Phần
8
Phật
Ấn với Ðông Pha
Thiếp
nguyện hai điều
Công
đức cúng dường Xá Lợi
Gọi
Phật bằng bạn
Ðạo
trời báo phục
Phật
ấn với Ðông Pha
Tô
Ðông Pha, quan Hàn Lâm học sĩ triều Tống, nổi tiếng là
người học rộng nghe nhiều, tài hoa lỗi lạc. Ỷ tư chất
thông minh, ông xem mọi người dưới tầm con mắt, thường
làm những bài văn với tính cách trào lộng để mai mỉa tình
đời. Ðối với đạo Phật, ông lại còn tỏ ra thái độ
khinh rẻ, không tin, thẳng lời bài bác.
Một
độ, nhân đi phó nhậm ở Chiết Giang, nghe danh sư Phật Ấn
ở đỉnh Vân Cư là bậc học thông ba tạng, Tô Ðông Pha liền
nảy ra ý định đến viếng cửa thiền, mục đích để trêu
chọc lão Hòa Thượng này chơi. Ðến đây tôi xin tạm dừng
câu chuyện thăm viếng ấy lại, để lược thuật cho quí
vị biết tướng mạo và hành vi của vị tăng ở núi Vân
Cư ra thế nào?
Phật Ấn thiền sư, vóc người cao lớn, mập mạp. Trên mặt
ngài luôn luôn nở nụ cười, mỗi khi tiếp chuyện với khách.
Về ngôn ngữ, Sư nói rất trôi chảy tài tình, khiến cho người
đối thoại phải lặng thinh khâm phục. Sư có nhiều hành
động khác thường, đến như rượu thịt là giới cấm trong
nhà Phật, sư cũng không từ. Nhưng với bao nhiêu cử chỉ
ấy, tất cả Tăng đồ và tín đồ thời bấy giờ không ai
dám bài bác, và nhận thấy ở nơi sư có một cái gì siêu
phàm hay làm cho người đời tỉnh ngộ, mà kẻ dung thường
không thể bắt chước. Cho nên, hành vi khác lạ của sư được
nhiều người ghi chép bằng nhiều bài thi, trong ấy có những
câu :”Viễn Công cô tửu yêu Ðào Lịnh, Phật Ấn thiêu trư
đãi Tử chiêm” (Ngài Huệ Viễn mua rượu mời Ðào Uyên,
minh sư Phật Ấn nướng thịt đãi Tô Tử Chiêm). Ðây là
hành vi của bậc đại triệt, đại ngộ, tùy cơ giáo hóa.
Những vị tăng sĩ nào chưa được như thế, không nên khen
ngợi bằng lối bắt chước, cũng đừng vội chê bai.
Xin
tiếp tục câu chuyện trước. Khi Tô Ðông Pha đến non Vân,
sư Phật Ấn còn đang ngồi tịnh trong phương trượng, nghe
thị giả thưa: “Có quan Hàn Lâm học sĩ đến” Sư vui vẻ
chào hỏi và mời khách ngồi. Sau khi đáp lễ xong, Tô Ðông
Pha liền mở lời vấn nạn:
-
Bạch Hòa Thượng! Xin cho tôi hỏi một câu:
-
Vâng, tôi cũng xin tùy chỗ hiểu biết để hầu chuyện cùng
ngài.
-
Bạch, tôi muốn mượn thân tứ đại của Hòa Thượng làm
tòa ngồi, có được chăng?
Một
nụ cười nở trên môi, Phật Ấn thiền sư đáp:
-
Nếu bần đạo trả lời không suông, xin theo tôn ý, bằng
trái lại, ngài sẽ tính thế nào?
-
Tôi xin đem chiếc đai ngọc, một vật quí của vua ban cho,
để đáp tạ Hòa Thượng.
-
Bần đạo tứ đại vốn không, ngũ uẩn chẳng có, vậy ngài
lấy chi làm tòa ngồi.
Tô
Ðông Pha sửng sốt hồi lâu, không trả lời được, đành
phải mở đai ngọc giao cho Phật Ấn thiền sư. Sư thâu nhận,
rồi bảo thị giả vào trong đem chiếc áo bá nạp ra tặng
cho quan Hàn Lâm học sĩ. Tô Ðông Pha gắng gượng tiếp lấy
và làm bài kệ trình lên rằng:
Căn
tối đành ngơ trước máy thần
Nặng
vì thân bịnh vướng đai cân!
Muốn
khuyên khất thực nhà ca kỹ?
Nên
mới nhường cho áo núi Vân.
Ðoạn,
hai người cùng nhau tiếp chuyện rất thân mật.
Từ
khi được gặp Phật Ấn thiền sư và sau mấy phen ngài chiết
phục, Tô Ðông Pha trở nên bạn thân của vị Tăng phi thường
ấy. Trong thời gian đó, ông lại được quen với một vị
sư khác: ngài Hoành Sơn Cốc. Khi rảnh việc Tô Ðông Pha thường
mời hai bạn đến nhà thết tiệc khoản đãi, hoặc cùng đi
dạo ở những nơi thắng cảnh. Nhưng, trong ba người, chỉ
có sư Phật Ấn là mạnh ăn nhất. Vì thế, Tô Ðông Pha, Hoành
Sơn Cốc thường bị cụt hứng và thường chịu lép trong
những cuộc vui.
Một
hôm, Ðông Pha bảo người nhà sửa sang con thuyền và sắm
sẵn gỏi ngon rượu tốt, rồi mời riêng Sơn Cốc thiền sư
cùng mình mở cuộc lãng du trên dòng nước. Không dè ngài
Phật Ấn hay được việc ấy, lén đến mé sông trước, và
dở ván ngồi lẳng lặng dưới khoang thuyền. Sơn Cốc, Ðông
Pha đến sau thờ ơ không hay biết chi cả, bảo trạo phu gay
chèo để phát khởi cuộc du trình.
Lúc
ấy nhằm ngày rằm. Hoàng hôn đã trở về từ lâu nên mặt
sông thu yên tĩnh. Vào khoảng đầu hôm, chị Hằng lộ dáng
đứng trên dãy non Ðông, như bàng hoàng giữa vầng Ngưu Ðẩu.
Hàng cây bên bờ sông in bóng dài trên bãi cát. Một ngọn
gió mát từ đâu thoảng lại, thổi phất phơ tà áo vị thiền
sư trí tuệ và trang học sĩ tài hoa. Thuyền từ từ tách khỏi
bến ra giữa lòng sông, thả suôi theo dòng nước. Ði không
lâu, chiếc du thuyền rẽ vào một mặt hồ to rộng, bao la.
Bấy giờ, những thức ăn uống được sắp bày trên thuyền,
dưới gương nga tỏa sáng. Trước khi nhập tiệc, Ðông Pha
bảo Sơn Cốc:” Chúng ta mỗi người hãy làm bốn câu thi
tức cảnh, hai câu sau lấy trong sách Tứ thơ và kết cuộc
bằng chữ “tai”. Nếu ai làm không được phải bị phạt
ba chén rượu. Và, bước đầu tôi xin nhường cho Ngài. Lộ
vẻ tươi cười, thiền sư đáp: “Thế thì còn chi thú vị
bằng! Tôi xin lĩnh ý”.
Bấy
giờ con thuyền đang từ từ rẽ nước. Cánh bèo theo gợn
sóng tan ra, lộ dáng mấy con cá lội thấp thoáng. Sơn Cốc
trông thấy liền ngâm:
Phù
bình bác khai
Du
ngư xuất lai
Ðắc
kỳ sở tai!
Ðắc
kỳ sở tai!
(Bèo
nổi tan ra, Dáng cá lội qua
Phải
cảnh nó a! Phải cảnh nó!).
Ðông
Pha vỗ tay khen: “Hay! Hay lắm! Thật là tuyệt!” Rồi, vẻ
mặt trầm ngâm ông nhìn khắp chung quanh để tìm câu gợi
tứ. Chợt trông lên trời thấy áng mây trắng bay qua để
lộ màu thỏ bạc, ông liền đọc:
Phù
vân bác khai
Minh
nguyệt xuất lai
Thiên
hà ngôn tai?
Thiên
hà ngôn tai?
(Mây
nổi qua mau, Trăng tỏ lộ màu
Trời
nào nói đâu, Trời nào nói đâ?)
Sơn
Cốc cũng vỗ tay khen: “Mấy câu vừa rồi ý nghĩa siêu thoát
lắm! Không biết ngài có nhận được mùi thiền trong ấy
chăng? Ðông Pha không đáp, yên lặng tủm tỉm cười. Ðoạn,
hai người cùng rót rượu để tán thưởng cho nhau và sắp
sửa vào tiệc. Nhưng, Phật Ấn thiền sư đã dở ván, từ
dưới khoang thuyền chun lên, vừa đọc lớn:
Phù
bản bác khai
Phật
Ấn xuất lai
Nhơn
yên sưu tai?
Nhơn
yên sưu tai?
(Ván
lót dở cao, Phất Ất ra mau
Người
giấu được nào? Người giấu được nào?).
Ðọc
xong sư điềm nhiên ngồi chễm chệ trước tiệc, quơ đũa
không mấy chốc, thức ăn đã hết sạch. Sơn Cốc và Ðông
Pha dở khóc dở cười, nhìn nhau ngơ ngẩn.
Những
việc trớ trêu tương tự như thế, thường xảy đến với
Tô Ðông Pha, nhưng cũng do đấy, ông càng nghĩ càng khâm phục
sư Phật Ấn.
Khách
đa tài phần nhiều hay đa tình, Ðông Pha có bảy người thiếp
rất đẹp. Một hôm, trong cơn đàm thoại, Phật Ấn thiền
sư bảo ông rằng: “Tôi nghe ngài có nhiều thê thiếp, mà
tôi lúc này thiếu người hầu hạ, không biết ngài có vui
lòng cho tôi mượn một nàng không?” Ðông Pha cười nói:
“Hòa Thượng đã muốn, tôi đâu dám chẳng vâng lời”.
Sau khi về đến nhà Ðông Pha cho gọi thiếp thứ bảy ra bảo:
“Hôm nay, Phật Ấn thiền sư hỏi tôi mượn một cô hầu.
Vậy nàng hãy sửa soạn để đi đến chùa cho sớm”. Người
thiếp tỏ vẻ không bằng lòng, thưa: “Ông ấy đã tu hành,
sao còn nói gở như thế?” Ðông Pha bảo: “Người quân tử
đã hứa, tất phải nhớ lời. Nàng nên vì tôi chịu phiền
đi đến xem Hòa Thượng sử sự ra sao?”
Khi
người thiếp đến chùa, Phật Ấn thiền sư ra tiếp, đưa
vào cho an nghỉ một phòng. Ðoạn, sư bắt bảy cái lò gần
đấy, quạt lửa than cháy đỏ rồi suốt đêm bước qua bước
lại trên lò. Sáng ra, thiền sư bảo xa phu gác xe đưa mỹ
nhân trở về. Sau khi về đến nhà, người thiếp thuật rõ
lại hành vi của sư Phật Ấn trong đêm vừa qua. Ðông Pha
nghe xong, thầm nghĩ: “Ðây chắc là thiền sư ngụ ý bảo:
ta có bảy nàng hầu như bảy lò lửa, hành vi bước qua có
phải tỏ rằng mình đã thoát khỏi vòng ái dục rồi chăng?”
Nghĩ đến đó, ông dường như tỉnh ngộ.
Về
sau, do sự hóa độ của Phật Ấn thiền sư, Tô Ðông Pha lần
lần hồi tâm trở về với đạo Phật. Khi lớn tuổi, ông
mướn thợ vẽ một bức tượng A Di Ðà, đi đâu thường
mang theo mình. Có ai hỏi, ông đáp: “Bức tượng này là công
cứ của tôi đấy”.
Giữa
Phật Ấn và Ðông Pha còn lắm đoạn kỳ quan. Theo lời truyền
thuyết ở các sách tàu, Tô Ðông Pha là thân sau của giới
thiền sư, cũng là bạn đồng tu học của vị tăng núi Vân
Cư từ kiếp trước. Trong tiền thân Phật Ấn thiền sư đã
đắc đạo. Ngài tái sanh làm vị tăng với mục đích nhắc
nhở người bạn tiền duyên trở lại con đường giác ngộ.
Ðiều này, nên tin hay không ở đây không thành vấn đề bàn
luận. Chúng ta chỉ nên biết rằng hành vi của ngài Phật
Ấn không những có ý nghĩa với Tô Ðông Pha, mà với tất
cả bao nhiêu người đồng tâm trạng, cảnh ngộ như ông.
TRÍ
HIỀN
Một
hôm, Tô Ðông Pha sáng tác được một bài thi mà ông rất
hài lòng, ông bèn cho đem tặng Phật Ấn thiền sư ở chùa
Kim Sơn. Thay cho lời khen mà ông Tô Ðông Pha mong ước, thiền
sư lại phê hai chữ “phóng thí” (*) Ức lòng, Tô Ðông Pha
bương bả vượt sông đến Kim Sơn bắt lỗi. Thiền sư lấy
bút sửa câu chót, làm cho Tô Ðông Pha dở khóc dở cười.
Nguyên
văn bài thi của tô Ðông Pha như sau:
Khể
thủ thiên trung thiên.
Hào
quang chiếu đại thiên.
Bát
phong xuy bất động.
Ðoan
tọa tử Kim liên.
Làm
để xưng tụng Ðức Phật, bài thi ấy thật rất hay, nhưng
thiền sư biết tác giả chỉ là người múa văn, chơi chữ,
chứ không phải người thâm nhập Phật lý đến mức thực
chứng cảnh giải thoát “Bát phong xuy bất động”, nên thiền
sư phê hai chữ “phóng thí” để trêu. Quả như thiền sư
tiên liệu: Tô Ðông Pha đã nổi nóng, vượt sông đến hỏi.
Nhưng sau khi thấy thiền sư sửa câu chót thành “phóng thí
đã quá giang”, Tô Ðông Pha hổ thẹn vì đã để cho một
cái “Lỡ trôn đánh bay ngang sông”. Ðông Pha bái phục ra
về, không nói được một lời... (**)
Pháp
sư SIÊU TRẦN
Tám
gió (bát phong) là chỉ những cái ưa ghét của người đời,
hễ một trong những cái ấy đến thì lòng người bị xao
xuyến, như gió thổi nước lay. Tám gió ấy là : 1. Lợi, 2.
Suy (tổn thất), 3. Hủy (chê), 4. Dự (khen), 5. Xưng (phong tặng),
6. Cơ (nói xấu), 7. Khổ (cay đắng), 8. Lạc (vui).
“Rồi
đây nguyện được như lời
Thuyền
từ một chiếc thảnh thơi giữa dòng
Hỡi
những ai còn trong bể khổ
Hãy
nương thuyền tế độ mà qua
Bến
mê vượt khỏi ái hà
Lên
bờ giải thoát mới là an vui...”
*Thí
: có nghĩa là lỡ trôn nếu nói theo trong Nam, hay trung tiện
nói theo Bắc, Trung.
**
Bài thi của Tô Ðông Pha có nghĩa: Cúi đầu làm lễ Thần
của các vị Thần mà ánh sáng chiếu khắp tam thiên đại
thiên thế giới, là đấng mà “tám gió” thổi không lay
và đang ngồi trên hoa sen vàng tía.
Thiếp
nguyện hai điều
Túp
lều xiêu vẹo ấy, cô lập bên triền đồi thấp, sau đồi
là một dãy trường sơn.
Ðây
là gia đình của hai mẹ con thiếu phụ nghèo, sống với nghề
trồng hoa. Nhưng tiếp luôn mấy năm hoa bị mất mùa và hư
luôn cả giống. Gia đình trở nên túng thiếu, đến nỗi người
con gái của thiếu phụ nay đã 16, 17 tuổi mà áo xống không
đủ che thân. Người mẹ hy sinh cho con, bà thường xuống núi
làm thuê và dặn con đừng ra đường.
Hôm
ấy, vua nước A Kỳ La Nại đi săn, khi ngang qua đồi của
Trinh Nữ (tên người con gái) bỗng một con chim ưng rất lớn,
đậu ngay trên chòi tranh, tiếng kêu thanh thót, vua giương cung
bắn, chim chết rơi ngay vào nhà nàng, thấy quan quân vào tìm
chim, Trinh Nữ hổ thẹn, núp kín trong cửa và cầm chim quăng
ra. Trong đám quân hầu, có vị tướng sư khi vào lượm xác
con chim, thoạt nhìn cánh tay của bần nữ rất đẹp. Ông tấm
tắc khen ngợi, biết không phải người thường.
Năm
sau Hoàng hậu băng hà, vua sai sứ tìm người đức hạnh bốn
phương. Song mãi chưa tìm được người như ý.
Vị
tướng sư nhớ ngày đi săn vào nhà Trinh Nữ, mới đem việc
ấy tâu vua. Vua y lời, sai sứ đến tận nhà nàng. Gặp lúc
thiếu phụ đi vắng, Trinh Nữ thấy khách đến xôn xao, nàng
lại cả thẹn vào núp trong nhà.
Sứ
giả đứng ngoài cửa gọi ba, năm lần, nàng không trả lời,
thoáng thấy có bóng nàng, mà gọi không lên tiếng, Tướng
sĩ cả giận xẵng tiếng:
-
Bần nữ có nhà không, ra đây!
Trinh
Nữ ở trong nhà nói vọng ra:
-
Các ông là ai? Dám đường đột vào nhà con gái, đi ra mau.
Sứ
thần bảo:
-
Quốc vương sai ta đến đòi nàng, nàng là người hèn hạ,
sao dám đuổi sứ nhà vua?
-
Quốc Vương đòi tôi có việc gì? Ðòi để trị tội ư? Tôi
tuy nghèo hèn, nhưng không làm gì phạm đến phép nước cả,
còn nếu đòi tôi để sung vào tam cung lục viện, thì các
ông là bộ hạ của tôi, sao dám thất lễ?
Không
biết làm thế nào, sứ thần về tâu lại. Vị tướng sư
tâu vua:
-
Bần nữ không phải người thường, thật đáng ngôi mẫu
nghi thiên hạ.
Vua
sắc trăm quan sắm đủ lễ nghi, và 500 cung nữ đem xa giá
đến đón nàng.
Trăm
quan đem xe giá, heo dê v...v... đủ lễ, chuông khánh vang đường.
Khi đến túp lều tranh, sứ giả xuống xe, vào làm theo lễ
Quốc Mẫu.
Bần
nữ theo mẹ ra tiếp sứ và nhã nhặn:
-
“Cảm phiền quan liêu, ngàn dặm đến đây đón tôi. Tôi
tự thẹn mình nghèo hèn thô lậu. Sắc không đẹp bằng hoa
Mạn đà, hoa Ưu đàm, tiếng không được thanh tao như đàn
cầm, đàn sắc, đức độ không bằng Thánh nhân, trí thức
tầm thường, nay phiền quan liêu đến đón, tôi thật cảm
kích vô cùng”. Sứ giả và quan Khâm mang đồ sính lễ ra:
vàng bạc, ngọc ngà, gấm, nhung, sô nhiễu v...v... 500 thể
nữ người dâng áo mão, kẻ mang chuỗi anh lạc và sửa soạn
cho nàng xong. Ngắm lại quả là một bậc sắc nước hương
trời, lạc loài nơi thôn dã. Phước diện và cử chỉ của
nàng thật xứng bậc Mẫu Nghi.
Trinh
Nữ cùng mẹ lên kiệu hoa. Xe giá rầm rộ kéo đi như một
đạo ngự.
Khi
xe giá nàng vừa đến cung vua, thì tự nhiên cửa ngọ môn
mở rộng, trong chánh điện có hào quang chiếu sáng, mọi người
cho là điềm lành của nước.
Vua
mặc triều phục, thân hành ra nghinh tiếp, khi thấy bần nữ
sắc đẹp lộng lẫy khả ái, vua rất yêu mến và sanh tâm
kính trọng. Năm ngàn phu nhân ra lậy mừng, ai thấy Hoàng Hậu
cũng đều sinh tâm kính trọng. Vua sách phong Hoàng hậu cho
nàng ngay. Trinh Nữ vào cung bảy ngày bảy đêm, nàng không
ngủ, chỉ vui chơi với các phu nhân và cung nữ. Tâm nàng thanh
tịnh không bợn chút nhiễm ô, nên đối với đức vua nàng
thường lánh mặt. Vua sai người đến thăm hỏi, và xin ra
mắt. Nàng bảo các phu nhân thưa lại:
-
Bình sanh tôi có hai điều nguyện: một là được làm Hoàng
hậu hai là được gặp Phật. Nay được một, còn một chưa
được gặp Phật.
Vua
bảo:
-
Hoàng hậu cho ta gặp mặt, ta sẽ sai người đi mời Phật
cho.
Hoàng
hậu:
-
Nếu tôi chưa gặp Phật thì tôi chưa thể gặp vua được.
Vua
tức mình, thân hành xuống cung Hoàng hậu.
Hay
tin vua xuống, Hoàng hậu vào phòng đóng kín cửa.
Vua
nổi xung đứng ngoài phòng bảo:
-
Ngươi là kẻ hạ tiện, sao dám trái ý trẫm.
Hoàng
hậu:
-
Vẫn biết thiếp là kẻ hạ tiện, nhưng đã về với Quốc
Vương thì thiếp cũng là bậc Mẫu nghi. Nghiệt là thiếp đã
nguyện được yết kiến Phật trước, mới gặp vua sau. Vậy
xin bệ hạ tha tội cho.
Vua
càng tức mình:
-
Ta đủ oai thế, nếu kẻ nào trái ý ta, thì cứ như phép nước
trị tội.
Hoàng
hậu:
-
Vua là bậc Chí Tôn cầm quyền trăm họ, song trị tội trăm
họ cho đúng đạo. Còn nếu chỉ vì ai trái ý mình thì trị
tội, ai vừa ý thì ban thưởng, cái ấy thiếp thấy kẻ phàm
phu còn chưa làm thay, huống là thiên tử.
Vua
giận lắm hét lên:
-
Thuận ý ta thì còn, trái ý ta thì chết!
Hoàng
hậu cũng không vừa:
-
Thiếp cũng có nguyện của thiếp, nếu được như nguyện
thì sống, bằng không như nguyện, thì chết cũng không sợ.
Nghe
Hoàng hậu nói quả quyết vua nguôi giận và bỏ nhỏ:
-
Thế làm sao gặp Phật được?
Hoàng
hậu:
-
Ðức Phật hiện ở nước Xá Vệ, nếu thỉnh Phật thì qua
thỉnh.
-
Trẫm sợ bách quan cười trẫm.
-
Sao lại cười? Bệ hạ cứ thỉnh Phật về, Phật thăng tòa
thuyết pháp, bách quan được thấy Phật, nghe pháp thì sanh
hoan hỷ, đời đời còn được phước đức vô lượng.
-
Thôi, Hoàng hậu an tâm, trẫm sẽ sai người sắm đủ phẩm
vật để đi thỉnh Phật.
Sắm
sửa xong, vua cho người tin với Hoàng hậu để sai người
đi. Hoàng hậu bảo:
-
Ðức Phật là đấng chí tôn chí thượng, thỉnh Phật thì
Ðại Vương phải thân hành đi, chứ không thể ai thay được.
Vua
tức lộn ruột:
-
Nếu ta đi thỉnh thì ta đi, đây ngươi muốn thỉnh thì ngươi
đi, chứ ta không đi.
Hoàng
hậu:
-
Ðại vương tuy tôn quý, nhưng thiếp nay là vợ của Ðại
vương, nếu thiếp đi thỉnh Phật thì sao bằng đại vương
đi, nay Ðại vương cố chấp không chịu đi thỉnh Phật thì
thiếp không phải là người của Ðại vương.
-
Ta với ngươi chưa thành phu phụ, sao gọi là người của ta,
ta nhất định không đi.
Biết
ý vua đã cương quyết. Nàng làm thinh và từ đấy u sầu bỏ
ăn bỏ ngủ.
Vua
nghe tin, sợ nàng quyên sinh hoặc trốn đi, nên cho người canh
phòng cẩn thận, bốn cửa đều có người coi giữ.
Bỗng
một hôm, cung nhân hốt hoảng báo tin là Hoàng hậu biến đi
đâu mất.
Vua
hoảng sợ, cho người bủa tìm khắp nơi. Trong hoàng cung tiếng
khóc như ri, náo động cả nước, vì câu chuyện Hoàng hậu
mất tích.
Vua
rất hối hận, buồn bã bảo các phu nhân:
-
Bởi vì trẫm không chịu nghe lời đi thỉnh Phật, bây giờ
biết sao cho thấy được Hoàng hậu. Thấy vua có vẻ hối
hận, đệ nhị phu nhân tâu:
-
Hoàng hậu thật không phải người thường. Nên đã biến
hình ẩn tích đâu đây, nay sự việc đã như vầy, thì theo
ý thiếp, Ðại vương nên thân hành đi thỉnh Phật, may ra
nhờ oai lực của Phật mà Ðại vương có thể gặp lại Hoàng
hậu cũng nên.
Vua
đành nghe lời và sắm sửa xe giá lễ vật rồi thân hành
qua nước Xá Vệ.
Khi
đến nơi, vua đảnh lễ, bạch Phật:
-
Ðệ tử là quốc vương nước A Kỳ La Nại, tên A Ca Ðạt
Lưu xin đảnh lễ yết kiến Ðức Thế Tôn.
Ðức
Phật rất hoan hỷ và hỏi thăm quốc dân, quốc sự được
yên ổn thái bình chăng?
Vua
bạch:
-
Ðệ tử nhờ đức độ của Tiên vương để lại, nên dân
sự được yên ổn. Nay đệ tử đến đây yết kiến Như
Lai và thỉnh Phật từ bi khuất thần qua nước hèn của đệ
tử, để cho trăm họ được chiêm ngưỡng.
Ðức
Phật hứa khả. Vua về rồi, Ðức Phật liền vận thần thông
qua nước A Kỳ La Nại.
Vua
cùng văn võ ra khỏi thành mười dặm, cung thỉnh Phật vào
cung lên pháp tòa. Vua cùng đình thần cùng cung nhân thể nữ
đều ra đảnh lễ Phật.
Gặp
Phật, vua càng nhớ lại Hoàng hậu, nên tâm hồn vơ vẩn đâu
đâu.
Ðức
Phật hiểu ý liền hỏi:
-
Như Lai thấy được trong lòng đại vương không vui, phải
chăng vì Hoàng hậu mất tích?
Vua
đem sự tình đầu đuôi bạch Phật.
Ngài
mỉm cười liền lấy tay chỉ. Vua theo ngón tay Phật thì quả
nhiên thấy Hoàng hậu đương phủ phục một bên của Ðức
Phật: đồng thời mọi người đều thấy. Tất cả hoàng
cung rất vui mừng.
Vua
và Hoàng hậu cùng thiết trai cúng dường.
Phật
thọ trai xong. vua đảnh lễ và bạch:
-
Hoàng hậu xuất thân trong gia đình bần tiện, nay lại được
làm Mẫu nghi thiên hạ, lại có thần thuật ẩn hiện như
các vị La Hán, là do nghiệp báo, và phước duyên gì?
Ðức
Như Lai mỉm cười rồi thuật lại tiền kiếp:
-
“Hoàng hậu từ kiếp xa xưa, vốn người nước Ca La Việt,
là một vị trưởng giả giàu có, sang trọng vô cùng. Nhưng
tánh lại xan lẫn keo kiệt, bà lại bóc lột, lấn công lấn
của... của kẻ khác, không hề cho ai một đồng nhỏ, lại
áp chế hiếp đáp đồng loại v...v... Vì nhân keo kiết, bóp
chặt, lấn hiếp người nên nay bị quả báo nghèo khổ bần
tiện. Song Ca La Việt tánh ưa đọc sách, học hỏi nên nay
được trí tuệ hơn người. Sau được gặp chánh pháp mới
biết cúng dường, nhưng tâm chỉ ưa cúng dường mà chẳng
chịu bố thí, sau nhờ gặp thiện tri thức khuyến hóa lần
lần bớt niệm xan lẫn. Ca La Việt và Ðại vương là hai người
thân thiết, nay thành phu phụ. Ðại vương bảy phen sanh loài
trời, Ca La Việt bảy phen làm tiên nữ. Ðại vương bảy phen
sanh vào kiếp nhân gian, Ca La Việt cũng nguyện sanh theo. Hai
người kiếp kiếp theo nhau, nguyện đồng sanh tử. Và cuối
cùng được gặp Như Lai nên đều được giải thoát.
Vua
nghe Ðức Phật dạy tiền sự của mình, thì rất vui mừng
đảnh lể Phật và phát nguyện thọ lãnh năm điều cấm giới,
lấy mười điều thiện để dạy muôn dân.
Hoàng
hậu mở ba kho báu giúp dân nghèo, và mở trường dạy phụ
nữ những nghề nghiệp thiện, nhất là trau dồi tư tưởng
và hành động trong sạch. Những ngày trai tiết Hoàng hậu
tu “Bát quan trai” và luôn luôn tập cho cung nhân tu các hạnh
lành, nhờ đức độ của Vua và Hoàng hậu nên ngoài trăm
họ được an cư lạc nghiệp, trong muôn lòng hòa thuận tin
yêu.
Một
hôm Vua cùng Hoàng hậu nhân xem hoa quỳnh nở. Hoàng hậu bỗng
giác ngộ thế sự mong manh nên liền xin Vua xuất gia.
Vua
bảo:
-
Ái khanh là bậc mẫu nghi thiên hạ, nay cạo đầu làm sa môn,
trẫm sợ trăm quan chê cười.
Hoàng
hậu tâu:
-
Trước thiếp đã có vô số bậc mẫu nghi, nhưng khi chết
chỉ đem theo một mớ tội lỗi của nghiệp phú quý, thiếp
nghĩ mà ghê sợ. Vì vậy thiếp chỉ lo vua Diêm Vương không
nể mặt, chứ chẳng sợ trăm quan chê cười. Huống nữa,
xưa nay kẻ nữ nhân như lửa dữ, như rắn độc v.v... Người
trí sợ nữ nhân như rắn độc, lửa dữ, vì sao? Rắn độc,
lửa dữ chỉ hại sắc thân một đời, nữ nhân làm hại
muôn kiếp trầm luân, sống thì mất thanh danh, chết thì làm
quỉ ô uế. Chính thiếp tiền thân một kiếp xa xưa cũng là
nam tử, song chỉ vì mê ly nữ sắc nên vô lượng kiếp trở
lại nữ nhân. Nữ nhân thật đáng sợ vậy.
Biết
ý chí cương quyết của Hoàng hậu, vua phải bằng lòng.
-
Khanh là người tiên cốt, nay lại ngộ được Phật tâm, quyết
chí ly trần, trẫm xin tùy hỷ. Trẫm tự thẹn mình là nam
tử, nhưng chót lỡ vương mang ngôi báu bên mình. Vì thái tử
còn nhỏ mà quý phi chưa phải là bậc đảm đang quốc sự
được. Chứ thật ra huỳnh bào ngọc ấn nặng nề triền
phược, làm sao bằng một mảnh cà sa?
Ðược
lịnh vua cho xuất gia, Hoàng hậu liền triệu tập tất cả
Thái tử, quý phi, cung nữ v.v... rồi dịu dàng dạy vẻ ân
cần, nhất là việc trau dồi tâm đức, bỏ các việc ác,
làm các hạnh lành và thừa sự quốc vương nuôi dạy thái
tử v.v... ta nguyện sớm thành Chánh giác sẽ trở về độ
các ngươi.
Ba
ngàn cung phi đều cảm động, khóc rống lên, tiếng ảo não
trong hoàng cung thấu đến cõi trời Ðao Lợi, vua Ðế Thích
thân hành đem cà sa và bình bát xuống cúng dường.
Hoàng
hậu tức thời rụng tóc, liền thành Sa môn, thân mặc cà
sa vận thần thông giữa hư không.
Tất
cả hoàng cung rất đỗi kính phục. Vua A Ca Ðạt Lưu thấy
vậy hoan hỷ kính tán:
-
Hoàng hậu phước đức đồ sộ như núi diệu cao, trẫm rất
vui mừng.
THÍCH
NỮ THỂ QUÁN
“Phật
động lòng thương kiếp đọa đầy
Hóa
thân làm tuyết bốn trời bay
Kết
hoa sáu cánh sen mười trượng
Giọt
tịnh bình xoa dịu đắng cay”.
Công
đức cúng dường Xá Lợi
Ngày
xưa, trong thời kỳ giáo pháp Ðức Phật Ca Diếp, lúc ngài
đã nhập niết bàn, các Phật tử quyết định kiến tạo
một bảo pháp bằng vàng thật vĩ đại, chiều cao một do
tuần, để tôn thờ Xá Lợi của Ngài.
Thuở
ấy, có một tín nữ ngoan đạo. Nàng sống thật hạnh phúc
dưới mái ấm gia đình, tất cả tình thương nàng đều dành
cho cô con gái xinh đẹp và ngoan ngoãn của nàng tên là Sê
Sa Va Ti. Trong các dịp lễ lớn nàng thường cùng cô con gái
đến dâng hương lễ Phật. Một hôm đến chùa thấy thợ
bạc nấu vàng cho chảy ra, rồi đúc thành từng viên gạch
một, cô con gái lấy làm ngạc nhiên hỏi mẹ:
-
Thưa mẹ, thợ bạc đúc vàng thành viên gạch để làm gì?
Người
mẹ đáp:
-
Người ta đúc vàng thành gạch, xây cất bảo tháp để tôn
thờ Xá Lợi của Phật.
Sê
Sa Va Ti nghe mẹ bảo như thế rất hoan hỷ, nàng phát tâm trong
sạch với Ðức Phật. Nàng thưa với mẹ:
-
Thưa mẹ, con muốn hùn phước bằng sợi dây chuyền nơi cổ
con để góp phần vào việc xây dựng bảo tháp, mẹ nghĩ sao?
Nghe
con phát tâm bồ đề như thế, người mẹ đáp:
-
Lành thay, lành thay, thật quý báu, mẹ vô cùng hoan hỷ trước
sự phát tâm của con gái yêu quý của mẹ.
Nàng
liền đem sợi dây chuyền đến hùn phước.
Kiếp
đó, khi nàng lâm chung, nhờ phước báo cúng dường sợi dây
chuyền để xây bảo tháp, nàng được thọ sanh vào cõi trời,
hưởng lạc thú nơi tiên cảnh.
Ðến
thời giáo pháp Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, nàng giáng trần
thọ sanh trong xứ Na Lan Ðà tên là Sê Sa Vát Ti. Tuy mới 15
tuổi nhưng dung nhan thật diễm lệ, tánh tình lại ngoan hiền,
nàng được mọi người yêu mến.
Cũng
tại xứ Na Lan Ðà, có một vị Trưởng giả đang giàu có,
bỗng trở nên nghèo khổ, vì bao nhiêu ngọc ngà, châu báu
thọ hưởng cha mẹ để lại đều biến thành đá.
Một
hôm, ông trưởng giả nghĩ ra phương cách, làm cho những viên
đá vô dụng kia sẽ trở thành châu báu như cũ. Ông bèn đem
những viên đá ra chợ bán với niềm tin nếu gặp người
có phước đức, tất cả những viên đá này sẽ trở thành
châu ngọc.
Ngày
kia nàng Sê Sa Vát Ti vâng lời mẹ, đi chợ mua dầu. Khi bước
vào chợ, cô trông thấy một gian hàng trưng bày toàn vàng
bạc châu báu chiếu sáng rực rỡ. Sê Sa Vát Ti bước đến
gần để xem cho kỹ và ngạc nhiên cô hỏi người chủ hàng:
-
Thưa ông chủ, vì lẽ gì mà ông đem vàng bạc, ngọc ngà chất
đống trên sập này như vậy. Ðáng lẽ, tất cả những của
này phải gìn giữ cẩn thận trong tủ, trong kho mới phải.
Ông
trưởng giả nghe vậy, lấy làm mừng rỡ, biết rằng đã
gặp được người hữu phước. Ông không vội trả lời mà
hỏi lại Sê Sa Vát Ti:
-
Cô em ở đâu? Con cháu của ai?
Sê
Sa Vát Ti lễ phép đáp:
-
Thưa ông, cháu là con của một người nông dân ở xứ này.
Ông
trưởng giả vội vàng gom góp tất cả vàng bạc ngọc ngà
cho vào bao, rồi mời Sê Sa Vát Ti cùng về nhà ông. Ðến nơi
ông mới giải thích với nàng:
-
Trước đây, tôi là một vị trưởng giả giàu sang bậc nhất
trong xứ này. Nhưng bỗng nhiên tôi trở thành nghèo khổ, vì
tất cả châu báu của tôi đều biến thành đá cả. Vì thế,
tôi mới đem một số đá này ra chợ với hy vọng tìm người
hữu phước, tất cả của cải này kể như cho cô em hết,
vì cô em là người đầy đủ phước đức, xứng đáng được
hưởng tài sản này.
Nói
xong, ông trưởng giả hướng dẫn nàng Sê Sa Vát Ti đến kho
chứa vàng bạc châu báu cho nàng xem. Khi đến nơi, nàng chỉ
nhìn qua, tất cả của cải đều hoàn lại thành châu ngọc
lóng lánh muôn màu như cũ.
Sau
đó, ông trưởng giả và Sê Sa Vát Ti trở về nhà luôn dịp
để diện kiến song thân nàng, ông trưởng giả kể lại cho
cha mẹ Sê Sa Vát Ti nghe. Sau cùng ông ngỏ lời xin được chọn
nàng làm con dâu. Phụ thân của Sê Sa Vát Ti hết sức hân
hoan trước lời cầu hôn của ông trưởng giả nên tán thành.
Rồi những thiệp hồng mang tin vui đến thân bằng quyến thuộc.
Nhà cửa được trang trí treo đèn kết hoa rực rỡ. Ngày vu
quy, Sê Sa Vát Ti lên xe hoa trong tiếng pháo đì đùng.
Nàng
sống hạnh phúc bên chồng và hết lòng phụng dưỡng cha mẹ
chồng.
Cũng
trong thời gian ấy, dân chúng trong khu vực sông Hằng sống
yên vui dưới ánh đạo vàng của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Nơi đây, đạo nghĩa trọng hơn bạc vàng. Hình bóng của bậc
tu hành được tôn kính hơn quyền chức. Trong hàng môn đồ
của Ðức Phật, có Tôn giả Xá Lợi Phất là vị đại đệ
tử đức hạnh và trí tuệ tuyệt vời.
Một
hôm, sau buổi thiền định, Ngài nhận thấy tuổi thọ của
Ngài sắp hết. Ngài vào đảnh lễ Ðức thế Tôn, từ giã
và xin phép về xứ Na Lan Ðà để nhập niết bàn nơi đây,
đồng thời cũng để tế độ song thân của Ngài hãy còn
lầm lạc trong vòng tà kiến ngoại đạo.
Về
đến Na Lan Ðà, đại đức Xá Lợi Phất sau khi thức tỉnh
được song thân trở về với chánh pháp, nương tựa dưới
bóng mát Phật, Pháp, Tăng, Tôn giả liền nhập niết bàn ngay
trong phòng mà Ngài đã chào đời.
Sau
một tuần lễ để cúng dường và chiêm ngưỡng, chư Phật
tử quyết định lễ hỏa táng di thể của Ngài Xá Lợi Phất
thật long trọng và trang nghiêm.
Khi
ấy nàng Sê Sa Vát Ti đã có mang đứa con đầu lòng của nàng
hơn chín tháng. Lúc hay tin lễ hỏa táng nhục thân của vị
Tôn giả mà nàng hằng kính mến sắp cử hành, Sê Sa Vát Ti
liền xin phép cha mẹ chồng đến tế lễ trước kim quan.
Cha
mẹ chồng tìm đủ lý lẽ để cản ngăn vì biết rằng nàng
cũng sắp sinh nở. Nhưng Sê Sa Vát Ti có ý chí và đức tin
vững mạnh, nàng cương quyết vì tín ngưỡng tham gia cuộc
lễ, cuối cùng ông bà trưởng giả phải vị nể tán thành.
Nàng
cùng những gia nhân thân tín, mang lễ vật đến hoa đài, nơi
đang quàng kim quan của đại đức Xá Lợi Phất.
Khung
cảnh hoa đài lúc ấy rất náo nhiệt, dân chúng chen chúc lễ
bái lần cuối cùng trước khi hỏa táng.
Nàng
Sê Sa Vát Ti cùng đoàn tùy tùng mang lễ vật đến, nàng được
mọi người nhường lối đi, vì trong xứ ai cũng kính mến
nàng giàu lòng nhân ái và đức hạnh. Nàng bày lễ vật trước
kim quan rồi thành kính dâng cúng.
Nhờ
phước báo này, sau khi lìa trần, Sê Sa Vát Ti được thọ
sanh vào cung trời Ðao Lợi. Nàng hưởng an vui hạnh phúc trong
một cung điện bằng vàng cẩn ngọc vô cùng tráng lệ có
hàng chư thiên nữ hộ giá.
Ngày
nọ, tiên nữ Sê Sa Vát Ti chợt nhớ đến tiền kiếp của
mình, nàng hiện xuống Kỳ Viên tịnh xá, yết kiến Ðức
Thế Tôn.
Lúc
ấy Ðức Thế Tôn đang tiếp kiến đại đức Va Bha Sa Gi The
Ra, bỗng thấy hào quang muôn sắc, chiếu sáng thật xinh đẹp,
rồi tiên nữ Sê Sa Vát Ti xuất hiện đảnh lễ Thế Tôn,
bà thuật lại đầy đủ chi tiết về tiền thân của mình.
Nhân
cơ hội ấy, Ðức Thế Tôn thuyết một thời pháp tán dương
công đức sự cúng dường Xá Lợi Phất.
GIỚI
ÐỨC
“Bố
thí là kho châu báu thường theo người.
Bố
thí là nhóm điều vui, trừ đau khổ”.
Gọi
Phật bằng bạn
Một
mùa an cư, sau khi mãn hạ, Ðức Thế Tôn du hành một mình
thăm viếng các trú xứ của những Tỳ kheo, để biết lối
sống của họ, việc tu hành tiến thoái của họ. Chính nhân
những cuộc du hành này mà đã có lần Ngài tâm sự với thị
giả Nàgita :
-
Này Nàgita, mỗi khi đi ngang một làng mạc mà thấy một am
cốc của Tỳ kheo, thì dù vị ấy đang ráo riết thiền tọa,
Như Lai vẫn không hài lòng về trú xứ của vi ấy. Vì Sao?
Vì vị ấy có thể bị phụ nữ, trẻ con, người lớn trong
làng đến phiền nhiễu, tán chuyện, làm cho vị ấy không
thể chứng đắc những pháp chưa chứng và có thể thối thất
những pháp đã chứng. Trái lại mỗi khi trông thấy một vị
Tỳ kheo ở trong rừng, dưới gốc cây, thì dù vị ấy đang
tựa gốc cây mà ngủ gục, Như Lai vẫn hài lòng, nghĩ rằng:
Tỳ kheo này sau khi hết cơn buồn ngủ, có thể tiếp tục
tọa thiền không bị ai quấy rối. Y sẽ chứng đắc những
pháp chưa chứng đắc.
Trong
cuộc du hành chúng ta đang nói đến, khi Ðức Thế Tôn đi
ngang một làng nọ thì trời đã sẩm tối. Ngài ghé vào một
nhà thợ gốm xin trú ngụ. Không một ai biết đấy là đấng
giác ngộ, vì Ngài làm như một vị tỳ kheo thông thường
giản dị, không có tùy tùng thị giả. Ngài ngỏ lời với
thợ gốm:
-
Này thợ gốm, tôi có thể nghỉ lại nhà người một đêm
không?
Thợ
gốm nhìn Ngài đáp:
-
Sa môn muốn ở lại cũng được, nhưng đã có một vị xuất
gia đến trước cũng đang nghỉ tại đây. Xin hiền giả hãy
ngỏ lời với vị ấy, nếu ông ta đồng ý thì hiền giả
cứ tự nhiên.
Ðức
Thế Tôn bước vào trong gặp một tỳ kheo trẻ đang ngồi,
Ngài hỏi:
-
Hiền giả, tôi muốn ở lại đây một đêm, có phiền gì
cho người chăng?
-
Ồ thưa hiền giả, không có gì phiền. Nhà thợ gốm rất
rộng.
Thế
Tôn bèn trải thảm cỏ, ngồi kiết già. Vị Tỳ kheo cũng
ngồi kiết già ngồi tọa thiền cho đến quá nửa đêm. Ðức
Thế Tôn quán sát cử chỉ của Tỳ kheo thanh niên ấy, lấy
làm hài lòng. Ngài nghĩ: “Thanh niên này có những cử chỉ
tín thành. Ta hãy hỏi chuyện y”. Và Ngài mở lời:
-
Này bạn, nhân danh ai mà bạn đã từ bỏ gia đình, sống đời
khất sĩ? Ai là thầy của bạn?
Tỳ
kheo đáp:
-
Ồ bạn ơi, có Sa môn dòng họ Thích Ca đã từ bỏ ngai vàng
để trở thành một ẩn sĩ. Thiên hạ đồn rằng Ngài đã
đạt Chánh Giác, được tôn xưng là Phật, Thế Tôn. Chính
nhân danh con Người cao cả đó mà tôi đã xuất gia. Bậc Thế
Tôn ấy là Ðạo sư của tôi. Tôi thích sống như Người.
-
Vậy con người cao cả đó, Ðức Phật, Thế Tôn ấy, bây
giờ ở đâu?
-
Này bạn, có một đô thị ở phía bắc gọi là Xá Vệ, chính
nơi đó Ðức Thế Tôn đang ngự tòa.
-
Bạn có khi nào bạn thấy đấng Thế Tôn ấy chưa? Bạn sẽ
nhận ra Ngài nếu gặp Ngài không?
-
Bạn ơi! Làm sao tôi có được cái diễm phúc ấy? Tôi chưa
bao giờ trông thấy Ngài, chỉ mới nghe danh của Ngài thôi.
Nhưng chính vì Ngài mà tôi bỏ tục xuất gia, sống đời không
nhà. Tôi chưa được gặp Ngài thì làm sao mà nhận ra Ngài
được?
Ðức
Thế Tôn suy nghĩ: “Thanh niên này đã nhân danh ta mà xuất
gia. Vậy ta hãy thuyết pháp cho y”. Rồi Ngài dạy:
-
Hỡi khất sĩ, tôi sẽ giảng pháp cho bạn, hãy lắng nghe.
-
Ðược bạn cứ nói đi.
Ðức
Thế Tôn thuyết pháp cho vị Tỳ kheo ấy về cấu tạo của
con người gồm bốn đại, năm uẩn, trong đó không có cái
gì là ta hay của ta, toàn là những kết hợp vay mượn bên
ngoài, biến chuyển luôn luôn để đi đến hoại diệt. Do
nhận thức chân chính ấy, khi mắt tiếp xúc với sắc, tai
với âm thanh, v.v... và những cảm thọ như dễ chịu, khó
chịu... vị Tỳ kheo không tham đắm, không ghét bỏ vì quan
sát những cảm thọ ấy không phải là ta, không phải của
ta. Vị ấy sẽ có thái độ “huệ xã” (giải thoát nhờ
trí huệ) không còn vọng tưởng được sự bất động. Khi
dứt được những vọng tưởng như vậy, vị Tỳ kheo ấy
được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh.
Ðức
Thế Tôn dùng âm thanh vi diệu như tiếng hót chim Ca Lăng Tần
Già để thuyết pháp cho vị Tỳ kheo ấy, khích lệ ông, làm
cho ông hân hoan phấn khởi với những lời pháp của Ngài,
như thể được nếm vị cam lồ bất tử. Nghe xong thời pháp
của Thế Tôn, vị Tỳ kheo biết ngay đấy chính là đấng
A La Hán Chánh Ðẳng Chánh Giác ông đang ngưỡng mộ tôn thờ.
Ông sửa lại y, quì gối chắp tay bạch:
-
Bạch Thế Tôn, con thật ngu si đã gọi Ngài là bạn. Xin Thế
Tôn cho con sám hối tội lỗi.
-
Này Tỳ kheo, vì ngươi không biết nên không gọi là tội lỗi.
THÍCH
NỮ TRÍ HẢI
“Ai
lơ lửng như thuyền nan không bến
Ai
hận đời không một chút tình thương
Ai
thấy mình sao lạnh lẽo thê lương
Mơ
kiếp sống đượm mùi hương giải thoát,
THÌ
ÐÂY:
Mắt
Thế Tôn nhìn xa ngoài muôn dặm
Lòng
Thế Tôn như bể thẳm xanh màu
Tay
hiền từ đốt đuốc giữa đêm thâu
Với
pháp nhũ đầy vàng châu cảm mến”.
Ðạo
trời báo phục
(Truyện
cổ Phật giáo Trung quốc)
Ở
đất Tân Châu, thuộc huyện Cổ Thành, có một người họ
Trương, tên Thiện Hữu, thường ngày ăn chay, niệm Phật,
hay bố thí rộng rãi, ai cũng khen là người hiền đức. Vợ
ông họ Lý, tên Trương, người ta thường gọi là Lý thị,
lại là người tính tình thô bạo, kiến thức hẹp hòi, chỉ
thích thu vào mà không muốn bỏ ra một đồng một cắc. Ðôi
vợ chồng tính tình xung khắc, nhưng ăn ở thuận hòa, biết
nhường nhịn lẫn nhau. Họ chẳng có con cái, nhà ít người,
nên xài phí chẳng tốn kém gì nhiều. Với huê lợi thu được
quanh năm, họ dành dụm để riêng được một số tiền từ
hai đến ba trăm quan tiền, đem cho vay lấy lời. Cuộc sống
của họ do đó có bề sung túc, chẳng phải lo lắng khổ nhọc.
Ở
cách nhà họ chừng mười dặm đường, có một người đàn
ông tên là Triệu Ðình Ngọc, nhà nghèo nhưng ăn ở tốt.
Khi mẹ chết, anh ta chẳng có tiền làm đám tang. Anh ta nghe
phong phanh Trương Thiện Hữu là người dư bạc dư tiền, liền
có ý nghĩ muốn đến ăn trộm một mớ để lo đám tang cho
mẹ.
Anh
ta suy đi tính lại, lưỡng lự đến hai ba ngày. Rồi một
đêm kia, anh ta lén đến nhà họ Trương đào một lỗ hổng
dưới chân tường, lấy được một số tiền năm sáu chục
lượng bạc. Về nhà, anh ta nhờ người chọn một ngày lành,
làm lễ mai táng mẹ. Anh ta mua gạo, nếp, nhang, đèn, chuẩn
bị mọi thứ hết sức đầy đủ, gửi giấy báo tang khắp
hết bà con, thân thích, bạn bè, mướn dàn nhạc, nhà giàn.
Rồi anh ta tự mình mặc sô gai, làm đám tang mẹ vô cùng trọng
thể.
Ðôi
khi nghĩ lại việc làm bất chính của mình, anh ta cho mình
vốn không phải là một tên trộm, mà chẳng qua là không có
tiền chôn mẹ, nên trong phút chốc trót quên lời dạy của
người xưa “Bần nhi bất khả phú tang” (người con trai
nghèo không nên chôn cất theo lối nhà giàu). Dẫu sao, anh ta
cũng thấy mình đã làm một việc trái với lương tâm và
lẽ phải, là đi ăn trộm tiền bạc của kẻ khác!
Trong
khi anh ta nghĩ thầm như vậy, thì ở nhà Trương Thiện Hữu
sau khi đêm bị mất trộm, sáng ngày Thiện Hữu phát giác
ra, mình đã bị lấy mất năm sáu chục lượng bạc. Ông liền
nghĩ thầm: “Tiền bạc, của cải là phù vân, nay tụ mai
tán. Mất phần này, được phần khác, chẳng nên lo rầu!”.
Nghĩ
như vậy, ông thản nhiên, không buồn giận, tự an ủi lấy
mình rằng: “Sự việc phải như vậy thôi! Lời tục thường
nói: “Nếu con không chết của không mất, thì trời cũng
giáng hỏa tai hay đạo tặc mà thôi”.
Trái
lại, vợ ông là Lý thị, với đầu óc cạn hẹp, cứ đau
xót trong lòng không nguôi, cằn nhằn luôn miệng suốt ngày:
-
“Nếu số tiền ấy không bị mất trộm, mình còn làm được
bao nhiêu công chuyện. Ðem cho vay cũng lời biết mấy, để
mất trộm oan uổng như thế này, tiếc ơi là tiếc.
Một
ngày nọ, trong lúc bà ta đang cằn nhằn, bỗng nghe trước
ngõ nhà có tiếng trống đánh vang lên, bà ta nghĩ thầm: “Ðây
không hẳn là tiếng trống báo thúc thuế, vì tháng này đâu
phải là tháng ba hay tháng 9”. Chẳng hiểu ra làm sao, bà ta
liền chạy ra ngõ nhìn kỹ thì thấy một nhà sư đi hóa duyên,
muốn tìm gặp Trương Thiện Hữu. Bà ta trở vào cho chồng
hay. Thiện Hữu bước ra cung kính hỏi han nào là nhà sư từ
đâu tới, đến đây có việc gì cần, đi hóa duyên ở đâu
về, và làm sao biết đến mình? Nhà sư đáp:
-
Bần đạo tu ở chùa Ngũ Ðài Sơn. Từ mấy năm nay, Phật
điện bị đổ nát, hết nơi này đến nơi khác tiếp tục
xụm xuống. Ngày qua ngày, gió mưa xối xả xuống cả tượng
Phật, khiến bần đạo không thể an tâm ngồi ngó cảnh điêu
tàn ấy. Nhưng nhà chùa chẳng có lợi tức nào, mà sự tu
bổ quá lớn lao, bần đạo không nỡ điềm nhiên ngồi nhìn,
bất đắc dĩ phải xuống núi đi khuyến giáo quanh vùng, cầu
xin sự giúp đỡ của thiện nam tín nữ quý thiện tâm quân
tử, để mong trùng tu lại Phật đường. Bần đạo đã chịu
khó lần hồi gom được số bạc một trăm lượng, nhưng vẫn
chưa thấm vào đâu. Vả lại, còn nhiều tín chủ thành tâm
đóng góp mà chưa thu nhận được, cho nên bần đạo phải
đi thu hết các nơi ấy cho xong. Hiện nay, với số lớn mang
theo trong người, bần đạo sợ bọn bất lương biết được
mà cướp đoạt mất. Vì thế, bần đạo muốn tìm một nơi
tín cẩn, an toàn để gởi nhờ. Tục ngữ có câu “Nhân tâm
a thổ bì, thập nhân cửu bất tri” (Lòng người thường
giấu dưới da bụng, mười người hết chín người không
biết rõ) cho nên bần đạo chưa biết ai để gởi số tiền
lớn này. Dọc đường đi, bần đạo nghe người ta đồn tín
chủ đây là người chí thiện, ăn chay, niệm Phật, phát tâm
làm lành, ai ai cũng đều rõ. Bần đạo quyết tâm tới đây
gặp tín chủ để gởi số bạc này tạm thời trong ít lâu.
Khi nào bần đạo đã thu góp đầy đủ các nơi, sẽ xin trở
lại lấy đi, hợp với số bạc nọ, bần đạo trở vế núi
lo tu bổ Phật điện. Bần đạo xin tín chủ cho biết ý kiến
thế nào ?
Trương
Thiện Hữu đáp:
-
Ðó là một việc thiện, xin nhà sư chớ ngại. Nếu nhà sư
muốn gởi bạc lại đấy, điều đó cũng như cất vào tủ
của nhà chùa vậy. Tôi xin hứa sẽ giữ gìn chu đáo, không
có gì sai suyển cả. Lúc nào nhà sư xong việc, xin cứ trở
lại đây mà lấy bạc về.
Nói
xong, hai đàng kiểm cân lượng của số bạc, niêm phong cẩn
thận. Trương Thiện Hữu bèn gọi vợ ra trao tay bảo cất
giữ cho thật kỹ. Họ Trương muốn mời nhà sư ở lại dùng
cơm, nhưng nhà sư nói:
-
Xin đừng lo việc cơm nước, bần đạo cần phải đi ngay,
vì nhiều công việc quá gấp rút.
Trương
Thiện Hữu nói:
-
Tôi đã trao số bạc cho nhà tôi cất giữ. Khi nào nhà sư
trở lại lấy nếu tôi đi vắng, tôi sẽ dặn nhà tôi trao
lại cho nhà sư chẳng sai.
Nhà
sư cảm ơn họ Trương rồi cáo từ ra đi.
Thế
nhưng, khi Lý thị cầm được số bạc này trong tay, mụ ta
vui vẻ như nở gan nở ruột, tự bảo thầm:
-
Tuyệt quá! Tuyệt quá! Thật là hên! Ðêm trước chỉ mất
trộm ngót sáu chục lượng, mà nay ông sư này lại mang đến
những cả trăm lượng, quả là ta lời gấp bội!
Một
hôm Trương Thiện Hữu sắp lên chùa Ðông Ngạc hành hương
để cầu xin được cho sanh một đứa con trai đầu lòng, gọi
vợ ra dặn rằng:
-
Tôi đi vắng rồi, nếu có nhà sư chùa Ngũ Ðài Sơn hôm nọ
đến lấy số bạc gởi, dù tôi chưa về đến, bà cũng đem
số bạc ấy trao lại cho ông đầy đủ. Nếu ông muốn ở
lại nghỉ, bà nên dọn một bữa cơm trưa. Ðó là bà làm
một việc ân đức vậy.
Bà
vợ đáp:
-
Tôi đã rõ cả rồi mà!
Dặn
dò xong, Trương Thiện Hữu lên đường. Hai ba hôm sau, nhà
sư thu tiền xong, trở lại nhà họ Trương, xin được thu hồi
gói bạc.
Lý
thị nói:
-
Nhà tôi đi vắng. Còn tôi chẳng biết, có ai đến gởi số
bạc hay không. Thưa lão sư, lão sư có gõ lầm cửa nhà không
ạ?
Nhà
sư đáp:
-
Cách mấy hôm trước đây, chính tay tôi đã trao số bạc tận
tay ông Trương Thiện Hữu, ổng mang vào nhà và nói đã đưa
cho vợ ổng cất giữ rồi. Sao hôm nay bà lại nói như vậy?
Lý
thị thề nói:
-
Nếu chính tôi nhìn thấy số bạc của lão sư thì mắt tôi
trào máu ra mà chết!
Nhà
sư nói:
-
Bà nói như thế là có ý giấu giếm số bạc của tôi rồi.
Lý
thị đáp:
-
Nếu tôi giấu số bạc của ông, thì xin cho tôi rơi xuống
18 từng địa ngục.
Nhà
sư nghe mụ ta thề thốt nặng lời như vậy, biết mụ ta là
con người xảo quyệt, có ý trở mặt chiếm đoạt số bạc
của mình gởi. Người tu hành chẳng dại đi gây chuyện to
tiếng với một phụ nữ, không biết xử lý thế nào, nhà
sư liền chắp tay than thở:
-
Nam Mô A Di Ðà Phật! Của bố thí kia, bần đạo đã đi lượm
lặt từ chỗ này đến chỗ khác, thu góp lại từng đồng
từng chữ, tự nguyện không dám tiêu xài, nhịn ăn, nhịn
uống để đem về tu bổ Phật đường. Bần đạo đã đem
gởi cho nhà bà vậy mà bà dám làm việc mờ ám cả lương
tâm, chiếm đoạt bạc của bần đạo, chẳng hề xót thương
đến một kẻ tu hành già nua tuổi tác! Dẫu bà có giỏi hành
động trong bóng tối, con mắt của các thần linh cũng đã
soi thấu. Rồi đây, tuần hoàn báo oán, không ai tránh khỏi
đâu, bà ơi!
Than
thở, kể lể một hồi, nhà sư bỏ ra đi.
Bốn
năm ngày sau, Trương Thiện Hữu đi hành hương trở về, hỏi
vợ:
-
Nhà sư có trở lại lấy số bạc không?
Lý
thị đáp không do dự:
-
Sau hôm ông đi một bữa, nhà sư trở lại lấy bạc, tôi đã
hai tay nâng túi bạc lên trả cho nhà sư rồi!
Trương
Thiện Hữu tin ngay lời vợ. Lời tục có nói: “Lời nói
khéo, kéo được lòng”, bởi vậy Trương Thiện Hữu còn
khen vợ:
-
Chu tất như vậy thì hay lắm!
*
Hai
năm sau, Lý thị sanh được một đứa con trai, đặt tên là
Khất Tăng. Năm sau nữa, lại sanh thêm một trai, đặt tên
là Phước Tăng.
Từ
ngày sanh con trai đầu lòng, vợ chồng Thiện Hữu làm ăn càng
ngày càng phát đạt, tiền bạc tuôn vào như nước. Khi lớn
lên Khất Tăng làm lụng siêng năng, chịu khó thức khuya dậy
sớm, ăn xài hết sức tiết kiệm, bòn chắt từng đồng tiền.
Chỉ trong mấy năm, cả nhà trở nên khá giả.
Trái
lại người con thứ là Phước Tăng tính nết tương phản
vô cùng. Anh ta chỉ biết ăn chơi hoang đàng, rượu chè, cờ
bạc, xài phí như ném tiền qua cửa sổ, không một chút tiếc
nuối. Hằng ngày chủ nợ đến đòi nheo nhéo trước cửa,
anh ta vẫn thản nhiên. Thiện Hữu là người biết trọng danh
dự, đâu có thể chịu cho người ta đến lăng mạ con trai
trước mặt mình! Ông phải dốc tiền ra bồi thường, trả
hết kẻ này đến kẻ khác.
Một
đàng nhìn thấy công lao khó nhọc của đứa con cả, một
đàng chứng kiến sự hoang phí của đứa con thứ, Thiện Hữu
hết sức đau lòng. Ông bèn quyết định chia gia tài ra làm
ba phần: một phần cho người con cả, một phần cho người
con thứ, còn một phần dành cho hai vợ chồng già. Rồi ai
lo phận nấy. Kẻ nào phung phá cứ tự do cho tới khi hết
của, khỏi phiền lụy đến kẻ khác.
Khi
gia tài được chia xong, Phước Tăng phung phí của cải y như
lấy nước sôi dội vào nước đá lạnh, như gió mạnh thổi
tan mây. Chỉ non nửa năm, tất cả gia sản của cậu ta hoàn
toàn hết sạch. Áo quần chẳng còn cái nào lành lặn để
mà mặc, không có một túp lều để ở. Vợ chồng Thiện
Hữu thấy tình cảnh con thứ như vậy, vừa quá tức giận,
vừa đau lòng, muốn bỏ chết cho rảnh mắt. Nhưng, lời người
xưa đã nói: “Hùm dữ không ăn thịt con”, hai vợ chồng
đành đem phần chia của mình san sẻ dần dần cho con, đến
không còn gì hết.
Thế
là ba phần gia tài, Phước Tăng đã phá hết hai, lại còn
mon men muốn chiếm nốt của anh để xài phá cho sướng tay.
Trước hoàn cảnh ấy, Khất Tăng hết muốn gìn giữ gia tài,
tức giận không nhịn được, ngã xuống thành bệnh nan y,
thầy thuốc không ai chữa được.
Trương
Thiện Hữu quá đau khổ, than thở:
-
Ðứa con giỏi bệnh nặng, đứa con hư lại mạnh khoẻ. Trong
có mấy năm trời, nhà ta phải đến nỗi này! Phải chi đứa
con thứ thay chỗ cho đứa con cả thì đâu đến nỗi nào!
Chẳng
bao lâu Khất Tăng thở hơi cuối cùng. Vợ chồng Thiện Hữu
thương khóc đứa con giỏi giang, cần kiệm, buồn khổ chẳng
còn làm gì được. Còn Phước Tăng thấy anh chết lại hết
sức vui mừng, thầm nghĩ số gia tài rồi sẽ về mình hưởng
trọn.
Lý
thị vừa thương con cả, vừa giận con thứ, lòng thổn thức
ân hận, khóc từ sáng đến chiều, hai con mắt bật ra máu
tươi dầm dề, chẳng bao lâu cũng chết luôn.
Phước
Tăng thấy mẹ chết, trong lòng chẳng hề buồn khổ, mà bề
ngoài cũng chẳng nhỏ một giọt nước mắt tỏ tình thương
xót. Mặc dầu còn đang mặc tang phục sô gai, cậu ta vẫn
rong chơi các nơi tửu điếm trà đình, ngày đêm miệt mài
trong cuộc truy hoan. Lần hồi kiệt sức, Phước Tăng mang bệnh
lao mà chết.
Trong
một thời gian ngắn, phải chịu ba cái tang liên tiếp, Trương
Thiện Hữu trở nên suy dại, lắm lúc tự nghĩ thầm:
-
Con cái sinh ra tai quái ấy, ắt phải có tiền căn nào mới
khiến gia đình gánh chịu chết chóc thảm thương như thế!
Tục ngữ đã có câu: “Thiện hữu thiện báo, ác hữu ác
báo!” (làm thiện được trả thiện, làm ác được trả
ác). Nếu như việc làm thiện hay ác mà chưa thấy trả, đó
là tại chưa đến cái giờ để nhận lãnh đó mà thôi! Hiện
tại, cả đời ta chưa hề làm một việc ác nào, mà ngày
nay phải chịu trả như thế này?
Trăn
trở mãi với cái nghiệp chướng ấy, có lúc Thiện Hữu suy
nghĩ:
-
Ta đã đi hành hương cầu tự mới sinh được hai đứa con
ấy. Thế mà Diêm Vương nỡ rước đi hết cho đành. Ta phải
lên Ðông Ngục miếu, tố cáo việc này với thần linh, thử
xem sự thực ra sao, kẻo lòng ta vô cùng ấm ức!
Một
hôm, Thiện Hữu dậy thật sớm, mua nhang đèn, rồi đi thẳng
lên miếu Ðông Ngục. Ðến nơi, ông vào quỳ mọp trước
linh vị, khấn vái:
-
Tôi là Trương Thiện Hữu, tuổi đã già, trọn đời chưa
làm hại ai, luôn luôn thờ kính thần Phật, cứu giúp kẻ
khốn cùng. Vậy mà Diêm Vương nỡ đang tâm cướp đoạt mạng
sống của vợ con tôi, khiến cho tôi hôm nay phải sống cảnh
cô đơn, nghèo khó và già nua như thế này. Tôi thật khốn
khổ vô cùng tận, xin cúi lậy thần linh giải giùm nỗi oan
ức của tôi. Nếu quả như tôi có tội, tôi cam chịu hết.
Khấn
xong, Thiện Hữu khóc rống lên, té nhào xuống đất, bất
tỉnh nhân sự. Ông ta nằm yên trong giấc ngủ mê, mơ màng
thấy mình đến trước mặt Diêm Vương. Diêm Vương hỏi:
-
Này Thiện Hữu, sao lão đến Ðông Ngục miếu tố cáo ta?
Thiện
Hữu đá :
-
Vì ngài nhẫn tâm đoạt tính mạng hai đứa con và vợ tôi,
khiến tôi ngày nay phải trơ trọi khốn khổ như thế này!
Bất đắc dĩ tôi phải cầu tôn thần quang minh chính đại
xét xử cho tôi khỏi hàm oan.
Diêm
Vương phán:
-
Hàm oan hả? Lão muốn gặp hai đứa con của lão không?
Thiện
Hữu đáp:
-
Dạ, tôi hết lòng mong muốn, xin ngài cho phép.
Diêm
Vương liền sai quỷ sứ đi gọi ngay hai đứa con của Thiện
Hữu. Trong nháy mắt, Khất Tăng và Phước Tăng đến trước
mặt cha.
Thiện
Hữu vui mừng cực độ, hớn hở quay qua bảo Khất Tăng:
-
Con ơi! Con hãy theo cha về nhà đi con!
Khất
Tăng đáp:
-
Tôi nào có phải con của ông đâu, mà về! Tôi nguyên trước
là Triệu Ðình Ngọc, vì lấy trộm của ông mấy chục lượng
bạc, nên phải thác sanh vào nhà ông để trả món nợ ấy.
Tôi đã đền cho ông thập bội rồi! Tôi với ông có phải
là cha con đâu!
Thiện
Hữu nghe con cả nói thế, bèn nhẫn nhịn quay qua Phước Tăng
nói:
-
Anh con đã trở mặt nói nó là người dưng nước lã, vậy
thôi con trở về với cha đi con.
Phước
Tăng lạnh lùng đáp:
-
Tôi cũng vậy, nào phải con ông đâu! Tôi là kẻ đến đòi
nợ ông, đòi xong nợ là tôi đi. Có thế thôi!
Thiện
Hữu ngạc nhiên to tiếng bảo:
-
Mày nói sao? Cả đời tao có vay ai đâu, mà bảo là tao thiếu
nợ? Tụi bay không muốn về thì thôi, đừng hòng đặt chuyện!
Phước
Tăng cười ngạo mạn:
-
Ông có nhớ nhà ông đã đoạt của nhà chùa đến ngót trăm
lượng bạc không? Nay lại chối leo lẻo. Nè, sổ sách còn
ghi đây! Ông có biết tôi là ai không? Tôi là quỷ La Sát,
trước đây nhà sư trụ trì chùa Ngũ Ðài Sơn, đã bị vợ
chồng ông toa rập cướp đoạt số bạc mà Hòa Thượng đã
khổ công thu thập của bá tánh để làm chùa đấy! Bởi lẽ
đó Diêm Vương cho tôi đầu thai vào nhà ông đòi lại, và
đã phá tan tài sản của nhà ông cho đúng luật quả báo.
Tôi nào phải con ông đâu mà về?
Thiện
Hữu nghe nói tới đó liền hoảng hốt, run lẩy bẩy, nói
ấp úng:
-
Trời ơi! Tôi lại đi cướp của nhà chùa sao? Ðể tôi hỏi
lại vợ tôi là Lý thị xem sự thật ra thế nào?
Diêm
Vương ngồi trên ngai, biết rõ ý của Thiện Hữu, liền ra
lệnh cho quỷ sứ mở cửa hỏa ngục, dẫn Lý thị lên hầu.
Một
lát sau, Thiện Hữu thấy Lý thị bước ra, tay chân đều bị
xiềng, cổ mang gông, bước chân đi không nổi, bọn quỷ sứ
phải nắm dây sắt lôi đi đến trước mặt Diêm Vương.
Thoạt
trông thấy vợ, Thiện Hữu kinh hoàng, mồ hôi ra dầm dề,
toàn thân nổi da gà, mở miệng hỏi nhỏ:
-
Bà đó phải không? Tại sao bà chịu cực hình khốn khổ như
vầy?
Lý
thị bật khóc, nói:
-
Ông nó ơi! hồi ở dương gian tôi đã chiếm đoạt số bạc
của nhà sư chùa Ngũ Ðài Sơn. Sau khi chết, tôi đã bị liệng
xuống 18 từng địa ngục, chịu xiềng xích, chết lần chết
mòn như vầy! Ðau đớn lắm ông ơi!
Nói
rồi, mụ ta níu lấy áo chồng, khóc rống lên rất thảm thiết.
Diêm
Vương ngồi trên ngai, cầm cái chày linh đập xuống bàn nghe
chát lỗ tai. Trương Thiện Hữu giật mình thức dậy, mới
biết là mình đã trải qua một cơn ác mộng. Ông hoàn hồn,
bình tĩnh một hồi, rồi lau sạch nước mắt suy nghĩ, hiểu
rõ nguyên do nghiệp chướng của mình phải trả đúng theo
lẽ báo ứng tự nhiên của trời đất.
Sau
đó, Trương Thiện Hữu trở về nhà, thu xếp mọi việc xong
xuôi, từ giã xóm làng, ăn mặc nâu sồng, vào chùa tu cho đến
lúc trăm tuổi già.
NGUYỄN
VĂN Y
Ðạo
trời báo phục Nhà Xuất Bản Trẻ 1989
Của
làm ra để trên gác
Của
cờ bạc để ngoài sân
Của
phù vân để ngoài ngõ