhận thức chính xác về
Phật pháp.
Phật
pháp trên thế giới hiện nay có rất nhiều hình thức bất
đồng, chúng ta cần phải hiểu cho rõ ràng. Ðiều phổ biến
nhất là người ta cho rằng Phật pháp là “Tôn giáo”, và
chúng ta cũng không thể không thừa nhận là tôn giáo được,
đây chính là Phật pháp biến chất. Thật ra Phật pháp vốn
không phải là tôn giáo, nhưng hiện nay xác thực đã biến
thành tôn giáo. Có nơi biến thành học thuật, đặc biệt
có một số trường học, đoàn thể học thuật tại Nhật
Bản biến Phật pháp thành triết học, đó cũng là Phật pháp
biến chất.
Năm
1923 Ðại sư Âu Dương Cánh Vô tại Ðại học Trung Sơn đệ
tứ Nam Kinh (tức là Ðại học sư phạm Nam Kinh hiện nay),
đã diễn giảng một bài rất cảm động là: “Phật pháp
chẳng phải tôn giáo, chẳng phải triết học, mà là nhu cầu
cấp thiết của đời sống hiện nay”, nói rõ Phật pháp
không phải là tôn giáo, cũng không phải là triết học, mà
nó chính là thứ mà người ta hiện nay đều cần phải học
tập. Phật pháp biến chất thành tôn giáo và triết học,
thật tại là rất bất hạnh, thế nhưng đối với xã hội
thì không đến nỗi ảnh hưởng gì.
Những
năm gần đây, chúng ta thấy có nơi Phật pháp biến thành
“tà giáo”. Quý vị có quan sát rõ ràng mới thấy đối
với cá nhân, xã hội là rất có hại. Có nơi Phật pháp bị
biến chất pha tạp quá nhiều. Ðại sư Âu Dương nói với
chúng ta Phật pháp là thứ mà người hiện tại cần phải
học tập; nhưng lại chưa nói rõ Phật pháp cứu cánh là gì,
ông muốn để tự chúng ta lãnh ngộ, thể hội.
Chúng
ta bình tĩnh quan sát sẽ thấy “Phật pháp” chính là “giáo
dục”, là “giáo học”, từ cách xưng hô thường thấy
trong kinh luận có thể chứng minh được điều này. Chúng
ta gọi Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là “Bổn Sư”, tự xưng
mình là “đệ tử”. Chỉ có trong giáo dục giáo học mới
có loại xưng hô này, đây là mối quan hệ thầy trò. Phật
là thầy gốc của chúng ta.
Phật
pháp hướng dẫn chúng sinh “phá mê khai ngộ, lìa khổ được
vui”. Phật nói vô lượng khổ não của tất cả chúng sinh,
bắt nguồn từ chỗ không hiểu rõ chân tướng của chính
mình và hoàn cảnh sinh hoạt, cho nên đã sinh ra cái thấy,
cái nhìn sai lầm, do đó mới có bao nhiêu là khổ nạn. Nếu
có thể triệt để hiểu rõ chính mình và hoàn cảnh sinh hoạt,
thì tư tưởng và kiến giải sẽ chính xác, tất cả khổ
tự nhiên tiêu trừ, đạt đến chỗ khoái lạc chân chính.
Ðây là nội dung của giáo học, tôn chỉ của giáo dục Phật
pháp. Do đó đủ biết giáo dục của Ðức Phật thật tại
có thể đem lại lợi ích chân thật cho tất cả chúng sinh.
Ðây chính là chỗ mà đại sư Âu Dương đã nói “Phật pháp
là nhu cầu tu học cần thiết của tất cả chúng sinh”.
Bước
đầu tu học Phật pháp chính là truyền thọ tam quy. Tam quy
là tổng cương lĩnh, tổng phương hướng tu hành Phật pháp.
Học Phật là bắt đầu từ tam quy, nó là tổng nguyên tắc
tu học của người học Phật phải tuân thủ thực hành suốt
đời. Thứ nhất là quy y Phật, thứ hai là quy y Pháp, thứ
ba là quy y Tăng. Thời xưa giảng pháp cách này, mọi người
sẽ không phát sinh hiểu lầm. Thế nhưng Phật pháp từ xưa
lưu truyền đến nay, căn cứ theo sự ghi chép của lịch sử
Trung Quốc đã có gần ba ngàn năm, đời đời tương truyền,
không tránh khỏi lẫn lộn một số tri kiến không chính xác
ở trong đó, hiểu sai nghĩa chân thật của tam quy, như người
Trung Quốc thường nói “Dùng sai truyền sai”.
“Lục
Tổ Ðàn Kinh” là trước tác đời Ðường, cách nay khoảng
1300 năm. Trong “Ðàn Kinh” Lục Tổ nói “Tam quy y” thì
nói là “quy y giác”, “quy y chính”, “quy y tịnh”, mà
không dùng quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Ðiều này khiến
chúng ta liên tưởng đến, ngay từ trước thời triều Ðường
đại khái có rất nhiều người hiểu lầm ý nghĩa quy y Tam
Bảo. Nếu không có người hiểu lầm, Lục Tổ đâu phải
dùng cách giảng này ! Tất nhiên là có rất nhiều người
hiểu lầm. Trước 1300 năm nói quy y Phật, quy y Pháp, quy y
Tăng có người hiểu lầm, hà huống trải qua 1300 năm sau,
ngày nay nói đến quy y Tam Bảo khó tránh khỏi mọi người
hiểu sai ý nghĩa.
Ðàn
Kinh cho chúng ta một lời khai thị rất lớn. Lục Tổ giải
thích Phật Pháp Tăng Tam Bảo: Phật là giác, là ý giác ngộ.
Pháp là chính, là chính tri chính kiến. Tăng là tịnh, là sáu
căn thanh tịnh, một hạt bụi không nhiễm. Còn chữ quy y,
quy là hồi đầu, y là nương tựa.
Thế
nào là quy y Phật? Thông thường người ta đối với bản
thân, đối với hoàn cảnh sinh hoạt trước mắt xác thực
là mê mà không giác. Phật dạy chúng ta từ mê hoặc điên
đảo hồi đầu nương theo chính giác, đó mới là quy y Phật
chân chính. Do đây đủ biết, Phật pháp giảng về Tam Bảo
có rất nhiều cách nói, quy y giác là tự tính Tam bảo. Nếu
hướng ngoài tự tính tìm học, chính là chỗ mà nhà Phật
gọi là ngoại đạo. Nhà Phật giảng ngoại đạo không phải
xem khinh người khác mà là cầu pháp ngoài tâm gọi là ngoại
đạo. Phật pháp dạy chúng ta từ trong tâm tính mà cầu, cho
nên Phật pháp là cái học bên trong, từ trong tâm mình mà
cầu, không phải hướng ngoại mà cầu. Hướng ngoại mà cầu
là sai, là không thể được, hướng nội cầu thì có cầu
tất ứng. Ðạo lý này, không những trong kinh luận của Phật
nói rất rõ, Nho gia, Ðạo gia của Trung Quốc cũng nói rất
chính xác.
Quy
y Tam Bảo, chỗ quy y chân chính là nương tựa tự tính Tam
Bảo. Từ mê hoặc hồi đầu nương theo tự tính giác, câu
này nói thì rất dễ nhưng rốt ráo phải làm cách nào? Chúng
ta rất muốn hồi đầu, rất muốn giác mà không mê, nhưng
nó cứ mê hoặc điên đảo mãi. Nếu như không dừng lại
trong sinh hoạt thực tại, cách nói này biến thành huyền đàm,
huyền học, trên sinh hoạt thực tế không có được chút
thọ dụng nào. Hiện tượng mê và giác là gì, mê cái gì,
giác cái gì, Phật, Bồ Tát và phàm phu khác nhau như thế nào?
Chúng ta từ trong đó có thể tìm ra một con đường, tìm được
chỗ quy y chân chính.
Năm
mươi ba tham vấn trong Kinh Hoa Nghiêm, năm mươi ba vị thiện
tri thức đều là Phật Bồ Tát. Những biểu hiện của họ
chính là tất cả hoạt động trong cuộc sống hằng ngày trước
mắt, dù biểu hiện qua các hình tướng nam nữ, già trẻ,
các ngành nghề nào trong sinh hoạt thường ngày, tợ hồ như
với phàm phu không có gì sai biệt, cũng làm việc, cũng giao
tế qua lại, các việc này cũng tương đồng như chúng ta.
Như vậy chỗ bất đồng trong tương đồng tại đâu? Ở chỗ
tâm thanh tịnh của họ. Sự việc của họ với chúng ta giống
nhau không có chút nào sai biệt. Chúng ta mỗi ngày làm việc
8 giờ, họ cũng làm việc 8 giờ. Chúng ta trong sinh hoạt hằng
ngày phát sinh phiền não, còn họ thì ngày ngày sinh trí tuệ.
Ðó chính là chỗ không giống. Chúng ta sinh hoạt, làm việc,
giao tiếp đều sinh phiền não. Họ sinh hoạt, làm việc, giao
tiếp đều sinh trí tuệ. Vì sao biết được? Lục Tổ Huệ
Năng là một chứng minh, lúc ngài đến Hoàng Mai gặp Ngũ Tổ,
bạch với Ngũ Tổ rằng: “Trong tâm của đệ tử thường
sinh trí tuệ”. Chúng ta đọc qua câu này có sự cảm xúc
rất sâu sắc, tâm của ngài thường sinh trí tuệ, tâm của
ta thường sinh phiền não. Ðây là chỗ bất đồng giữa Phật
Bồ Tát và người phàm.
Trí
tuệ vì sao sinh, phiền não từ đâu đến, chỉ cần làm cho
rõ ràng thì sẽ biết từ đâu để hồi đầu, để nương
tựa. Phiền não từ vọng tưởng phân biệt chấp trước mà
sinh, đây là điều Phật dạy trong Kinh Hoa Nghiêm. Chúng ta
mặc áo ăn cơm có vọng tưởng phân biệt chấp trước, đối
người tiếp vật vẫn có vọng tưởng phân biệt chấp trước,
từ chỗ này sinh phiền não, sinh thất tình ngũ dục, sinh tham
sân si mạn, phiền não vĩnh viễn không đoạn. Do đây đủ
biết, vọng tưởng, phân biệt, chấp trước là tâm luân hồi,
lục đạo luân hồi là do những hiện tượng tâm niệm này
tạo thành. Chúng ta hằng ngày sinh hoạt, làm việc, giao tiếp
chính là tạo nghiệp luân hồi. Tâm luân hồi tạo nghiệp
luân hồi, tức là mê hoặc điên đảo.
Chúng
ta học Phật, Phật dạy chúng ta hồi đầu, quy y tự tính
giác. Tự tính giác tức là Phật tính. Phát Bồ đề tâm,
tu Bồ Tát hạnh siêu việt thế gian và xuất thế gian pháp,
xa lìa vọng tưởng phân biệt chấp trước tức là chân tâm,
Phật tính. Xa lìa vọng tưởng phân biệt chấp trước thì
sinh hoạt của chúng ta tức là Bồ Tát hạnh. Mỗi ngày đi
làm việc cũng là Bồ Tát hạnh. Từ sáng đến chiều giao
tiếp vẫn là Bồ Tát hạnh. Mấu chốt ở tại chỗ này, chính
là đem vọng niệm xoay chuyển lại, từ trên quan niệm mà
hồi đầu. Xa lìa vọng tưởng phân biệt chấp trước, chỗ
dụng chính là chân tâm, “chân tâm ly niệm” là điều mà
kinh Ðại thừa thường nói. Niệm là vọng tưởng, vọng tưởng
là vọng niệm, trong chân tâm không có vọng niệm, chân tâm
là tâm thanh tịnh, tâm bình đẳng. Dùng tâm thanh tịnh sinh
hoạt thì sinh hoạt thanh tịnh, dùng tâm thanh tịnh làm việc
thì làm việc thanh tịnh, dùng tâm thanh tịnh giao tiếp thì
giao tiếp thanh tịnh, không một thứ nào là không thanh tịnh.
Tâm tịnh thân sẽ thanh tịnh, thân tâm thanh tịnh thì quốc
độ thanh tịnh.
Có
một số vị đồng tu hỏi: “Tôi làm công việc cần phải
suy nghĩ, nếu không suy nghĩ thì công việc của tôi làm sao
thành tựu được?”. Lúc bạn làm việc cần phải suy nghĩ,
cứ suy nghĩ, khi làm việc xong rồi thì không cần suy nghĩ
lại nữa. Làm việc xong rồi lại còn nghĩ về nó tức là
vọng tưởng. Niệm có vọng niệm, có chính niệm. Chính niệm
là trong phạm vi việc làm của mình, ngoài ra không nghĩ tưởng
thứ khác, những thứ khác với ta không tương can gì cả.
Cũng vậy, công việc của bạn có thể làm được tốt, phiền
não vọng tưởng ít đi, trí tuệ sẽ tăng trưởng, công việc
sẽ rất thuận lợi. Tất cả thời, tất cả chỗ biết trưởng
dưỡng tâm từ bi, thì dù cho việc gì cũng đều sẽ làm tốt,
cuộc sống lại càng vui vẻ thêm hơn. Chúng ta cũng cần nên
học đại sư Huệ Năng “Trong tâm đệ tử thường sinh trí
tuệ”.
Hiện
nay làm các công việc đều phải suy nghĩ, đây là tập khí.
Người tu hành chân chính, thời gian suy nghĩ như thế càng
lúc càng ngắn, trình độ suy nghĩ càng lúc càng thưa dần.
Nếu công phu thuần thục, dù việc làm trong ngành nghề nào
cũng không cần phải suy nghĩ. Khi trí tuệ hiện tiền thì
đâu phải suy nghĩ. Lúc trí tuệ chưa hiện tiền thì không
thể lìa khỏi suy nghĩ, nhưng cần phải thu ngắn thời gian,
thu nhỏ phạm vi suy nghĩ lại, nỗ lực làm nó giảm nhẹ khiến
cho trí tuệ dần dần hiển lộ. Nếu nghĩ tưởng nhiều quá,
xa quá, sâu quá thì trí tuệ hoàn toàn không có cách gì hiển
lộ được, bởi vì vọng niệm chướng ngại trí tuệ vốn
có của tự tính.
Nếu
đem giác và mê làm cho rõ ràng, lý luận cũng minh bạch rồi
thì nên chân thật mà làm, chân chính hạ thủ công phu. Nên
học theo sự vận dụng lục căn của chư Phật Bồ Tát. Mắt
thấy là sắc tướng, tai nghe là âm thanh, luyện tập lúc thấy
sắc, nghe tiếng, sáu căn đối với cảnh giới sáu trần khởi
tác dụng, học không phân biệt, không chấp trước, đây chính
là trí tuệ chân thật. Lại học “Không khởi tâm, không
động niệm”, tức là tu tâm thanh tịnh, tự tính vốn định.
Mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, không khởi tâm, không động
niệm tức là đại thiền định. Ðịnh huệ chính là ở trong
sinh hoạt hằng ngày mà tu, tu ở chỗ sáu căn tiếp xúc với
cảnh giới sáu trần, đây là từ căn bản mà tu, là phương
pháp tu hành cao cấp nhất.
Bốn
mươi mốt vị pháp thân Ðại sĩ trong Kinh Hoa Nghiêm, chính
là dụng công ở phương diện này, cho nên không gò bó nơi
hình thức tu thiền định, không phải là ngồi quay mặt vào
tường, mà là lúc sáu căn đối với cảnh giới sáu trần
không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt, không
chấp trước là trí tuệ. Chuyển tham sân si thành giới định
tuệ, chuyển phiền não thành Bồ đề. Chúng ta khởi tâm động
niệm, phân biệt chấp trước là tham sân si, Phật Bồ Tát
không khởi tâm, không động niệm, không phân biệt chấp trước,
khởi tác dụng là giới định tuệ. Ðây tức là vì sao Bồ
Tát thường sinh trí tuệ, chúng ta thường sinh phiền não.
Phiền não chính là ba độc tham sân si, điều này cần phải
biết. Từ vọng tưởng phân biệt mà hồi đầu, từ khởi
tâm động niệm, phân biệt chấp trước mà hồi đầu, nương
theo chỗ không phân biệt, không chấp trước, không khởi tâm,
không động niệm, đây tức là quy y Phật.
Pháp
là đối với nhân sinh vũ trụ có nhận thức và hiểu biết
chính xác. Trí tuệ chân thật hiện tiền thì tư tưởng, hiểu
biết mới chính xác. Vọng tưởng phân biệt chấp trước
không buông xuống, cách nghĩ, cách nhìn đều là sai lầm. Chúng
ta là người sơ học, nhất định phải nương theo kinh điển,
chỉnh đốn lại cái thấy nghĩ sai lầm của mình. Những lời
nói trong kinh tức là chính tri chính kiến của chư Phật Bồ
Tát quyết định là chính xác. Y theo kinh điển tu chính cách
nghĩ, cách nhìn sai lầm của mình, tức là từ trong kinh Ðức
Phật dạy chúng ta làm thế nào, học tập thế nào là đúng.
Do đó quy y Phật là tổng cương lĩnh, tổng nguyên tắc. Quy
y Pháp là dạy chúng ta làm thế nào từ trong công việc nhỏ
nhặt hằng ngày mà tu học, tuân thủ lời dạy của Phật.
Kinh
điển của Phật rất nhiều, chúng ta có cần phải mỗi bộ
kinh đều học tập không? Không cần. Kinh Phật là ghi chép
những lời Phật dạy cho đại chúng khi còn tại thế. Mỗi
chúng sinh có những khó khăn và mê hoặc của mình, họ hướng
về Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thưa hỏi, Phật dạy cho họ
phương pháp giải trừ mê hoặc điên đảo, lìa khổ được
vui, về sau ghi chép lại thành một bộ kinh. Như vậy kinh là
do Phật chỉ dạy một lần để giải quyết vấn đề, để
được lợi ích cho người nghe. Do đó đủ biết, một bộ
kinh là đầy đủ rồi, điều này quả thật chính xác.
Hiện
tại chúng ta không gặp được Phật, Phật để lại rất
nhiều kinh điển, phải nương theo một bộ kinh mà tu mới
tốt, điều này rất hiện thực, cũng là vấn đề rất khó
khăn. Phật như là thầy thuốc, chúng ta là bệnh nhân. Thầy
thuốc vì chúng ta chẩn đoán cho thuốc, quả thực uống thuốc
bệnh dứt, giải quyết vấn đề. Hiện nay thầy thuốc không
còn, lưu lại một lô toa thuốc (kinh điển ví như toa thuốc).
Chúng ta là người bệnh, những toa thuốc này phải dùng đúng,
bệnh sẽ khỏi. Nếu dùng không đúng bệnh thì sẽ rắc rối
lớn. Phật pháp xác thực như thế, phương pháp tu hành, lý
luận kinh điển nếu cùng với căn cơ tương ưng, thì một
đời quyết định thành tựu. Nếu không tương ưng cũng như
uống lầm thuốc, chẳng những một đời cứu không được,
về sau lại càng phiền phức hơn nữa. Các vị đồng tu nhất
định phải cảm nhận sâu sắc vấn đề này. Làm sao biết
được? Rất nhiều bạn đồng tu học Phật, trước khi chưa
học Phật còn tốt, sau khi học Phật phiền não càng nhiều,
càng học, phiền phức càng nhiều, cá nhân, gia đình phiền
phức cả khối kéo đến, đây là thuốc không đúng bệnh,
uống lầm thuốc.
Thật
tình mà nói, chọn lựa pháp môn là một việc lớn, nhưng
chúng ta không có khả năng, cũng không đủ trí tuệ. Như mình
bị bệnh, thầy thuốc để lại một lô toa thuốc trong đó,
nhưng không có người hướng dẫn thì việc này thật rắc
rối. Muốn gặp may không phải dễ, giống như mua vé số muốn
trúng số đặc biệt không phải dễ, không có được vận
may đó đâu. Cần phải nhờ vào thiện tri thức chân chính
có tu có học, trợ giúp chúng ta chọn lựa pháp môn. Tuy nhiên,
đời nay người chân chính có học vấn có đạo đức không
nhiều, một đời chưa chắc gặp được, gặp được rồi
chưa chắc đã nhận thức được họ. Người càng có học
vấn càng có đạo đức thì càng khiêm hạ, nếu hỏi thì
họ sẽ đáp là: “Tôi không hiểu, tôi không có trí tuệ,
không có năng lực, không có tu trì”, nếu họ nói rằng “Tôi
thực hành, tôi có trí tuệ, môn nào cũng đều thực hành”
đó không phải là chân thật. Hiện nay chúng ta không đủ
năng lực để phân biệt chân giả, duy nhất có thể thực
hành là, 3000 năm trước Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đã vì
người thời đó chỉ thị một con đường sáng, theo như Kinh
Ðại Tập đã nói: “Thời kỳ chính pháp, giới luật thành
tựu. Thời kỳ tượng pháp, thiền định thành tựu. Thời
kỳ mạt pháp, Tịnh độ thành tựu”.
Hiện
nay chúng ta sinh vào thời kỳ mạt pháp. Vận pháp của Phật
gồm có: Chính pháp 1000 năm, tượng pháp 1000 năm, mạt pháp
một vạn năm. Chúng ta sinh sau Ðức Phật Thích Ca diệt độ
2000 năm rồi, tức là thời kỳ mạt pháp, Phật nói “Thời
kỳ mạt pháp, Tịnh độ thành tựu”, chúng ta quyết định
phải chọn pháp tu Tịnh độ, chân thật niệm Phật, quyết
định thành công. Ðó là tuân thủ theo chỉ thị của Phật.
Cũng có người tu thiền thành tựu, có người tu mật thành
tựu, những vị căn cơ đặc biệt rất ít, không phải ai
cũng được. Chúng ta suy nghĩ thật kỹ xem mình có phải là
căn
tính đặc biệt không? Người căn tính thượng thượng có
thể thí nghiệm học thiền, học mật hoặc học các pháp
môn khác, nếu biết căn tính của mình bình thường thì hãy
chân thật tuân thủ chỉ thị của Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni, là rất có hy vọng.
Chân
thật niệm Phật, không ai không thành tựu, đặc biệt là
đọc qua kinh luận Tịnh tông rồi tư duy nghiên cứu tường
tận, thật sự có đạo lý. Ở trong tất cả pháp, quy y kinh
điển vô lượng, chúng ta chọn “năm kinh một luận” của
Tịnh tông. Sáu bộ này phân chia ra không nhiều đủ để chúng
ta một đời thọ dụng, quyết không thể xem thường. Phân
lượng của sáu bộ này tuy ít, nếu giảng tường tận thì
giảng mười năm cũng chưa xong, cho nên y theo sáu bộ kinh này
tu hành là đủ. Quy y pháp, chúng ta chọn lựa năm kinh một
luận thuộc Tịnh tông là rất thực tế.
Lúc
Tịnh tông học hội thành lập, trong phần “Duyên khởi”
có đề xuất năm mục lớn để thực hành, tức là trong sinh
hoạt hằng ngày cần phải tuân thủ năm quy chế “Tam phước,
lục hòa, tam học, lục độ, thập đại nguyện vương”.
Ðều từ trong năm kinh một luận của Tịnh tông mà ra. Chúng
ta trong sinh hoạt hằng ngày khởi tâm động niệm, thời thời
cùng với lời nói của Phật đối chiếu, nếu tương ưng
tức là chính xác, thì sẽ không làm sai, không nghĩ sai. Nếu
cùng với lời Phật nói trái ngược, thì là nghĩ sai, làm
sai. Chúng ta thật sự nắm lấy cương lĩnh, dùng nó để kiểm
điểm, tu chính hành vi sinh hoạt của mình.
Quy
y Tăng, Tăng ý là thanh tịnh, một bụi trần không nhiễm.
Ðặc biệt là Tịnh tông, chú trọng tu tâm thanh tịnh. Trong
lời nguyện quy y có câu “quy y Tăng chúng trung tôn”. “Chúng”
là chỉ cho đoàn thể, xã đoàn. Trên thế giới xã đoàn có
rất nhiều, nhỏ thì một gia đình được coi là một đoàn
thể. Phật nói với chúng ta, đoàn thể người học Phật
ở trong đoàn thể của tất cả thế gian, rất được tôn
kính và ca ngợi, bởi vì nó là “đoàn thể mô phạm”, có
thể là tấm gương cho các xã đoàn. Ðặc điểm của nó là
mỗi phần tử của xã đoàn đều có thể sống hòa thuận
với nhau, là đoàn thể hòa hợp. Ðoàn thể rất sợ bất
hòa, cách nghĩ cách nhìn của họ rất gần gũi “kiến hòa
đồng giải”, cũng chính là do kiến lập được ý thức
chung.
Cách
nghĩ, cách nhìn nhất trí là cơ sở của một đoàn thể hòa
kính. Ðặc biệt là tại Úc châu, hai ngày qua chúng tôi gặp
được hai vị thủ trưởng chính phủ ở đây đều rất từ
bi, hiền lành, thực tại rất hiếm có. Họ nói với tôi “Úc
châu là xã hội đa nguyên văn hóa, có các chủng tộc bất
đồng, tín ngưỡng tôn giáo bất đồng, làm thế nào trong
chỗ khác biệt đó tìm ra được cái đồng, kiến lập được
ý thức chung, đây là việc rất trọng yếu”. Hai ngày ấy
chúng tôi tiếp xúc, hai bên đều có ý thức chung này, hy vọng
chúng ta từ chỗ này có thể đoàn kết phát triển trên cơ
sở “kiến hòa đồng giải”. Ðiều kiện thứ hai hòa hợp
xã đoàn là “giới hòa đồng tu”. Trì giới tức là biểu
thị tuân thủ pháp, tôn trọng người khác, tôn trọng luật
pháp, tôn trọng tập quán sinh hoạt của người khác, tôn
trọng tín ngưỡng tôn giáo người khác. Tất cả đều tôn
trọng mà không bài xích, thì có thể thương yêu nhau, hỗ
trợ hợp tác, xã hội mới có thể hòa thuận sống vui vẻ
với nhau, mới có thể hưng thịnh, cùng nhau phát triển.
Ðoàn
thể lục hòa kính của Phật rất tôn quý trong các đoàn thể.
“Quy y Tăng, chúng trung tôn”. Chúng ta phải hướng về mục
tiêu này mà nỗ lực. Người khác không tôn kính chúng ta,
chúng ta phải nên tôn kính họ, người bài xích chúng ta, chúng
ta càng phải yêu thương họ, dùng tâm nhẫn nại và chân thành
cảm hóa họ. Có như thế, mới có thể đạt đến mục tiêu
hòa hợp sống cùng nhau. Chữ Tăng có những ý nghĩa như vậy.
Quy
y Tam Bảo, chính là quy y giác chính tịnh. Giác mà không mê,
chính mà không tà, tịnh mà không nhiễm. Bình thường nên
giữ tâm thanh tịnh của mình, tâm thanh tịnh chính làø tâm
giác, là giác ngộ, là chính tri chính kiến. Cho nên “Giác,
Chính, Tịnh” thực tại là một mà ba, ba mà một, đều chỉ
cho chân tâm bản tính của chúng ta.
Từ
xưa đến nay, Phật pháp tại Trung Quốc có mười tông phái
lớn, vô lượng pháp môn. Dù bao nhiêu tông phái pháp môn,
phương pháp tu hành đều quy nạp thành ba loại lớn là “Giác,
Chính, Tịnh”. Thông thường mà nói, Thiền tông, Tính tông
(Pháp Tính tông) là từ cửa giác mà vào. Mục tiêu của Thiền
tông là phải đại triệt đại ngộ, minh tâm kiến tánh, cái
này trong giác chính tịnh gọi là “cửa giác”. Ngoài ra gọi
là “giáo hạ” như Thiên Thai tông, Hiền Thủ tông, Pháp
Tướng tông, Tam Luận tông, đều từ kinh điển nhập môn,
tức là từ “cửa chính” mà vào. Dùng lời dạy, lý luận
và phương pháp trong kinh điển, tu chính lại cách nghĩ cách
nhìn sai lầm của mình, đây là đi theo cửa chính. “Tịnh
tông” hoàn toàn dùng phương pháp nhất tâm niệm Phật tu
tâm thanh tịnh, đây là từ “cửa tịnh” mà vào. Ba cửa
Giác, Chính, Tịnh, “cửa giác” nhất định phải là người
thượng căn lợi trí mới có thể khế nhập, nếu không phải
là người trí tuệ thượng đẳng thì không cách gì khai ngộ
được. Từ “cửa chính” cần phải có thời gian dài, giống
như đi học vậy, từ tiểu học, trung học, đại học rồi
nghiên cứu sở, y theo kinh giáo của Phật dạy phải có thời
gian dài huân tập mới có thể khế nhập, tuy người trung
căn, hạ căn có thể khế nhập, nhưng thời gian rất dài mới
được. So ra thì “cửa tịnh” vẫn tốt hơn, không cần
phải căn cơ thượng thượng, càng không phải mất thời gian
rất dài, một câu A Di Ðà Phật, tu tâm thanh tịnh, nhất định
có thể vãng sinh, bất thối chuyển, thành Phật. Ví như một
giảng đường có ba cửa, ở ngoài nhìn vào thì không giống,
vào trong thì giống nhau. Do đây đủ biết, dù từ cửa nào
vào cũng đều giống nhau cả. Cho nên khi khế nhập, Giác Chính
Tịnh đều đồng thời đạt được, đồng thời đầy đủ.
Vãng sinh Tịnh độ tức là khế nhập cảnh Phật. Phương
pháp này được tất cả chư Phật tán thán, được xem là
cao minh, bởi vì nó rất phương tiện, không cần phải thượng
căn lợi trí, cũng không phải uổng phí nhiều thời gian, quả
thật là pháp môn rất thù thắng.
“Vô
Lượng Thọ Kinh Chân Giải” có nói: “Nay sẽ bàn về sự
lợi ích, kia là giả (chỉ cho Kinh Hoa Nghiêm, Pháp Hoa) đây
là thật (chỉ cho Kinh Vô Lượng Thọ). Vì sao thế? Vì kinh
kia nói rằng mau chóng thành Phật đạo, nhưng không thấy ai
mau chóng thành Phật... Nay người nào tin mà không nghi, mười
người thì đều sinh cả mười. Vãng sinh bất thối cho đến
khi thành tựu Bồ đề. Chỗ mới sinh ấy là Bồ đề. Sau
này đến thời diệt chỉ có một Pháp này. Tất cả Thánh
phàm thực hành theo thì lợi ích thật không gì vượt hơn”.
Ðoạn này đã nói rõ Ðức Thế Tôn 49 năm thuyết pháp tất
cả kinh luận, nếu nói về lợi ích chân thật thì không có
gì qua pháp niệm Phật vãng sinh Tịnh độ. Cho nên Thập địa
Bồ Tát trước sau không lìa niệm Phật. Vừa qua tôi đã trình
bày rõ ràng cho quý vị “thế nào là quy, thế nào là y”
rồi.
Ngoài
“Tự tính Tam Bảo” còn có “Thường trụ Tam Bảo”, đây
là hình tượng. Tượng Phật là Phật Bảo, kinh điển là
Pháp Bảo, người xuất gia là Tăng Bảo. Tam Bảo trên hình
tượng rất có tác dụng, nếu không có hình tượng Tam Bảo,
ngày nay tuy có đem đại ý Tam Bảo giảng cho đại chúng rất
rõ ràng, rất minh bạch e rằng quý vị sẽ quên mất, qua hai
ngày là hoàn toàn không còn nhớ nữa. Do đó cúng dường hình
tượng Tam Bảo lợi ích rất lớn. Trong nhà có thờ tượng
Phật, khi nhìn thấy tượng Phật, liền nghĩ đến bản thân
mình phải quy y tự tính giác. Sáu căn tiếp xúc sáu trần
phải học Phật Bồ Tát, không phân biệt, không chấp trước,
không khởi tâm, không động niệm. Thấy tượng Phật để
đánh thức bản thân mình. Chỗ ứng dụng hình tượng Phật
là như vậy, không phải dạy người ngày ngày hương hoa nước
quả cúng dường, hướng về Ngài lễ bái cầu xin là không
đúng.
Phật
Bồ Tát mong muốn chúng ta giác ngộ, không mong muốn chúng
ta mê hoặc điên đảo, nhưng có những người sai lầm đem
Phật Bồ Tát làm thần minh để cầu khẩn. Cho nên phải biết
đạo lý cúng dường tượng Phật là ở chỗ cảnh tỉnh mình
giác mà không mê. Thấy kinh điển thì phải nghĩ đến chính
tri chính kiến, chính mà không tà. Thấy người xuất gia liền
nghĩ đến tịnh mà không nhiễm, rồi nghĩ đến mình phải
tu tâm thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, phải cùng đại chúng
sống hòa hợp với nhau. Cứ như vậy thời thời cảnh tỉnh
lấy mình, lợi ích thật là rất lớn, do đó Trụ trì Tam
Bảo có lợi ích công đức như thế. Ðủ biết Trụ trì Tam
Bảo rất cần thiết dù là hình tượng Tam Bảo nhưng phải
có nội dung thực chất, mới có được lợi ích chân chính.
Nếu không có nội dung thực chất, chỉ là hình thức mặt
ngoài thì không có lợi ích. Quý vị hiểu rõ đạo lý, hiểu
được cách thức nhập môn rồi thì đây là “truyền thọ
tam quy”, đem ý nghĩa tam quy, cương lĩnh nguyên tắc tu học
truyền trao cho mọi người.
Nghi
thức tam quy là ở trước hình tượng chư Phật Bồ Tát phát
nguyện, thệ nguyện, từ nay về sau phát tâm nhất định phải
làm như vậy, do một vị pháp sư xuất gia vì bạn làm chứng
minh, chứng minh bạn đã thật sự phát thệ, phát nguyện làm
một vị đệ tử Phật chân chính. Nghi thức tam quy giản đơn
mà long trọng. Hiện tại có nhiều nghi thức rất phức tạp
và tốn thời gian, lại không hiểu được ý nghĩa của tam
quy. Mơ hồ quy y Phật, sau khi quy y rồi vẫn mơ hồ cho qua
ngày, điều này với giáo nghĩa Phật pháp hoàn toàn trái ngược.
Chân chính hồi đầu nương theo Tự tính Tam Bảo, người này
hoàn toàn cải biến. Nói chung cải tạo vận mạng, thậm chí
cải tạo cả thể chất. Vận mạng, thể chất đều có thể
cải tạo được, tâm niệm hồi đầu lại thì hoàn toàn cải
biến.
Về
nghi thức tam quy y, chúng ta sử dụng nghi thức tam quy của
Hoằng Nhất Ðại sư rút từ trong Giới Kinh Tiết Lục. Hoằng
Nhất Ðại sư nói: Ðức Thế Tôn lúc còn tại thế, dùng
nghi thức này truyền trao tam quy cho các đệ tử, cho nên chúng
ta cũng phải tuân theo nghi thức này.
Quy
y Phật, chúng ta thiết thực quy y Phật A Di Ðà. Vì sao không
quy y Ðức Phật Bổn Sư Thích Ca? Phật Thích Ca dạy chúng
sinh quy y Phật A Di Ðà. Do đó chúng ta quy y Phật A Di Ðà,
chính là kỳ vọng của Phật Thích Ca đối với chúng ta. Quy
y Pháp, chúng ta thiết thực quy y Kinh Vô Lượng Thọ. Quy y
Tăng, chúng ta thiết thực quy y Quan Thế Âm, Ðại Thế Chí,
hai vị Bồ Tát Tăng bảo này.
Nếu
có người hỏi, bạn đã quy y chưa? Bạn trả lời tôi đã
quy y Tam Bảo rồi. Quy y vị pháp sư nào? Quy y Phật A Di Ðà
đại pháp sư, tôi là đệ tử của Phật Di Ðà. Ai chứng
minh cho bạn? Pháp sư Tịnh Không chứng minh cho tôi. Nói điều
này hoàn toàn chính xác, không nên nói tôi quy y pháp sư Tịnh
Không. Ðó là điều sai lầm lớn.
Trước
đây lúc tôi truyền trao tam quy thường giảng, chúng ta quy
y Tam Bảo, không phải quy y cá nhân nào. Quy y cá nhân nào tức
là đem Tăng đoàn của Phật pháp phân hóa, đây là sai lầm
rất nặng. Nếu y theo giới kinh kết tội thì đó là phá hòa
hợp Tăng, đọa A tỳ địa ngục. Cho nên pháp sư chứng minh
tam quy làm đại biểu cho Tăng đoàn truyền trao tam quy, vì
chúng ta mà chứng minh. Từ “Ðàn Kinh” mà xét, tam quy ít
lắm cũng đã hiểu lầm hơn 1000 năm, điều này cần phải
biết rõ ràng chúng ta mới có một lối đi chân chính.
Giảng
tại Queensland - Australia
TRUYỀN
THỌ TAM QUY
Quý
vị đồng học thân mến.
Hôm
nay tôi vì quý vị truyền trao tam quy, đầu tiên nên đem ý
nghĩa tam quy nhận thức rõ ràng. Từ sự thừa truyền Phật
pháp hiện nay phát sinh rất nhiều hiểu lầm, chúng ta cần
phải phân biệt cho rõ ràng, mới có thể được chỗ lợi
ích chân thật của Phật pháp. Phật pháp cứu cánh là gì?
Nó có phải là tôn giáo không? Nói một cách chính xác, Phật
pháp là sự giáo dục đối với chín pháp giới hữu tình
chúng sinh, nó không thuộc về tôn giáo. Năm thứ 12 Dân quốc,
Âu Dương Cánh Vô tiên sinh tại Ðại học Trung Sơn đệ tứ
đã phát biểu một bài là: “Phật pháp chẳng phải tôn giáo,
chẳng triết học, mà là nhu cầu cần thiết của đời sống
hiện tại”. Lần diễn giảng này đã làm rung động giới
Phật giáo đương thời, sự phân tích của Âu Dương tiên
sinh rất đạo lý. Cư sĩ Vương Ân Dương đã ghi chép lại
bài này lưu truyền nơi đời, gần đây chúng tôi ở Ðài
Loan cũng đem bài này phiên ấn lưu thông, xin tặng quý vị
để tham khảo học tập.
Phật
giáo đã là giáo dục, mục đích, phương pháp, tôn chỉ của
Phật giáo ở chỗ nào, đó là điều chúng ta không thể không
biết. Tôn chỉ giáo dục của Phật giáo nếu dùng danh từ
Phật học để nói, thì theo như kinh điển Bát Nhã thường
nói là “chư pháp thật tướng”. Dùng từ hiện nay để
giảng, chư pháp là tất cả pháp, cũng chính là chân tướng
của vũ trụ nhân sinh. Vũ trụ là hoàn cảnh sinh hoạt của
chúng ta. Nhân sinh tức là bản thân của chúng ta. Nội dung
cứu cánh giáo dục Phật giáo là gì? Chính là dạy chúng ta
nhận rõ chính mình, cùng với chân tướng hoàn cảnh sinh hoạt
của mình. Quý vị nghĩ kỹ lại xem nó có trọng yếu hay không?
Giáo dục của thế gian chỉ nói đến một bộ phận của
vũ trụ nhân sinh, một bộ phận đó vẫn chưa thấy được
chân thật, quá nửa còn ở chỗ tìm kiếm, nghiên cứu, không
dám quả quyết kết luận. Tôn giáo cũng không thể bao hàm
toàn bộ sinh hoạt của chúng ta, chỉ là cục bộ sinh hoạt.
Do đó đủ biết, phạm vi nội dung giáo học của Phật giáo
rộng lớn tinh thâm, chúng ta cần phải tu học.
Không
gian mà chúng ta sống, không chỉ hạn chế ở một đô thị,
một khu vực trước mắt, cho đến chỗ địa cầu này. Ngoài
địa cầu vẫn còn có hư không, trong hư không có vô lượng
tinh cầu, rất nhiều tinh cầu có sinh vật, có những sinh vật
so với chúng ta thông minh hơn, cao đẳng hơn. Toàn bộ những
thứ đó đều là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta. Ngoài
không gian ra vẫn có quá khứ, vị lai. Cho nên tận hư không
biến pháp giới đều là hoàn cảnh sinh hoạt của chúng ta.
Phạm
vi giáo dục hiện nay không có thảo luận rộng lớn như vậy,
theo như Nho gia đã giảng thì đối với thời gian mà nói,
nó là giáo dục một đời, bắt đầu từ hoài thai, cuối
cùng đến già chết là hết. Nho gia là sự giáo dục một
đời, phạm vi giáo dục của họ nói về nhân đạo, cùng
lắm là nói đến thiên đạo. Khổng Phu Tử rất ít nói đến
trời hoặc quỷ thần, mà nói về nhân đạo rất rõ ràng.
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thì đem tình hình của lục đạo
nói rất rõ ràng minh bạch. Ngoài lục đạo còn có tứ thánh
pháp giới, như Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát, Phật gọi chung
là mười pháp giới. Mười pháp giới đều là phạm vi hoạt
động của chúng ta, đều nên nhận thức rõ ràng.
Chân
tướng của vũ trụ nhân sinh nhận thức rõ ràng rồi thì
tư tưởng, kiến giải, ngôn hạnh của chúng ta tự nhiên sẽ
không giống như trước đây. Trước đây nhận thức không
rõ ràng, mê hoặc điên đảo, cho nên nghĩ sai, thấy sai, làm
sai, đây tức là chỗ tạo nghiệp của người ta. Ðã tạo
nghiệp đương nhiên có quả báo. Thiện nghiệp có thiện quả,
ác nghiệp có ác báo, quả báo đều là tự mình tạo tác,
tự mình phải nhận chịu, không ai có thể thay thế.
Do
đó đủ biết, đệ tử Phật đối với chân tướng của
vũ trụ nhân sinh phải hiểu biết triệt để. Sau khi hiểu
rõ rồi có lợi gì? Ðiều lợi thì rất nhiều, nói không
thể hết được. Ðiều thứ nhất là từ nay về sau không
tạo nghiệp. Không tạo nghiệp thì không có quả, cũng không
có báo, không có quả không có báo thì đi đâu? Ðây chính
là chỗ mà kinh điển Phật thường nói, tức là siêu việt
mười pháp giới. Mười pháp giới là quả là báo. Nói một
cách khác, tứ thánh pháp giới là quả, đều là người tu
hành chứng quả. Lục đạo là báo, thiện có thiện báo, ác
có ác báo. Lại đem tiêu chuẩn hạ xuống một chút, thì lấy
lục đạo mà nói, tam thiện đạo là quả, tam ác đạo là
báo. Cho nên tiêu chuẩn có thể cao có thể thấp, đó là điều
chúng ta nhất định phải biết.
Sau
khi hiểu rõ rồi không tạo nghiệp, ít nhất cũng không tạo
nghiệp ác nữa. Thực tại trong sinh hoạt của chúng ta, mỗi
người đều mong muốn mình trong đời này đạt được hạnh
phúc khoái lạc chân chính, gia đình mỹ mãn, sự nghiệp thuận
lợi, xã hội tốt đẹp, quốc gia phú cường, thế giới hòa
bình. Ðiều này có thể làm được không? Ðều có thể làm
được. Tôi xin thưa với quý vị rõ rằng, chỉ có giáo dục
Phật giáo dạy chúng ta kết quả viên mãn trăm phần trăm.
Nếu như đem việc này nhận xét cho kỹ mới biết, giáo dục
Phật giáo là điều mà chúng ta cần phải tu học, phạm vi
giáo dục này là tận hư không biến pháp giới, đương nhiên
siêu việt quốc giới, siêu việt chủng tộc, siêu việt chủ
nghĩa, cũng siêu việt cả tôn giáo. Nói một cách khác chín
pháp giới hữu tình chúng sinh, người người đều nên tu
học, đều nên tiếp thu.
Tín
đồ tôn giáo đến học Phật, lúc Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni còn tại thế, chúng ta có thể thấy trong kinh điển ghi
chép rất nhiều. Sau khi Phật thị hiện thành Phật, bộ kinh
thứ nhất Ðức Phật tuyên giảng ở trong định là “Kinh
Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm”, chúng ta thấy rất nhiều
tôn giáo khác nhau, đều đến chỗ Ðức Phật Thích Ca Mâu
Ni để cầu học. Như Bà La Môn Thắng Nhiệt trong 53 tham là
tín đồ tôn giáo (Bà La Môn là tôn giáo của Ấn Ðộ). Họ
không chỉ là tín đồ tôn giáo Bà La Môn, mà còn là học
giả trong tôn giáo Bà La Môn, cũng là lão sư giáo đồ của
họ, giống như Mục sư của Cơ Ðốc giáo, cha cố của Thiên
Chúa giáo, giống như Biến Hành ngoại đạo v.v... Nữ Bà La
Môn nói trong Kinh Ðịa Tạng, là con gái của Bà La Môn giáo,
tu học Phật pháp, cô ta cũng chứng được quả vị A La Hán,
cũng có thể chứng được quả vị Bồ Tát, từ chỗ này
mà xét, thì sẽ hiểu được Phật giáo xác thực là siêu
việt tôn giáo, dù cho tín đồ tôn giáo nào đều cũng có
thể học Phật được.
Ở
trong giáo dục của Ðức Phật, A La Hán là học vị thứ nhất,
cũng giống như học vị cử nhân của đại học hiện nay,
họ có thể đạt được học vị này. Bồ Tát là học vị
cao hơn một cấp, tương đương với học vị thạc sĩ, họ
cũng có thể đạt được. Phật là học vị tối cao, tương
đương với học vị tiến sĩ, họ vẫn có thể đạt được,
cũng tức là nói họ có thể thành Phật, như vậy có cần
phải thay đổi tôn giáo của họ không? Không cần, giống
như đến trường học vậy, chúng ta lưu học ở nước ngoài,
không cần phải thay đổi quốc tịch của mình, không cần
phải thay đổi chủng tộc của mình, cũng không cần phải
thay đổi tín ngưỡng tôn giáo, mà là đến để cầu học.
Phật
giáo là giáo dục, A La Hán, Bồ Tát, Phật, đều là danh xưng
của học vị, không cần phải thay đổi tôn giáo, không cần
phải thay đổi chủng tộc, không cần phải thay đổi quốc
tịch, đều có thể đạt được bình đẳng. Ðó là điều
mà trước tiên chúng ta phải nhận thức rõ ràng. Chúng ta
đã hiểu một cách chính xác rồi, cần phải phát tâm cầu
học, phát nguyện làm học sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Ðây
chính là chỗ mà tục ngữ Trung Quốc thường nói, đã đến
cầu học, trước phải chính thức tôn kính thầy. Thầy sẽ
đem phương hướng, cương lĩnh, mục tiêu tu học truyền trao
cho ta, cách này gọi là “truyền thọ tam quy y”. Cho nên tam
quy y là chính thức bái thầy để học đạo.
Thầy
chúng ta là Phật Thích Ca Mâu Ni, cho nên chúng ta gọi ngài
là “BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT”. Bổn Sư là vị thầy
gốc, giáo dục Phật Ðà do Ngài sáng lập, truyền mãi cho
đến ngày nay đời đời thừa truyền, chúng ta thủy chung
không quên gốc, không quên ghi nhớ vị thầy bổn sư này.
Thực tại mà nói, đệ tử tại cửa Phật chỉ có một vị
thầy. Học sinh của thầy thời quá khứ trước chúng ta, là
học sinh của Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta ngày nay cũng tôn
Phật Thích Ca làm thầy, chúng ta cùng với họ là mối quan
hệ đồng học, chư đại Bồ Tát như Bồ Tát Văn Thù, Bồ
Tát Phổ Hiền, Bồ Tát Quán Âm đều là học sinh của Phật,
họ là đàn anh của chúng ta. Ðương nhiên họ có năng lực
dạy đạo cho chúng ta, chúng ta có thể nhờ vào thầy để
đối xử, để tôn trọng họ. Nhưng địa vị đích thực
của họ là bạn học của chúng ta, là đàn anh của chúng
ta, chúng ta là học đệ của họ. Mối quan hệ này cũng phải
phân biệt rõ ràng, không nên đem Phật, Bồ Tát, A La Hán làm
thần minh để đối xử, để cầu khẩn, đó là sai lầm.
Mục
đích tu học Phật pháp ở chỗ nào? Trong kinh luận Phật thường
dạy chúng ta “A NẬU ÐA LA TAM MIỆU TAM BỒ ÐỀ”. Câu này
là dịch âm của Phạn ngữ, đương thời trong thể thức ngũ
bất phiên thuộc về phần “tôn trọng không phiên dịch”.
Câu này rất quan trọng, chúng ta hết sức tôn trọng, cho nên
giữ lại nguyên âm của nó, dùng âm mà dịch thì ý nghĩa
của nó là “Vô thượng Chính đẳng Chính giác”, dùng từ
hiện nay mà nói tức là “trí tuệ cứu cánh viên mãn”.
Ý nói đối với chân tướng của vũ trụ nhân sinh không điều
gì là không biết, không điều gì là không giác. Ðó là mục
tiêu của người học Phật mong muốn đạt đến. Học Phật
phải biết điều chúng ta muốn học là gì, học là học cái
“trí tuệ cứu cánh viên mãn”, học là đối với “chân
tướng của vũ trụ nhân sinh phải triệt để hiểu rõ.”
Phật
nói với chúng ta “trí tuệ cứu cánh viên mãn”, chúng ta
xưa nay vốn có. Trong Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Xuất hiện Ðức
Phật có nói, “Tất cả chúng sinh, đều có đức tướng
trí tuệ của Như Lai”, đây thật là bình đẳng chân chính.
Tất cả chúng sinh, không những chỉ cho người trời, mà chỉ
cho tất cả động vật, sâu, kiến cũng là chúng sinh, ngạ
quỷ, địa ngục cũng là chúng sinh, đều có trí tuệ viên
mãn như Phật, hiện tại vì sao không có trí tuệ? Phật dạy
“Chỉ vì vọng tưởng, chấp trước mà không thể chứng
đắc”. Câu nói này Phật đã đem căn bệnh của chúng ta
mà giải trừ. Cũng chính là nói chúng ta vốn là Phật, hiện
tại biến thành như vậy chính là do vọng tưởng, chấp trước,
mới đem bản năng của mình bỏ mất, nhưng không phải là
thật mất. Nếu thật sự mất là không phải bản năng, nó
chỉ vì mê mà mất, do đó Bồ Tát Mã Minh trong cuốn “Luận
Khởi Tín” có nói với chúng ta “Bản giác vốn có, bất
giác vốn không” hai câu này nói rất hay. “Bản giác” chính
là đức tướng trí tuệ Như Lai, chúng ta vốn có. Vốn có
đương nhiên có thể chứng đắc. Ðiều này khiến cho chúng
ta kiến lập tín tâm, có thể đạt đến mục tiêu ấy, có
thể đạt đến nguyện vọng ấy.
“Bất
giác” chính là vọng tưởng, chấp trước mà Phật đã nói.
Vọng tưởng, chấp trước vốn vô, vốn không có, nhất định
có thể đoạn trừ được hết. Vốn có, nhất định có thể
chứng đắc. Ðiều này khiến chúng ta thành Phật đạo, đoạn
vọng tưởng, phá chấp trước, tín tâm được đầy đủ.
Cho nên chân tướng của sự thật nếu không hiểu rõ, chúng
ta cũng vẫn cứ hoài nghi. Chúng ta là hàng phàm phu tội nghiệp
sâu nặng có thể chứng đắc được Phật đạo không? Phiền
não, tập khí, vô minh của chúng ta nặng như vậy, có thể
đoạn dứt được không? Phật Bồ Tát từ bi chân thành vì
ta mà nói, vốn có, thì nhất định có thể đạt được,
vốn không có, thì nhất định có thể đoạn trừ. Lý thì
không sai, nhưng trên sự thật phải làm như thế nào? Trên
sự thật thì phải chú trọng tu hành.
Lý
là chỉ tính đức, đức năng của bản tính xác thực là
đầy đủ, nhưng ngày nay chúng ta xét cho cùng là có chướng
ngại. Giống như trên trời có mặt trời, nhưng lúc bị mây
che chúng ta không thấy được, đó cũng là sự thật. Tuy không
thấy nhưng xác thực là có mặt trời, chỉ cần giải tỏa
những đám mây ấy đi thì mặt trời sẽ xuất hiện. Tính
đức của chúng ta giống như mặt trời, chỉ cần đem đám
mây vọng tưởng, chấp trước trừ đi, một lần công phu
ấy là tu đức. Có tu đức, tính đức mới hiển hiện. Nếu
như có tính đức, không có tu đức thì là lục đạo phàm
phu, đều không có tu đức. Tính đức tuy vốn có đủ vẫn
phải luân hồi, vẫn phải sinh tử, vẫn phải chịu các thứ
khổ đau. Cho nên tu đức rất trọng yếu.
Tu
cái gì? Tu pháp nào? Bước đầu vào cửa Phật cầu thọ tam
quy, tức là thỉnh cầu thiện tri thức đem cương lĩnh tu hành
Phật giáo truyền trao cho chúng ta, để biết mình tu cái gì.
Tam quy, quy là hồi đầu, y là nương tựa. Nhà Phật thường
nói “hồi đầu là bờ” Người Trung Quốc ngày xưa nói
“hồi đầu như ý”. “Như ý” của Trung Quốc, đầu là
quay trở lại. Xưa kia làm quan lớn, trưởng giả giàu có trong
tay thường nắm giữ như ý, là để lúc nào cũng nhắc nhở
lấy mình, phải biết hồi đầu. Cho nên như ý cầm trong tay
là khiến cho người ta nhìn thấy nó, biết hồi đầu, hồi
đầu là bờ. Từ trong đó mà hồi đầu.
Tam
quy y điều thứ nhất là quy y Phật. Ðây là nói Tam Bảo,
tu hành Tam Bảo, thứ nhất là Phật Bảo. Phật ý là giác
ngộ, Phật Ðà là tiếng Ấn Ðộ, Trung Quốc ý là giác ngộ.
Nói một cách khác, dạy chúng ta từ bất giác, từ mê hoặc
điên đảo quay đầu trở lại, nương theo giác ngộ. Quý vị
nên suy nghĩ cho tường tận, chúng ta ngày nay phát tâm học
Phật, để cầu thọ tam quy y, tự mình có giác ngộ hay không?
Chỉ không giác ngộ mới không chịu hồi đầu, không chịu
học Phật. Cho nên học Phật để cầu thọ tam quy y, chính
là giác ngộ. Trên đường có rất nhiều người, bạn hỏi
họ vì sao họ không chịu học Phật, vì sao họ không chịu
thọ tam quy y? Họ vẫn không biết, vẫn mê hoặc điên đảo,
cho nên phát tâm học Phật, phát tâm cầu thọ tam quy y, là
bắt đầu giác ngộ.
Trong
“Ðàn Kinh” Lục Tổ Huệ Năng vì chúng ta giảng tam quy,
ngài không nói quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng. Chúng ta suy
đoán dụng ý của ngài, đại khái là Phật pháp truyền đến
Trung Quốc, trải qua thời gian rất lâu, e rằng người thường
nói đến Phật Pháp Tăng sẽ nảy sinh quan niệm sai lầm, khi
nói đến Phật thì nghĩ ngay đến tượng Phật bằng gỗ hoặc
xi măng, nói đến Tăng thì nghĩ đến người xuất gia, đây
không phải là chỗ quy y chân chính. Tam quy y giảng Phật là
tự tính Phật, tức là giác ngộ tự tính, cũng chính là bản
giác. Bồ Tát Mã Minh giảng “bản giác vốn có”. Nương
theo bản giác vốn có của bạn đó là đúng, không nên nương
theo thố giác và bất giác của bạn. Từ thố giác, từ bất
giác của bạn mà hồi đầu, nương theo bản giác vốn có
của bạn đó là quy y Phật. Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni giảng
quy y Phật, không nói quy y Phật Thích Ca Mâu Ni, Phật không
nói pháp này. Ðây là điều rất quan trọng. Quy y tự tính
Phật chính là hồi đầu nương tựa tính giác, nhất định
không thể làm sai. Nếu nương vào hình tượng bằng gỗ hoặc
bằng đất, như tục ngữ có nói ‘’Bồ Tát bằng đất
qua sông, tự thân khó giữ còn hòng độ ai’’, đó là điều
không thể, là điều sai lầm lớn.
Thứ
hai là quy y Pháp. Pháp là chính tri chính kiến, tức là tư
tưởng chân chính, hiểu biết chân chính, đối với cái nhìn,
cái hiểu về vũ trụ nhân sinh đều không có sai lầm, đó
là Pháp Bảo, là trí tuệ vô lượng tự tính vốn có đầy
đủ. Kinh Phật thường nói “Trí tuệ Bát Nhã” chính là
Tự tính Pháp Bảo. Chúng ta ở tại thế gian, đối sự, đối
vật nếu nghĩ sai, thấy sai, nói sai, làm sai, Phật dạy chúng
ta từ tất cả sai lầm mà hồi đầu, nương vào trí tuệ
tự tính vốn có, đó là quy y Pháp Bảo. Sau khi Phật diệt
độ, Tam Bảo lấy Pháp Bảo làm trung tâm, lấy Pháp Bảo làm
chủ, nói một cách khác, lấy trí tuệ làm chủ.
Trí
tuệ xét cho cùng không phải trong khoảng thời gian ngắn có
thể khôi phục, lúc trí tuệ của chúng ta chưa khai, thì phải
làm cách nào? Tất cả kinh luận Phật nói với chúng ta, chính
là chính tri chính kiến của Phật đối với vũ trụ nhân
sinh, tạm thời chúng ta lấy đó làm tiêu chuẩn. Trí tuệ
của mình chưa khai thì nương theo kinh luận của Phật, khi
chúng ta nghĩ điều gì, cần phải lấy kinh điển để đối
chiếu, Phật nghĩ như thế này, ta cũng nghĩ như vậy, chứng
minh cách nghĩ của ta không sai, hiểu biết này là chính xác,
là chính tri chính kiến. Như Phật dạy chúng ta phải hiếu
dưỡng cha mẹ, phụng thờ sư trưởng, từ tâm bất sát, tu
thập thiện nghiệp, và ta cũng nghĩ như vậy, chứng minh cách
nghĩ này của chúng ta là chính xác.
Nếu
như cách nghĩ của ta với lời nói của Phật không giống
nhau, phải nhớ rằng cách nghĩ ấy của chúng ta nhất định
sai lầm, tuyệt đối không phải cách nghĩ, cách nhìn trong
kinh điển của Phật sai lầm. Dù thế nào cũng không nên cho
rằng Phật là người của 3000 năm trước, hiện nay chúng
ta tiến bộ hơn so với tư tưởng của Ngài. Nghĩ như vậy
là sai lầm rất lớn. Cách nghĩ này thật là vớ vẩn. Không
nên cho rằng khoa học phát đạt như thế, mà chúng ta còn
phải dùng công cụ máy móc, mới có thể đem âm thanh, hình
ảnh ghi chép được. Phật Bồ Tát không dùng những thứ này,
vậy mà đời quá khứ, đời vị lai đều biết. Ngài không
cần dùng máy ghi hình vẫn có năng lực đem thế giới mười
phương hiển hiện trước mắt, cũng giống như vô tuyến truyền
hình vậy, hơn nữa là hình nổi, chứ không phải hình phẳng.
Ngài không cần những công cụ máy móc này, vậy thì đó là
năng lực gì? Là chính tri chính kiến, tính đức có thể sinh
vạn pháp, do đó nên có thể làm được. Chúng ta phát minh
những thứ cơ khí này đều là do vọng tưởng phát hiện,
so với thần thông vô lượng của Phật Bồ Tát thì cách xa
quá nhiều. Chúng ta phải khẳng định, phải thừa nhận những
lời dạy trong kinh điển của Phật là chân thật, là chính
xác. Chúng ta phải xả bỏ thành kiến của mình, y theo lời
Phật dạy mà tu hành.
Nói
đến điểm này, chúng ta lại phải chú ý đến một việc
nữa là kinh giả, nếu chúng ta gặp kinh điển giả dễ bị
người lừa gạt. Ðặc biệt là hiện nay đề xướng tự
do xuất bản nên ai cũng đều có thể viết sách. Không như
trước kia, kinh điển trước kia truyền đến Trung Quốc, phải
trải qua các học giả chuyên môn đương thời giám định,
do nhà nước thống nhất ban bố, chứng minh bản kinh sách
đó là thật. Lịch đại Tổ sư đối với việc chú giải
kinh luận cũng phải trải qua các vị cao Tăng đại đức đương
thời chứng minh họ giảng không sai, xác thực phù hợp với
ý của Phật. Rồi đem trình báo cho vua, vua phê chuẩn thì
bộ sách đó mới có thể ấn hành lưu thông, không như hiện
nay chẳng có người quản chế. Cho nên chúng ta muốn tra kinh,
đọc kinh, nhất định phải đọc kinh điển chân chính.
Kinh
điển chân chính với kinh giả làm sao phân biệt? Phân biệt
không khó, có thể tra trong Ðại Tạng Kinh. Kinh trong Ðại
Tạng tuyệt đối là chân thật. Tôi khuyên các bạn đồng
học nên xem Ðại Tạng Kinh đời xưa của Trung Quốc. Vì sao?
Hiện nay Ðại Tạng Kinh mà người ta biên tập, đối với
cá nhân là tốt, nhưng tác phẩm của họ không có trải qua
các sự thẩm tra của tập thể có uy tín mà đưa vào trong
Ðại Tạng Kinh. Cho nên, Ðại Tạng Kinh biên tập hiện nay
không bằng Ðại Tạng Kinh biên tập ngày xưa. Ðọc Ðại
Tạng Kinh, cần phải đọc bản triều Thanh về trước mới
đáng tin cậy. Ðại Tạng Kinh triều Thanh là do thời đại
Càn Long biên tập gọi là Long Tạng. Hiện nay Ðài Loan đem
bộ này in thành 162 quyển, gọi là Càn Long Ðại Tạng Kinh,
đây là bộ Ðại Tạng biên tập sau cùng trải qua nhiều đời
của Trung Quốc. Khoảng năm Dân quốc cũng biên tập rất nhiều,
nhưng e rằng có người trộn lẫn những thứ giả ở trong
đó. Từ Càn Long về trước tuyệt đối không có pha tạp
thứ giả, bởi vì phải trải qua sự phê chuẩn của vua. Khi
vua phê chuẩn là căn cứ vào sự thẩm tra của các cao Tăng
đại đức đương thời, cho nên rất nghiêm túc. Như vậy
chúng ta mới có thể phân biệt bộ kinh nào là chân thật,
bộ kinh nào là giả. Bộ chú giải nào xem được, bộ chú
giải nào không cần phải xem. Ðó là tiêu chuẩn để chọn
lựa. Nhất định phải khiêm nhường, đối với Phật phải
tin tưởng, tin sâu không nghi, cần phải xả bỏ thành kiến
của mình, tiếp thụ lời dạy của Phật Bồ Tát.
Thứ
ba là quy y Tăng. Tăng không phải chỉ người xuất gia. Tăng
ý là thanh tịnh, sáu căn thanh tịnh, một hạt bụi trần không
nhiễm. Người hiện nay rất đáng thương, ô nhiễm về tâm
lý, ô nhiễm về tinh thần, ô nhiễm về tư tưởng, ô nhiễm
về hiểu biết, thậm chí ô nhiễm về cả về sinh lý. Không
những thân tâm chúng ta bị ô nhiễm nghiêm trọng, môi trường
sinh thái của địa cầu cũng mất quân bình, đó là sự ô
nhiễm của toàn thế giới. Nghe nói tầng ôzôn bị thủng,
trời cũng bị ô nhiễm nữa, thật đáng sợ. Trời, đất,
người đều ô nhiễm nghiêm trọng. Phật dạy chúng ta từ
trong ô nhiễm này mà hồi đầu, nương tựa vào tâm thanh tịnh.
Sự ô nhiễm môi trường ngày nay ai cũng đều ý thức, cho
nên rất nhiều quốc gia chính phủ đều đề xướng bảo
vệ môi trường trong sạch. Công tác bảo vệ này có hiệu
quả không? Rất có hiệu quả. Phật nói: “Y báo tuỳ theo
chánh báo mà chuyển”, nếu trong tâm chúng ta ô nhiễm không
thể tịnh hóa, sự ô nhiễm môi trường không có cách gì
đạt được tiêu chuẩn thanh tịnh, cho nên muốn cải thiện
sự ô nhiễm môi trường, trước phải từ chỗ tịnh hóa
tâm con người. Ðó là điều quy y thứ ba trong tam quy, từ
chỗ nhiễm ô quay trở về tâm trong sạch.
Tăng
Bảo không những hàm ý thanh tịnh mà còn có ý là hòa hợp.
Chúng ta quan sát thế giới, giữa nước này với nước kia
không hòa, giữa tôn giáo với tôn giáo không hòa... khiến
cho cuộc sống của chúng sinh rất thống khổ. Cho nên Phật
dạy chúng ta “lục hòa kính”, đây là bài pháp mà người
đệ tử Phật cần phải tu học. Tăng nghĩa là thanh tịnh
hòa kính, chúng ta từ chỗ bất hòa bất kính mà hồi đầu,
nương theo lục hòa kính, nương theo tâm thanh tịnh. Ðây chính
là bước đầu vào cửa Phật truyền trao cho chúng ta cương
lĩnh học Phật tu hành. Cương lĩnh này từ lúc sơ phát tâm
cho đến thành Phật đều không thể thay đổi, cho nên nó
là cương lĩnh học Phật tuyệt đối, cương lĩnh chân thật.
Quy
y Phật là giác mà không mê, quy y Pháp là chính mà không tà,
quy y Tăng là tịnh mà không nhiễm. Tam quy y là giác, chính,
tịnh. Sau này có người hỏi: “Bạn học Phật, tu hành là
tu cái gì?”. Chúng ta có thể trả lời, tôi tu Giác, Chính,
Tịnh. “Bạn học Phật là học cái gì?”. Học trí tuệ
cứu cánh viên mãn. Giác, Chính, Tịnh đạt đến trình độ
viên mãn “Vô thượng Chính đẳng Chính giác” thì được,
đây chính là thành Phật. Trí tuệ cứu cánh viên mãn làm
thế nào có thể đạt được? Tu Giác, Chính, Tịnh thì có
thể đạt được. Ðây là điều mà chúng ta học, tu rõ ràng
minh bạch. Có người hỏi bạn: “Bạn tu phương pháp gì?”.
Phương pháp là pháp môn mà nhà Phật giảng giải, pháp là
phương pháp, môn là môn kính (con đường). Phương pháp môn
kính rất nhiều, tám vạn bốn ngàn pháp môn, vô lượng pháp
môn, phương pháp môn kính không có nhất định, có thể tùy
duyên thay đổi sử dụng. Thế nhưng phải ghi nhớ mục tiêu
không thể thay đổi, mục tiêu đó là Giác, Chính, Tịnh, còn
phương pháp có thể thay đổi được.
Phương
pháp chủ yếu của chúng ta ngày nay áp dụng là “Trì danh
niệm Phật”. Pháp này do ngài Ðại Thế Chí Bồ Tát đề
xướng. Trong Kinh Hoa Nghiêm ngài Phổ Hiền Bồ Tát cũng đề
xướng, chúng ta nên dùng phương pháp này tu là chính. Ngoài
môn tu chính này ra, trong sinh hoạt hằng ngày, chúng ta có thể
dùng nhiều pháp môn khác để phối hợp, đó là trợ tu. Về
phương diện trợ tu chúng ta đề xướng “Ngũ đức”, dùng
ngũ đức trợ giúp chúng ta tu dưỡng thân tâm. Ngũ đức là
điều mà Khổng Tử tu tập. Trong Luận Ngữ có nói, học trò
của Khổng tử tụ tập một chỗ, mọi người nói về đức
hạnh của thầy, họ đều thừa nhận ngài có năm đức: Ôn,
lương, cung, kiệm, nhượng (ôn hòa nhân hậu, lương thiện,
cung kính thận trọng, tiết kiệm, nhịn nhường). Ðó là thánh
nhân của Trung Quốc, chúng ta lấy ngài làm tấm gương, làm
tiêu chuẩn, chúng ta nên học ngũ đức này. Ngũ đức là nền
tảng của nền tảng, từ trên ngũ đức này mà xây dựng
tam phước.
“Tam
phước” được nói trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật. Thứ
nhất là hiếu dưỡng cha mẹ, phụng sự sư trưởng, từ tâm
bất sát, tu thập thiện nghiệp. Thứ hai là thọ trì tam quy,
đầy đủ các giới, không phạm oai nghi. Thứ ba là phát Bồ
đề tâm, tin sâu nhân quả, tụng đọc Ðại thừa, khuyến
người tu hành. Phật nói tam phước này là “Chính nhân tịnh
nghiệp của ba đời chư Phật”. Tất cả chư Phật mười
phương ba đời do đâu thành Phật? Ðều từ trên cơ sở này
tu tập mà thành. Do đó chúng ta học Phật, tương lai muốn
thành Phật, đương nhiên không thể lìa cơ sở này được.
Ðiều này rất trọng yếu.
Từ
tam phước tiến tu “lục hòa”. Lục hòa kiến lập trên
cơ sở tam phước. Tam phước không làm được thì lục hòa
tuyệt đối cũng không thể thực hành được. Lục hòa kính,
thứ nhất là “Kiến hòa đồng giải”, chính là xây dựng
hiểu biết chung mà chúng ta đang nói ngày nay. Nếu mọi người
trên thế giới, tư tưởng hiểu biết đều gần gũi nhau,
trên thế giới sẽ hòa bình, sẽ không có tranh chấp lẫn
nhau. Cho nên giáo dục của Phật là đối với tất cả chúng
sinh tận hư không biến pháp giới mà xây dựng ý thức chung,
ý thức chung này thật sự rất cao minh, là ý thức chung của
tự tính, mà chẳng phải đi theo Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
đã đi. Sự cao minh của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni khiến cho
người ta bội phục, nhưng Ngài không thể lôi chúng ta đi
được, mà chỉ dạy chúng ta mỗi người đầu đội trời
chân đạp đất, phát huy đức năng trí tuệ tự tính, không
phải học theo Ngài là đủ, mà là khai phát đức năng trí
tuệ tự tính của mình. Cách dạy học này thật sự khiến
cho người ta tâm phục khẩu phục.
Thứ
hai là “Giới hòa đồng tu”, giới hòa tức là thủ pháp
(tuân theo pháp luật), người người bồi dưỡng quan niệm
thủ pháp. Mọi người hiểu biết thân cận nhau đều có thể
thủ pháp, xã hội an định phồn vinh, thiên hạ thái bình
tự nhiên thực hiện được. Trong lục hòa kính còn có một
điều rất trọng yếu đó là “Lợi hòa đồng quân”. Xã
hội ngày nay khoảng cách của cải không lớn lắm, càng gần
càng tốt, đó là sự phân phối của cải đồng đều, lòng
người bình rồi thì sẽ không có tranh chấp. Ðương nhiên
của cải phân phối đồng đều là trí tuệ rất cao, đây
thật là tu phước. Của cải của người ta tuyệt đối không
bình đẳng, bởi vì mỗi cá nhân tu phước báo không giống
nhau, cũng tức là tu nhân không giống nhau. Có người trồng
cây, họ sẽ thu quả. Có người không trồng cây, họ sẽ
không có quả để thu. Có thu hoạch muốn phân chia một chút
cho bạn, thì người nhà phải đồng ý từ bi bố thí mới
được. Chân tướng của sự thật này chỉ có Phật pháp
mới giảng rõ ràng minh bạch. Một mặt Phật khuyên người
có phước báo phải chiếu cố người không có phước báo,
đồng thời khuyên người không có phước báo phải tu phước
nhiều hơn nữa, để đời sau phước báo của bạn và họ
như nhau, thậm chí còn vượt hơn họ. Ðó là gốc ngọn đều
đầy đủ. Chỉ có Phật pháp thật sự thù thắng, có thể
giúp cho thiên hạ thái bình.
Có
cơ sở tam phước, lục hòa rồi, từ đó mới có thể kiến
lập Phật pháp chân chính. Giới, Ðịnh, Tuệ tam học, là
môn học chung của tam thừa. Từ cơ sở này lại kiến lập
Ðại thừa Phật pháp, tức là “Lục độ”, lục Ba la mật
của Bồ Tát. Từ Ba la mật lại kiến lập Nhất thừa Phật
pháp. Như trong Kinh Pháp Hoa đã nói “Chỉ có nhất thừa pháp,
không hai cũng không ba”, còn trong Kinh Hoa Nghiêm thì là “Thập
đại nguyện vương” của Bồ Tát Phổ Hiền.
Quý
vị tu học Tịnh tông nên biết, chúng ta lấy ngũ đức của
Khổng Phu Tử làm căn bản làm người xử thế. Từ trên căn
bản này tu thêm, tức là tam phước, lục hòa, tam học, lục
độ, thập nguyện mà Ðức Phật đã dạy chúng ta, những
pháp này rất dễ nhớ, cũng không nhiều lắm, năm mục này
làm trợ học cho chúng ta. Chính trợ song tu, những thứ mà
đời này chúng ta mong cầu như hạnh phúc an vui, gia đình mỹ
mãn, sự nghiệp thành công, xã hội tốt đẹp, nhất định
có thể đạt được. Do đó nên biết, đã hiểu rõ ràng rồi,
lại phát tâm lễ bái thầy, thì phải nhận thức rõ việc
tu học, hy vọng đạt đến mục tiêu lý tưởng giáo dục.
Tôi vì quý vị truyền trao tam quy y chân chính, quy y Tự tính
Tam Bảo.
Ngoài
Tự tính Tam Bảo còn có Trụ trì Tam Bảo, tức là Tam Bảo
trên hình thức. Trên hình thức, tượng Phật là Phật Bảo.
Phật không còn tại thế, tượng Phật dù là điêu khắc hay
họa vẽ, hoặc hình ảnh in hiện nay đều tốt cả. Cúng dường
tượng Phật có hai ý trọng: Thứ nhất là không quên gốc.
Chúng ta thấy tượng Phật thường nghĩ đến lời dạy của
thầy, tưởng nhớ ân đức của thầy. Như người Trung Quốc
không quên tổ tiên, tổ tiên đã mất chúng ta lại cách xa,
diện mạo cũng không biết, chúng ta vẫn phải cúng bài vị
lịch đại tổ tông, thường nghĩ đến tổ tiên, đó là không
quên gốc, tâm địa tử tế. Thứ hai là nhắc chúng ta thấy
bậc hiền noi theo, thầy đã thành Phật, ta cũng phải thành
Phật, nhắc mình quy y Phật. Khi nhìn tượng Phật, ta phải
quy y giác, phải giác mà không mê. Tượng Phật có tác dụng
như thế, nếu không thì ai sẽ thường thường nhắc nhở
bạn? Không có người nào nhắc nhở bạn cả, người ta nhắc
nhở bạn, bạn còn trách họ là rắc rối, cho nên dùng tượng
Phật để nhắc nhở mình quy y giác. Khi thấy kinh sách thì
nghĩ đến ta quy y Pháp, tư tưởng hiểu biết của ta phải
chính xác. Khi thấy người xuất gia, thì nghĩ đến ta phải
giữ sáu căn thanh tịnh, một hạt bụi trần không nhiễm,
phải hòa thuận đối xử với người. Cho nên Trụ trì Tam
Bảo có tác dụng rất tốt. Người xuất gia mặc Tăng phục,
bạn đã thọ tam quy y rồi, khi thấy người xuất gia, tự
nhiên nghĩ đến phải sáu căn thanh tịnh. Nhìn người thường
thì sẽ không nghĩ như vậy. Cho nên Trụ trì Tam Bảo đối
với chúng ta có lợi ích rất lớn, luôn luôn nhắc nhở chúng
ta.
Trong
nhà quý vị thiết trí bàn thờ, cúng dường Tam Bảo, tượng
Phật là Phật Bảo, tượng Bồ Tát là Tăng Bảo. Nếu chúng
ta thờ Tây phương tam Thánh, Quan Âm Thế Chí là Tăng Bảo,
các ngài là học trò của Phật, là bạn học trước của
chúng ta. Kinh sách là Pháp Bảo. Trong nhà thờ Tam Bảo đầy
đủ, lúc nào cũng nhắc nhở chúng ta không quên Tự tính Tam
Bảo.
Kinh
Vô Lượng Thọ là bộ kinh mà chúng tôi hiện nay đặc biệt
đề xướng. Nội dung của bộ kinh này rất viên mãn, kinh
văn không dài, rất thích hợp với người thời nay tu học.
Trên đề kinh đã đem toàn bộ tôn chỉ mục tiêu, phương
pháp tu hành trong Phật pháp hiển thị ra, đó là chỗ bất
khả tư nghị của kinh này. Người học Phật chúng ta cầu
gì? Chúng ta cầu vô lượng, công đức tự tính là vô lượng.
Kinh nói “Vô lượng thọ” là đại biểu cho vô lượng.
Thọ mạng vô lượng, trí huệ vô lượng, tài nghệ vô lượng,
đức năng vô lượng, của cải vô lượng, ta đều mong cầu
vô lượng thứ. Tự tính vốn đầy đủ vô lượng tính đức.
Cho nên đại sư Huệ Năng lúc khai ngộ đã nói: “Nào ngờ
tự tính vốn đầy đủ. Nào ngờ tự tính hay sinh vạn pháp”.
Mười pháp giới y chính trang nghiêm vô lượng vô biên, đều
là tự tính biến hiện ra, chúng ta ngày nay cầu là cầu cái
này. Dùng lời hiện nay mà nói, “trang nghiêm” tức là chân
thiện mỹ tuệ. Tại thế gian này, chân thiện mỹ tuệ là
hữu danh vô thật. Chỗ nào có chân thật? Trong tự tính là
chân thật. Nếu bạn hướng vào tự tính, hướng vào trong
mà tìm, chân thiện mỹ tuệ đầy đủ, thì là đều tốt
đẹp, đó là hình ảnh của tính đức.
Phương
pháp tu học là chữ “thanh tịnh” trong đề kinh. “Thanh
tịnh” là Tăng Bảo, “bình đẳng” là Pháp Bảo, “giác”
là Phật Bảo, ba cương lĩnh lớn của sự tu hành hiển thị
trong đề kinh này. Năm chữ này là Tam Bảo, cũng là tam học,
tam học bao quát tất cả kinh luận mà Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni đã nói trong 49 năm. Thanh tịnh là giới học, tức là
tạng Luật. Bình đẳng là định học tức là tạng Kinh. Giác
là tuệ học tức là tạng Luận. Cho nên năm chữ này là ba
tạng, lại là tam học, Tam Bảo.
Bộ
kinh này tuy mỏng, nhưng toàn bộ Phật pháp thâu tóm trong đó.
Nếu chúng ta công việc bận rộn, không có thời gian nhiều
nghiên cứu kinh điển Phật giáo, nên từ bộ kinh này hạ
thủ công phu. Bộ kinh này đã quán thông rồi thì Ðại Tạng
Kinh mà Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni nói trong 49 năm cũng sẽ
thấu suốt toàn bộ. Không chỉ Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni
nói trong 49 năm, cho đến mười phương ba đời tất cả chư
Phật Như Lai, vì tất cả chúng sinh tuyên thuyết vô lượng
vô biên pháp môn, cũng không vượt ra ngoài nội dung kinh này.
Bộ “Kinh Ðại Thừa Vô Lượng Thọ Trang Nghiêm Thanh Tịnh
Bình Ðẳng Giác” này, có thể nói là tóm thâu tất cả kinh,
tinh hoa của tất cả kinh, do chỗ đặc biệt này nên giới
thiệu với quý vị. Chúng ta muốn quy y, thật sự mà nói,
y chiếu lời dạy trong bộ kinh này mà tu học, tam quy y sẽ
đạt đến chỗ viên mãn cứu cánh.
Hôm
nay tôi đem đại ý của tam quy y truyền trao cho quý vị, quý
vị chân thành tiếp nhận, ở trước chư Phật Bồ Tát cung
kính phát thệ quy y đọc ba lần, phát thệ phải phát từ
trong tâm phát ra. Tôi xin phát nguyện, nguyện làm học trò
của Phật, mong muốn được học Phật. Tịnh Không này vì
bạn làm chứng minh, tôi là thầy chứng minh của bạn, là
thầy truyền trao tam quy cho bạn. Bổn sư là Phật Thích Ca
Mâu Ni, phải hiểu rõ điều này. Không nên xem tôi là bổn
sư, vì nói rằng quy y với pháp sư Tịnh Không, đó là sai
lầm lớn. Chúng ta quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng là đệ
tử của Tam Bảo. Ðại ý của quy y Tam Bảo chính là chỗ
này.
Phần
dưới là nghi thức tam quy, giản đơn mà long trọng. Chúng
ta có một tờ giấy chứng nhận quy y, lời nguyện ở trong
đó là do đại sư Hoằng Nhất y theo giới luật trích ra. Ðại
sư nói với chúng ta, lời thệ nguyện này Ðức Phật Thích
Ca Mâu Ni lúc còn tại thế đã dùng để trao tam quy y cho đệ
tử. Cho nên chúng ta cũng dùng lời thệ nguyện này, đã không
quên gốc lại còn rất đơn giản, dễ thọ trì. Quý vị cần
phải đem tâm chí thành, tâm thanh tịnh, tâm từ bi, tâm cung
kính ở trước tượng chư Phật Bồ Tát, theo lời nói của
tôi, thận trọng tuyên thệ, thề làm đệ tử Tam Bảo, từ
nay về sau y theo lời dạy của Phật tu hành, cầu sinh Tịnh
độ, quảng độ chúng sinh.
A Xà
Lê chứng giám, con đệ tử Diệu Âm, từ nay cho đến trọn
đời:
Quy
y Phật Ðà lưỡng túc trung tôn
Quy
y Ðạt Ma ly dục trung tôn
Quy
y Tăng Già chư chúng trung tôn.
Bà
chủ nhà làm thế nào trong sinh hoạt hằng ngày tu Bồ Tát
đạo
Mỗi
ngày làm công việc giống nhau, chắc chắn sẽ có cảm giác
rất chán. Nhất là bà chủ gia đình, dường như cả ngày
không có giải thoát, phần nhiều đều cảm thấy khổ não.
Nếu có thể đem quan niệm này chuyển đổi lại thì sẽ được
rất nhiều an lạc. Trong quan niệm của người phàm thường
chấp trước có “ta”, ta làm, ta vất vả, ta vì sao phải
làm thay cho người, càng nghĩ phiền não càng nhiều. Nếu học
Bồ Tát đạo, phát đại thệ nguyện muốn phổ độ chúng
sinh, cách nghĩ cách nhìn của họ sẽ khác đi.
Hành
Bồ Tát đạo, thứ nhất phải tu “bố thí Ba la mật”. Bồ
Tát chủ nhà ở trong gia đình vì người nhà mà phục vụ,
đó là tu bố thí Ba la mật. Bố thí có ba thứ, là tài thí,
pháp thí, vô úy thí. Tài thí có nội tài, ngoại tài. Ngoại
tài là chỉ cho việc kiếm tiền bên ngoài, cúng dường sinh
hoạt cho một nhà. Nội tài là dùng thể lực của mình vì
người trong nhà mà phục vụ. Công việc ở trong nhà làm cho
được viên mãn ba điều bố thí này. Bạn sửa sang việc
nhà cho ngăn nắp, sạch sẽ khiến cho sinh hoạt của người
nhà được thoải mái, khiến cho người hàng xóm mến mộ
đó là “trì giới Ba la mật”, trì giới tức là tuân thủ
pháp luật. Bạn làm với tâm trí chịu đựng, làm không mệt
mỏi, không chán nản tức là “Nhẫn nhục Ba la mật”. Mỗi
ngày cần phải cải tiến, hy vọng ngày hôm sau tốt hơn ngày
hôm nay đó là “Tinh tấn Ba la mật”. Tuy mỗi ngày làm rất
nhiều việc nhà, tâm vẫn thanh tịnh, một hạt bụi trần
không nhiễm, tức là “Thiền định Ba la mật”. Trong tâm
thanh tịnh thường sinh trí tuệ, tràn đầy niềm vui pháp,
là “Bát nhã Ba la mật”. Vì thế hiểu được lục Ba la
mật của Bồ Tát, chính là thành tựu một cách viên mãn các
việc như lau bàn, quét nhà, giặt áo, nấu cơm. Ðó chính là
học Bồ Tát hạnh, tu Bồ Tát đạo mà Thiện Tài đồng tử
đã biểu diễn trong Kinh Hoa Nghiêm.
Bạn
làm việc nhà tốt rồi, tức là làm bà chủ nhà gương mẫu
của thế gian, gương mẫu của tất cả gia đình. Như thế
có thể độ được hàng xóm, suy rộng ra có thể ảnh hưởng
xã hội, quốc gia, thế giới cho đến tận hư không biến
pháp giới. Như thế mới hiểu được việc quét nhà, lau bàn,
nấu cơm, giặt áo của Bồ Tát tại gia vốn là đại nguyện
đại hạnh độ tận hư không biến pháp giới hết thảy chúng
sinh. Như thế mới là học Phật, là chính niệm, là thật
tướng của các pháp. Nếu có thể quán sát như thế thì tràn
đầy niềm vui pháp, làm sao khởi phiền não được ! Tu học
Phật pháp nhất định phải thực hiện trong cuộc sống, không
thực hiện trong cuộc sống thì không có tác dụng. Nếu hiểu
rõ điều này, đem suy diễn ra, làm việc tại công ty cũng
là tu lục Ba la mật. Bồ Tát ở các ngành nghề thị hiện
các loại thân nam nữ già trẻ khác nhau, tu học tức là cuộc
sống của mình, bình đẳng không hai, đều là một không có
hai.