Phần
9
41/
Ngũ Xú Nương
42/
Có Niết Bàn không
43/
Niết Bàn
44/
Ân oán
45/
Tôn giả Xá Lợi Phất
Ngũ
Xú Nương
Thuở
ấy tại một xóm nghèo trong khu tồi tàn của xứ Ấn Ðộ,
có một cô gái đến tuổi cập kê (tức là tuổi có thể
lấy chồng ) mệnh danh là Ngũ Xú Nương vì cô quá xấu. Sắc
của cô đủ năm vẻ xấu của mặt mày, hai tay và hai chân
nên được mệnh danh là như vậy. Trẻ con mới thấy mặt
cô đều phải khóc vì sợ hãi. Nhưng cô có một xúc giác
rất êm ái, đến nỗi ai động đến người cô đều cảm
thấy khoan khoái vô cùng. Trẻ con thấy cô đều khóc, nhưng
được cô ẵm lên thì không muốn rời ra nữa, bởi vì sự
xúc chạm đến cô gây cho chúng một cảm giác êm ái lạ lùng,
không khác gì được ấp ủ trong vòng tay của mẹ.
Tại
sao cô lại chịu một số phận kỳ quái như vậy? Là vì kiếp
trước cô là con gái một người thợ gốm nghèo. Một hôm,
có vị Tỳ kheo đi khất thực tới nhà, cô đã không cúng
dường mà lại xua đuổi vị ấy bằng những lời chua ngoa.
Vị Tỳ kheo trước sự ngu si của cô bé động lòng từ bi
muốn gieo cho cô một ít phước lành của sự bố thí, bảo
cô:
- Nếu
cô không có cơm để bố thí thì cho bần tăng một ít đất
sét vậy.
Cô
gái vào lấy một ít đất sét nắn đồ gốm đem ra cho vị
Tỳ kheo mà bảo:
- Ðó!
Ði cho khuất con mắt cho rồi. Cái ông lỳ lợm.
Do
lời mắng nhiếc và thái độ bực tức của cô khi bố thí,
kiếp này cô phải bị quả báo là nhan sắc xấu xí vô cùng.
Nhưng do sự bố thí đất sét cho vị Tỳ kheo kiếp này cô
được quả báo có một xúc giác êm dịu thần tiên.
Vì
quá xấu, nên tuổi đáng lấy chồng mà cô vẫn được nhàn
nhã rong chơi với bọn trẻ con suốt ngày trong xóm. Bấy giờ
đức vua có thói quen giả dạng thường dân đi vào các khu
đông đúc để xem xét dân tình mà chỉnh đốn đời sống
của họ. Một hôm vua đến xóm Ngũ Xú Nương vào lúc xẩm
tối. Ngũ Xú Nương đang chơi bịt mắt bắt dê với tụi trẻ.
Nàng bịt mắt quơ tay chụp bọn nhỏ đang hò la né tránh.
Ðức vua giả dạng đi qua bị nàng quơ trúng. Ngũ Xú Nương
hớn hở reo lên:
- Thằng
Cột!
- Không
phải!
- Thằng
Kèo!
- Không
phải!
Nàng
tiếp tục gọi tên năm bẩy đứa đều trật lất, bèn thả
tay ra. Trong lúc đó Ðức vua như chết điếng cả người vì
sự khoái lạc thần tiên. Ngài chưa bao giờ thưởng thức
một sự xúc chạm nào êm ái kỳ diệu như vậy, dù đang sống
trong nhung lụa gấm vóc, được đoanh vây bởi vô số cung
nữ nhan sắc diễm kiều. Trước sự xúc chạm của Ngũ Xú
Nương lần đầu tiên, Ngài bỗng thấy bao nhiêu phi tần đều
vô dụng nên cho về vườn hết, Ngài chỉ cần một nàng này
là đủ. Nhà vua giả dạng mặc dù đã được Ngũ Xú Nương
thả ra vẫn đứng trơ trơ như phỗng đá ... Không muốn rời
chân. Ngài đứng nhìn nàng tiếp tục trò chơi bịt mắt bắt
dê trong bóng mờ. Cho tới khi trời tối, bọn trẻ thấm mệt
giải tán, Ngũ Xú Nương đủng đỉnh về nhà. Vua lẽo đẽo
theo chân cô gái. Vừa đi vừa tưởng tượng nhan sắc của
nàng chắc là chim sa cá lặn, vì sự xúc chạm của nàng êm
ái như thế. Vua muốn đến tận nhà nhìn cho rõ mặt hơn,
nhưng ngài nhất quyết đặt cô gái lên ngôi chánh cung hoàng
hậu.
Vừa
đi ngài vừa hỏi cô bé (vua vẫn giả bộ thường dân):
- Này
em, qua muốn hỏi em về làm vợ, em có bằng lòng không?
Cô
bé cười lớn:
- Ha
ha! Ông muốn cưới tôi hả? Cha mẹ tôi nghèo lắm, không có
gì cho ông đâu! Chưa bao giờ ai hỏi tôi như vậy cả.
- Qua
không cần của hồi môn, tiền bạc gia tài chi cả. Qua chỉ
muốn sống gần em thôi.
Cô
bé vẫn cười nói hồn nhiên, chẳng tỏ chút gì e lệ:
- Ha
ha, cái ông này thật kỳ! Ông hỏi mẹ tôi đi. Tôi không biết!
- Vậy
em đưa qua về nhà hỏi mẹ nhé?
- Ðược,
ông cứ đi theo tôi.
Vua
mừng khấp khởi đi theo cô bé về nhà. Vừa bước vô căn
nhà lá lụp sụp, cô bé đã gọi lớn :
- Mẹ
ơi! Có cái ông này muốn cưới con về làm vợ đây nè!
- Tốt!
Thằng nào mà nó mê cái nhan sắc của mày đó, chắc cũng
là đồ ma chê quỷ hờn, thần sầu quỷ khốc mới thèm vào
cái thứ mày!.
Bà
mẹ vừa nói vừa bưng cây đèn dầu đi ra để giữa nhà.
Dưới ánh đèn leo lét, vua thấy ra mặt mày Ngũ Xú Nương,
thất kinh hồn vía. Nhưng bùa lực sự xúc của nàng vẫn mãnh
liệt nơi vua, vua nhất quyết cưới nàng dù nàng xấu hơn
Chung Vô Diệm. Trong phút chốc, vua đã định đoạt xong chương
trình vì say mê nàng quá đỗi. Chương trình ấy là, hằng
ngày sau khi công việc triều đình xong xuôi, ngài sẽ cải
dạng thường dân về nhà nàng vào lúc chiều tối, sáng sớm
mai trở về cung. Như vậy vua được sống với nàng mà khỏi
bị chê cười, ngài chắc chắn nếu rước Ngũ Xú Nương về
cung, thì triều đình sẽ cho ngài đã loạn trí mới tuyển
vào ngôi chánh hậu một Chung Vô Diệm như thế.
Bởi
vậy vua đề nghị với bà mẹ như vầy:
- Thưa
bác, cháu muốn cưới cô em này, nhưng cháu chưa có nhà riêng
xin bác cho cháu tạm “gởi rể”. Ban ngày cháu đi làm, tối
về nhà vợ. Khi nào đủ tiền sắm nhà cháu sẽ đưa nàng
đi.
- Ðược,
nếu ông chịu cưới nó thì tốt lắm, mà nhà tôi nghèo, ông
cũng thấy đó, tôi không có đồng xu nào cho nó đâu!
- Không
hề gì, thưa mẹ!
Ðược
lời như cởi tấm lòng của hai bên. Từ đó nhà vua tối tối
lại về nhà Ngũ Xú Nương. Ngài xem túp lều tồi tàn này
còn hơn muôn vàn lầu son gác tía, vì nơi đó ngài được
sống với những xúc giác kỳ diệu như ở cõi trời.
Một
thời gian khá lâu trôi qua, vua thấy thật bất tiện nếu cứ
phải giả dạng lần mò về nhà nàng mỗi chiều như thế.
Nhưng ngài không xa Ngũ Nương được. Ngài nghĩ cách đưa nàng
về cung lên ngôi hoàng hậu mà khỏi bị ai chê cười là đồ
ngu. Bởi thế, ngài bày ra một mưu kế lạ lùng.
Một
hôm, Ngũ Xú Nương đang ngồi buồn rầu thì vua về. Ngài hỏi:
- Tại
sao em buồn vậy?
- Tại
vì cha em bịnh, muốn ăn một bát cháo tôm cua mà em không tiền
mua đồ nấu cháo.
- Tưởng
là gì! Mai anh sẽ gánh về một gánh cháo tôm cua cho cha, muốn
ăn bao nhiêu cũng được. Vua nhân cơ hội ấy, mua một nồi
cháo tôm cua tại nhà bà bán cháo ở chợ, đặt vào một đầu
gánh, đầu kia vua lấy cái vương miện quý giá, gắn đầy
hột xoàn năm ly của Ngài gói cẩn thận bỏ vào một cái
thúng, trên phủ đầy lá chuối. Rồi gánh về nhà cô gái
mà dặn:
- Ðây,
anh mua cháo tôm cua về cho cha đó. Ðầu gánh này là cháo tôm
cua, đầu kia muốn tôm cua rùa ếch cóc nhái chi cũng có cả.
Khi nào cần mua thì cứ lấy ra.
Cô
gái được nồi cháo thì mừng quýnh, không vội để ý thúng
lá chuối kia. Nàng dẹp nó vào một nơi, đem cháo cho cha ăn.
Cả nhà cũng được một bữa ăn khoái thích.
Hôm
sau trở về cung, vua hô hoán cái vương miện, vật quốc bảo
đã biến mất, và ra lịnh các quan phải mở cuộc truy tầm.
Triều đình nhốn nháo phái người đi tìm lục soát khắp
nơi trong hoàng thành đều không có. Vua đề nghị:
- Trong
thành không có thì tìm ra ngoài thành, ở những khu tồi tàn
xem kẻ gian có tẩu tán tài sản về đó không. Ban điều tra
vâng lời, lục soát đến khu tồi tàn của Ngũ Xú Nương.
Họ vào đến nhà nàng, lục tới thúng lá chuối tìm được
cái vương miện, bèn bắt trói cả ông bà. Hai ông bà một
mực kêu oan. Quan điều tra hỏi:
- Vậy
thì cái thúng này của ai?
- Ðó
là của thằng rể tôi đem tới.
- Thằng
rể ở đâu?
- Không
biết! Hắn nói không có nhà, đi cả ngày tới tối mới trở
về đây. Có thể là một thằng trốn lính. Các ông chờ tới
tối sẽ gặp.
Ban
điều tra ở lại chờ mãi không thấy thằng rể xuất hiện.
Bà mẹ cô gái đấm ngực la làng:
- Hắn
có lẽ đã nghe động tịnh nên chuồn thẳng rồi! Oan ơi là
oan, hỡi trời, hỡi đất!
- Vậy
bà hãy tả hình dáng mặt mày thằng rể cho tôi nghe.
- Làm
sao tôi thấy rõ mặt mày hình dáng hắn? Nhà nghèo, dầu hôi
khan hiếm, tối chỉ thắp một ngọn đèn leo lét một lát
là tắt. Thằng rể tôi thì tối mịt mới về khi tôi đã
ngủ. Mà có thức thì tối quá cũng không thấy rõ được,
mắt già lem nhem.
Họ
bèn hỏi tới Ngũ Xú Nương:
- Còn
cô, mặt mũi hình dáng chồng cô ra sao, hãy tả ra nghe.
- Tui
cũng không thấy rõ được. Ảnh thường về lúc đã tối
mịt, đèn lu tui cũng lờ mờ lắm.
- Vậy
thì làm sao cô nhận được chồng cô.
- Sờ
người thì biết.
Cả
ban cười rộ. Họ không biết giải quyết ra sao nên cho người
về tâu vua. Vua phán:
- Vậy
thì ta đã có cách bắt thủ phạm. Các ngươi hãy trả tự
do cho vợ chồng nhà đó. Vua bàn với các quan rằng, theo lời
khai của cô gái, sờ người thì biết được chồng cô. Vậy
hãy làm một cái chòi như cái phòng bỏ phiếu ở giữa công
trường cho cô gái đứng vào trong, chừa một lỗ vừa thò
bàn tay vào thôi. Xong xuôi, hãy bắt tất cả đàn ông ở tuổi
có thể lấy vợ, tới đưa bàn tay vào cho cô gái sờ. Gặp
bàn tay nào cô gái cho trúng là chồng cô thì đó là thủ phạm
đã đánh cắp vương miện. Ðình thần đều cho nhà vua cao
kế và thực hành ngay.
Ðúng
ngày, tất cả nam nhi từ 18 đến 45 tuổi nối đuôi tới đưa
tay cho cô gái sờ. Nhà vua cũng dự cuộc. Sau một ngày, cô
đã sờ hàng ngàn bàn tay đưa vào, song không người nào trúng
(mỗi người khi được cô gái cầm tới tay đều cảm thấy
sung sướng vô ngần, không còn ham muốn gì hơn trên đời
này nữa). Cuối cùng, khi nhà vua đưa tay vào, Ngũ Tú Nương
la lên:
- Ðây
đúng là tay chồng tôi!
Cả
triều đình ngơ ngác. Khi ấy họ mới hiểu ra mưu mẹo của
vua, bởi vì ai cũng công nhận cái hạnh phúc tối cao do sự
xúc chạm của nàng thì chỉ có nhà vua là xứng đáng hơn
cả. Vì chính họ cũng quên mất vẻ xấu xí của nàng sau
khi được bàn tay nàng sờ đến.
Triều
đình tuân lệnh làm lễ tuyển Ngũ Xú Nương vào ngôi chánh
cung, mà không còn bận tâm đến vẻ xấu xí của nàng, đồng
thời cũng không cho là vua điên, sau cuộc thử thách ấy.
THÍCH
NỮ TRÍ HẢI
“Khoái
lạc vật chất trong đời sống quả thật vô số kể, vừa
êm dịu vừa ngọt ngào và quyến rũ, dưới đủ hình thức
dục lạc làm lòng người say đắm, hãy nhận chân hiểm họa
của nó.
Ðồng
thời cũng cho chúng ta thấy: những kẻ có quyền thế thường
lạm dụng uy quyền và dùng những mưu mô xảo quyệt để
hợp thức hóa dục vọng xấu xa của mình”.
Có
Niết Bàn không?
Ngày
xưa có một con cá, vì nó là loài ở nước, nên dĩ nhiên
cuộc đời chỉ sống trong nước, và ngoài nước ra, nó không
biết gì hết.
Một
hôm nó đang nhởn nhơ bơi lội trong hồ, tình cờ gặp một
con rùa mà nó đã quen từ trước, đi du lịch trên đất liền
về. Nó liền chào:
- Chào
anh! Ðã từ lâu tôi không gặp anh. Vậy xưa rày anh ở đâu?
- Ồ,
tôi đi du lịch từ trên đất liền về. Trên ấy mặt đất
khô ráo quá!
- Ðất
khô? Anh nói cái gì lạ vậy? Tôi chưa bao giờ thấy nơi nào
kỳ lạ như vậy. Lẽ nào lại có đất khô?
- Xin
thề rằng tôi không nói đùa với anh đâu. Nhưng nếu quả
tình anh không thể tin được thì tùy anh, không ai ngăn cản
được anh. Nhưng dù sao, tôi cũng mới từ đó về.
- Này,
anh cố gắng diễn lại cho hợp lý hơn. Tôi nghĩ rằng: cách
diễn đạt của anh chưa được rõ ràng lắm. Anh vui lòng cho
tôi biết đất mà anh nói đó, nó giống như cái gì trong thế
giới chúng ta nào? Nó có ẩm ướt không?
- Không,
nó không ẩm ướt.
- Thế
nó có mát dịu và lạnh không?
- Nó
không mát, không dịu mà cũng chẳng lạnh.
- Thế
nó có trong suốt để cho ánh sáng xuyên qua được không?
- Không,
nó không trong suốt và ánh sáng không thể xuyên qua được.
- Thế
nó có mềm và dễ bị ép để cho tôi có thể quậy vi và
đi lại dễ dàng trong ấy không?
- Không,
nó không mềm, không bị dồn ép dễ dàng và trong ấy, anh
cũng không thể bơi lội được.
- Thế
nó có lưu động và đổ thành thác được không?
- Không,
nó không lưu động và cũng không đổ thành thác được.
- Vậy
thì nó có dâng lên để tạo thành những mũi sóng bạc đầu
được không?
- Không,
tôi chưa bao giờ thấy nó dâng lên thành làn sóng cả.
Ðến
đây, con cá vênh váo tự đắc than rằng:
- Tôi
đã từng nói với anh rằng đất mà anh nói đó là không phải
cái gì cả. tôi cũng vừa hỏi anh về đất ấy và với câu
hỏi nào anh cũng trả lời rằng không. Ðất anh nói đã không
phải bất cứ cái gì tôi nêu ra, vậy thì đất hẳn là ngoan
không. Anh đừng tìm cách bịp tôi nữa.
- Tốt!
Anh đã quả quyết rằng không có đất liền. Tôi cũng không
có cách nào hơn là cứ để anh tiếp tục tin như anh đã nghĩ.
Nhưng một mai, có ai khác hơn tôi và đủ sức phân biệt cho
anh thấy sự sai khác giữa đất và nước, ngày ấy anh sẽ
thấy rằng anh chỉ là một con cá ngốc.
THÍCH
THIỆN HOA
“Niết
bàn là một cái gì tuyệt đối không dung Ngã. Niết bàn không
có hạn lượng, không có nơi chốn, vì Niết Bàn vô tướng
– Vô tướng nên khó vào. Muốn vào Niết bàn ta cũng phải
vô tướng như Niết bàn. Cửa Niết bàn rất hẹp, chỉ bằng
tơ tóc, nên ta không thể mang thêm một hành lý nào mà hy vọng
vào Niết bàn được cả. Cái thân ta cũng không mang theo được,
mà cả ý niệm về tôi, về ta cũng không thể mang theo được.
Cái ta càng to thì càng xa Niết bàn. Nên biết rằng: Hễ Hữu
Ngã là luân hồi mà VÔ NGÃ LÀ NIẾT BÀN”.
Niết
bàn
Có
một tên ăn trộm bị người ta bắt đem nạp cho nhà Vua. Muốn
giam giữ nó nhà vua ra lịnh dở nắp rương thả ra bốn con
rắn độc. Con thứ nhất quấn tay mặt tội nhân, con thứ
hai quấn lấy tay trái tội nhân, con thứ ba quấn ngang hông
và con thứ tư quấn ngang cổ nó.
Một
người đức hạnh đến gần tội nhân, thấy rõ tình cảnh,
liền nói rằng: -Ngươi đã bị người ta giữ gìn cẩn thận,
vậy hãy đứng yên chớ nên cựa quậy mà bị rắn cắn. Nọc
con rắn thứ nhất sẽ làm cho thân ngươi cứng đơ như đá,
nọc con rắn thứ hai làm cho thân ngươi tiêu ra nước, nọc
con rắn thứ ba làm cho thân ngươi tan ra bột và bị gió cuốn
đi, nọc con rắn thứ tư sẽ đốt ngươi cháy như ngọn lửa.
Tên
ăn trộm trả lời:
- Không
phải! Những con rắn ấy đều là đồ trang sức của tôi.
Ðây là đôi vòng của tôi, đây là sợi giây chuyền cổ và
đây là sợi giây lưng.
Người
đức hạnh lại dạy nó từ từ gỡ bốn con rắn ấy, đem
bỏ vào trong rương, đậy nắp lại, rồi mau mau chạy trốn.
Nó
làm theo.
Hay
tin, nhà vua liền truyền lịnh cho năm tên lính đuổi theo bắt
tên ăn trộm.
Nó
ráng chạy được một đỗi, lại gặp người đức hạnh
khi nãy hô to:
- Ngươi
hãy chạy thật mau lên! Có năm tên lính đang đuổi theo sau
lưng kìa! Chúng lại thả ra bốn con rắn độc để rượt
bắt ngươi đó.
Khi
đã đuối sức, tên ăn trộm liền dừng chân lại, và thấy
phía trước có 6 cái nhà bỏ trống, vừa bị 6 tên cướp
vào vét sạch của cải.
Sáu
tên cướp lại nhập đoàn với năm tên lính để đuổi bắt
nó.
Người
đức hạnh lại hô to lên nữa:
- Ngươi
ráng chạy mau lên! Bọn cướp và lính nhà vua sắp đến nơi.
Chúng
lại bắt thêm một người bạn thân của ngươi để dụ ngươi
trở về trị tội.
Nhưng
chạy được một đỗi, tội nhân lại gặp một cái biển
ngay trước mặt, nên phải dừng chân lại. Nó hết sức lo
âu, vì tại đây không có ghe thuyền chi để thoát thân cả.
Người
đức hạnh dạy nó lấy tám cành cây khô, kết lại thành
bè để bơi đi trốn.
Làm
bè xong, nó bơi ra được một đỗi thì gặp một hòn cù lao.
Nó định ghé lên, nhưng dòm ngoái lại phía sau, thấy quân
lính còn đuổi nà theo. Nó cố sức bơi đến một cù lao thứ
nhì, rồi thứ ba, và thứ tư. Nhân dân ở chỗ đó liền tôn
nó lên làm Vua. Lúc ấy, đoàn người đuổi theo sau nó đều
bị tiêu diệt và nó không còn thấy hình bóng đâu nữa!
Nhà
vua ám chỉ các nghiệp, tên ăn trộm ám chỉ người đi tìm
đạo, người đức hạnh chỉ ông thầy đi dạy đạo, bốn
con rắn độc ám chỉ tứ đại, năm tên lính ám chỉ ngũ
uẩn, sáu cái nhà bổ trống sau khi bị ăn cướp ám chỉ sáu
căn, sáu tên cướp ám chỉ sáu trần, tám cành cây kết lại
thành bè ám chỉ bốn bức thiền định hay bốn quả thánh,
lễ tôn vương ám chỉ sự giải thoát. Sự tiêu diệt của
đoàn người đuổi theo sau ám chỉ sự tan biến của màn vô
minh và sự bẻ gãy bánh xe luân hồi.
THÍCH THIỆN HOA
Kẻ
phàm phu bị màn vô minh che lấp, đắm mê theo vật dục, nhận
khổ làm vui, nhận xấu làm tốt, khác gì kẻ tội ăn trộm
nhận rắn độc làm đồ trang sức. Nếu nó không nhờ nhà
tu hành đức hạnh dạy bảo, thì đâu biết mình bị rắn
độc bao vây để chạy thoát, và đâu có gắng sức dẻo dai
để bước lên bờ giải thoát.
Ân
oán
Hồi
xưa tất cả cỏ cây và sinh vật đều biết nghe cũng như
biết nói. Con người thì có trí khôn, nên được tôn: chúa
tể vạn vật. Núi rừng trùng điệp bao la, là giang sơn của
Chúa Sơn Lâm. Cọp, đứng đầu trong các loài thú dữ, mà
theo luật cung cầu là “Vật dưỡng nhân”. Như thường ngày,
cọp nương theo đường mòn đi dọc về ngang, bất thần một
hôm chui đầu vào rọ!... Chiếc bẫy rọ được giương lên,
ngụy trang khéo léo của nhóm người đi săn. Bẫy sập xuống
nhốt gọn Chúa Sơn Lâm. Cọp cố sức vùng vẫy, gào thét,
mà không có cách nào thoát ra khỏi bẫy, đành thu mình nằm
trong bẫy rọ, đầu óc Cọp hoang mang lo sợ!... Bất ngờ,
nghe tiếng động, từ hướng trước mặt, Cọp giương đôi
mắt nhìn.
Ô
kìa... may mắn thay, bóng dáng một nhà sư, Cọp vội cất tiếng
than! “Ông Sư ơi! Là người tu hành ông làm ơn làm phước
cứu tôi thoát khỏi bẫy rập này, ơn đức ấy muôn đời
tôi ghi nhớ!” Xúc động từ tâm, vị tu sĩ kia vội vàng
mở cửa rọ cho Cọp thoát thân. Ðiều ngạc nhiên hơn, vừa
thoát ra khỏi bẫy, Cọp rùng mình gầm rống lên vang dội,
đôi mắt như hai tia lửa hung tợn chầm chập nhìn thẳng vào
nhà sư hiền từ đức độ... Cọp hằn học căm tức lớn
tiếng: Loài người các ông ác độc lắm, đánh bẫy định
bắt ta ăn thịt. Nay thoát khỏi cảnh cá chậu chim lồng, ta
phải giết ông để trả thù, xác ông là miếng mồi ngon cung
cấp cho bao tử ta sau hai ngày đói khát... Nhà sư nét mặt
bình thản hiền lành trả lời: Thế gian là cõi tạm, sống
ở thác về, luật tạo hóa nhiệm mầu, hễ có sanh là lẽ
dĩ nhiên phải có tử, nào ai lột da sống hoài mà không chết.
Chết là giải thoát kiếp con người trên cõi ô trược này,
có điều tôi muốn phân trần với Chúa Sơn Lâm tiếng tăm
lừng lẫy lại giết chết một kẻ tu hành. Vì muốn cứu
mạng sống của Chúa Sơn Lâm, kẻ này có lỗi với người
thợ săn, mở bẫy thả ngài... Mai sau tôi chết rồi, những
sinh vật bé nhỏ hơn nó coi thường việc đối xử hẹp hòi
của Ngài, biết đâu ngài không khỏi tủi thẹn với cỏ cây
sông núi...
Cọp
nghe xuôi tai nên nói:- Thôi được, tạm để cho ông yên, nhưng
ta ra điều kiện thế này: ông cùng ta đi hỏi xem ba nhân chứng
khác nhau. Nếu cả 3 mà đồng ý: “Loài người các ông ác”
thì tôi xẻ xác ông, ông có chịu không?... Nhà sư đáp: Mô
Phật, tôi xin bằng lòng...
Ðầu
tiên, gặp trâu đang ăn cỏ. Cọp cất tiếng hỏi:- Trâu ơi!
Ta hỏi câu này, loài người hiền hay ác, Trâu trả lời ta
nghe thử?... Trâu nói: Lòng dạ con người độc ác khó đo
lường. Người bắt tôi làm lụng suốt ngày hết đi cày đến
kéo xe, chở từ hột lúa cho người ăn. Tôi làm thì nhiều
mà người bố thí cho một mớ rơm khô để ăn đắp đổi
sống qua ngày. Ðến khi kiệt sức còn da bọc xương người
không thương, tham lợi bán tôi cho lò thịt. Nơi đây tôi chịu
cực hình đau đớn họ lóc từng miếng thịt để chia nhau
ăn, thậm chí đến tấm da người đem dóng giày bịt trống.
Loài người quá ác độc nhẫn tâm...
- Ðến
lượt thứ hai, gặp cây me, Cọp hỏi:- Me ơi! Ta muốn biết
tiếng nói chân thật của me, mi thấy loài người Hiền hay
Ác? –Suy nghĩ giây lâu cây me trả lời:- Loài người Ác Thiện
lẫn lộn. Khi tôi còn bé, người vun phân tưới nước tôi
đến tươi tốt trưởng thành. Những tưởng khi lớn lên trả
trái cho người để đền đáp ơn săn sóc. Khổ thay, trái
chưa kịp chín đến thời kỳ cung cấp, người trèo lên bẻ
đại bức càn để ăn tươi nuốt sống, làm cho thân xác ủ
ê lá rụng, cành gãy!... Suy đi tính lại, loài người Thiện
ít, mà Ác lại nhiều hơn.
- Ðến
nhân chứng cuối cùng. Cọp gặp chú khỉ con... Vì khiếp oai
Cọp nên Khỉ thập thò nhìn lén!... Cọp gọi khỉ lại, hỏi
y như hai câu hỏi lần trước, chú khỉ nhíu mày, nét mặt
nhăn nheo khó nghĩ!... Hồi lâu Khỉ trả lời :- Việc đời
khó đo lường, mà cũng khó nói, trời đất đang yên lặng
nhưng bỗng đâu chốc lát giông gió nổi lên, lòng dạ người
ta vô cùng khó hiểu. Nhưng tôi muốn biết vì sao Chúa Sơn
Lâm lại hỏi tôi câu này? Khỉ hỏi ngược lại, Cọp bèn
thuật lại việc bị mắc rọ cho khỉ nghe, chăm chú nghe xong
câu chuyện Khỉ đáp:- Vừa nghe ngài kể là một việc, còn
sự thật có hay không lại là một việc khác. Vì đầu óc
non nớt của tôi, khi nào thấy được tận mắt tôi mới tin
là sự thật. Cọp gầm lên: chú Khỉ không tin thì leo lên
lưng ta cõng chú đến đó cách đây một dặm đường. Khỉ
bằng lòng theo Cọp cùng vị Sư.
Tại
đây Cọp chỉ vào bẫy rọ phân trần với Khỉ. Lúc đó ta
bị kẹt trong ấy! Khỉ hỏi:- Rồi làm sao mà ngài ra được?
Cọp trả lời:- Chú mày ngu quá. Lúc ấy cái nắp bẫy được
giương lên. Khỉ gật đầu ra điều hiểu biết: Bây giờ
đâu ngài làm lại tôi xem nắp bẫy sập ra làm sao? Muốn cho
Khỉ thấy tận tường, Cọp nhờ nhà sư dở nắp bẫy lên,
đoạn chui vào bẫy rọ. Nắp sụp lại! Khổ thay, Cọp bị
mắc lừa chú Khỉ con bé nhỏ kia... Sự việc xảy ra y như
lúc Cọp vừa mắc bẫy, Khỉ nhìn về nhà Sư hỏi: Còn nhà
Sư lúc đó ở đâu? Cọp cướp lời: ông từ hướng trước
kia đi lại. Nghe xong Khỉ nói:- Giờ đây sự thật đã hiển
nhiên rồi, thì giờ rất quí báu. Bậc tu hành thì đường
thẳng ông cứ việc đi, xem như chẳng có việc gì xảy ra,
lo chi thêm nhiều phiền lụy!... Hướng về phía Cọp, Khỉ
nói:- Phần tôi nhỏ bé lại yếu đuối, không giải quyết
được việc gì, phiền Chúa Sơn Lâm chờ dịp may khác, biết
đâu lại cũng có người đến cứu ông. Tôi cầu mong trời
đất phò hộ ông nhiều sức lực để đương đầu với sư
tử, mãng xà, kiếu ông, tôi xin tạm biệt!... Cọp nghe xong
nổi giận gầm vang rền cả núi rừng. Mặt trời vừa chen
lặn, trả về núi rừng một vẻ âm u.
HUỲNH
VĂN BỘ
“Bóng
ai bỗng hiện trên non vắng
Lửng
thửng trên đồi một vị sư
Ta
gắng hỏi sư, sư chẳng đoái
Mắt
nhìn mây trắng vẫn trầm tư”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất
Trong
kinh tạng Pàli, Tôn giả Xá Lợi Phất chiếm địa vị quan
trọng hàng đầu, chỉ đứng sau Phật. Nhiều kinh được mở
đầu với câu cổ điển “Như vậy tôi nghe”, mà người
thuyết kinh thay vì đấng giác ngộ, thì lại chính là bậc
Thánh đệ tử uyên bác ấy đại lao cho Ngài. Có khi đức
Ðạo Sư thăng pháp tòa, chỉ trình bày một bài kệ ngắn
gọn, rồi lui về am thất của Ngài. Trong những dịp như vậy,
chúng ta thường gặp Tôn giả Xá Lợi Phất xuất hiện khai
diễn ý nghĩa lời dạy súc tích của Phật và cuối cùng,
chính Phật đã xác chứng cho lối giải thích của Tôn giả
bằng một câu còn giá trị hơn tất cả những lời khen tặng
: “Nếu các ông hỏi ta, ta cũng giải thích như Xá Lợi Phất!”.
Tôn
giả Xá Lợi Phất (Sàriputra, dịch nghĩa là Thu Tử) là con
trưởng trong một gia đình thuộc thế cấp Bà La Môn giàu
nhất làng Upatissa, gần Nàlanda ngày nay. Upatissa cũng là tên
được đặt cho Ngài khi sơ sinh. Mẹ Ngài tên Sarì. Trong bốn
người con trai Ngài được mang tên của mẹ, trong khi một
người em của Ngài lại có tên của cha là Vagantaputra. Tôn
giả có ba em trai và ba em gái, về sau đều theo Ngài xuất
gia đắc quả A La Hán. Những tiểu sử của các vị này được
tìm thấy trong “Trưởng lão Tăng kệ” và “Trưởng lão
Ni kệ”.
Ba
người em trai của Tôn giả có tên tuần tự như sau : Cunda
(Thuần Ðà) Upasena và Revata (Ly bà da). Ba em gái của Tôn giả
là : Càlà, Upacàlà, và Sìsùpacàlà. Ly Bà Ða là vị đệ
tử thiền định đệ nhất của Phật. Vì Ngài là con út,
bà mẹ rất cưng quý không muốn cho xuất gia nên tìm cách
cưới vợ cho Ngài rất sớm. Vào ngày hôn lễ, không may cho
hai gia đình, cậu bé tình cờ thấy bà ngoại già 120 tuổi
của cô bé, và trực nhận lý vô thường, trong phút chốc
cậu đâm ra chán ngấy tất cả cảnh hoa lệ giả dối của
cuộc phù sinh, và muốn thoát ly bằng mọi giá. Ðược anh
cả yểm trợ, cậu út chuồn ngả sau giữa lúc đám tiệc
linh đình, và trực chỉ đi đến một ngôi tịnh xá, xuống
tóc xuất gia. Ít năm sau khi nhập đạo, vào một mùa an cư,
trên đường đi bái yết Phật, Tôn giả dừng chân ở một
khu rừng cây Kha-disa (cây gai) và tại đây Ngài đắc quả,
nên ngày sau Ngài được hiệu là “Ly Bà Ða ở rừng gai”.
Ngài được Phật khen là người xuất sắc nhất trong những
vị yêu thích độc cư ở núi rừng.
Em
trai giữa tôn giả là Upasena hay Vagataputta là vị tỳ kheo được
Phật khen ngợi có hạnh hoan hỷ đệ nhất. Ngài từ trần
sau khi bị rắn độc cắn, như được ghi trong một kinh của
Tương Ưng bộ.
Người
em kế là Cunda (Thuần Bà) được mệnh danh chú tiểu Thuần
Bà ngay cả khi thọ giới, vì để phân biệt với Trưởng
lão Ðại Thuần Ðà. Khi Tôn giả Xá Lợi Phất nhập diệt,
chính vị này đã hầu cận Ngài và mang di vật của Ngài trở
về thông báo với Ðức Phật và Thánh chúng.
Ba
người em gái của Tôn giả cũng xuất gia sau khi đã lập gia
đình mỗi người có một người con. Những người con trai
này đã theo học với Tôn giả Ly Bà Ða. Chính Tôn giả Xá
Lợi Phất, vào một dịp đến thăm người em út của Ngài
lâm bệnh, đã gặp các cháu và khen ngợi hạnh kiểm tốt
đẹp của họ, như được tìm thấy trong Trưởng lão Tăng
kệ 42, phần luận số.
Hạnh
- Nhẫn - Nhục
Mặc
dầu cả bảy anh em Tôn giả đều xuất gia theo Phật, bà mẹ
Tôn giả vẫn giữ đạo Bà La Môn, và có thái độ thù nghịch
với Phật giáo và tất cả những người liên hệ. Bà thù
hận sa môn Gotama đã cướp hết đàn con của bà. Vào một
năm gặp thời đói kém, Tôn giả Xá Lợi Phất đưa 500 vị
Tỳ kheo đến khất thực tại nhà bà Sàrì, bà vừa bày thức
ăn bà vừa lằm bằm nguyền rủa. Ðể thực phẩm vào bát
Tôn giả, bà mắng:
- Ngu
ơi là ngu! Nhà cao cửa lớn, ruộng vườn thẳng cánh cò bay
thì không chịu ở, lại bỏ mà đi đầu đường xó chợ,
ngủ bụi ngủ bờ, ăn cơm thừa cơm cặn của người ta.
Tôn
giả vẫn yên lặng cùng Chúng Tăng thọ thực. Ăn xong, Tăng
đoàn cùng theo Tôn giả im lặng trở về tịnh xá. Ðại đức
La Hầu La nhỏ nhất trong Tăng đoàn thóc mách thuật lại cho
Phật nghe mọi sự đã chứng kiến tại nhà bà thí chủ nọ.
Phật nhân đó thốt bài kệ sau đây, được ghi trong kinh Pháp
cú, phẩm Bà La Môn:
“Ðầy
đủ đức hạnh không nóng giận,
trì
giới thanh tịnh không nhục nhiễm,
thì
chỉ ngay thân này là cuối cùng,
không
bị tiếp tục sanh nữa,
Người
như thế ta gọi là Bà La Môn.
(danh
từ Bà La Môn ở đây chỉ người cao thượng)
Hạnh
nhẫn nhục của tôn giả được Phật và những vị đồng
phạm hạnh không ngớt tán dương. Một hôm, một người đang
đề cập về các đức tin của tôn giả.
- Trưởng
lão Xá Lợi Phất của chúng ta có hạnh nhẫn nhục chẳng
ai bì. Ngài chẳng tức giận ai bao giờ.
Khi
nghe thế, một người Bà La Môn lên tiếng:
- Vô
lý! Ai mà khỏi có lúc tức giận. Ðấy là vì không ai khiêu
khích ông ta thôi.
Mọi
người phản đối:
- Không
phải vậy đâu, cư sĩ.
Người
Bà La Môn kia nói:
- Ðể
tôi có cách chọc ông ta tức giận cho coi.
Người
ta đồng ý chờ xem. Ngờ đâu, người Bà La Môn ấy chực
khi Tôn giả vào thành Xá Vệ khất thực chạy theo đấm một
đấm như búa bổ vào lưng Tôn giả. Tôn giả vẫn thản nhiên
không quay lui, chỉ lên tiếng hỏi khẽ: “Cái gì thế” và
tiếp tục bước. Người kia sanh tâm hối hận, đến trước
tôn giả sụp lạy xin sám hối. Tôn giả hoan hỷ tha thứ ngay.
Người kia bạch:
- Bạch
tôn giả, nếu Ngài đã tha thứ cho con, xin thỉnh Ngài về
nhà con thọ thực, và hôm nay trở đi, xin Ngài cho con được
cúng dường Ngài thường xuyên.
Nói
xong, y đỡ lấy bình bát trên tay Tôn giả và đưa Ngài về
nhà. Nhưng có một bọn người đã vây lấy người Bà La Môn
ấy, sẵn gậy gộc cầm tay, và bạch Tôn giả:
- Bạch
Ngài, xin Ngài giao tên ác ôn đó cho bọn con sửa trị một
mẻ.
- Tại
sao?
- Bạch,
nó đánh Tôn giả! Chúng con phải bửa đầu nó ra!
- Kẻ
ấy đánh các ông, hay đánh ta?
- Bạch,
đánh Tôn giả.
- Vậy
thì y cũng đã xin lỗi ta rồi. Các ông hãy đi đi.
Vào
một dịp, Phật ngự tại Kỳ Viên tịnh xá, Tôn giả bị
một tỳ kheo vu khống, vì vị này phẫn nộ bất mãn. Khi các
Tỳ kheo đến từ giã sau mùa an cư, Tôn giả luôn luôn gọi
tên thân mật từng vị Tỳ kheo, nhưng vị này lại không được
Tôn giả nhắc đến tên, do nhân duyên ấy, vị này nổi lên
phẫn nộ và bất mãn, nghĩ rằng: “Tôn giả đã không thăm
hỏi ta như những người khác”. Ðang lúc tức giận, Tôn
giả đi ngang lại đụng chéo y vào người ông một cái, làm
cho ông càng thêm tức, đến kiện với Phật.
- Bạch
Thế Tôn, Tôn giả Xá Lợi Phất luôn luôn nghĩ mình là đệ
tử số 1 của đấng Ðạo sư, đã đánh con một tát gần
điếc lỗ tai, thế mà không thèm nói gì, đã bỏ đi một
bước.
Ðức
Phật cho gọi Tôn giả Xá Lợi Phất. Thay vì phủ nhận sự
vu cáo, Tôn giả đã rống lên tiếng sư tử giữa hội chúng
với một bài pháp hùng hồn xác chứng Ngài đã thoát ly vĩnh
viễn sân hận, có sức chịu đựng những mạ lỵ phỉ báng
như đất nhận đồ phế thải. Vị Tỳ kheo ngập tràn hối
hận, xin Ngài tha thứ tội lỗi. Trước đức Ðạo sư, Tôn
giả thốt lên những lời đầy khiêm cung:
- Bạch
Thế Tôn, con tha lỗi vị Ðại đức, và con xin vị ấy hãy
tha lỗi cho con nếu con có làm gì phật lòng người ấy.
Ðức
Phật bảo chúng đệ tử đang vây quanh Ngài:
- Này
các Tỳ kheo, Xá Lợi Phất và những người đã chứng đắc
như ông không bao giờ ôm lòng hận thù ai. Tâm ông lớn như
đại địa, vững như trụ đồng và an tĩnh như mặt nước
ao thu.
Lòng
nhớ ơn
Trước
khi xuất gia, Tôn giả đã nhờ Trưởng lão Assaji mà ngộ đạo
– đạo lý duyên sanh và tìm đến Ðức Phật để tham học.
Tôn giả nhớ ơn vị ấy suốt đời. Khi cùng ở một tịnh
xá, Ngài luôn luôn đảnh lễ Assaji sau khi đảnh lễ đức
Ðạo sư, và khi Assaji ở chùa khác, Tôn giả thường hướng
về ngôi chùa ấy mà đảnh lễ sau khi đảnh lễ Phật.
Khi
Phật ở Xá Vệ trong Kỳ Viên tịnh xá có một người Bà
La Môn nghèo khổ làm vườn, quét dọn để kiếm ăn. Phật
quán thấy ông ta có thể đắc quả, nên hỏi trong đại chúng
có ai nhớ đã chịu ơn của người Bà La Môn kia lần nào
không. Ngài Xá Lợi Phất thưa rằng, có lần Ngài khất thực
trong thành Vương Xá, người Bà La Môn kia đã sớt cho Ngài
một muỗng đồ ăn của y đã xin được. Phật bảo: vậy
ông hãy độ y xuất gia. Dưới sự hướng dẫn của Tôn giả,
chẳng bao lâu người này đắc quả A La Hán.
Bậc
thiện tri thức
Tôn
giả Xá Lợi Phất là bậc thiện tri thức của tất cả mọi
người. Ngài được tất cả yêu kính không những vì trí
tuệ siêu phàm mà còn vì đức khiêm cung và lòng từ bi hiếm
có. Ngài không bao giờ tỏ ra mình là bậc thượng thủ trong
giáo hội của Phật. Trong tịnh xá Kỳ Ðà Lâm, Tôn giả luôn
luôn vấn an thăm hỏi những vị thượng tọa già yếu bịnh
tật, và mỗi khi ra khỏi độc cư thiền định Ngài thường
đi một lượt quanh khu tịnh xá, quét dọn lại những nơi
bừa bãi, để du khách khỏi chê cười đệ tử Phật ở dơ.
Mỗi khi theo Phật du hóa một vùng xa, Tôn giả thường đi
sau cùng, sau khi thu xếp cho những vị Tỳ kheo yếu bịnh. Cũng
vì lẽ ấy mà có bận Tôn giả đến nơi đã định khi quá
nửa đêm, không có chỗ nào dành cho Tôn giả, Tôn giả đành
ngồi nghỉ tạm ngoài trời, dưới một gốc cây. Khi Ðức
Phật biết rõ việc này, Ngài liền chế định, phải dành
chỗ sẵn cho những bậc tôn túc trưởng thượng.
Thông
thường, những người quá thông minh xuất chúng phải trả
giá thiên tài của họ bằng nỗi cô đơn. Nhưng Tôn giả Xá
Lợi Phất lại là một ngoại lệ. Ngài có rất nhiều bạn,
có thể nói Ngài là bạn của tất cả, kể từ Ðức Phật
trở xuống.
Nhiều
kinh điển Pali đã ghi lại những cuộc luận đàm kỳ thú
giữa Tôn giả Xá Lợi Phất với những bực Thánh đệ tử
khác. Chính đức Ðạo sư dường như cũng ưa nói chuyện với
Tôn giả hơn với những người khác. Ngài thường gọi: “Này
Xá Lợi Phất” mỗi khi thuyết pháp. Thật là một địa vị
đáng thèm.
Ðức
tính thứ nhất làm cho mọi người yêu kính là Tôn giả: biết
thấy ưu điểm của người khác. Một lần, khi Tôn giả đang
thiền định ngoài khoảng trống, có một con qủy chơi xấu,
đến đánh một cú như trời giáng vào đỉnh đầu. Nhưng
do định lực sâu xa Tôn giả không bị giao động. Khi Ngài
xuất định, Tôn giả Mục Kiền Liên đến hỏi:
- Hiền
giả có hề gì không?
Xá
Lợi Phất đáp:
- Không
sao cả thưa Hiền giả. Tôi chỉ bị nhức đầu chút ít.
- Kỳ
diệu thay! Thật kỳ diệu thay năng lực thần thông siêu việt
của Hiền giả Mục Kiền Liên, có thể thấy được mặt
mày con quỷ ấy.
Tôn
giả Mục Kiền Liên và Tôn giả Xá Lợi Phất là đôi bạn
chí thiết từ nhỏ, ra đời cùng một ngày, trưởng thành
trong một môi trường sang quý như nhau. Trong lúc tham dự một
cuộc vui huyên náo kéo dài nhiều đêm, đôi bạn cùng một
lúc khởi tâm nhàm chán thế tục với những lớp sơn lừa
phỉnh của ngũ dục tạm bợ và cùng nhau đi tìm thầy học
đạo. Trước hết, họ theo Sanjaya một tu sĩ ngoại đạo nổi
danh ở thành Vương Xá. Với sự gia nhập của Xá Lợi Phất
và Mục Kiền Liên, uy tín của Sanjaya càng tăng gấp bội,
và những thanh niên thuộc danh gia vọng tộc cũng nối gót
hai ngài đến thọ giáo với Sanjaya. Trong một thời gian ngắn,
đôi bạn đã học xong tất cả những gì Sanjaya có thể trao
truyền, nhưng vẫn không tìm thấy đâu là con đường đưa
đến giải thoát. Họ phải từ giã Sanjaya và sau này, khi được
gặp Phật, nghe giáo lý của Ngài, họ sung sướng trở về
khuyên Sanjaya theo Phật. Khi ấy Sanjaya nói một câu điển hình
của hạng thầy dốt nát như ông:
- Ðịa
vị của ta không cho phép ta làm một người học trò được.
Ngươi tốt hơn nên ở lại với ta. ta sẽ chia cho một nửa
đồ chúng mà lãnh đạo.
Xá
Lợi Phất thưa:
- Thưa
thầy, tôi không hiềm gì phải làm một học trò suốt đời,
bao lâu chưa tìm ra được con đường giải thoát sanh tử.
Và một đấng giác Ngộ không thể gì gặp được! Xin thầy
hãy cùng đi với chúng tôi!
- Trong
thiên hạ, kẻ ngu nhiều hơn hay kẻ trí nhiều hơn?
- Thưa
thầy, kẻ ngu bao giờ cũng nhiều hơn người trí.
- Vậy
thì hãy để những người trí đến với Sa môn Gotama, còn
kẻ ngu sẽ theo ta.
Khi
đôi bạn ra đi, một nửa đồ chúng của vị thầy cũng đi
theo họ đến quy y Phật, hai vị Tôn giả đã trở thành đôi
cánh của một con chim đại bàng. Hai vị đối với đấng
Ðạo sư là hai cánh tay đắc lực trên đường hoằng pháp
đến nỗi khi hai Ngài nhập Niết bàn, Ðức Phật đã thốt
ra:
- “Hội
chúng từ nay đối với ta thật trống rỗng”.
Qua
lời dạy ấy, chúng ta có thể thấy rõ tầm quan trọng của
hai bậc Thánh đệ tử ấy đối với đức Ðạo sư và đối
với chánh pháp.
Một
đức tính khác làm cho Tôn giả Xá Lợi Phất được tất
cả đồ chúng của Phật yêu kính là Ngài biết tôn trọng
ý kiến của mọi người. Ngài không bao giờ tự cho là trí
tuệ đệ nhất để áp đảo kẻ khác bằng lý luận. Trong
những cuộc luận đàm Tôn giả thường hỏi ý kiến từng
người, để họ tự do phát biểu, và khi có sự bất đồng
Ngài rủ mọi người cùng đi đến yết kiến Phật để xin
đức Ðạo sư giải quyết, chứ không bao giờ tự cho ý kiến
mình đúng, thiên hạ đều sai. Một kinh của Trung bộ III kể,
vào một đêm rằm, trăng sáng vằng vặc chiếu xuống khu vườn
cây Sa La nơi Tôn giả đang trú ngụ. Ðêm khuya, trăng tỏ,
hương hoa đang mùa rộ nở cùng với sương đêm tỏa ngát
không gian. Cảnh thật xứng với người: một cuộc hội kiến
giữa những bậc thượng thủ đến thăm Tôn giả Xá Lợi
Phất. Tôn giả mở màn cho cuộc pháp thoại bằng một câu
hỏi, cũng vừa là một lời chào:
- Ðêm
thanh, trăng tỏ, vườn Sa La khả ái thơm nức một mùi hương
như thiên giới, chư Hiền nghĩ sao, vị Tỳ kheo nào, theo ý
chư Hiền, sẽ là người làm sáng chói khu vườn (tức một
mẫu Tỳ kheo lý tưởng trong Phật giáo phải như thế nào?)
Tôn
giả A Nan đáp:
- Theo
tôi, một vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn là vị nào đa
văn đệ nhất.
Tôn
giả Ca Diếp:
- Vị
Tỳ kheo sáng chói khu vườn là vị trì khổ hạnh đầu đà
đệ nhất.
Tôn
giả Mục Kiền Liên:
- Tôi
thì cho rằng vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn, chính là
vị nào thành tựu biện tài số một.
Tôn
giả Ly Bà Ða:
- Ý
kiến của tôi thì, vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn phải
là người thiền định bậc nhất.
Khi
tất cả mọi người đều cho ý kiến, Tôn giả Mục Kiền
Liên giục bạn:
- Hiền
giả nghĩ sao? Ý kiến của người nào đúng? Và ý Hiền giả
như thế nào về một vị Tỳ kheo làm sáng chói khu vườn?
Tôn
giả Xá Lợi Phất đáp:
- Vị
Tỳ kheo nào chế phục được tâm, không bị tâm chế phục.
Vị Tỳ kheo nào, buổi sáng muốn trú tâm như thế nào, có
thể an trú tâm như thế ấy vào buổi sáng. Buổi trưa vị
ấy muốn an trú tâm nào vị ấy cũng có thể làm như ý muốn
vào buổi trưa. Buổi chiều, buổi tối cũng vậy.
Như
một vị vua hay đại thần có một tủ đầy áo đẹp, và
khi vị ấy sáng muốn mặc áo nào, trưa muốn mặc áo nào,
chiều muốn mặc áo nào đều có thể làm theo ý muốn của
mình. Cũng thế, đối với một vị Tỳ kheo đã chế phục
được tâm ý, không bị tâm chế phục. Một vị Tỳ kheo như
thế, này Hiền giả, sẽ làm sáng chói khu vườn Sa La khả
ái này. Nhưng này chư Hiền, chúng ta hãy đi đến đảnh lễ
đấng Ðạo sư để thỉnh giáo về vấn đề này.
Khi
Ðức Phật nghe thuật lại ý kiến của từng vị. Ngài dạy
rằng mọi người đều trả lời đúng theo địa vị khả
năng của mình. Tuy nhiên, Ngài thêm ý kiến của Ngài theo đó:
- Vị
Tỳ kheo sáng chói khu vườn chính là vị nào sau khi đi khất
thực về, sau khi chánh niệm thọ thực xong, rửa chân rồi
trải tọa cụ ngồi thiền cho đến khi nào không còn lậu
và móng khởi.
Ðiểm
lý thú trong kinh này là ở chỗ khi mới nghe qua, chúng ta thấy
dường như mỗi vị tự đề cao cá nhân vậy, song kỳ thật
không thế. Mỗi người phát biểu cái lý tưởng mình muốn
đạt, cho nên ngài A Nan, con người ưa đa văn, tôn trọng học
vấn, đương nhiên phải cho đa văn là nhất. Ngài Ca Diếp
cho hạnh đầu đà là lý tưởng của xuất gia, nên Ngài mới
chuyên môn hạnh ấy. Mục Kiền Liên yêu thích biện tài, muốn
phát triển mặt ấy, nên cho rằng thành tựu biện tài là
nhất. Ly Bà Ða chú trọng thiền định cũng thế, vì cho thiền
định là lý tưởng. Câu đúc kết của Phật rất ý vị ở
chỗ, cái điều Ngài cho là lý tưởng chính là những việc
làm rất thường, không có gì quái dị phức tạp, thế mà
lại rất khó, chỉ có Phật mới thành tựu trọn vẹn được.
Ðó là những việc như ăn cơm, rửa chân, trải tọa cụ ra
ngồi... những việc Phật làm khi mở đầu kinh Kim Cang. Như
vậy, ta thấy rõ Phật muốn ám chỉ đạo là rất giản dị,
đó là cái tâm bình thường (bình thường tâm thị đạo),
nhưng đồng thời quả thật cái việc “thường” ấy lại
khó khăn gấp bội những việc “phi thường” của các bậc
đa văn, biện tài, trí tuệ.
Tôn
giả Xá Lợi Phất lại còn một đức tính khá thu hút tất
cả những bậc đồng phạm hạnh ấy là khiêm tốn và hâm
mộ những tài đức khác. Kinh Trạm Xe (TB II) kể, có vị Tôn
giả là Phú Lâu Na được Phật và chúng Tỳ kheo ở chung luôn
luôn tán thán về giới hạnh không thiếu sót, yêu thích độc
cư, tinh tấn, tri túc, thiểu dục, đầy đủ giới, định,
tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến và là người thường
khuyến khích người khác tu những hạnh kể trên. Khi nghe như
vậy, Tôn giả Xá Lợi Phất vô cùng hoan hỷ mong muốn có
ngày sẽ gặp được Tôn giả. Phú Lâu Na đến yết kiến
Phật và lui về ở một nơi lân cận. Các vị Tỳ kheo báo
tin cho Ngài Xá Lợi Phất biết để đi thăm. Ðến nơi, Tôn
giả bắt đầu hỏi chuyện:
- Hiền
giả, hiền giả vì mục đích gì mà sống phạm hạnh với
Ðức Ðạo sư? Phải chăng vì mục đích thành tựu giới thanh
tịnh?
- Không
phải vậy, hiền giả.
- Vì
mục đích kiến thanh tịnh?
- Không
phải vậy, hiền giả.
- Vì
mục đích đoạn nghi thanh tịnh?
- Không,
hiền giả, phi đạo.
- Vì
mục đích Ðạo tri kiến thanh tịnh?
- Cũng
không, hiền giả.
- Vì
mục đích Ðạt tri kiến thanh tịnh?
- Cũng
không, hiền giả.
Khi
ấy Tôn giả Xá Lợi Phất nói:
- Hiền
giả, tôi hỏi cái gì hiền giả cũng đáp không phải mục
đích ấy mà hiền giả sống phạm hạnh. Vậy thì, hiền giả
sống phạm hạnh vì mục đích gì?
- Hiền
giả, với mục đích vô thủ trước Niết bàn.
Xá
Lợi Phất hỏi tiếp:
- Có
phải Giới thanh tịnh là vô thủ trước Niết bàn?
Phú
Lâu Na đáp không. Hỏi tâm thanh tịnh, cũng đáp không, lần
lượt hỏi bảy thanh tịnh, cũng đáp không phải là vô thủ
trước Niết bàn. Khi ấy, Xá Lợi Phất hỏi lại:
- Trong
bảy thanh tịnh, hiền giả đều nói không có cái gì là vô
thủ trước Niết bàn, nghĩa là làm sao?
Phú
Lâu đáp:
- Hiền
giả, nếu Thế Tôn dạy giới thanh tịnh là Vô thủ trước
Niết bàn thì Vô thủ trước ấy cũng đồng đẳng với Hữu
thủ trước (chấp vào giới), về sáu thanh tịnh kia cũng vậy.
Và nếu Thế Tôn dạy cái gì ở ngoài bảy pháp ấy là Vô
thủ trước Niết bàn, thì kẻ phàm phu cũng gọi là Bát Niết
bàn, vì phàm phu không có bảy pháp ấy. Hiền giả, tôi lấy
một ví dụ. Như vua Ba Tư Nặc đi từ Xá Vệ đến Sàveta
qua bảy trạm xe. Khi vua đến nơi bằng chiếc xe của trạm
thứ bảy, đình thần ra đón và hỏi có phải nhờ chiếc
xe này mà vua đi từ Xá Vệ đến hay không. Khi ấy, vua phải
trả lời thế nào mới đúng? Xá Lợi Phất đáp:
- Dĩ
nhiên vua phải nói, đã đi từ trạm thứ nhứt đến trạm
thứ hai bằng một cỗ xe khác, lần lượt đổi xe ở mỗi
trạm cho đến cỗ xe cuối cùng này.
- Hiền
giả, cũng như vậy với bảy thanh tịnh. Giới thanh tịnh chỉ
có mục đích đạt được Tâm thanh tịnh, Tâm thanh tịnh là
để đạt đến Ðoạn nghi thanh tịnh, Ðoạn nghi thanh tịnh
là để đạt đến Ðạo phi đạo tri kiến thanh tịnh, Ðạo
phi đạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến Ðạo tri kiến
thanh tịnh, Ðạo tri kiến thanh tịnh là để đạt đến Tri
kiến thanh tịnh. Tri kiến thanh tịnh là để đạt đến Vô
thủ trước Niết bàn.
Nghe
xong, Tôn giả Xá Lợi Phất hỏi Tôn giả Phú Lâu Na:
- Tôn
giả tên gì? Các vị đồng phạm hạnh gọi Tôn giả như thế
nào?
- Tên
tôi là Phú Lâu Na, các bạn gọi tôi là Di Ða La Ni Tử.
- Thật
vi diệu thay hiền giả! Những câu hỏi sâu kín đã được
một bậc đệ tử đa văn của đấng Ðạo Sư giải, và vị
ấy là Tôn giả Phú Lâu Na. Thật hạnh phúc cho chúng tôi được
thân cận thăm viếng Tôn giả.
Khi
ấy, Tôn giả Phú Lâu Na hỏi lại:
- Còn
hiền giả tên chi, các vị đồng phạm hạnh gọi hiền giả
như thế nào?
- Tên
tôi là Tích Sa, các vị đồng phạm hạnh gọi tôi là Xá Lợi
Phất.
Một
bất ngờ kỳ thú! Tôn giả Phú Lâu Na muốn bật ngửa người
vì ngạc nhiên, không ngờ nãy giờ mình múa rìu qua mắt thợ!
Nhưng ông thợ này quá khiêm tốn dễ thương. Ngài Phú Lâu
Na ngợ đi một hồi mới bảo:
- Tôi
đang nói chuyện với bậc đệ tử được xem ngang hàng với
đức Ðạo sư mà không biết! Nếu tôi biết Ngài là Tôn giả
Xá Lợi Phất, thì tôi đã không nói nhiều như vậy.
Những
ngày cuối cùng
Sau
một mùa an cư ở làng Beluva gần Vesàlì, Ðức Thế Tôn tuần
tự trở về Xá Vệ, Tôn giả Xá Lợi Phất đến đảnh lễ
Ðức Ðạo sư rồi trở về độc cư thiền định. Khi Tôn
giả an lành xuất định, Ngài khởi lên ý nghĩ: “Thông thường
các đấng Giác Ngộ nhập Niết bàn trước hay các đệ tử
trưởng nhập trước?”. Rồi quán sát nội lực của tự
thân, Ngài thấy thân dư báo chỉ còn tồn tại bảy ngày.
Kế đó Tôn giả tự hỏi: “Không biết ta sẽ xả bỏ báo
thân ở chỗ nào? La Hầu La thì nhập diệt ở cõi Tam thập
tam thiên, Tôn giả Kiều Trần Như ở trên đỉnh núi Hy Lạp.
Còn ta, thì chỗ nào?” Nghĩ đi nghĩ lại, Ngài bỗng nhớ
đến mẹ. “Mẹ ta, mặc dầu là mẹ của bảy vị A La Hán,
bà vẫn không có lòng tin đối với Phật, Pháp, Tăng. Bà còn
chút duyên nào để sanh khởi tịnh tín chăng?” Tôn giả quán
sát một hồi và thấy rằng mẹ có thể chứng quả dự lưu.
Rồi Ngài tự hỏi do ai mà bà sẽ được chứng quả? Quán
sát bằng thiên nhãn thiền định, Ngài thấy chính do mình
mà mẹ sẽ đắc quả. Do đó Ngài quyết định trở về quê
cũ để nhập diệt. Tôn giả Thuần Ðà em ruột Ngài, cùng
với 500 đồ chúng của Ngài được lệnh thu xếp để theo
Ngài về Nàlaka. Ði đến bái biệt vị Ðạo sư lần cuối,
Ngài tác bạch:
- Bạch
Thế Tôn, xin đấng Thiện Thệ hứa khả cho con: thời gian
nhập Niết bàn của con đã đến. Từ đây sẽ không còn luân
hồi sanh tử với con. Ðây là lần cuối cùng con đến đảnh
lễ Ðức Thế Tôn. Bảy ngày nữa, con sẽ đặt chân đặt
thân này xuống, sẽ quăng bỏ gánh nặng này. Xin đấng Ðạo
sư hứa khả.
Ðức
Thế Tôn im lặng. Nếu Ngài tán thành bằng một câu: “Ðược,
ông hãy nhập Niết bàn đi”, người ta sẽ cho rằng Ngài
khuyến khích sự chết. Nếu Ngài bác bỏ rằng: “Ông đừng
nhập Niết bàn” người ta sẽ cho rằng Phật tán thán sự
sống. Cho nên Phật yên lặng. Ngài chỉ từ tốn hỏi lại:
- Ông
sẽ nhập Niết bàn ở chỗ nào?
Tôn
giả thưa:
- Bạch
Thế Tôn, tại xứ Ma Kiệt Ðà, trong làng Nàlaka, ở ngay trong
cái nhà con đã ra chào đời, con sẽ nhập Niết bàn tại đó.
Khi
ấy, Thế Tôn dạy:
- Ông
hãy làm những gì ông nghĩ là phải thời. Nhưng từ nay các
huynh đệ của ông trong tăng chúng sẽ không còn được thấy
một vị Tỳ kheo như ông nữa. Hãy thuyết pháp cho họ một
lần cuối cùng.
Tôn
giả vâng lịnh, thăng pháp tòa. Với giọng nói trầm tĩnh
mà hùng hồn, dung điệu uy nghiêm khả kính, Tôn giả ban bố
pháp nhủ cho đại chúng lần cuối cùng. Khi thì Ngài đưa
tâm hồn cử tọa lên đến những đỉnh cao tuyệt vời của
chân đế, khi thì pháp âm bay lượn là đà xuống tục đế
với những thí dụ trước mắt. Khi thì Ngài thuyết pháp bằng
cách trực chỉ, khi thì Ngài dùng ẩn dụ. Thuyết xong thời
pháp Tôn giả đến đảnh lễ dưới chân Ðức Thế Tôn. Ngài
ôm chân Phật, bạch rằng:
- Chính
vì ước nguyện được đảnh lễ đôi chân này mà con đã
hoàn thành các pháp ba la mật trải qua vô lượng kiếp. Nguyện
ước của con nay đã thành tựu. Từ nay sẽ không còn gặp
gỡ, bạch Thế Tôn, nếu con có lời nói hay việc làm nào
không vừa ý Thế Tôn, xin Thế Tôn tha thứ cho con. Bây giờ
đã đến lúc ra đi.
Phật
đáp:
- Ta
tha thứ cho ông, Xá Lợi Phất. Nhưng ông không có lời nói
hay việc làm nào không vừa ý ta. Ông hãy làm những gì ông
thấy phải thời.
Ngay
khi Tôn giả đứng lên từ biệt Phật đại địa chấn động,
trời nổi sấm sét, một đám mây đen lớn trùm khắp như
một chiếc khăn tang của hoàn vũ và một trận mưa ào ào
trút xuống, như òa khóc trước cảnh ra đi của một bậc
Chúng Trung Tôn.
Ðức
Thế Tôn bảo đồ chúng đang vây quanh:
- Bây
giờ, các con hãy ra đi đưa tiễn bậc huynh trưởng của các
con lần cuối.
Toàn
thể tứ chúng đều rời Kỳ Viên Tịnh xá chỉ còn lại một
mình đức Phật. Họ đi theo Tôn giả từng đoàn lũ lượt
càng lúc càng đông vì dân chúng thành Xá Vệ cũng tiếp theo
đoàn đưa tiễn, với đầu tóc nhúng nước rũ rượi (dấu
hiệu tang lễ thời ấy), họ theo khóc lóc ta thán. Tôn giả
ủy lạo quần chúng đang rên siết:
- Ðây
là một đoạn đường mà không ai tránh khỏi.
Và
Ngài bảo họ trở về. Quay lại Tăng chúng ở Kỳ Viên đang
theo đưa tiễn Ngài, Tôn giả căn dặn:
- Bây
giờ, chư hiền hãy trở lại Tịnh xá đi. Hãy nhớ chăm sóc
đấng Ðạo Sư!
Còn
lại 500 đồ chúng, Tôn giả tiếp tục cuộc hành trình. Cuộc
du hành kéo dài cả tuần lễ, khiến nhiều người được
dịp chiêm bái Tôn giả lần cuối cùng. Khi về đến làng
quê trời đã tối. Tôn giả dừng chân dưới một gốc đa
đầu làng. Tình cờ, một người cháu của Tôn giả đi mua
đồ về, thấy Tôn giả, đến gần chào Ngài, Ngài hỏi:
- Bà
ngoại con có nhà không?
- Bạch
Tôn giả, có.
- Con
hãy trở về báo tin có chúng ta đến. Thưa bà rằng chúng
ta sẽ ở trong làng một ngày, và xin bà dọn chỗ cho ta trong
phòng ta đã ra chào đời, và sắp đặt chỗ nghỉ cho 500 vị
Tỳ kheo.
Cậu
bé trở về thuật lại cho thân mẫu Tôn giả. Nghe xong, bà
ngẫm nghĩ: “Tại sao con ta lại trở về? Tại sao y bảo dọn
chỗ cho đông người quá vậy? Sao lại muốn ở trong phòng
chỗ chào đời? Bộ muốn hoàn tục hay sao? Bao nhiêu câu hỏi
xoay vần trong đầu óc bà cụ. Nhưng bà vẫn làm theo lời
dặn”.
Khi
Tôn giả về đến nhà, Ngài vào phòng dành sẵn, và bảo các
Tỳ kheo hãy đi đến khu vực dành cho họ. Chúng Tỳ kheo vừa
đi khỏi, Tôn giả phát đau bụng dữ dội, quặn thắt cả
ruột. Ngài đi cầu không ngớt, thị giả đem thùng vào rồi
đem ra. Bà mẹ lo âu, thầm nghĩ: “Cha chả, bộ con mình gặp
nguy rồi”. Và bà cụ cứ đứng như vậy nhìn về phía phòng
Tôn giả suốt đêm không dám đến gần. Trong lúc ấy Tứ
Thiên Vương bằng thiên nhãn thấy bậc Ðại Tuệ Xá Lợi
Phất sắp nhập diệt, bàn nhau xuống trần để viếng thăm
Ngài. Giữa đêm khuya, gian phòng sáng rực vì dung sắc của
vị Thiên Vương chiếu ra. Tôn giả hỏi:
- Ai
thế?
- Bạch
Tôn giả, chúng tôi là những vị trời Tứ Thiên Vương.
- Các
ngài đến đây làm gì?
- Chúng
tôi muốn hầu hạ Tôn giả trong cơn bịnh.
- Cám
ơn, tôi đã có thị giả. Các ngài đi đi.
Sau
khi Tứ Thiên Vương từ biệt, đến lượt Ðế Thích, và sau
Ðế Thích là Ðại Phạm Thiên đến viếng thăm Tôn giả.
Tôn giả đều cảm ơn bảo họ lui về. Bà cụ suốt buổi
quan sát dung sắc thù thắng của những vị khách cõi trời
mà lòng cảm thấy quái lạ. Bà tự hỏi: “Ai vậy? Ai mà
đối với con ta có vẻ cung kính thế nhỉ?”. Rồi, không
cản nổi cơn tò mò, bà đến tận cửa phòng Tôn giả. Tôn
giả Thuần Ðà báo tin cho sư huynh, Tôn giả hỏi:
- Tại
sao mẹ đến vào giờ khuya khoắt này?
- Ðể
thăm con, con ạ! Này, con hãy nói cho mẹ nghe, những người
đến đầu tiên là ai thế?
- Thưa
mẹ, đó là Tứ Thiên Vương.
Bà
mẹ trố mắt:
- Ồ
ra, con còn lớn hơn Tứ Thiên Vương kia à?
Tôn
giả đáp:
- Họ
cũng như những người giữ chùa từ ngày Ðức Thế Tôn đản
sanh, họ đã luôn luôn canh gác đêm ngày, gươm đeo lủng lẳng.
- Và
kế tiếp họ là ai thế?
- Ðó
là Ðế Thích, vua của những vị trời.
- Vậy
con lại lớn hơn Ðế Thích à?
- Ông
ấy cũng như chú tiểu ôm y bát theo hầu các Tỳ kheo. Khi đấng
Ðạo Sư lên cõi trời 33, chính Ðế Thích đã ôm y bát theo
hầu Ngài trở về trần thế.
- Ồ,
còn sau Ðế Thích là ai nữa?
- Ðó
chính là vị Phạm Thiên mà mẹ thờ.
- Ui
chao! Thế ra con còn hơn cả vị trời Ðại Phạm của mẹ
nữa sao?
- Vâng
thưa mẹ, vào ngày đấng Ðạo Sư đản sanh, chính bốn vị
trời Ðại Phạm đã đưa lưới báu cõi trời đỡ lấy thánh
nhi.
Khi
nghe thế, bà cụ suy nghĩ: “Nếu con ta đã có oai thần như
vầy, thì bậc thầy của con ta còn oai thần đến bậc nào”.
Và khi nghĩ thế, một niềm hoan hỷ tràn ngập thân tâm bà.
Tôn giả quán thấy mẹ mình đã phát tâm sinh hỷ lạc đối
với Tam Bảo, và đã đến lúc nên thuyết pháp cho bà. Ngài
hỏi:
- Mẹ
nghĩ gì thế?
- Tôi
đang nghĩ rằng, nếu con tôi đã oai thần như vậy, thì đấng
Ðạo Sư của người còn oai thần đến mức nào.
Tôn
giả Xá Lợi Phất đáp:
- Vào
lúc đấng Ðạo Sư đản sanh, lúc Ngài xuất gia, lúc đắc
đạo và chuyển pháp luân lần đầu, vào tất cả những dịp
ấy, mười phương thế giới đều rung chuyển. Không có ai
sánh được với Ngài về phương diện giới, định, tuệ,
giải thoát và giải thoát tri kiến.
Rồi
Tôn giả tiếp tục giải thích cho mẹ nghe vì sao Ðức Ðạo
Sư đã được xưng tôn là đấng Như Lai, Ứng cúng, Chánh
biến tri, Minh hạnh túc, Thiện thệ, Thế gian giải, Vô thượng
sĩ, Ðiều ngự trượng phu, Thiên nhơn sư, Phật Thế Tôn.
Nghe xong thời pháp, bà cụ đắc quả dự lưu. Bà hỏi Tôn
giả:
- Tại
sao, này con Tích Sa yêu dấu, tại sao suốt nhiều năm ròng
con đã không ban bố cho mẹ pháp vị cam lồ này.
Tôn
giả nghĩ thầm: “Thế là ta báo đền ơn dưỡng dục”.
Và Ngài bảo mẹ:
- Bây
giờ tín nữ hãy về nghỉ đi.
Khi
bà cụ đi khỏi, Tôn giả hỏi Thuần Ðà:
- Bây
giờ khoảng canh mấy?
- Bạch
Tôn giả, gần tảng sáng rồi.
- Hãy
triệu tập chúng Tỳ kheo.
- Thưa
vâng, bạch Tôn giả.
Khi
chúng Tỳ kheo đến, Tôn giả bảo Thuần Ðà:
- Hãy
đỡ ta ngồi dậy, Thuần Ðà.
Sau
khi ngồi dậy, Tôn giả nói với chúng Tỳ kheo:
- Này
chư hiền, tôi đã sống, du hành với chư hiền trong 40 năm.
Trong thời gian ấy, nếu tôi có làm gì, nói gì không vừa
ý xin chư hiền tha thứ cho tôi.
Tất
cả đồng thanh bạch:
- Thưa
Tôn giả, không có một điều bất mãn nhỏ nào Tôn giả đã
gây cho chúng con, những người theo Tôn giả như bóng theo hình.
Nhưng bạch Tôn giả, xin Tôn giả hãy tha thứ cho chúng con!
Kế
đó, Tôn giả quấn y quanh mình trùm cả mặt, nằm xuống hông
bên phải. Rồi, cũng như Ðức Thế Tôn đã làm khi Ngài nhập
Niết bàn, Tôn giả lần lượt nhập và xuất chín tầng lớp
thiền định rồi trở lại nhập sơ thiền, nhị thiền, tam
thiền, tứ thiền. Sau tứ thiền, Ngài hoàn toàn nhập Niết
bàn vô dư y. Ðó là ngày rằm tháng Kattika tức vào khoảng
giữa tháng 10 và 11 dương lịch.
Khi
được tin, bà cụ không ngớt than khóc cho tới khi mặt trời
mọc. Bà mở kho xuất nhiều tiền bạc để làm tang lễ. Quần
chúng khắp làng đến nghe thuyết pháp và đảnh lễ thi hài
Tôn giả. Bảy ngày sau, lễ trà tỳ được cử hành. Thi hài
Tôn giả được đặt trên một giàn hỏa lớn bằng gỗ trầm.
Sau khi hỏa táng, Tôn giả A Nâu Lâu Ðà rưới nước thơm
dập tắt ngọn lửa. Tôn giả Thuần Ðà thâu nhặt xá lợi
bọc vào trong một mảnh y. Liền sau đó, Tôn giả trở về
Xá Vệ báo tin cho Phật, mang theo y bát và xá lợi của vị
sư huynh. Ðến nơi, Thuần Ðà bái yết thị giả A Nan trước
và tác bạch:
- Bạch
Tôn giả, Tôn giả Sàriputta đã nhập Niết bàn. Ðây là y
và bát của Ngài.
- Hiền
giả, về việc này ta hãy đi đến đấng Ðạo sư.
- Thưa
vâng, bạch Tôn giả.
Rồi
cả hai cùng đi đến Ðức Phật. Sau khi đảnh lễ Phật, họ
ngồi qua một phía.
Tôn
giả A Nan bạch:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, chú tiểu Thuần Ðà nói với con rằng Tôn
giả Sàriputta đã nhập Niết bàn. Ðây là y bát của Tôn giả.
Khi nghe vậy bạch Thế Tôn, con bủn rủn tay chân vạn vật
xung quanh con trở nên mờ mịt. Con không còn trông rõ cái gì
ra cái gì nữa, khi nghe tin Tôn giả Sàriputta từ trần!
- Sao
vậy? A Nan. Khi Xá Lợi Phất từ trần, ông ấy có đem theo
bớt đi phần giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri
kiến nào của ông chăng?
- Không
phải vậy, bạch Thế Tôn. Khi Tôn giả Sàriputta từ trần,
Tôn giả đã không đem theo bớt phần giới định tuệ nào
của con cả. Nhưng bạch Thế Tôn, Tôn giả đối với con là
vị hướng dẫn, một bậc đàn anh, một người hướng đạo,
một người đã khích lệ con làm con hoan hỷ, phấn khởi,
một người giảng pháp không biết mỏi mệt, một người
giúp đỡ kẻ đồng phạm hạnh. Chúng con nhớ xiết bao những
lời chỉ giáo bổ ích, linh động và thú vị của Tôn giả!
- A
Nan, há tôi không dạy cho ông rằng sớm muộn, chúng ta đều
phải chịu sự chia ly với những gì thân yêu gần gũi? Cái
gì đã sinh thành tất phải hoại diệt, tan rã. Không phân
ly là điều không thể có. Này A Nan cũng như cành lớn của
một cây đại thọ vững mạnh đã gãy xuống, Xá Lợi Phất
nhập diệt đối với chúng Tỳ kheo thanh tịnh này cũng vậy.
Quả thế, A Nan có tụ hội tất phải có phân ly. Không phân
ly là điều không thể có. Bởi thế, này A Nan hãy tự mình
làm một hòn đảo, một chỗ nương cho chính mình, đừng tìm
chỗ nương tựa bên ngoài. Hãy lấy chánh pháp làm hòn đảo,
lấy chánh pháp làm chỗ nương đừng tìm chỗ nương nào khác.
Rồi
Ðức Thế Tôn đưa tay đỡ lấy di cốt của vị Thánh đệ
tử thân yêu, và bảo đại chúng:
- Này
các Tỳ kheo, đây là di cốt trắng như vỏ ốc của vị Tỳ
kheo cách đây không lâu đã xin phép ta để nhập Niết bàn.
Vị
Tỳ kheo ấy là người thành tựu các hạnh Ba La Mật trải
qua vô lượng kiếp. Vị Tỳ kheo ấy là người đã giúp ta
chuyển bánh xe pháp. Vị Tỳ kheo ấy là người được chỗ
ngồi bên cạnh ta. Vị Tỳ kheo ấy là người trong cõi Tam
thiên thế giới không có ai sánh kịp về phương diện trí
tuệ, chỉ trừ Ðức Như Lai. Vị Tỳ kheo ấy là người có
trí tuệ lớn, có trí tuệ rộng, có trí tuệ sáng, có trí
tuệ sắc bén, có trí tuệ sâu xa. Vị Tỳ kheo ấy ít muốn
biết đủ, thích độc cư, không thích đám đông, đầy nghị
lực. Vị Tỳ kheo ấy là bậc khích lệ những người đồng
phạm hạnh, sẵn sàng chỉ điểm những lỗi lầm. Vị Tỳ
kheo ấy khi xuất gia đã từ bỏ một gia sản lớn lao có được
nhờ công đức tích lũy từ 500 đời trước. Vị Tỳ kheo
ấy là người có hạnh nhẫn nhục như đại địa. Vị Tỳ
kheo ấy có tâm bất hại, như một con trâu đực đã cưa hai
sừng. Vị Tỳ kheo ấy có tâm khiêm hạ như đồng tử.
Này
các Tỳ kheo, hãy nhìn đây xương trắng tro tàn của bậc Ðại
tuệ, bậc Quảng tuệ, bậc Lợi tuệ, bậc Minh tuệ ấy, con
người ít muốn biết đủ ấy, con người ưa thích độc cư,
con người đầy nghị lực ấy! Nhìn đây, xương tàn của
một Tỳ kheo đã khích lệ, làm cho phấn khởi đấng Tỳ kheo,
sẵn sàng chỉ điểm lỗi lầm cho chúng Tỳ kheo.
Bên
bờ sông Hằng, không lâu sau khi hai đệ tử của Ngài nhập
diệt, một hôm Ðức Thế Tôn đưa mắt im lặng nhìn khắp
tất cả đại chúng vây quanh rồi dạy:
- Hội
chúng này, hỡi các Tỳ kheo, đối với ta bây giờ quả thật
trống rỗng, khi Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên không còn!
THÍCH
NỮ TRÍ HẢI
“Nếu
con đòi hỏi mỗi khi đi đến đâu, thiên hạ phải trải chiếu
hoa cho bước chân con khỏi bị đau đớn vì gai góc sỏi đá,
thì điều đó khó thực hiện. Chi bằng hãy mang một đôi
hài nhẫn nhục, thì tha hồ mà xông bờ lướt bụi”.