Pháp
Yếu Truyền Tâm
Thiền Sư
Đoạn Tế Ở Núi Hoàng Bá (Tiếp theo)
CHÁNH
VĂN:
Phàm
nhân khi sắp mạng chung chỉ quán năm uẩn đều không, bốn
đại vô ngã, chân tâm không tướng, chẳng đi chẳng đến,
khi sanh tánh cũng chẳng đến, khi tử tánh cũng chẳng đi,
yên lặng tròn bặt, tâm cảnh nhất như. Chỉ hay quán như
thế liền đó chóng liễu ngộ, chẳng bị ba đời ràng buộc
bèn là người xuất thế.
GIẢNG:
Người
tu thiền khi sắp lâm chung phải làm sao? Ngài dạy chỉ quán
năm uẩn đều không, bốn đại vô ngã như trong kinh Bát-nhã.
Chân
tâm không tướng, chẳng đi chẳng đến, khi sanh tánh cũng
chẳng đến, khi tử tánh cũng chẳng đi, yên lặng tròn bặt,
tâm cảnh nhất như. Nói rằng quán năm uẩn đều không, bốn
đại vô ngã điều này nhiều người quán được. Nhưng tới
chân tâm không tướng, chẳng đi chẳng đến làm sao biết?
Đã không biết vì sao nói chân tâm không tướng, chẳng đi
chẳng đến, khi sanh tánh cũng chẳng đến, khi tử tánh cũng
chẳng đi? Không biết mình có chân tâm mà bảo quán chân tâm
làm sao quán? Đó là một vấn đề.
Ai
cũng nói có chân tâm, mà nó hiện lúc nào ra sao lại không
biết. Khi đọc kinh sách tưởng như mình hiểu, thực ra chỉ
hiểu trên danh từ thôi, chớ thực chất chưa nắm được.
Quí vị muốn thấy chân tâm thì phải dùng trí tuệ sẵn có
muôn đời của mình mà nhận. Thường mọi người luôn lấy
ý thức sanh diệt làm tâm mình. Như vậy tất cả nghĩ phải
nghĩ quấy, nghĩ hơn nghĩ thua, nghĩ tốt nghĩ xấu v.v… đều
cho là tâm mình. Người nào nghĩ khéo, nghĩ trúng thì khen tâm
họ sáng, ai nghĩ trật nghĩ sai thì nói tâm họ mù mịt, đần
độn quá.
Trăm
người như một đều nhận suy nghĩ phân biệt đối đãi làm
tâm mình, không biết đó là tâm động, tâm sanh diệt. Nó
đâu có nghĩ hoài một việc mà thay đổi luôn luôn. Nó là
động, là sanh diệt mà chúng ta nhận là tâm mình, nhận thân
tứ đại sanh diệt làm thân mình thì đang sống với cái gì?
Sống với cái tạm bợ, hư dối sanh diệt. Đã lấy tạm bợ
hư dối sanh diệt là mình, thì cái này hoại bám cái khác,
cái khác hoại bám cái khác nữa, liên tục cho nên tiếp tục
trong vòng sanh tử không cùng tận. Đó là nỗi khổ của chúng
sanh, cứ như vậy triền miên sanh tử kiếp kiếp đời đời,
không dừng được. Cho nên đức Phật hết sức thương xót.
Ngày
nay chúng ta tu muốn thoát ly sanh tử, mà cứ bám vào thân tâm
sanh diệt ấy, làm sao thoát ly được. Như người muốn qua
sông lớn mà nương chiếc xuồng lủng, chiếc ghe bể thì sao?
Thì chết chìm. Muốn qua sông lớn ít ra cũng có thuyền chắc
hay tàu lớn, cái không bền chắc mà dùng vượt sông biển
thì không thế nào được. Tu hành cũng vậy, chúng ta phải
biết cái gì là chân tâm, cái gì là vọng tâm hư dối. Nắm
vững để chúng ta không bị kẹt trong tướng sanh diệt, mà
nhận lấy cái bất sanh bất diệt, nhà Phật gọi là Niết-bàn.
Chân tâm là nhân của Niết-bàn sẵn có nơi mỗi người, mà
không ai chịu nhận. Thật đáng tiếc.
Lục
Tổ hỏi ngài Huệ Minh: “Không nghĩ thiện, không nghĩ ác,
cái gì là bản lai diện mục của Thượng tọa Minh?” Đó
là Ngài đã chỉ chân tâm cho Thượng tọa Minh rồi. Chúng
ta cứ nói tâm chân, tâm vọng mà hỏi tâm là gì cũng không
biết, cứ cho suy nghĩ hai bên là tâm. Sự thật ngài Khuê Phong
định nghĩa rõ ràng “Tâm là cái biết”. Cái biết nào thuộc
về hư dối sanh diệt gọi là biết vọng. Cái biết không
sanh không diệt là biết chân. Cái biết nghĩ phải nghĩ quấy,
nghĩ hơn nghĩ thua là cái biết sanh diệt. Không dùng cái biết
sanh diệt, mình vẫn biết đó là chân.
Vì
chúng ta không gan dạ, không dám nhìn thẳng để nhận ra cái
thật, cứ chạy theo những dấy nghĩ cho là tâm mình nên quên
mất cái thường biết lặng lẽ. Như vậy có tủi không? Chúng
ta quả tang là chàng bất hiếu cùng tử, ông cha sung sướng
giàu có mà bỏ chạy tha hương, tới chừng thức tỉnh mới
tìm trở về. Đâu phải cha đuổi mà chính mình bỏ nhà đi
hoang. Cũng thế, chân tâm hiện giờ ai cũng có, mà không chịu
nhận. Vì vậy chúng ta ngồi thiền để dừng nghĩ phải, nghĩ
quấy, dừng vọng tâm. Vọng tâm dừng lúc đó chân tâm hiện
ra. Biết tất cả đó là tâm, mà không động.
Các
vị Tổ hồi xưa nói “đêm đêm ôm Phật ngủ”, ôm ông
Phật ngủ mà không nhớ Phật, lại gác tay gác chân đè Phật,
“ngày ngày cùng Phật đi”, mà không thèm ngó ngàng tới
Phật, toàn là ngó theo chúng sanh. Thấy cây dù xanh lo nhìn
cây dù xanh, thấy chậu hoa đỏ lo nhìn chậu hoa đỏ, cứ
phân biệt theo cảnh bên ngoài, không nhớ mình có ông Phật
đang đi theo đây. Bởi vậy đi đứng nằm ngồi không rời
chân tâm, mà chúng ta lại không bao giờ nhận nó, cứ nhận
cảnh vật bên ngoài, trách gì không luân hồi muôn kiếp. Bây
giờ muốn dừng luân hồi phải nhớ mình có tâm chân thật.
Đó là cái không nghĩ suy tính toán, lặng lẽ thường
biết hiện tiền. Diễn tả nó làm sao? Nó không là gì hết,
vì không có hình dáng. Có hình dáng là tướng vô thường
sanh diệt. Nó không phải vô thường sanh diệt nên không hình
dáng mà hằng tri hằng giác.
Mỗi
ngày chúng ta ngồi thiền là để sống lại với tâm thật
của mình, không tìm cầu bên ngoài. Nhưng khổ nỗi nhiều
người ngồi thiền mong thấy hào quang, mà không biết chính
tâm lăng xăng loạn tưởng dừng, luôn luôn tỉnh sáng, đó
là tâm chân thật hiện tiền. Cho nên nói ôm tâm chờ ngộ
là sai. Có gì đâu phải chờ, chỉ cho bọn giặc lặng xuống,
đừng rối loạn lăng xăng nữa thì cái thật hiện ra. Thiền
sư lúc sống với đạo thường như ngu như ngây, khờ khạo.
Khờ khạo với lanh lợi phân biệt, nhưng biết thấu tột
cả vũ trụ nhân sinh, thấy tường tận cội gốc của nó.
Còn chúng ta ngày nay lanh lợi quá, chỉ biết chuyện hơn thua
phải quấy thôi, nên tu hoài vẫn không hết vô minh phiền
não.
Chúng
sanh quá khờ dại, những chuyện không có quyền can thiệp,
không có quyền xử sự mà cứ muốn biết, còn cái thật đang
sống với mình lại bỏ qua, đáng thương không? Vì vậy chư
Phật Bồ-tát thị hiện ra đời là vì chúng sanh, muốn độ
chúng thoát ly sanh tử. Thoát ly sanh tử không phải thân này,
không phải tâm hơn thua phải quấy. Thoát ly sanh tử là nhận
ra cái chân thật mà mình bỏ quên nên cứ trầm luân mãi.
Phật thương nhắc đi nhắc lại không biết bao nhiêu kinh điển,
mà nào có mấy người hưởng ứng? Như tôi nói pháp mười
năm nữa cũng vậy thôi. Nói qua rồi quí vị quên, chỉ nhớ
chuyện bên Tây bên Tàu, chớ không nhớ mình có ông Phật
chân thật ngay đây. Tu như vậy tới gần chết quýnh lên không
biết mình ra sao? Tại vì cứ bám vào thân sanh diệt, tâm sanh
diệt cho là mình, tới khi nó sắp hoại mất thì sợ sệt
hoảng hốt. Còn biết mình sẵn tâm chân thật rồi thì thân
tạm bợ này hoại diệt có sao đâu, việc gì phải khổ.
Cho
nên các Thiền sư cười trước khi chết, vì thấy thân là
đồ bỏ không đáng giá chi, tạm mượn nó sống tu. Bây giờ
hết duyên thì đi, các ngài xem nhẹ sự sống chết như thế.
Chúng
sanh ngược lại, cho thân là thật nên một lần mất nó là
một lần đau khổ vô cùng. Chẳng những đau khổ vì mất
nó, mà đau khổ không biết sẽ đi đâu. Tổ Qui Sơn nói: “Đường
trước mờ mờ chưa biết về đâu?” Vì vậy chúng ta học
đạo cốt để tu, đừng phụ bạc ông chủ mình nữa. Người
nào đừng để tâm chạy ngược chạy xuôi, dừng nghỉ hết
lăng xăng, tỉnh táo vui vẻ đó là người sống với chân
tâm. Được như vậy người đó khi nhắm mắt đi với cái
không sanh diệt tức là nhập Niết-bàn. Ngược lại cứ sống
với phải quấy hơn thua thương ghét, thì đi với tâm sanh
diệt tạo nghiệp, dẫn trong sáu nẻo luân hồi.
Bây
giờ quí vị biết quán chân tâm là sao chưa? Quán chân tâm
là biết rõ tất cả niệm khởi thuộc tướng sanh diệt, cái
hằng giác hằng tri không dấy động là mình. Cứ nhớ bao
nhiêu đó thì sống với ông chủ, ra đi tự tại, thảnh thơi
biết mấy. Tổ bảo khi sắp mạng chung chỉ quán năm uẩn
không thật, bốn đại vô ngã. Cái hằng tri giác không sanh
không diệt nên khi sanh tánh nó không đến, khi tử tánh nó
không đi, yên lặng tròn bặt, tâm cảnh nhất như.
Người
nào quán được như vậy thì liền chóng liễu ngộ, chẳng
bị ba đời ràng buộc, bèn là người xuất thế. Bao nhiêu
kinh điển đều chỉ một đoạn này, người thấy được
đường tu thì rất gần. Nếu người còn đa mang tâm sanh diệt,
luyến tiếc tướng tứ đại thì đi theo chiều sanh diệt.
Còn người biết những thứ đó hư giả, chỉ nhớ tâm hiện
tiền hằng tri giác bất sanh bất diệt của mình, đó là người
xuất thế tức giải thoát vậy.
CHÁNH
VĂN:
Dù
người không được ít phần thú hướng, nếu thấy tướng
lành, chư Phật đến đón và các thứ hiện trước cũng không
khởi tâm đi theo; nếu thấy tướng dữ và các thứ hiện
trước cũng không sanh tâm kinh sợ; chỉ tự quên tâm đồng
với pháp giới liền được tự tại, đây tức là điều
thiết yếu vậy.
GIẢNG:
Chỗ
này rất khó. Ai nhắm mắt gần chết, thấy Phật đến đón
mà không mừng. Hầu như người tu nào cũng mơ ước được
Phật đón. Nhưng ở đây dạy nếu thấy tướng lành chư Phật
đến đón và các thứ hiện trước cũng không khởi tâm đi
theo. Phật rước cũng không đi. Tại sao vậy? Vì muốn ra khỏi
sanh tử nên không đi theo các tướng trạng bên ngoài, dù đó
là tướng Phật. Nếu theo Phật cũng còn sanh trong hoa sen. Muốn
đi thẳng tới chỗ vô sanh, thì không theo ai kể cả Phật,
huống nữa là Thánh Thần hay những người thân yêu.
Các
thứ hiện trước cũng không khởi tâm đi theo, các thứ hiện
trước là thân tộc bà con, anh em cha mẹ đón cũng không đi.
Điều này khó số một. Đa số quí vị thấy bà con thân tộc
là mừng rỡ, nói gì đến đón mình. Cho nên nếu không khéo
tu, lúc sắp mất đi theo những hình ảnh này là tiếp tục
thọ thân sau, có khi ma quỷ giả hình, dẫn người chết đi
vào cảnh giới của chúng, chịu khổ không thể lường.
Đến
khó số hai. Nếu thấy tướng dữ và các thứ hiện trước
cũng không sanh tâm kinh sợ. Thấy những tướng dữ tức như
thấy cọp rượt, cá sấu đuổi v.v… cũng không sợ.
Tóm lại thấy tướng lành không theo, thấy tướng dữ không
sợ.
Chỉ
tự quên tâm đồng với pháp giới liền được tự tại,
đây tức là thiết yếu vậy. Quên tâm là quên tâm sanh diệt,
tâm thương, tâm ghét. Nếu còn tâm ấy thì thấy thân nhân
tới đón mừng nên đi theo, tâm sợ thì thấy quỉ sứ dọa
nạt, chúng chỉ đâu liền hoảng sợ chạy theo đường đó.
Thấy đồng pháp giới tức trùm khắp, bất sanh bất diệt
liền được tự tại. Đây là thiết yếu, tức điểm then
chốt của sự tu hành. Đó là những điều người tu phải
biết, mới không sợ khi nhắm mắt bị rơi vào đường tà.
Như vậy cả hai thứ, vui theo tướng lành thì sanh cõi lành,
sợ tướng dữ chạy trốn thì bị sanh chỗ dữ, đều đi
trong con đường sanh tử. Chỉ nhớ tâm thênh thang không hình
không tướng, không sanh không diệt, không sợ hãi, luôn tỉnh
táo sáng suốt thì giải thoát an vui.
CHÁNH
VĂN:
Nói
Hoá thành đó, Nhị thừa và Thập địa, Đẳng giác, Diệu
giác, đều là giáo quyền lập để tiếp dẫn, thảy là Hoá
thành.
GIẢNG:
Đây
dẫn kinh Pháp Hoa, nói Hoá thành là chỉ cho Nhị thừa, Thập
địa, Đẳng giác, Diệu giác, đi từng bậc từng bậc đều
là giáo quyền lập. Giáo quyền lập là giáo lý tạm lập
để tiếp dẫn người, có thứ bậc cho dễ đi, dễ tiến
vậy thôi. Như Bộ Giáo Dục muốn thúc đẩy học sinh học
cho giỏi nên mỗi năm tổ chức thi lên cấp. Từ cấp Tiểu
học lên Trung học, Đại học rồi Tiến sĩ gì gì đó, ấy
là thật lập hay quyền lập? Quyền lập như thế để đo
sự hiểu biết của chúng ta qua những năm học, lập ra thứ
bậc để thúc đẩy nhắc nhở sự tiến bộ trong học vấn,
mục đích vì muốn chúng ta biết sâu hiểu rộng, làm lợi
ích cho mọi người. Đó là mục đích phương tiện lập có
thứ bậc.
Cũng
vậy đạo Phật muốn dạy chúng sanh tu hành để được giác
ngộ thành Phật. Giác ngộ thành Phật là thế nào? Là trở
lại sống thực với tâm bất sanh bất diệt hằng tri hằng
giác của mình, gọi là chân tâm hay Phật tánh. Sống được
với chân tâm là bước vào cảnh giới chư Phật. Nhưng nói
sống với chân tâm Phật tánh, người ta nghe cao xa quá, nên
Phật dạy tu hạnh này được quả bậc Thanh văn, tu hạnh
này được quả bậc Duyên giác, rồi giác được phần nào
là Bồ-tát Sơ địa, Bồ-tát Nhị địa v.v… tới cuối cùng
cũng trở lại chân tâm Phật tánh. Như vậy giáo lý đó là
phương tiện quyền lập, còn chỗ chân thật không hai. Hiểu
như vậy chúng ta mới thấy trong kinh Pháp Hoa nói Hoá thành
là phương tiện quyền lập, nói Bảo sở là chỉ chân tâm
Phật tánh. Chỗ đó không đối đãi nên nói không Phật, không
chúng sanh, không còn tình lượng, không còn kiến lập. Nói
Bảo sở là chỗ quí báu, tức chỉ thẳng chân tâm Phật tánh.
CHÁNH
VĂN:
Nói
Bảo sở đó là bảo chân tâm, bản Phật, tự tánh, cái bảo
này không thuộc về tình lượng, không thể kiến lập, không
Phật, không chúng sanh, không năng không sở, chỗ nào có thành?
Nếu hỏi: đây đã là Hoá thành, chỗ nào là Bảo sở? Bảo
sở không thể chỉ, chỉ tức có chỗ nơi, không phải là
chân Bảo sở. Cho nên nói “ở gần” mà thôi. Không thể
định lượng nơi đó, chỉ chính đây khế hội là phải.
GIẢNG:
Hỏi
Bảo sở chỗ nào Phật nói “ở gần”, các Thiền sư nói
ở dưới gót chân ông. Chữ Hoá thành trong kinh Pháp Hoa là
chỉ cho tu hành có thứ bậc từ thấp lên cao, còn Bảo sở
là chỉ thẳng cho chúng ta biết cái thật nằm ngay nơi mỗi
người, không ở đâu xa. Chúng ta tu là để trở về cái thật
của mình, đây là con đường gần nhất. Nếu đi thứ bậc
thì hơi xa, hơi quanh co. Bởi vậy chỗ thật này chỉ khéo
khế hội là được.
CHÁNH
VĂN:
Nói
xiển đề đó, lòng tin không đủ vậy. Tất cả chúng sanh
trong sáu đạo cho đến Nhị thừa không tin có Phật quả,
đều gọi là đoạn thiện căn xiển đề. Bồ-tát đó, tin
sâu có Phật pháp không thấy có đại thừa, tiểu thừa. Phật
cùng chúng sanh đồng một pháp tánh gọi là thiện căn xiển
đề.
GIẢNG:
Chữ
“xiển đề” là tiếng Phạn, nghĩa là người không đủ
lòng tin. Không đủ lòng tin thế nào? Như những chúng sanh
đi trong lục đạo luân hồi không đủ lòng tin mình có tánh
Phật, cho tới hàng Nhị thừa không tin có Phật quả. Các
ngài tu chứng Diệt tận định là nhập Niết-bàn, không nói
lên Phật quả, cho nên những hạng này gọi là đoạn thiện
căn xiển đề, tức do không tin làm mất căn lành. Còn
Bồ-tát tin sâu Phật pháp, không thấy có Tiểu thừa, Đại
thừa riêng, thấy tất cả chúng sanh đồng có tánh Phật,
đồng một pháp tánh gọi đó là thiện căn xiển đề, nghĩa
là không tin mà không tin do có căn lành.
CHÁNH
VĂN:
Đại
để, nhân nghe giáo mà ngộ gọi là Thanh văn, quán nhân duyên
mà ngộ gọi là Duyên giác. Nếu không hướng trong tâm mình
mà ngộ, tuy đến thành Phật cũng gọi là Phật Thanh văn.
Người học đạo phần nhiều đối trên giáo pháp mà ngộ,
không ở trên tâm pháp mà ngộ, tuy trải nhiều kiếp tu hành
trọn không phải là bổn Phật. Nếu không nơi tâm mà ngộ,
chỉ đối trên giáo pháp mà ngộ tức là khinh tâm trọng giáo,
bèn thành theo khối (theo hình tướng) mà quên bản tâm. Cho
nên chỉ khế hội bản tâm, chẳng cần cầu pháp, tâm tức
là pháp vậy.
GIẢNG:
Chúng
ta tu có hai cách. Một là y nơi pháp của Phật dạy, nghe quán
chiếu rồi tu, gọi đó là Thanh văn. Thấy các pháp duyên sanh
quán chiếu mà tu, gọi đó là Duyên giác. Nhưng nếu chỉ nương
theo pháp của Phật dạy tu mà không nhận ra tâm mình, gọi
đó là quên tâm cầu Phật, hay quên tâm pháp mà chạy theo
giáo pháp. Tu như vậy không thấy được ông Phật gốc của
mình. Nếu không nơi tâm ngộ, chỉ đối trên giáo pháp ngộ
tức là “khinh tâm trọng giáo”. Người khinh tâm trọng giáo
là chạy theo hình tướng, quên mất bản tâm.
Cho
nên chỉ khế hội bản tâm, chẳng cần cầu pháp, tâm tức
là pháp vậy. Ai nhận được bản tâm, người đó trở lại
gốc ngay nơi mình, không chạy ra ngoài. Đa số chúng ta ngày
nay tu theo pháp, ít nhận tâm, vì vậy có lỗi khinh tâm trọng
pháp. Mà pháp của Phật nói cốt chỉ cái gì? Chỉ tâm. Bây
giờ mình trọng pháp quên tâm tức là chạy theo ngọn mà quên
gốc.
Bao
nhiêu kinh điển đức Phật dạy đều chỉ cho chúng ta nhận
ra bản tâm là tánh giác hằng hữu của mình, từ đó tu mới
thành Phật. Chúng ta không chịu nhận, chỉ chạy theo kinh điển
học hết bộ này tới bộ nọ, khen bộ này hay bộ kia đặc
biệt v.v… mà không biết tất cả bộ đều chỉ tâm của
mình. Không nhận tâm lại đi nhận pháp, như vậy là khinh
tâm trọng pháp. Trong kinh Phật dụ pháp như ngón tay chỉ mặt
trăng. Mặt trăng là gì? Là chân tâm. Vì muốn chúng sanh nhận
ra chân tâm nên Phật dạy giáo pháp, chúng sanh nương pháp
để nhận. Bây giờ mình lại kẹt pháp không nhận ra tâm
giống như người chỉ mặt trăng hướng tây, chúng ta không
chịu ngó hướng tây để thấy mặt trăng, lại nhận đầu
ngón tay, hài lòng với đầu ngón tay, cho đó là mặt trăng.
Người
tu ngày nay giống hệt như vậy, thích tụng kinh, tụng bộ
này qua bộ kia, như vậy là tu rồi đó. Phật dạy chúng ta
tu để trở về tâm, không chịu trở về tâm cứ lấy kinh
đọc hoài, không khác người muốn thấy mặt trăng mà chỉ
quí ngón tay, không nhìn đúng mặt trăng. Tu như vậy chừng
nào thành Phật? Nói thẳng mếch lòng, mà không nói thì tội
nghiệp. Gốc ở chỗ đó mà không chịu nhìn, chỉ bám ngọn
ngành, phương tiện làm sao tu hành đến nơi đến chốn được.
Phật
dạy cho mình nhận ra bản tâm để không còn chấp thân này
là thật ngã, tâm chạy theo bóng dáng sáu trần là thật tâm.
Nhờ không chấp thân, chấp tâm mới trở về với thể thật
sẵn có. Bây giờ cứ đọc hoài, nhưng hỏi kinh dạy gì thì
không biết. Chỉ biết tụng kinh có phước vậy thôi, chớ
không biết mình là cùng tử đã bỏ cha đi, bây giờ còn lang
thang chưa nhận được cha già. Ông cha là chỉ tánh giác hằng
hữu của mình. Quên tánh giác chạy theo sáu trần là cùng
tử nên khổ sở nghèo nàn. Khi hối hận trở về tìm cha,
về tới nhà rồi cũng không dám nhận cha nữa. Cũng thế,
chúng ta tu pháp gì nhỏ nhỏ lần lên, chớ không dám đi thẳng.
Đó là diễn đạt người mê quên mình theo cảnh vật. Nếu
trở về thì chính cha đang sẵn chờ, nhưng gã cùng tử lại
không dám nhận. Như chúng ta có Phật tánh sẵn mà lại than
mất Phật. Có cái chân thật không chịu nhớ, rồi than sao
sống khổ quá, chịu không nổi. Nhiều khi tâm suy nghĩ lanh
lợi quá, hết nghĩ cái này tới nghĩ cái kia, tới giờ ngủ
cũng cứ nghĩ hoài, ngủ không được than khổ quá. Tại sao
khổ như vậy? Tại vì chạy theo nó quen rồi, bây giờ muốn
dừng nghĩ không được, ngồi thiền bữa nào cũng nghĩ bậy
nghĩ bạ. Tại sao nghĩ? Vì chứa chấp, nếu buông hết thì
ngồi lại chỉ còn một tâm thanh tịnh sáng suốt, khoẻ biết
chừng nào. Sửa soạn ngủ thì buông hết mọi việc, ngủ
cho an ổn. Tất cả nỗi khổ là vì chúng ta đuổi theo vọng
tưởng sanh diệt, bám vào bóng dáng sáu trần. Bây giờ buông
hết trở về bản tâm tức là Niết-bàn bất sanh bất diệt,
không tìm chỗ nào hết.
CHÁNH
VĂN:
Phàm
nhân phần nhiều bị cảnh ngại tâm, sự ngại lý, thường
muốn trốn cảnh để an tâm , đuổi sự để còn lý, không
biết chính là tâm ngại cảnh, lý ngại sự. Chỉ khiến tâm
không, cảnh tự không, chỉ khiến lý lặng, sự tự lặng,
chớ dụng tâm lộn ngược. Phàm nhân phần nhiều không chịu
không tâm, sợ rơi vào không, chẳng biết tâm mình vốn không.
GIẢNG:
Chỗ
này có một số người đang mắc kẹt, cứ cho rằng cảnh
ngại tâm. Ở chùa đông người, kẻ hơn người thua kẻ phải
người quấy, phiền nhiễu quá nên kiếm hang hốc chui vô tu
một mình cho yên. Vì quí vị ấy nghĩ cảnh ngại tâm, nên
tìm chỗ không có cảnh, tu sẽ hết ngại. Nào ngờ vô trong
hang hốc lại có chướng ngại của hang hốc. Bây giờ hết
gạo làm sao đây? Xách dù xuống núi, xin một ít gạo về,
xin một lần đủ chưa? Chưa, lại xin nữa. Có gạo thì phải
có nồi, có củi… đủ thứ hết. Chừng đó gặp cảnh không?
Trên núi thiếu nước, không lẽ mình xách từ hũ từ hũ uống,
thôi mua cái lu lớn chứa khá một chút. Lu lớn thì nhiều
người khiêng, rủ bà con phụ đưa lên, từ đó lần lần
họ tới thăm nom. Nhờ Phật tử tới có tiền mua gạo, thôi
cũng tiếp. Bỏ cảnh chùa nhiều người, lên núi ở một mình,
té ra càng nhiều hơn. Ở chùa chia ra mười người, mình mất
thì giờ chỉ một. Còn vô núi mình lãnh trọn cả mười,
chừng đó phiền hơn nữa. Từ chấp cảnh tịnh biến thành
trở ngại, ban đầu thấy dường như hay sau thành quá dở.
Đó là chỗ lầm lẫn lớn.
Đến
phần sự và lý. Nhiều người tu sợ sự ngại lý nên đuổi
sự giữ lý. Vậy lý là gì, sự là gì? Thế gian thường thường
ai nói chuyện nhiều, mình bảo người đó lý sự quá. Ví
dụ tôi nói đồng hồ này đẹp xấu, vuông tròn… đó là
nói về sự, về hình tướng. Còn lý của đồng hồ là gì?
Có hai trường hợp, lý thường và lý đạo. Lý thường là
đồng hồ không quí ở hình vuông hay tròn, mà quí ở chỗ
nó chạy đúng giờ, nhờ đồng hồ chúng ta biết giờ. Lý
đạo là đồng hồ giả tướng, do nhân duyên hợp tạm có,
lý thật của nó là không. Cho nên Không chính là lý đạo.
Muốn
tìm lý không, từ đâu mà tìm? Ngay nơi tướng đồng hồ thấy
được lý không của nó, như vậy tướng đồng hồ có ngại
gì lý đồng hồ? Tướng cái nhà có ngại gì lý cái nhà,
tướng người ngại gì lý người. Ngay nơi sự mình thấu
lý thì ở đâu cũng không ngại. Còn bỏ sự để tìm lý làm
sao tìm được, như lý nhân duyên mà bỏ sự tướng làm sao
biết nhân duyên. Phải ngay nơi sự nhận ra lý, đó là người
khéo tu, còn sợ chạy trốn là không khéo. Người tu thường
có hai bệnh, thứ nhất là sợ cảnh làm nhiễu loạn tâm,
thứ hai sợ sự làm chướng ngại lý, nên bỏ sự tìm lý.
Như vậy đều không thực tế, đều lầm cả.
Chỉ
khiến tâm không, cảnh tự không, chỉ khiến lý lặng, sự
tự lặng, chớ dụng tâm lộn ngược. Chỉ cần tâm không
chạy theo cảnh thì ở đâu cũng là cảnh tốt, không có gì
chướng ngại, chớ chẳng phải trốn vô hang sâu mới tốt.
Thời này người thích làm Phật sự thì ở thành thị, người
muốn tu rục ưa chui vô hang ở một mình. Cả hai đều là
bệnh. Chúng ta biết tu là tạo duyên cho mình nghiền ngẫm,
thấu triệt lý đạo, thấu triệt lẽ chân thật của Phật
dạy, đó là gốc. Tâm không dính với cảnh thì cảnh làm
gì ngại tâm. Nếu tâm như như thì lý sự đâu chướng ngại
nhau. Người bỏ cái này cầu cái kia là dụng tâm lộn ngược.
Phàm
nhân phần nhiều không chịu không tâm, sợ rơi vào không chẳng
biết tâm mình vốn không. Đây là bệnh của người tu. Nhiều
người ngồi thiền tới lúc tâm bặt hết lăng xăng, đâm
hoảng không biết tâm mình đâu mất rồi. Tâm chân thật vốn
không có lăng xăng, khi lăng xăng lặng thì tâm thật hiện
tiền. Chúng ta thấy lăng xăng lặng, sao lại nói không tâm?
Ngồi yên thấy rõ tâm lăng xăng đang bặt, tai vẫn nghe, mắt
vẫn thấy, tại sao nói không tâm? Người hoảng lên nói mất
tâm rồi, là vì không biết được lẽ thật. Cho nên nói chẳng
biết tâm mình vốn không.
CHÁNH
VĂN:
Người
ngu trừ sự không trừ tâm, người trí trừ tâm không trừ
sự.
GIẢNG:
Người
ngu trừ sự không trừ tâm, người trí trừ tâm không trừ
sự. Nhiều người nói nghe thấy thương, như bảo tôi tu rồi
không đồng hồ, không cần giường tốt, không cần đồ mới,
thành ra ai cho đồ mới thì bỏ không mặc. Đó là chấp hình
tướng, là trừ sự không trừ tâm. Đây thuộc người ngu
không phải người trí. Người trí trừ tâm không trừ sự.
Đừng để tâm mình nhiễm tốt xấu, không mong mỏi quí tiện,
cái gì cũng được hết. Ai cho thì nhận, cần xài cứ xài,
không nói quí tiện, đó là trừ tâm không trừ sự. Đây mới
gọi là người trí.
Người
biết tu rồi thì tùy duyên, cái gì đến thì nhận, tâm không
mong cầu, không sợ không chê. Ai cho cái xấu không chê, cho
cái tốt cũng không sợ, tâm an nhiên bình thường, như vậy
mới đúng. Còn sợ cái này cầu cái kia là mắc kẹt, vì vậy
Tổ quở người ngu trừ sự không trừ tâm. Người trí mặc
áo tốt tâm không hãnh diện, không khoe với thiên hạ, nên
không có lỗi. Nếu mặc áo rách để người ta thấy mình
tu khổ hạnh, tu giỏi, đó là lỗi.
Ở
đời người ta thường nhìn tướng mà không hiểu tâm. Người
tu phải hiểu tâm mình, sự tướng bên ngoài không quan trọng.
Đừng để tâm đòi hỏi cái tốt, cũng không có tâm sợ sệt
cái tốt. Đừng để tâm khoe cái xấu, cũng đừng có tâm
sợ cái xấu. được lành mặc lành, được rách mặc rách,
không để ý gì hết. Vô tâm như vậy sống thế nào cũng
không tội. Nếu hữu tâm dụng ý thì có tội.
CHÁNH
VĂN:
Bồ-tát
tâm như hư không, tất cả đều xả, làm việc phước đức
đều không tham trước.
GIẢNG:
Tâm
Bồ-tát như hư không rỗng rang vì tất cả đều xả, hơn
thua phải quấy khen chê… xả hết. Làm việc phước đức
đều không khoe, không chấp, đó là không tham trước.
CHÁNH
VĂN:
Nhưng
xả có ba bậc: trong ngoài thân tâm tất cả đều xả, ví
như hư không, không có chỗ thủ trước, nhiên hậu tùy phương
tiện làm lợi ích chúng sanh, năng sở đều quên, ấy là đại
xả.
GIẢNG:
Xả
có ba bậc: đại xả, trung xả và tiểu xả. Người làm tất
cả việc tốt mà tâm như hư không, không chấp trước, năng
sở đều quên đó là đại xả. Trong kinh thường gọi bố
thí tam luân không tịch, người thí, vật thí, kẻ thọ thí
đều không chấp, được vậy gọi là đại xả.
CHÁNH
VĂN:
Nếu
một bên hành đạo bủa đức, một bên lại xả không có
tâm mong cầu, ấy là trung xả.
GIẢNG:
Trường
hợp này là một bên hành đạo bủa đức, tức làm lợi ích
cho mọi người, một bên xả hết, không có tâm mong cầu.
Đó là trung xả.
CHÁNH
VĂN:
Nếu
rộng tu các việc thiện có chỗ mong cầu, nghe pháp biết không,
nên mới không trước, ấy là tiểu xả.
GIẢNG:
Người
rộng tu các việc thiện, mong được phước đời sau, đó
là mong cầu. Nhưng nghe pháp biết không nên như thế, mới
không tham trước. Nghe pháp biết tất cả pháp tánh là không,
không chấp trước. Nghĩa là ban đầu có mong cầu, sau tỉnh
mới bỏ, đó là tiểu xả.
Đối
với chúng ta, trong ba thứ tiểu xả còn khó huống là đại
xả. Nên người học đạo tu hành phải biết thật kỹ, trên
đường tu chúng ta đến đâu, làm gì cho hợp đạo lý. Đừng
để tu mà đi trên đường không đúng chánh pháp.
CHÁNH
VĂN:
Đại
xả như cây đuốc sáng để ở trước, lại không có mê ngộ.
Trung xả như cây đuốc sáng để một bên, hoặc sáng hoặc
tối. Tiểu xả như cây đuốc sáng để phía sau, không thấy
hầm hố. Cho nên, Bồ-tát tâm như hư không tất cả đều
xả; quá khứ tâm không thể được là quá khứ xả, hiện
tại tâm không thể được là hiện tại xả, vị lai tâm không
thể được là vị lai xả. Nên nói “ba thời đều xả”.
GIẢNG:
Cây
đuốc sáng để ở trước nên không có phía nào tối, đó
là Đại xả. Cây đuốc để một bên thì sáng được bên
này, bên kia tối, đó là Trung xả. Cây đuốc để đàng sau,
mình đi tới không thấy đường có thể trật chân. Vì còn
đắm trước danh văn lợi dưỡng, tuy sau thức tỉnh, nhưng
cũng muộn. Nên nói cây đuốc đốt để phía sau, có thể
sụp hầm hố, đó là Tiểu xả.
Cho
nên, Bồ-tát tâm như hư không tất cả đều xả; quá khứ
tâm không thể được là quá khứ xả, hiện tại tâm không
thể được là hiện tại xả, vị lai tâm không thể được
là vị lai xả. Nên nói “ba thời đều xả”. Quá khứ, hiện
tại, vị lai tâm không thể được thì còn chấp gì nữa,
rỗng rang sáng suốt nên “ba thời đều xả”. Được vậy
là đại xả.
CHÁNH
VĂN:
Từ
đức Như Lai trao pháp cho Tổ Ca-diếp đến nay, lấy tâm ấn
tâm, tâm tâm không khác. Ấn (con dấu) in trong hư không thì
in không thành dấu. Ấn in nơi vật tức ấn không thành pháp.
Cho nên lấy tâm ấn tâm, tâm tâm không khác. Năng ấn và sở
ấn đều khó khế hội nên người được ít. Song, tâm tức
vô tâm, được tức không được.
GIẢNG:
Chỗ
này nói thẳng về các Tổ Thiền tông. Từ đức Phật trao
pháp cho Tổ Ca-diếp là lấy tâm ấn tâm. Ấn như con dấu,
nếu con dấu ấn trong hư không thì không thành dấu. Ấn tâm
là sao? Tâm của người đệ tử thế nào, vị thầy thấy
đúng như thế, đó là thừa nhận, là ấn tâm. Như vậy cái
ấn ấy không phải in vào cây cối, mà in hẳn trong tâm. Ví
dụ trong sinh hoạt, chúng ta hay nói “tôi đang suy tính việc
này mà chưa ra, giờ muốn bàn với huynh đệ giúp đỡ”.
Khi đó có người đưa ra cách giải quyết đúng ý mình, chúng
ta vui vẻ nói “đúng ý tôi rồi”, đó cũng là ấn tâm,
nhưng ấn tâm sanh diệt, không phải ấn tâm chân thật.
Tổ
Huệ Khả sau khi được Tổ Bồ-đề-đạt-ma dạy biết lối
vào, Ngài tự tu cho tới một hôm trình với Tổ Đạt-ma: “Bạch
Hòa thượng, con dứt hết các duyên.” Tổ Đạt-ma sợ Ngài
lầm chỗ không tâm nên nói “coi chừng rơi vào không”. Ngài
liền nói “rõ ràng thường biết làm sao không được”.
Tổ bảo “chỗ đó chư Phật như thế, Ta như thế, ông cũng
như thế”, đó là ấn tâm. Ấn chứng như vậy là dùng tâm
ấn tâm, ấn mà không có năng ấn, sở ấn. Ngài nói: Cho nên
lấy tâm ấn tâm, tâm tâm không khác. Tâm thầy và tâm trò
không khác nhau.
Năng
ấn và sở ấn đều khó khế hội nên người được ít.
Vì năng ấn và sở ấn cũng không có, không thể được, chỉ
hai bên in hệt nhau vậy thôi. Không phải thầy là năng ấn
trò là sở ấn, vì nếu có năng cũng như có dấu ấn, có
sở như có tờ giấy trắng để in xuống, chỗ này không năng
sở gì hết. Đệ tử trình bày đúng như cái thấy của thầy.
Thừa nhận như vậy là truyền tâm pháp ấn.
CHÁNH
VĂN:
Phật
có ba thân: pháp thân nói pháp tự tánh rỗng suốt, báo thân
nói pháp tất cả thanh tịnh, hóa thân nói pháp lục độ vạn
hạnh. Pháp thân nói pháp không thể dùng ngôn ngữ âm thanh
hình tướng văn tự mà cầu, không có nói, không có chứng,
tự tánh rỗng suốt mà thôi. Cho nên nói: “không pháp có
thể nói, ấy gọi là nói pháp”.
GIẢNG:
Kinh
Kim Cang nói “không pháp có thể nói, ấy gọi là nói pháp”
là chỉ cho pháp thân.
CHÁNH
VĂN:
Báo
thân, hóa thân đều tùy cơ cảm mà hiện, có nói pháp cũng
tùy sự hợp cơ để vì nhiếp hóa đều không phải là chân
pháp.
GIẢNG:
Báo
thân, hóa thân là phương tiện tùy cơ, không phải là chân
pháp.
CHÁNH
VĂN:
Cho
nên nói: “Báo, Hoá không phải chân Phật, cũng không phải
nói pháp.”
GIẢNG:
Như
vậy báo thân, hóa thân nói pháp không phải là chân Phật,
vì không thể nói thẳng được pháp thân.
CHÁNH
VĂN:
Nói
“đồng là một tinh minh phân làm sáu hòa hợp”. Một tinh
minh là một tâm. Sáu hòa hợp là sáu căn. Sáu căn này mỗi
cái cùng trần hợp. Mắt cùng sắc hợp, tai cùng tiếng hợp,
mũi cùng mùi hợp, lưỡi cùng vị hợp, thân cùng xúc hợp,
ý cùng pháp hợp. Khoảng giữa sanh sáu thức là mười tám
giới. Nếu rõ mười tám giới không thật có, trói sáu hòa
hợp làm một tinh minh. Một tinh minh là tâm vậy. Người học
đạo đều biết cái này. Chỉ không thể khỏi cái hiểu “một
tinh minh và sáu hòa hợp”, bèn bị pháp trói không thể khế
hội bản tâm. Như Lai ra đời muốn nói nhất thừa chân pháp,
ắt chúng sanh không tin sanh ra hủy báng chìm trong biển khổ,
nếu hoàn toàn không nói thì mắc lỗi san tham, chẳng vì chúng
sanh chỉ dạy diệu đạo. Ngài bèn lập phương tiện nói có
ba thừa, thừa có đại tiểu, được có cạn sâu đều không
phải là bản pháp. Cho nên nói “chỉ có đạo nhất thừa,
có hai chẳng phải chân”. Nhưng, vẫn chưa có thể hiển bày
một tâm pháp, cho nên triệu Ca-diếp đồng trong pháp tòa riêng
trao một tâm pháp rời nói năng, một nhánh pháp này khiến
riêng thực hành. Nếu người hay khế ngộ liền đến Phật
địa.
GIẢNG:
Nói
một tinh minh sanh sáu hòa hợp, đó là dẫn trong kinh Lăng Nghiêm.
Phật dạy, chúng ta có tâm trong sáng, hiện ra ở mắt gọi
là cái thấy ở mắt, hiện ra ở tai gọi là cái thấy ở
tai v.v… Cái chân thật đều hiển lộ qua các căn. Cho nên
ở đây bảo trói sáu căn trở về với một tinh minh, tức
gom sáu căn về một tinh minh. Chỗ này nếu nói một tinh minh
sanh sáu hòa hợp thì bị pháp trói không thể khế hội bản
tâm. Vì vậy chúng ta phải trói sáu hòa hợp thành một tinh
minh. Chỗ này hết sức quan trọng, trên ngôn ngữ nghe thường
nhưng trên sự tu lại tối quan trọng, trói lục hòa hợp thành
nhất tinh minh. Đó là mình trói pháp, không để pháp trói
mình.
Làm
sao trói sáu hòa hợp thành một tinh minh? Khi mắt thấy, tai
nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm v.v… mỗi cái đều theo trần cảnh,
vừa thấy liền khởi thức phân biệt, thành ra sáu căn, sáu
trần, sáu thức hợp lại. Bây giờ trói sáu căn trở về
một tinh minh là thấy nghe… sáu cái đều hoạt động, nhưng
không cho dính cái gì hết. Chỉ sống với một tinh minh là
thấy nghe đủ cả mà liễu liễu thường tri. Không để thức
phân biệt cái này dính cái kia, như vậy là trói lại. Nếu
trói sáu căn trở về một tinh minh là đến chỗ chân thật.
Tinh minh thì đâu phải vô tri giác. Tổ Huệ Khả nói “tâm
con dứt hết các duyên”, là không dính các pháp bên ngoài
tức Ngài trói sáu căn, không cho dính với sáu trần. Từ trói
sáu căn không dính với sáu trần bị Tổ Đạt-ma nói “coi
chừng rơi vào không”, Ngài thưa “ con rõ ràng thường biết,
làm sao không được” tức là nhận một tinh minh rõ ràng
thường biết, chớ đâu phải không.
Chúng
ta ngày nay thích trói sáu căn hay thích thả sáu căn. Như ở
đây nghe đàng kia có hoa thơm thì chịu ngồi đây hay đi tìm
hoa. Hoặc đang ngồi đây mà nghe đàng kia có tiếng nhạc hay,
lúc đó ngồi yên hay chạy lại coi nhạc gì vậy. Rõ ràng
chúng ta thả sáu căn để cho sáu trần xỏ mũi dẫn đi. Nếu
ngồi đây nghe mùi hoa thơm, nghe tiếng nhạc hay vẫn rõ ràng
thường biết, không thèm dính không thèm chạy, đó là trói
sáu căn trở về nhất tinh minh, hay trói sáu hòa hợp trở
về nhất tinh minh. Nó hay chạy theo, bây giờ cột lại không
cho chạy, đó là trói. Chúng ta tu là trói lục hòa hợp để
trở về nhất tinh minh. Một tinh minh tức là một tâm. Nếu
chúng ta nói một tinh minh sanh ra lục hòa hợp, đó là chạy
theo pháp, bị pháp trói rồi.
Tất
cả kinh điển đều là do chư Phật lập phương tiện nói
có ba thừa. Thừa lại có đại thừa tiểu thừa, được có
cạn sâu đều là chẳng phải là bản pháp. Bản pháp là trói
lục hòa hợp trở về nhất tinh minh.
Cho
nên dẫn kinh Pháp Hoa nói “chỉ có đạo nhất thừa, có hai
chẳng phải chân”. Chân là chỉ có cái chân thật, còn thấy
hai là đối đãi không phải chân. Trong bài “Tín Tâm Minh”
Tổ Tăng Xán kết thúc “tín tâm bất nhị, bất nhị tín
tâm”, nếu tin tâm thì không hai, có hai là chưa tin tâm. Ở
đây nói còn hai thì không phải chân. Chúng ta thấy kinh Phật
với lời Tổ không khác, khít khao, rõ ràng nhưng vì chúng
ta không hiểu nên chấp câu chấp lời, cho rằng Tổ dạy khác,
Phật dạy khác, thật sự không phải như vậy.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Thế nào là đạo? Tu hành thế nào?
Đáp:
Đạo là vật gì mà ông muốn tu hành?
Hỏi:
Các nơi tông sư truyền nhau tham thiền học đạo là thế nào?
Đáp:
Lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa có thể y cứ.
Hỏi:
Đây là lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa biết tiếp dẫn
người thượng căn lại nói pháp gì?
Đáp:
Nếu là người thượng căn, tại sao lại đến người khác
mà tìm, tự mình còn không thể được huống là riêng có
pháp xứng tình. Không thấy trong kinh nói: “pháp pháp hình
trạng gì”?
GIẢNG:
Câu
hỏi thứ nhất: Thế nào là đạo? Tu hành thế nào? Thông
thường ai cũng hay hỏi câu này. Đáp: Đạo là vật gì mà
ông muốn tu hành? Ở đây cần phải hiểu chữ đạo cho thật
tường tận. Nhiều người cho rằng đạo là phương pháp là
con đường. Nhưng sự thực, chữ đạo trong nhà Thiền là
chỉ cho tâm chân thật của chính mình. Thấy được, nhận
được tâm chân thật gọi là thấy đạo hay đạt đạo. Tâm
chân thật vốn của mình, đâu phải vật gì bên ngoài mà
muốn tu hành. Tu là tu những thứ tạm bợ, giả dối. Nên
Tổ trả lời “Đạo là vật gì mà ông muốn tu hành”. Như
vậy chữ đạo ở đây chỉ cho tâm thể chân thật của chúng
ta, nó sẵn có, chỉ đừng bị vọng duyên, ngoại cảnh lôi
cuốn thì đạo hiện tiền. Tu hành chẳng qua dẹp duyên là
đủ.
Hỏi:
Các nơi tông sư truyền nhau tham thiền học đạo là thế nào?
Đáp: Lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa có thể y cứ. Lâu
nay chúng ta nói học đạo, nói thiền là nói với người nào?
Nói với người độn căn. Độn căn là người không sáng.
Vì vậy chúng ta đừng lấy đó làm chỗ y cứ.
Hỏi:
Đây là lời tiếp dẫn kẻ độn căn, chưa biết tiếp dẫn
người thượng căn lại nói pháp gì?” Những câu nói tham
thiền học đạo là tiếp dẫn kẻ độn căn, người thượng
căn phải dạy làm sao?
Đáp:
Nếu là người thượng căn, tại sao lại đến người khác
mà tìm, tự mình còn không thể được huống là riêng có
pháp xứng tình. Nếu người thượng căn thì không cần đến
người khác tìm. Tại sao? Bởi vì thượng căn thì nhận ngay
nơi tánh mình, tâm mình là chỗ y cứ, là chỗ chân thật.
Đã có chỗ y cứ còn đi tìm đâu nữa. Chính mình nhận ra
còn không có sở đắc, huống nữa có pháp để mình được.
Đối với người thượng căn, thượng trí tu là trở lại
với tâm tánh sẵn có của mình, đã là sẵn có thì còn tìm
đâu nữa. Không tìm thì không có được. Sở dĩ nói được
là do tìm, tìm cái bên ngoài chớ không phải cái của mình,
vì vậy nói tự mình còn không có thể được huống là riêng
có pháp xứng tình. Xứng tình là hợp với mong muốn của
mình. Không thấy trong kinh nói: “pháp pháp hình trạng gì”?
Tổ dẫn kinh để xác chứng ý này.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Nếu như vậy hoàn toàn không cần tìm kiếm?
Đáp:
Nếu cùng mài thì sức tâm tỉnh giác.
Hỏi:
Như thế thì lẫn thành đoạn tuyệt, không thể là không?
Đáp:
Ai dạy kia không? Kia là cái gì ông nghĩ tìm kia?
Hỏi:
Đã không cho tìm, cớ sao lại nói: “chớ đoạn kia”?
Đáp:
Nếu không tìm liền thôi, ai dạy ông đoạn? Ông thấy hư
không ở trước mắt, làm thế nào để đoạn nó?
GIẢNG:
Hỏi:
Nếu như vậy hoàn toàn không cần tìm kiếm? Đáp: Nếu cùng
mài thì sức tâm tỉnh giác. Từ này nghe thật khó hiểu. Nếu
cùng mài thì sức tâm tỉnh giác nghĩa là sao? Chỗ đó không
phải tìm kiếm bên ngoài, nhưng biết mài biết giũa thì tâm
tỉnh giác càng sáng. Vậy cái gì mài, cái gì giũa? Thật ra
chúng ta không có gì để dụng công, nhưng trên thực tế vẫn
hằng dụng công. Nghe như mâu thuẫn. Tại sao? Bởi vì nếu
có dụng công, tất nhiên người dụng công và cái bị dụng
công khác. Còn ở đây mình tự tỉnh, tự giác. Tất cả vọng
tưởng phiền não dấy khởi, mình buông đi không theo, lúc
đó dường như thấy có buông bỏ phiền não, mà thật ra phiền
não không thật, cái thấy phiền não cũng không thật. Như
vậy cả hai đều không thật. Do chúng ta tự tỉnh thấy nó
không thật nên buông bỏ, chớ không phải thấy thật rồi
cố mài giũa cho nó sạch.
Trong
giai đoạn tu phải dụng công như thế, không thể nói tâm
mình sẵn thanh tịnh là ta sống thanh tịnh được. Rõ ràng
bây giờ nó không chịu thanh tịnh, luôn nghĩ bậy nghĩ bạ
đây. Nếu chúng ta để y nguyên như thế, thì nó nghĩ hoài
làm sao dẹp được, nên phương tiện dùng sức tỉnh giác
mài giũa nó. Khi nó lặng thì cái tỉnh giác cũng lặng theo.
Vì vậy nói “nếu cùng mài thì sức tâm tỉnh giác”.
Hỏi:
Như thế thì lẫn thành đoạn tuyệt, không thể là không?
Câu hỏi này rất có ý. Chúng ta mài giũa tới khi cả hai mòn
hết, thì thành đoạn tuyệt, chẳng lẽ tu tới không ngơ?
Đáp:
Ai dạy kia không? Kia là cái gì ông nghĩ tìm kia?
Ai
dạy kia không, nghĩa là dạy tới chỗ cuối cùng là không.
Kia là cái gì ông nghĩ tìm kia? Đó là cái thật của chính
mình, chúng ta không thấy, không nhận là do vọng tưởng điên
đảo mờ ám che đậy, buộc lòng phải mài giũa. Mài giũa
nó tiêu mòn dần, cái thật hiện ra, đâu nói là không được.
Hỏi:
Đã không cho tìm, cớ sao lại nói “chớ đoạn kia”? Đáp:
Nếu không tìm liền thôi, ai dạy ông đoạn? Ông thấy hư
không ở trước mắt, làm thế nào để đoạn nó?
Ở
đây hỏi đã không cho tìm, cớ sao lại nói “chớ đoạn
kia”, tức là chớ đoạn nó. Đáp nếu không tìm liền thôi,
ai dạy ông đoạn? Ngừng tâm đuổi tìm là được, chớ nói
gì đoạn. Vì thể tâm chân thật không tướng trạng nên dùng
hình thức hư không để ví dụ. Hư không không có hình tướng
làm sao đoạn, thể tâm cũng thế, làm sao đoạn được.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Pháp này có thể đồng với hư không chăng?
Đáp:
Hư không sớm chiều đến, ông nói có đồng có khác với
ta chăng? Chỉ tạm nói như thế, ông bèn nhắm vào nó mà sanh
hiểu.
Hỏi:
Lý ưng cùng người sanh hiểu chăng?
Đáp:
Tôi không từng chướng ông, cốt cái hiểu thuộc về tình,
tình sanh thì trí cách.
Hỏi:
Ở trong đó chớ sanh tình phải chăng?
Đáp:
Nếu không sanh tình ai nói là phải?
GIẢNG:
Hỏi:
Pháp này có thể đồng với hư không chăng?
Đáp:
Hư không sớm chiều đến, ông nói có đồng có khác với
ta chăng? Chỉ tạm nói như thế, ông bèn nhắm vào nó mà sanh
hiểu.
Trong
hư không buổi sáng mặt trời lên thì thấy sáng, buổi chiều
mặt trời lặn thì thấy tối, sáng tối là cảnh bên ngoài.
Hư không không sáng tối, như vậy đồng khác với ta chăng?
Hư không là vô tri, tánh giác là thường tri. Cái vô tri với
cái thường tri mà hỏi đồng hỏi khác là sao? Đây chẳng
qua tạm dùng hư không để thí dụ, ông bèn nhằm vào nó sanh
hiểu, tưởng chỗ chân thật giống như hư không. Như vậy
không đúng.
Hỏi:
Lý ưng cùng người sanh hiểu chăng? Như vậy cho người sanh
hiểu chăng?
Đáp:
Tôi không từng chướng ông, cốt cái hiểu thuộc về tình,
tình sanh thì trí cách.
Câu
này đáp rất rõ ràng. Hỏi “như vậy cho sanh hiểu không”,
Ngài đáp tôi không từng chướng, không ngăn, không che ông,
ông tự muốn hiểu thì cứ hiểu, nhưng cái hiểu thuộc về
tình. Cho nên khi các Thiền sư hỏi “hội không” thường
đáp “chẳng hội”. Chẳng hội mà được, còn nói hội
thì ăn đòn. Chẳng hội là chẳng hiểu, bị vì hiểu tức
là tình, mà tình sanh thì trí cách, không còn trí chân thật
hiện tiền.
Chúng
ta sống thường dùng tình nhiều hơn trí. Cái gì cũng đặt
thức tình tìm hiểu, càng tìm hiểu thì trí chân thật càng
lặn mất. Tu được định trí chân thật mới hiện ra. Đã
định thì tình còn không? Tình hết. Tình hết trí mới hiện.
Tìm hiểu thuộc về tình, càng hiểu tình càng sâu nên nói
tình sanh thì trí cách.
Hỏi:
Ở trong đó chớ sanh tình phải chăng?
Đáp:
Nếu không sanh tình ai nói là phải? Hỏi có phải không sanh
tình chăng? Nếu còn thấy phải thấy quấy là còn tình. Nếu
không sanh tình thì đừng nói phải quấy. Đây là chỗ đặc
biệt.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Vừa nhằm chỗ Hòa thượng nói ra, là tại sao lại rơi vào
nói năng?
Đáp:
Ông tự là người không hiểu lời nói, có cái gì là rơi
vào?
Hỏi:
Từ trên đến đây nói nhiều như thế đều là lời phản
lại, hoàn toàn chưa từng chỉ bày thật pháp cho người?
Đáp:
Thật pháp không điên đảo, nay chỗ hỏi của ông tự sanh
điên đảo, tìm thật pháp chỗ nào?
Hỏi:
Đã là chỗ hỏi tự sanh điên đảo thì chỗ đáp của Hòa
thượng thế nào?
Đáp:
Ông hãy tự lấy gương soi mặt mình, chớ xem xét người khác.
Chỉ giống như con chó ngu thấy có tiếng động là sủa, không
phân biệt gió thổi hay cây cỏ động.
GIẢNG:
Hỏi:
Vừa nhằm chỗ Hòa thượng nói ra, là tại sao lại rơi vào
nói năng? Hòa thượng vừa mới nói, người nghe lập lại,
tại sao lại rơi vào chỗ nói năng?
Đáp:
Ông tự là người không hiểu lời nói, có cái gì là rơi
vào? Ông không hiểu lời nói, chớ có gì rơi vào, chẳng qua
là thấy với chưa thấy thôi, không có gì rơi vào hết.
Hỏi:
Từ trên đến đây nói nhiều như thế đều là lời phản
lại, hoàn toàn chưa từng chỉ bày thật pháp cho người? Đáp:
Thật pháp không điên đảo, nay chỗ hỏi của ông tự sanh
điên đảo, tìm thật pháp chỗ nào? Thật pháp là không điên
đảo mà ông hỏi quanh hỏi co, hỏi phải hỏi quấy, đó là
tự điên đảo rồi, làm sao thấy thật pháp.
Hỏi:
Đã là chỗ hỏi tự sanh điên đảo thì chỗ đáp của Hòa
thượng thế nào? Hỏi điên đảo thì chẳng lẽ Hoà thượng
đáp cũng điên đảo luôn sao.
Đáp:
Ông hãy tự lấy gương soi mặt mình, chớ xem xét người khác.
Chỉ giống như con chó ngu thấy có tiếng động là sủa, không
phân biệt gió thổi hay cây cỏ động. Ở đây Ngài dạy,
ông hãy tự lấy gương soi mặt mình, đừng chạy theo lời
nói, mạch văn của người. Nếu chạy theo người ta thì giống
như con chó ngu thấy tiếng động là sủa, không biết gió
hay cây.
CHÁNH
VĂN:
Về
Thiền tông tôi đây từ các bậc tiền bối trao truyền đến
nay, không từng dạy người cầu hiểu cầu biết, chỉ nói
“học đạo” là lời để tiếp dẫn. Nhưng, đạo cũng không
thể học, còn nghĩ học hiểu trở thành mê đạo. Đạo không
có chỗ nơi gọi tâm Đại thừa. Tâm này không ở trong, ngoài,
chặng giữa, thật không có chỗ nơi, hay nhất là không được
khởi hiểu biết.
GIẢNG:
Đứng
về mặt Thiền tông, các bậc tiền bối trao truyền từ trước
đến giờ, không từng dạy người cầu hiểu cầu biết, chỉ
dạy người nhận ra, thấy liền thấy, không thấy thì thôi,
chớ không cho cầu hiểu biết. Học đạo là lời nói để
tiếp dẫn người sau thôi. Nhưng đạo cũng không thể học.
Còn nghĩ học hiểu trở thành mê đạo. Tại sao? Lẽ ra học
hiểu thì thông đạo, tại sao mê đạo? Vì càng học, càng
hiểu càng trở thành trí suy luận, so sánh, đối chiếu. Mà
so sánh đối chiếu thì xa đạo rồi.
Đạo
không có chỗ nơi gọi tâm Đại thừa. Vì đạo không có chỗ
nơi nên đạo chỉ cho tâm Đại thừa, tâm thênh thang rộng
lớn của mình.
Tâm
này không ở trong, ngoài, chặng giữa, thật không có chỗ
nơi, hay nhất là không được khởi hiểu biết. Tâm này không
có chỗ nơi và đặc biệt muốn thấy, muốn gần nó là đừng
khởi hiểu biết. Vừa khởi hiểu biết liền cách xa.
Ngài
nói đi nói lại, rốt cuộc cũng chỉ cho chúng ta thấy nơi
mọi người có tâm thể chân thật, không cho suy luận hiểu
biết để mình nhận ra tâm ấy. Bởi vì phải lặng dừng
tất cả suy luận tâm ấy mới hiện. Vì vậy chúng ta tu muốn
tâm chân thật hiển hiện phải dừng tất cả niệm lăng xăng,
đối đãi, phân biệt.
CHÁNH
VĂN:
Chỉ
nói với ông chỗ tình lượng hiện nay, tình lượng nếu hết
thì tâm không chỗ nơi. Đạo thiên chân này vốn không danh
tự. Bởi vì thế gian không biết, mê ở trong tình. Cho nên
chư Phật ra đời nói để phá việc này, sợ e các ông không
rõ, quyền lập tên “Đạo”. Không thể nhận tên sanh hiểu,
nên nói “được cá quên nôm”. Thân tâm tự nhiên đạt
đạo, biết tâm, đạt nguồn cội hiệu là Sa-môn.
GIẢNG:
Chỉ
nói với ông chỗ tình lượng hiện nay, tình lượng nếu hết
thì tâm không chỗ nơi. Tình lượng tức là tâm suy luận hiểu
biết. Nếu hết tâm suy luận hiểu biết thì tâm chân thật
trùm khắp. Tâm suy lượng hiểu biết luôn đặt trên danh tướng.
Khi chúng ta phân biệt tên đó, chữ đó, nghĩa đó… là danh.
Phân biệt hình này, tướng kia đẹp xấu… là tướng. Tất
cả tình lượng phân biệt đều nằm trên danh tướng. Nếu
danh tướng tình lượng lặng thì tâm thênh thang bủa khắp,
đó là đạo.
Cho
nên ở đây dùng chữ “đạo thiên chân” này vốn không
danh tự. Tại sao nói đạo thiên chân? Thiên chân có hai cách
hiểu. Thứ nhất, thiên chân là cái chân nghiêng một bên.
Thường thường nói thiên chân là chỗ đạt được của Nhị
thừa, chỉ mới có một bên, chưa viên mãn. Thứ hai, thiên
chân ở đây là cái chân thật sẵn có. Đạo sẵn có chân
thật này vốn không danh tự. Nên đạo thiên chân tức là
đạo sẵn có chân thật. Người thế gian không hiểu nên mê
trong tình.
Cho
nên chư Phật ra đời thì nói để phá việc này, sợ e các
ông không rõ quyền lập tên đạo. Chúng ta sẵn có đạo chân
thật, không tên tuổi, không danh tự, người thế gian không
biết mê lầm trong tình chấp. Cho nên chư Phật ra đời để
phá chấp này, quyền lập tên “đạo”. Không thể nhận
tên sanh hiểu, nên nói “được cá quên nôm”. Chúng ta tu
phải nhận ra chỗ chân thật, không nên sanh thêm hiểu biết
phân biệt nào, vì vậy nói “được cá quên nôm”. Như người
cầm nôm đi nôm, cốt được cá chớ không phải được nôm.
Cho nên khi được cá thì quên nôm. Chúng ta cũng vậy, nhận
ra đạo thì quên hết danh tự, dù danh tự đạo cũng không
còn. Nếu còn bám vào danh tự là còn giữ nôm mà không giữ
cá.
Thân
tâm tự nhiên đạt đạo, biết tâm đạt nguồn cội hiệu
là Sa-môn. Sa-môn là gì? “Thức tâm đạt bản nguyên danh
vi Sa-môn.” Hiểu được tâm, đạt được nguồn cội gọi
là Sa-môn. Người tu mà không hiểu tâm, không thấu suốt được
nguồn cội thì chưa xứng là người tu. Vì vậy Tổ dẫn kinh
Tứ Thập Nhị Chương nhắc câu này.
CHÁNH
VĂN:
Quả
Sa-môn là dứt duyên lự mà thành, không phải từ học mà
được.
GIẢNG:
Quả
của Sa-môn có nhiều bậc. Thí dụ như Tứ quả Sa-môn là
Tu-đà-hoàn, Tư-đà-hàm, A-na-hàm, A-la-hán. Riêng quả Sa-môn
ở đây là quả đạt đạo tuyệt cao, không phải do tâm phân
biệt so sánh đối đãi mà thành. Cho nên nói không phải học
mà được.
CHÁNH
VĂN:
Ông
nay đem tâm cầu tâm, bên cạnh nhà người chỉ toan học lấy,
có khi nào được.
GIẢNG:
Nếu
đem tâm cầu tâm, có khi nào được. Muốn được tâm chân
thật tự mình phải buông hết mọi thứ phân biệt vọng lự,
thì tâm chân thật hiện tiền. Bên cạnh nhà người chỉ toan
học lấy là đến nhà các bậc thầy cầu mong chỉ dạy, như
thế trọn chẳng thể được.
CHÁNH
VĂN:
Người
xưa tâm lanh lợi vừa nghe một câu bèn dứt học, cho nên nói
là “tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân”.
GIẢNG:
Người
xưa nghe một câu bèn dứt học, gọi là tuyệt học vô vi nhàn
đạo nhân. Ngài Huyền Giác nói câu này để nhắc chúng ta
đến chỗ chân thật rồi không còn học là tuyệt học, vô
vi là không còn mọi động tác, mọi suy luận. được như
thế gọi là nhàn đạo nhân, đạo nhân thảnh thơi không còn
bận bịu việc gì.
CHÁNH
VĂN:
Người
thời nay chỉ muốn được biết nhiều hiểu rộng, rộng cầu
văn nghĩa, bảo là tu hành, không biết biết nhiều hiểu rộng
trở thành bít lấp.
GIẢNG:
Tại
sao biết nhiều, hiểu rộng lại trở thành bít lấp? Bởi
vì chúng ta học nhiều, nhớ nhiều thì càng che cái chân thật
của chính mình, cho nên gọi là bít lấp. Nếu tâm trống rỗng
không còn gì che đậy, tâm chân thật sẽ hiện ra.
CHÁNH
VĂN:
Chỉ
cần biết nhiều sánh với trẻ con ăn tô ăn sữa, trọn không
biết tiêu cùng chẳng tiêu.
GIẢNG:
Người
muốn biết thật nhiều, thuộc lòng tam tạng kinh điển, giống
như mấy đứa bé thích ăn bơ, ăn sữa. Nó không biết ăn
nhiều không tiêu sẽ thành bệnh. Chúng ta cũng vậy, cứ ngỡ
rằng học nhiều, hiểu rộng là hay, không ngờ chính học
nhiều hiểu rộng lại trở thành bít lấp.
CHÁNH
VĂN:
Người
học đạo tam thừa đều giống như thế, chung gọi là ăn
không tiêu. Nên nói “hiểu biết không tiêu đều là thuốc
độc”. Hoàn toàn nhằm trong sanh diệt mà lấy, trong chân
như trọn không có việc này. Nên nói “trong kho vua của ta
không có đạo như thế”. Từ trước có tất cả chỗ hiểu
biết cần phải dẹp sạch, khiến không, lại không phân biệt
tức là Không Như Lai Tạng.
GIẢNG:
Người
học đạo tam thừa đều giống như thế, chung gọi là ăn
không tiêu, học nhiều quá tiêu hóa không nổi gọi là ăn
không tiêu. Nên nói “hiểu biết không tiêu đều là thuốc
độc”, tất cả hiểu biết nhiều mà không tiêu hóa nổi
thì trở thành thuốc độc.
Hoàn
toàn nhằm trong sanh diệt mà lấy, trong chân như trọn không
có việc này, học hiểu tìm kiếm phân biệt… tất cả những
thứ ấy đều nằm trong sanh diệt, không phải thể chân như.
Nên
nói “trong kho vua của ta không có đạo như thế”, trong kho
vua không có đạo như thế, không có học lăng xăng như vậy.
Từ
trước có tất cả chỗ hiểu biết cần phải dẹp sạch,
khiến không, lại không phân biệt tức là Không Như Lai Tạng.
Sao gọi là Như Lai Tạng? Sao gọi là Không Như Lai Tạng? Khi
không còn dính chấp, không còn khởi phân biệt gọi là Không
Như Lai Tạng. Như Lai là Phật, Tạng là kho. Như Lai Tạng là
kho của Phật. Kho của Phật chứa gì? Kho của Phật trống
rỗng thênh thang, cho nên gọi là Không Như Lai Tạng.
Còn
kho chúng ta chứa gì? Chứa đủ thứ bá nạp, tốt xấu hay
dở không thiếu thứ gì. Bởi vậy nên gọi là tạng hay tàng
thức. Tàng thức đối với Duy Thức học gọi là thức thứ
tám, chứa tất cả chủng tử thiện ác, đó là những thứ
phân biệt nên gọi là thức. Khi ta dẹp hết tất cả chủng
tử thiện ác rồi gọi đó là Không Như Lai Tạng.
CHÁNH
VĂN:
Như
Lai Tạng lại không một mảy bụi có thể có, tức là vị
Pháp vương phá hữu xuất hiện ở thế gian, cũng nói rằng:
“Ta ở chỗ Phật Nhiên Đăng không có một chút pháp có thể
được.”
GIẢNG:
Như
Lai Tạng không một mảy bụi có thể có, nghĩa là không còn
một mảy bụi mới gọi là Như Lai Tạng. Nếu không còn một
mảy bụi thì gọi là vị Pháp vương phá hữu xuất hiện
ở thế gian. Pháp vương phá hữu là gì? Là ông vua pháp dẹp
hết những cái có ở thế gian. Cũng nói rằng “Ta ở chỗ
Phật Nhiên Đăng không có một chút pháp có thể được”,
đây dẫn kinh Kim Cang để nói đức Phật là vị Pháp Vương
Phá Hữu xuất hiện ở thế gian.
CHÁNH
VĂN:
Lời
nói này chỉ là không. Tình lượng hiểu biết của ông cần
được tiêu dung, trong ngoài tình hết, trọn không y chấp là
người vô sự.
GIẢNG:
Những
lời dẫn từ trước đến đây, cốt chỉ cho chúng ta thấy
là không, không một pháp, như vậy tất cả tình lượng, hiểu
biết cần phải tiêu dung. Tiêu dung là dọn dẹp tiêu hoá hết,
không còn gì lợn cợn nữa. Trong ngoài tình hết, ở trong
ở ngoài đều không còn tình chấp. Trọn không y chấp là
người vô sự, tức không có gì để dính mắc nữa là người
vô sự. Người vô sự là người thế nào? Chắp tay ra sau
đi tới đi lui thong thả, ngó trời ngó mây là người vô sự
chăng? Ngó trời ngó mây mà trong đầu lăng xăng, có phải
vô sự chưa? Thân thì thấy như vô sự mà thực tâm chưa vô
sự. Vô sự là tất cả tình chấp không còn, trong ngoài đều
dứt sạch, chính chỗ đối cảnh vô tâm mới là người vô
sự.
CHÁNH
VĂN:
Cương
yếu giáo lý tam thừa chỉ là thứ thuốc hợp cơ, tùy nghi
nói ra, tạm thời lập bày, mỗi mỗi không đồng, chỉ cần
rõ biết thì không bị mê hoặc là hay bậc nhất. Không được
bên một cơ, một giáo chấp văn nhận hiểu. Tại sao như thế?
Thật không có pháp nhất định Như Lai có thể nói.
GIẢNG:
Ở
đây Ngài muốn nói cho chúng ta hiểu, sở dĩ Phật giảng dạy
có chia ra tam thừa Phật giáo, hoặc ngũ thừa Phật giáo là
vì đối bệnh cho thuốc, chớ chưa phải chỗ cứu kính. Bởi
hợp cơ cho nên tùy nghi nói ra, tạm thời lập bày, mỗi mỗi
không đồng nên pháp này khác pháp kia. Chỉ cần rõ biết
thì không mê hoặc, chúng ta cần biết những pháp ấy Phật
phương tiện tùy cơ mà thuyết. Biết rành rẽ như vậy, không
lầm lẫn là hay bậc nhất.
Gần
đây tôi có một cái nhìn, như hàng Thanh văn lấy pháp Bát
chánh đạo làm căn bản, Duyên giác lấy Mười hai nhân duyên
làm căn bản. Trong Bát chánh đạo thứ nhất là Chánh kiến,
kế đến là Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng,
Chánh tinh tấn, Chánh niệm, tới Chánh định thì dừng. Còn
Đại thừa lấy Lục độ làm căn bản. Lục độ gồm Bố
thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí tuệ.
Như vậy hai bên khác nhau chỗ nào?
Theo
Thanh văn, bước đầu là Chánh kiến, nhận định đúng với
Chánh pháp, đúng với lý Tứ đế. Muốn thế phải có trí
tuệ mới Chánh kiến được. Trí tuệ ở đâu ra? Phật dạy
“các ngươi hãy thắp đuốc lên mà đi, thắp lên với chánh
pháp”. Trí tuệ đó từ học mà được. Các hàng Thanh văn
nhờ nghe, nhờ học kinh Phật mà có nhận định đúng, thành
ra trí đó là trí hữu học. Từ trí hữu học đi lần lần
lên thấy đúng, nghĩ đúng, nói đúng, làm đúng, sống đúng,
tu hành đúng tới chánh định thì dừng. Tại sao? Bởi vì
Thanh văn tu muốn cầu Niết-bàn, cứu kính Niết-bàn của Thanh
văn là Diệt tận định, cho nên dừng lại ở định.
Bồ-tát
bắt đầu từ Bố thí, kế đến là Trì giới, Nhẫn nhục,
Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ. Với tinh thần Đại thừa,
trước hết dùng lòng Từ bi, do dùng Từ bi nên bố thí. Bố
thí dẹp cái gì? Dẹp tham. Kế đến Trì giới là bảo vệ
cho chúng ta tránh những lỗi lầm. Nhẫn nhục để trừ sân.
Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ diệt hết si. Như vậy trí
tuệ của Lục độ từ đâu ra? Từ Thiền định mà được,
nên trí tuệ đó là trí tuệ vô sư. Bồ-tát ban đầu đi từ
tâm từ bi, lần lần tới diệt tham, sân, si, cuối cùng trí
tuệ chân thật hiện. Phân biệt sự khác nhau trên pháp tu
của hai bên Thanh văn và Bồ-tát, chúng ta mới thấy hai giáo
lý sai biệt nhau ở mục đích cứu kính.
Người
tu Bồ-tát đạo khi được trí tuệ rồi, biết trí tuệ ấy
đâu phải riêng mình có, ai cũng sẵn vì nó là trí vô sư.
Do đó mọi người đều có khả năng thành Phật, vì vậy
các ngài không nhập Niết-bàn mà chấp nhận đi trong sanh tử
để độ chúng sanh. Còn các vị Thanh văn tu học từ Tứ đế
được Diệt tận định, nên muốn ra khỏi sanh tử nhập Niết-bàn.
Một bên hết duyên nhập Niết-bàn. Một bên nhận ra trí tuệ
vô sư, lăn lóc vào đời độ chúng sanh. Đó là chỗ khác
biệt giữa Tiểu thừa và Đại thừa.
Hiểu
vậy mới thấy giáo lý của Phật có từng chặng, nên nói
giáo lý Tam thừa chỉ là phương pháp khế cơ thôi. Ở đây
chỉ thẳng cho chúng ta biết tới chỗ cuối cùng không còn
tất cả những suy nghĩ luận bàn. Nên nói “thật không có
pháp nhất định Như Lai có thể nói”, chẳng qua chỉ là
phương tiện.
CHÁNH
VĂN:
Tông
môn của tôi đây chẳng bàn việc này, chỉ biết dứt tâm
liền thôi, không cần suy trước tính sau.
GIẢNG:
Tổ
bảo tông môn của Ngài chỉ cần dứt tâm, không cần suy trước
tính sau. Chỗ này đơn giản mà khó. Ví dụ như người bị
bệnh ái nặng, Phật dạy họ quán thân bất tịnh. Quán đến
khi nào gớm nó thì bớt ái, như vậy dễ trừ. Còn ở đây
không nói bệnh gì hết, miễn niệm dấy lên liền bỏ. Chúng
ta bỏ hoài mà không thấy hết nên nói khó. Càng đơn giản
càng khó. Cũng thế, chân lý rất đơn giản cho nên khó tìm.
Cái gì màu sắc hoa hòe tô điểm bên ngoài, dễ tìm nên người
ta thích, nhưng nó không phải chân lý. Chân lý là lẽ thật,
rất đơn giản. Hiểu vậy chúng ta thấy lối tu chỉ biết
dứt tâm liền thôi là quá đơn giản, vì thế nên khó. Đó
là con đường tắt. Khó mà bền chí tu cũng sẽ thành tựu.
Còn dễ là con đường quanh, đi không khéo lòng vòng mãi không
biết bao giờ mới về đến nhà. Như người leo núi, đi thẳng
lên khó, còn đi vòng vòng dễ hơn. Việc tu của chúng ta cũng
giống như vậy. Hiểu rồi mới bền chí, mới quyết tâm tu.
Nếu không hiểu thì tu lâu thấy mệt mỏi sanh ra chán ngán.
Người khéo tu biết buông bỏ những gì dính mắc, che lấp
thì tự sáng thôi.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Từ trước đến nay đều nói “tức tâm là Phật”, chưa
biết tức tâm nào là Phật?
Đáp:
Ông có bao nhiêu thứ tâm?
Hỏi:
Tức tâm phàm là Phật hay tức tâm Thánh là Phật?
Đáp:
Ông chỗ nào có tâm phàm thánh?
Hỏi:
Nay trong tam thừa nói có phàm thánh, Hoà thượng đâu được
nói không?
Đáp:
Trong tam thừa rõ ràng nói với ông “tâm phàm thánh là vọng”,
nay ông không hiểu trở lại chấp là có, đem không làm thật,
đâu không phải là vọng, vọng nên mê tâm. Ông chỉ trừ
dẹp tình phàm cảnh thánh, ngoài tâm không có Phật khác, Tổ
sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng mọi người toàn thể là
Phật. Nay ông không biết chấp phàm chấp thánh, nhằm ngoài
chạy tìm, trở lại mê tâm mình, vì thế nên đến ông nói
“tức tâm là Phật”. Một niệm tình sanh liền sa vào cõi
khác, từ vô thủy đến giờ không khác ngày nay. Không có
pháp khác nên gọi thành Đẳng Chánh Giác.
GIẢNG:
Hỏi:
Từ trước đến nay đều nói “tức tâm là Phật”, chưa
biết tức tâm nào là Phật?
Đáp:
Ông có bao nhiêu thứ tâm? Hỏi tâm nào là Phật, Ngài hỏi
lại ông có bao nhiêu thứ tâm?
Hỏi:
Tức tâm phàm là Phật hay tức tâm Thánh là Phật?
Đáp:
Ông chỗ nào có tâm phàm thánh?
Hỏi:
Nay trong tam thừa nói có phàm thánh, Hoà thượng đâu được
nói không? Tam thừa nói rõ ràng có phàm thánh, nếu người
tu Thiền từ Sơ thiền tới Tứ thiền thuộc về Phàm phu thiền.
Từ Tứ thiền trở lên bước qua Thánh quả, có phàm có thánh.
Còn Bồ-tát từ thập tín, thập trụ, thập hạnh, thập hồi
hướng thuộc về Hiền, từ sơ địa cho tới thập địa…
thuộc về Thánh. Rõ ràng từ giáo lý Nhị thừa tới giáo
lý Đại thừa đều nói có phàm thánh. Tại sao Ngài nói không
phàm thánh.
Đáp:
Trong tam thừa rõ ràng nói với ông “tâm phàm thánh là vọng”,
trong tam thừa giáo lý cũng nói tâm phân biệt phàm, tâm phân
biệt thánh là tâm vọng. Nay ông không hiểu trở lại chấp
là có, đem không làm thật, đâu không phải là vọng, vọng
nên mê tâm. Vì ông còn chấp hai bên phàm thánh, đó là vọng
nên còn mê tâm. Ông chỉ trừ dẹp tình phàm cảnh thánh, ngoài
tâm không có Phật khác, bây giờ hai bên phàm thánh đều dẹp
hết. Nói dẹp phải quấy hơn thua thì dễ, chớ dẹp phàm
thánh hơi khó. Dẹp được phải quấy hơn thua cũng là hạng
khá, huống nữa là dẹp tình phàm cảnh thánh. Nếu dẹp được
tình phàm cảnh thánh thì không còn Phật nào khác nữa, đó
là Phật rồi. Cho nên nói ngoài tâm chân thật không có Phật
khác.
Tổ
sư từ Ấn Độ đến, chỉ thẳng mọi người toàn thể là
Phật. Nay ông không biết chấp phàm chấp thánh, nhằm ngoài
chạy tìm, trở lại mê tâm mình, vì thế nên đến ông nói
“tức tâm là Phật”. Ở đây dẫn lời của Tổ Đạt-ma
chỉ dạy. Ngài chỉ thẳng mọi người toàn thể là Phật.
Nay ông không biết chấp phàm chấp thánh, nhằm ngoài chạy
tìm tức chạy ra ngoài tìm phàm tìm thánh, trở lại mê tâm
mình tức quên tâm, vì thế buộc lòng phải nói với ông “tức
tâm là Phật”. Nói thế để nhớ tâm mình là Phật, không
thể bỏ nó tìm Phật bên ngoài được.
Một
niệm tình sanh liền sa vào cõi khác, từ vô thủy đến giờ
không khác ngày nay, thể chân thật hay tâm Phật của mình
từ xưa đến giờ không đổi thay tí nào hết. Nếu người
có niệm phân biệt suy tính liền rơi vào cõi khác.
Không
có pháp khác nên gọi thành Đẳng Chánh Giác. Đẳng là ngang
nhau, được Chánh giác bằng nhau chớ không có cao thấp riêng
khác.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Hoà Thượng nói “tức” là đạo lý gì?
Đáp:
Tìm đạo lý gì? Vừa có đạo lý bèn tức tâm khác.
Hỏi:
Trên nói “từ vô thủy đến giờ không khác ngày nay”, lý
này thế nào?
Đáp:
Chỉ vì tìm nên ông tự khác người, ông nếu không tìm thì
chỗ nào có khác?
Hỏi:
Đã là không khác sao lại phải nói “tức”?
Đáp:
Ông nếu không nhận phàm thánh thì ai đến ông nói “tức”?
Tức như không tức, tâm cũng chẳng tâm, nên trong ấy tâm
tức đều quên, người nào lại nghĩ, nhằm chỗ nào tìm?
GIẢNG:
Hỏi:
Hoà Thượng nói “tức” là đạo lý gì?
Đáp:
Tìm đạo lý gì? Vừa có đạo lý bèn tức tâm khác. Vừa
thấy có đạo lý là tâm khác, chớ không còn tức tâm là
Phật nữa.
Hỏi:
Trên nói “từ vô thủy đến giờ không khác ngày nay”, lý
này thế nào?
Đáp:
Chỉ vì tìm nên ông tự khác người, ông nếu không tìm thì
chỗ nào có khác? Vì chúng ta chạy tìm nên thành khác. Nếu
không tìm kiếm thì có gì khác.
Hỏi:
Đã là không khác sao lại phải nói “tức”?
Đáp:
Ông nếu không nhận phàm thánh thì ai đến ông nói “tức”?
Tại ông nói tâm này là phàm, tâm kia là thánh, nên nói tức
phàm là thánh.
Tức
như không tức, tâm cũng chẳng tâm, nên trong ấy tâm tức
đều quên, người nào lại nghĩ, nhằm chỗ nào tìm? Tới
chỗ cuối cùng chữ tức cũng phải buông, chữ tâm cũng phải
bỏ, cả hai đều hết. Như vậy không cần tìm kiếm ở đâu.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Vọng hay chướng tâm mình, chưa biết nay nên lấy cái gì dẹp
vọng?
Đáp:
Khởi vọng dẹp vọng cũng thành vọng. Vọng vốn không gốc,
chỉ nhân phân biệt mà có, ông chỉ nên đối hai chỗ phàm
thánh tình chấp hết, tự nhiên không vọng. Nếu vì dẹp nó
trọn không được có một mảy y chấp, gọi là “ta bỏ hai
cánh tay ắt sẽ được Phật”.
Hỏi:
Đã không y chấp thì truyền trao thế nào?
Đáp:
Lấy tâm truyền tâm.
Hỏi:
Nếu tâm truyền nhau tại sao nói tâm cũng không?
Đáp:
Không được một pháp gọi là truyền tâm, nếu rõ tâm này
tức là không tâm không pháp.
GIẢNG:
Hỏi:
Vọng hay chướng tâm mình, chưa biết nay nên lấy cái gì dẹp
vọng?
Đáp:
Khởi vọng dẹp vọng cũng thành vọng. Vọng vốn không gốc,
chỉ nhân phân biệt mà có, ông chỉ nên đối hai chỗ phàm
thánh tình chấp hết, tự nhiên không vọng. Nếu vì dẹp nó
trọn không được có một mảy y chấp, gọi là “ta bỏ hai
cánh tay ắt sẽ được Phật”. Nói khởi vọng dẹp vọng
cũng thành vọng. Vừa thấy vọng chúng ta khởi dẹp nó, như
vậy cái khởi dẹp cũng là vọng. Nhưng nếu vọng khởi mình
không dấy niệm bỏ, làm sao nó hết, cho nên giai đoạn đầu
phải phương tiện dùng cái này bỏ cái kia.
Nhưng
khi chúng ta tu sâu rồi, vọng vừa dấy mình nhìn nó mất.
Quí vị đừng cố đè, đừng cố dẹp, chỉ thấy nó buông
thôi, đừng theo là được. Tại sao đừng đè đừng dẹp?
Bởi vì nó có thật đâu mà đè, có thật đâu mà dẹp, chẳng
qua biết nó hư dối không theo là được rồi. Vọng vốn không
gốc, không thật, chỉ nhân phân biệt mà có. Cho nên Tổ dạy
ông chỉ nên đối hai chỗ phàm thánh tình chấp hết, tự
nhiên không vọng. Tất cả hai bên: phải quấy, hơn thua, tốt
xấu, đúng sai, phàm thánh… đều không dính bên nào thì vọng
tự hết. Ngược lại, nếu kẹt một bên, bên này hoặc bên
nọ thì vọng không bao giờ hết.
Nếu
vì dẹp nó trọn không được có một mảy y chấp, gọi là
“ta bỏ hai cánh tay ắt sẽ được Phật”. Tổ dẫn hình
ảnh Bồ-tát chặt hai cánh tay để cúng dường, đây là để
nói ý bỏ hai bên. Hai bên không còn dính, không còn kẹt, không
còn chấp, đó là Phật. Có người bảo khởi nghĩ là vọng,
dừng nghĩ là chân, cho nên bỏ vọng cầu chân. Bỏ vọng cầu
chân thì còn hai bên hay một bên? Cũng là hai bên. Nói vọng
nói chân là phương tiện, chớ không phải thật. Chỉ vọng
lặng hết tự nó là chân, cái chân cũng không còn chân, vì
đối với vọng nên gọi chân. Vọng hết thì còn gọi là
gì? Nó là tâm thể chân thật hiện tiền, không nói vọng,
nói chân gì hết.
Cúng
dường hai cánh tay là bỏ chấp hai bên. Kinh Đại thừa có
những hình ảnh người ta dễ hiểu lầm. Nói Bồ-tát bố
thí hai cánh tay, ta tưởng đâu bỏ hai cánh tay được Phật
thọ ký. Thích quá hôm nào ta cũng chặt tay để được Phật
thọ ký. Nhưng mình chặt tay rồi thì thành người cụt tay,
chớ không ai thọ ký cho đâu.
Hỏi:
Đã không y chấp thì truyền trao thế nào?
Đáp:
Lấy tâm truyền tâm.
Hỏi:
Nếu tâm truyền nhau tại sao nói tâm cũng không?
Đáp:
Không được một pháp gọi là truyền tâm, nếu rõ tâm này
tức là không tâm không pháp.
Truyền
tâm là người không còn dính chấp nào, tâm thể hiện tiền,
nghe người kia trình bày chỗ không còn dính mắc của họ,
hai bên thông cảm nhau gọi là lấy tâm truyền tâm. Tổ Đạt-ma
truyền pháp cho Tổ Huệ Khả. Tổ Huệ Khả nói “ngày nay
con dứt hết các duyên”, nghĩa là không còn chút dính mắc
nào. Tổ Đạt-ma sợ dứt hết các duyên lại chấp không,
nên nói “coi chừng rơi vào không”. Tổ Huệ Khả nói “rõ
ràng thường biết, làm sao không được”. Dứt hết các duyên
mà tâm vẫn rõ ràng thường biết, làm sao không. Tổ Đạt-ma
nói “ông như thế, ta như thế, chư Phật cũng như thế”,
đó là truyền tâm. Như vậy có truyền gì không? Thường nói
truyền trao là đem gậy, đem bát, đem y trao cho gọi là truyền.
Còn ở đây ông thấy như vậy đúng với cái thấy của ta,
ta thấy đúng với cái thấy của Phật. Đó là thừa nhận
chỗ hợp nhau, gọi là truyền, chớ không phải đem cái gì
ra truyền cho người.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Nếu không tâm không pháp, thế nào là truyền?
Đáp:
Ông nghe nói truyền tâm bèn cho là có khả đắc. Sở dĩ Tổ
sư nói: “Khi nhận được tâm tánh nên nói không nghĩ bàn,
rõ ràng không sở đắc, khi được không nói biết.” Việc
này nếu đem dạy, ông đâu kham lãnh hội.
Hỏi:
Như hư không ở trước mắt, thật không phải cảnh, sao không
chỉ cảnh để thấy được tâm?
Đáp:
Tâm gì mà dạy ông nhằm trên cảnh thấy? Giả sử ông thấy
được chỉ là cái tâm chiếu cảnh. Như người dùng gương
soi mặt, cho dù thấy được mày mắt rõ ràng, nhưng thật
ra chỉ là bóng dáng, đâu quan hệ gì việc của ông?
Hỏi:
Nếu không nhân chiếu khi nào được thấy?
Đáp:
Nếu vậy liên hệ đến nhân thường phải nhờ vật, có khi
nào được liễu ngộ. Ông không thấy người đến ông nói:
“buông tay tợ người không một vật, luống công dối nói
mấy ngàn điều”.
Hỏi:
Nếu người hiểu rồi chiếu cũng không vật sao?
Đáp:
Nếu là không vật thì cần gì phải chiếu, ông nếu mở mắt
thì nói hết ngủ.
GIẢNG:
Hỏi:
Nếu không tâm không pháp, thế nào là truyền?
Đáp:
Ông nghe nói truyền tâm bèn cho là có khả đắc. Sở dĩ Tổ
sư nói: “Khi nhận được tâm tánh nên nói không nghĩ bàn,
rõ ràng không sở đắc, khi được không nói biết.” Việc
này nếu đem dạy ông, đâu kham lãnh hội.
Nói
truyền tâm là sao? Ngài dẫn Tổ sư nói khi nhận được tâm
tánh nên nói không nghĩ bàn, nhận được chỗ không còn nghĩ
bàn, rõ ràng không sở đắc, khi được không nói biết. Khi
được cũng không nói tôi biết nó, vì nó rõ ràng hằng biết,
đâu thể nói biết được nó. Nếu biết nó thì nó là vật
bị biết. Việc này nếu đem dạy ông, đâu kham lãnh hội.
Tôi có dạy ông cũng không lãnh hội được.
Hỏi:
Như hư không ở trước mắt, thật không phải cảnh, sao không
chỉ cảnh để thấy được tâm?
Đáp:
Tâm gì mà dạy ông nhằm trên cảnh thấy? Giả sử ông thấy
được chỉ là cái tâm chiếu cảnh. Như người dùng gương
soi mặt, cho dù thấy được mày mắt rõ ràng, nhưng thật
ra chỉ là bóng dáng, đâu quan hệ gì việc của ông?
Người
hỏi nói rằng như hư không ở trước mắt, thật không phải
cảnh, sao không chỉ cảnh để thấy được tâm. Như hư không
ở trước mắt, ta có thể nhìn biết, sao không lấy đó mà
chỉ? Ngài nói tâm gì mà dạy ông nhằm trên cảnh thấy? Tâm
đó không phải ngoài cảnh mà có, nó có ngay nơi ông. Giả
sử mình thấy được nó, chỉ là thấy tâm chiếu cảnh, chớ
không phải thấy tâm thật. Như lấy gương soi mặt, mặt mày
trong gương chúng ta thấy được là cái bóng, chớ không phải
mặt mày thật. Mặt mày thật không thể thấy, như con mắt
không thể thấy con mắt. Vì vậy những gì chúng ta tìm thấy
chỉ là bóng dáng thôi, không phải cái chân thật.
Hỏi:
Nếu không nhân chiếu khi nào được thấy?
Đáp:
Nếu vậy liên hệ đến nhân thường phải nhờ vật, có khi
nào được liễu ngộ. Ông không thấy người đến ông nói:
“buông tay tợ người không một vật, luống công dối nói
mấy ngàn điều”. Ở đây hỏi nếu nói không nhân chiếu
khi nào được thấy? Ngài đáp nếu vậy liên hệ đến nhân
thường phải nhờ vật, nhân tức là nhân chiếu. Muốn chiếu
thì phải có vật mới chiếu được, như vậy chừng nào liễu
ngộ. Đây dẫn lời các Tổ nói ông thấy người đến ông
nói: “buông tay tợ người không một vật, luống công dối
nói mấy ngàn điều”, dù nói mấy ngàn điều chỉ là chuyện
luống công, chớ gốc là buông tay không dính một vật. Đó
là chủ yếu, còn nói đông nói tây chỉ phương tiện thôi.
Hỏi:
Nếu người hiểu rồi chiếu cũng không vật sao?
Đáp:
Nếu là không vật thì cần gì phải chiếu, ông nếu mở mắt
thì nói hết ngủ.
Đơn
giản vô cùng. Hỏi “nếu người hiểu rồi chiếu soi cũng
không vật sao”, Ngài đáp “nếu là không vật thì cần gì
phải chiếu”. Vì chiếu là soi lại, mà cái ấy không có,
lấy gì soi. Bây giờ chỉ nói nếu ông hết mê tức là giác,
giống như người mở mắt thì không ngủ. Thức ngủ khác
nhau ở chỗ mở mắt với nhắm mắt thôi, sáng tối khác nhau
ở chỗ tỉnh hay mê thôi.
CHÁNH
VĂN:
Ngài
thượng đường bảo:
Biết
nhiều trăm thứ, chẳng bằng không cầu, tột bậc nhất vậy.
Đạo nhân là người vô sự, thật không có những tâm nhiều
ấy, cũng không có đạo lý gì có thể nói. Vô sự giải tán
đi.
GIẢNG:
Ngài
bảo “biết nhiều trăm thứ chẳng bằng không cầu, tột
bậc nhất vậy”, chỗ không cầu là tột bậc nhất, còn
biết nhiều trăm thứ không phải là hay.
Đạo
nhân là người vô sự, thật không có những tâm nhiều ấy,
cùng sự không có đạo lý gì có thể nói, nói đạo nhân
là chỉ cho những người vô sự, vô sự thì không có tâm
lăng xăng lộn xộn, chỗ tột cùng sự không còn đạo lý
gì để nói nữa. Cuối cùng Ngài nói một câu dễ dàng nhất:
Vô sự giải tán đi, không còn chuyện gì nữa thì giải tán
đi, học nhiều làm chi.
CHÁNH
VĂN:
Hỏi:
Thế nào là thế đế?
Đáp:
Nói nhánh nhóc ấy làm gì? Xưa nay thanh tịnh đâu nhờ nói
năng vấn đáp, chỉ không tất cả tâm liền gọi là trí vô
lậu. Ông mỗi ngày đi đứng ngồi nằm tất cả nói năng,
chớ đắm pháp hữu vi, nói ra nháy mắt thảy đồng vô lậu.
Như nay nhằm đời mạt pháp, phần nhiều người học Thiền
học đạo đều đắm tất cả thanh sắc, sao không cùng ta
mỗi tâm đồng hư không đi, như cây khô hòn đá đi, như tro
tàn lửa tắt đi, mới có một ít phần tương ưng. Nếu không
như thế, hôm nào sẽ bị Diêm Vương dẫn ông đi.
GIẢNG:
Thế
đế cũng gọi là thế tục đế. Đệ nhất nghĩa đế cũng
gọi là Thánh đế. Thế đế là đối với đệ nhất nghĩa
đế mà lập. Chữ đế là lẽ thật. Hỏi thế đế là nói
về thế tục, những vấn đề rất thường tình. Cho nên ở
đây Ngài đáp: Nói nhánh nhóc ấy làm gì? Tổ giải thích:
xưa nay thanh tịnh đâu nhờ nói năng vấn đáp, chỉ không
tất cả tâm liền gọi là trí vô lậu, đơn giản làm sao.
Chúng ta cứ tìm hiểu ngôn ngữ, văn tự mà không buông tất
cả tâm cho thanh tịnh. Nếu tâm không thanh tịnh dù hỏi tới
đâu cũng chỉ là ngôn ngữ thôi. Vì vậy Ngài nói chỉ không
tất cả tâm liền gọi là trí vô lậu. Chúng ta không tất
cả tâm dấy khởi lăng xăng, gọi là trí vô lậu.
Ông
mỗi ngày đi đứng ngồi nằm tất cả nói năng, chớ đắm
pháp hữu vi, nói ra nháy mắt thảy đồng vô lậu. Đi đứng
ngồi nằm nói năng v.v… là tướng hữu vi, đừng mắc kẹt
nó. Nếu không mắc kẹt thì mọi hành động đều là vô lậu.
Ngược lại nếu mắc kẹt trong pháp hữu vi thì rơi vào hữu
lậu.
Như
nay nhằm đời mạt pháp, phần nhiều người học thiền học
đạo đều đắm tất cả thanh sắc, sao không cùng ta mỗi
tâm đồng hư không đi, như cây khô hòn đá đi, như tro tàn
lửa tắt đi, mới có một ít phần tương ưng. Ngài dạy chúng
ta học đạo không phải học ngôn ngữ, hình thức mà phải
tập mỗi tâm đồng hư không. Mỗi tâm đồng hư không là
sao? Tâm tâm không dính với cảnh, tâm tâm không dính với
hơn thua phải quấy v.v… là tâm đồng với hư không.
Như
cây khô hòn đá đi, tại sao bảo mình phải như cây khô như
hòn đá? Nhịn đói để chết cứng như cây khô, hòn đá phải
không? Nói cây khô, hòn đá để chỉ tâm không dính, không
kẹt, không gì làm lay động được tâm.
Như
tro tàn lửa tắt đi, mới có một ít phần tương ưng. Làm
sao tâm như lửa tắt, như tro tàn? Nghe một lời nói trái tai
nổi nóng lên là lửa tắt hay lửa cháy? Lửa cháy chớ không
tắt. Nghe nói nặng, nói nhẹ mà tâm vẫn lạnh không bực,
không nóng nảy là lửa tắt. Lửa tắt thì tro lạnh, tro tàn.
Nghe nói danh lợi mình thích, có lửa không? Sân là lửa mà
tham cũng là lửa. Cho nên chúng ta phải khéo tu, làm sao tâm
như lửa tắt tro tàn, mới đi tới chỗ tương ưng cùng Phật
pháp hay tương ưng cùng chân tâm Phật tánh.
Nếu
không như thế, hôm nào sẽ bị Diêm Vương dẫn ông đi. Đó
là câu nói cảnh cáo. Cảnh cáo ai? Ai không để lửa tắt
tro tàn. Nếu người như lửa tắt, tro tàn thì Diêm Vương
biết đâu mà dẫn.
CHÁNH
VĂN:
Ông
chỉ lìa hẳn các pháp hữu vô, tâm như vầng mặt trời trong
hư không, ánh sáng tự nhiên không chiếu mà chiếu, không phải
là việc của sức phản tỉnh. Khi đến đây thì không chỗ
nương tựa, tức là làm hạnh của chư Phật, bèn là “nên
không có chỗ trụ mà sanh tâm kia”. Đây là pháp thân thanh
tịnh của ông, gọi là A-nậu Bồ-đề. Nếu không lãnh hội
được ý này, dù ông học được biết nhiều, siêng năng
khổ nhọc tu hành, áo cỏ ăn cây, không biết tâm mình đều
gọi là hạnh tà, quyết định sẽ làm quyến thuộc của thiên
ma, tu hành như thế sẽ có ích lợi gì?
GIẢNG:
Ở
trên Ngài dạy như lửa tắt tro tàn. Đến đây Ngài dạy phải
bi