Phần
7
31/
Tôn giả Nan Ðà
32/
Chuyện chàng Xơ Ri Ma Ti
33/
Vua Quang Minh
34/
Con Nhền nhện
35/
La Vân Châu
Tôn
giả Nan Ðà
Tôn
giả Nan Ðà là người em trai cùng cha khác mẹ với đức Ðạo
sư. Tôn giả xuất gia ngay trong ngày hôn lễ, trong một phút
bốc đồng hơn là phát tâm cầu đạo. Vì thế chỉ được
vài hôm đầu, Tôn giả cảm thấy nhớ nhung nếp sống vương
giả và nhất là vị tân nương mới cưới. Tôn giả nhất
định hoàn tục nên tìm đến Ðức Phật ngỏ ý:
-
Bạch Thế Tôn! Con không thể nào tiếp tục sống đời xuất
gia trong sạch như vỏ ốc được. Bất cứ lúc nào và ở
đâu, con cũng nhớ đến hình bóng diễm lệ của tân nương.
Con còn nhớ rõ, lúc con theo Thế Tôn ra khỏi kinh thành, nàng
hối hả chạy theo, tóc mới chải được một nửa, lệ tuôn
đầy má, kêu thất thanh:
-
Hỡi Hoàng tử yêu quý! Mau về với em, không có chàng thì
em sẽ chết mất... con lo ngại cho nàng quá.
Ðể
khuyến khích người em trẻ tuổi, đức Ðạo sư bèn dùng
thần thông, khiến Nan Ðà được trông thấy hình bóng của
một số tiên nữ trên cung trời Ðâu Suất. Sau đó Ngài hỏi
sư:
-
Này Nan Ðà! Những tiên nữ này có đẹp bằng Tân Nương hay
không?
Tôn
giả bối rối:
-
Bạch Thế Tôn! Tân nương Ka Lỳ A Ni của con tuy là hoa hậu
của thành Ca Tỳ La nhưng so với tiên nữ trên, nàng vẫn kém
xa.
-
Vậy thì, này Nan Ðà, nếu em cố gắng tu hành, không đòi
hoàn tục nữa... thì khi nào đắc đạo, Như Lai sẽ đền
bù cho em 500 tiên nữ xinh đẹp như thế. Còn Tân Nương em
chớ bận tâm về nàng ta nữa. Phụ hoàng và đình thần sẽ
sắp xếp cho Ka Lỳ A Ni tìm chỗ trao thân gởi phận xứng
đáng cả rồi.
-
Bạch Thế Tôn! Con rất an tâm khi được chuẩn hứa như thế.
Con sẽ ở lại tinh cần tu tập để được 500 tiên nữ...
không đòi về hoàng cung nữa.
Và
Tôn giả Nan Ðà ở lại, tinh cần tu tập, không bao lâu Ngài
đắc A La Hán quả. Khi về gặp đức Ðạo sư để báo
tin thành quả tốt đẹp của mình, Tôn giả cung kính
thưa:
-
Bạch Thế Tôn! Xin ngài hủy bỏ lời hứa đền bù cho con
500 tiên nữ cõi trời.
-
Lành thay Nan Ðà! Như Lai rất hoan hỷ khi được hủy bỏ một
lời hứa như vậy.
Trưởng
lão kệ còn ghi lại bài thơ của Tôn giả đã làm sau khi đắc
đạo như sau:
“Có
một thuở nào - Vừa dễ duôi vừa nông cạn
Tâm
trí của ta - Chỉ chăm chú vào lòng can đảm được biểu
hiện bên ngoài.
Ta
thật nhẹ dạ và nông nổi
Tất
cả những tháng ngày đều bị tiêu phí trong nhục dục phóng
đãng và si tình”.
Nhưng:
Nhờ
lòng từ bi quảng đại của Ðức Thế Tôn
Ta
đã được dẫn dắt
Từ
Hoàng cung đến đời sống cao này.
Nhờ
thế :
Ta
được thoát ra khỏi vòng sinh tử triền miên và chứng đạt
Niết Bàn”.
“Ðường
về cõi Phật rộng bao la
Con
nguyện cầu xin Ðức Phật Ðà
Chỉ
nẻo cho con tìm ánh Ðạo
Tránh
niềm tục lụy lắm phong ba”.
Chuyện
nàng Xơ Ri Ma Ti
Ngày
xưa, lúc Ðức Phật còn tại thế, một hôm, Ngài ngự cùng
chư Tỳ kheo gần thành Vương Xá trong vườn tre.
Lúc
ấy, trong thành Vương Xá, vua Tần Bà Ta La đương trị vì.
Ðất nước của vua sung túc, phú cường, dân chúng an cư lạc
nghiệp, không tranh chấp, không làm hại lẫn nhau, chẳng hay
bịnh hoạn đau đớn. Cây trái thạnh mậu, thú vật sanh sôi
nẩy nở. Vua là bậc minh chúa, ưa đạo đức, mến phong hóa
và lấy đức công bình trị dân. Hay Phật ngự đến, vua và
quyến thuộc quy y thọ giáo, và nhờ đó thấu đạt chân lý.
Nhằm
tiết xuân sang, trăm hoa đua nở. Trong rừng, các loài chim thi
nhau ca hát vui mừng. Vua và Hoàng hậu, có cung phi mỹ nữ theo
hầu, xuất hành ngự đến vườn hoa trong Rừng Tre. Cung phi
tâu:
-
“Tâu bệ hạ, ban ngày chúng tôi không thể đến hầu Phật.
Vậy xin bệ hạ cho lập trong cung một ngọn Tháp thờ tóc
và móng tay của Ðức Thế Tôn. Chúng tôi sẽ được vọng
bái thường thường và cúng dường Phật các thứ bông hoa,
hương thơm, tàn lọng, cờ phướn”.
Vua
Tần Bà Ta La bèn đến bạch Phật: “Cúi xin Ngài ban cho chúng
con tóc thừa và móng tay dư để thờ. Chúng con định xây
một ngọn Tháp trong cung để phụng thờ Thế Tôn. Ðức Phật
ban tóc và móng tay cho vua. Rồi đó, vua Tần Bà Ta La và các
bà phi rất cung kính, cho xây một ngọn Tháp thờ tóc và móng
tay của Phật, ở ngay giữa Hoàng cung. Từ đó, các bà phi
thường vào Tháp dùng đèn, hương hoa, cúng dường Ðức Phật.
Kịp
đến khi Thái tử A Xà Thế, vì nghe theo lời xúi biểu của
Ðề Bà Ðạt Ða mà giết cha là Tần Bà Ta La và soán ngôi,
thì sự thờ cúng trong Tháp bị cấm ngặt. Tân vương ra chỉ
thị: “Không ai được cúng gì trong Tháp thờ Thế Tôn”.
Từ đó trở đi, đến ngày rằm, không một ai quét dọn trong
Tháp cũng chẳng ai đốt đèn, thắp hương và dâng hoa. Trước
cảnh đìu hiu lạnh lẽo ấy, những người trong cung, chạnh
nhớ đến Tiên vương Tần Bà Ta La, đồng khóc kể rất đau
thương: “Bạc phước thay cho chúng ta! Vì đức vua Pháp (chỉ
Tần Bà Ta La) mất đi cho nên chúng ta mới chẳng tạo được
công đức”. Tuy vậy, trong đám cung phi có một cô tên Xơ
Ri Ma Ti không kể mạng mình, một lòng niệm nhớ đức Phật,
can đảm vào Tháp và dọn quét.
Lúc
ấy A Xà Thế, đứng trên nóc đền bằng thẳng, trông thấy
ánh sáng rực rỡ, phán hỏi: “Gì lạ thế”. Một bà phi
đáp: “Ánh sáng ấy do cô Xơ Ri Ma Ti thắp đèn trong Tháp
thờ tóc và móng tay Phật ánh ra”. Vua cho đòi thể nữ đến
: - Sao ngươi dám cãi lịnh ta? Thể nữ đáp: Tôi đành cam
cãi lịnh ngài, nhưng tôi làm theo lịnh vua Pháp, đức Tần
Bà Ta La. Vua giận giữ, liền ném vào đầu thể nữ một cái
dĩa sắt. Thể nữ chết ngay. Trong khi thác, lòng đang hoan lạc
tưởng niệm Ðức Thế Tôn nên thể nữ được sanh lên cõi
tiên, miền Ðao Lợi.
Tiên
nữ thấy rằng sở dĩ được phước là nhờ cúng dường
Ðức Phật. Nàng bèn định đến hầu Phật. Trang điểm thanh
tịnh, đeo đồ trân bảo, ướp chiên đàn và trầm thủy,
mặc đồ đẹp trên cảnh thượng tiên, lại bọc thêm hoa
Mạn Ðà La, nàng hiện thân đến chầu Phật. Hào quang Tiên
nữ chói khắp cảnh vườn, chỗ Ðức Thế Tôn ngồi. Nàng
rải hoa mừng Phật và làm lễ ngồi trước Phật nghe thuyết
pháp. Ðức Thế Tôn giảng cho nghe vừa với sức hiểu biết
của nàng. Tiên nữ rất vui mừng, hân hạnh được thêm phước
đức, như người buôn bán được lợi. Nàng lậy chào Phật
và lui về tiên cảnh.
Ðêm
ấy, chư Tỳ kheo thức tham thiền, bỗng thấy hào quang chói
cả rừng tre. Sáng lại các ngài hỏi Phật. Ðức Thế Tôn
giải rằng: “Hào quang ấy của một Tiên nữ, nguyên là cung
phi trong đền vua Tần Bà Ta La. Chẳng tiếc thân mạng, nàng
đã vi phạm lời ngăn cấm của vua A Xà Thế, vào Tháp thắp
đèn cúng dường Như Lai, vì lòng niệm nhớ công đức Phật.
Vua A Xà Thế nổi giận giết nàng. Trong khi thác, nàng không
quên niệm tưởng Phật nên được sanh làm Tiên tịnh lạc
nơi miền Ðao Lợi.
Hồi
hôm này, Tiên nữ đến hầu ta, được nghe ta thuyết pháp
và thấu hiểu chân lý. Xong, nàng mới trở về Tiên cảnh.
-
“Này chư Tỳ kheo, vậy các ngươi phải biết điều này:
Nên tôn trọng, tán thán, cúng dường Phật, sống đời mà
thờ Phật”.
Phật
thuyết xong, chư Tỳ kheo lấy làm vui mừng, hoan lạc.
TRÍ
GIẢI
“Máu
ai đổ xuống đất này
Ðể
cho đạo pháp đêm ngày nở hoa”
Vua
Quang Minh
Về
đời quá khứ lâu xa đã trải qua vô số a tăng kỳ kiếp,
bấy giờ ở cõi Diêm Phù Ðề này, có một ông vua tên là
Ðại Quang Minh, vua là người rất phước đức thông minh trí
tuệ, có đủ vương tướng. Lúc ấy ở biên cảnh, có một
vị quốc vương là người đối với vua Quang Minh rất mực
thân hậu, nên mỗi khi ở trong nước đó có thứ gì thiếu
thốn vua Quang Minh cũng cho người đem qua tặng, để đáp lại,
vua nước biên cảnh kia, hễ trong nước có thứ gì quí, cũng
lại đem sang biếu cho vua Quang Minh.
Một
hôm vua nước biên cảnh kia, đi săn được một con voi con
rất đẹp, sắc trắng như pha lê, trong lòng rất vui mừng,
và tự nghĩ: “Ta sẽ đem biếu cho vua Quang Minh”. Nghĩ như
thế rồi, vua lấy các thứ châu báu như vàng bạc trân bảo,
trang sức cho voi, xong rồi, sai người đem đến tặng vua Quang
Minh.
Vua
Quang Minh xem thấy, lòng rất vui mừng, liền bảo Quản tượng
tên là Tản Xà: “Nay ta giao cho nhà ngươi trông nom dạy bảo
con voi này, khiến cho nó được điều thuận”.
Tản
Xà phụng giáo. Không bao lâu voi đã được điều thuận. Tản
Xà đến tâu vua: “Nay tôi dạy voi đã được điều thuận
rồi, xin vua ra xem thử”. Vua nghe nói thế, tâm rất vui mừng,
hạ lệnh đánh trống, hội họp các quần thần, để vua xem
thử voi.
Khi
đại chúng đã tụ họp đông đủ rồi, vua bước lên
cưỡi voi, trông oai nghiêm rực rỡ như mặt trời mới mọc.
Vua cùng với thần dân, đồng ra ngoài thành du ngoạn, toan
đến thí trường, nhưng lúc ấy, vì voi khí lực cường tráng,
vừa trông thấy đàng xa một đàn voi đang ăn ngó sen dưới
ao, dục tâm phát động, tức thì chạy lồng lộn đuổi theo
những con voi cái trong bầy. Ðoàn voi chạy vào rừng sâu, voi
bạch đuổi theo làm cho áo mũ của vua bị rách nát, rơi mỗi
nơi một mảnh, còn vua thì đầu tóc mặt mày đều bị những
cành cây đâm cà xây xát chảy máu. Vua đâm lo hỏi Quản tượng:
“Ta nay liệu có cách gì sống thoát được không?”. Quản
tượng đáp: “Nếu vua thấy có cành cây nào có thể bám
được, vua hãy bám lấy, rồi leo xuống đất, thì mới có
thể sống được”. Vua liền bám được cành cây, rồi leo
xuống đất ngồi, tự thấy áo mũ mất hết, thân thể bị
thương tích, đau đớn nhức nhối, thêm ở giữa chốn rừng
sâu, không còn biết phương hướng để tìm lối ra nữa.
Nhưng
sau đó, Quản tượng cũng bám được cành cây, và thoát khỏi
tai nạn, trở lại tìm vua. Khi thấy vua ngồi một mình sầu
não thê thảm, Quản tượng khấu đầu tâu vua: “Xin đại
vương chớ nên buồn rầu, con voi ấy khi dục tâm đã hết,
lại chán những thứ cỏ hôi nước đục, nó sẽ nhớ lại
những thức ăn ngon ngọt trong sạch ở nơi vương cung, tự
nhiên nó sẽ trở về”.
Vua
bảo Quản tượng: “Ta nay không muốn nghĩ đến ngươi và
con voi ấy nữa, vì con voi ấy mà tính mạng ta gần nguy hại”.
Khi
ấy các quần thần đều lo sợ cho vua, bèn cùng nhau tiến
vào rừng, theo dõi dấu vết tìm vua, hoặc có người nhặt
được áo mũ của vua, hoặc thấy những giọt máu rơi, lần
hồi mới gặp thấy vua, rồi họ đem một con voi khác để
vua cưỡi trở về cung. Khi về tới nơi, nhân dân trong thành,
thấy vua mắc phải tai nạn đau đớn như thế ai cũng buồn
rầu!
Bấy
giờ con cuồng tượng ấy ở ngoài đồng, ăn những thứ cỏ
hôi, uống nước dơ bẩn, thì dục tâm tự tắt, nó bỗng
nhớ đến những thức ăn uống ngon ngọt ở trong vương cung,
rồi nó đi như bay trở về chỗ cũ. Quản tượng thấy voi
trở về, đến tâu vua: “Tâu Ðại Vương, con voi mất khi
trước, nay nó đã trở về, xin vua ra xem”. Vua nói: “Ta không
dùng ngươi và con voi ấy nữa”. Tản Xà tâu vua: “Vua không
dùng tôi và voi ấy, nhưng xin vua hãy xem qua phương pháp tôi
điều phục voi thôi”. Vua bằng lòng, và cho người bày tòa
ngồi ở đó, chứng kiến phương pháp điều phục voi của
Quản tượng.
Tin
ấy được truyền đi, tất cả nhân dân trong nước nghe tin
Quản tượng muốn cho vua thấy phương pháp điều phục voi
đều nô nức kéo đến thí trường đông đúc như ngày hội
lớn. Lúc ấy, vua cùng đại chúng theo hầu ra ngoài thành,
và tiến đến tòa ngồi. Quản tượng Tản Xà đem con voi đến
hội trường khiến thợ làm bảy viên sắt, nung đỏ, tự
nghĩ nếu con voi ấy nuốt những viên sắt này, quyết định
sẽ chết, Quản tượng mong vua đổi ý nên mới tâu vua: “Con
bảo tượng này, chỉ vua Chuyển Luân Vương mới có mà thôi,
nay nó mới có một lỗi nhỏ, không nên làm cho nó chết thì
thật quá uổng! Vua bảo Tản Xà: Voi nếu chưa được điều
phục, chẳng nên để ta cưỡi, và nếu nói đã điều phục
tại sao lại xảy ra sự tình như thế? Nay ta không dùng ngươi
và cũng không dùng con voi ấy nữa!”. Quản tượng tâu vua:
“Vua không dùng tôi, tôi cũng đành cam chịu, chứ con voi này
mà vua không dùng thì thật là đáng tiếc lắm! Lúc ấy đại
hội ai nghe thấy thế cũng đều chảy nước mắt, chăm chú
nhìn con voi sẽ bị hành tội kia mà trong lòng chứa chan niềm
thương xót! Quản tượng ra hiệu bảo voi phải nuốt hết
những viên sắt nung đỏ này, nếu không ta sẽ dùng búa bổ
vào đầu ngươi cho đến chết. Voi đoán biết được ý của
quản tượng, nó tự nghĩ: “Ta thà nuốt viên sắt này mà
chết, còn hơn để chết bằng những lưỡi búa, khổ đau
khó nhẫn; như người tự thắt cổ mà chết chứ chẳng muốn
để cho người khác thiêu đốt mà chết!”. Voi liền quì
hướng về chỗ vua, nước mắt chảy ròng ròng, tỏ mong vua
thương hại tha thứ, nhưng vua lại càng thêm phẫn nộ, ngoảnh
mặt trông đi nơi khác, không một chút đoái hoài. Tản Xà
bảo voi: “Cớ sao ngươi lại không chịu nuốt những viên
sắt này?”. Lúc ấy con voi nhìn quanh cả bốn phía, và biết
rằng không ai có thể cứu sống nó được, rồi nó tự lấy
những viên sắt ấy bỏ vào trong miệng mà nuốt, ruột gan
bị cháy sém mà chết, chẳng khác lấy chày bằng kim cương,
đập vào quả núi pha lê, cho đến khi những viên sắt ấy
rơi ra đất cũng vẫn còn đỏ rực. Bấy giờ trong hội thấy
thế, ai cũng thương đến chảy nước mắt. Vua trông thấy,
rất kinh ngạc, triệu Tản Xà đến hỏi rằng: “Ngươi điều
phục được voi như thế, tại sao khi ở trong rừng lại không
chế ngự được nó?”. Bấy giờ người ở cõi trời Tịnh
Cư, biết vua Quang Minh, hợp lúc có thể phát tâm Bồ Ðề,
liền dùng thần lực, khiến Quản tượng quỳ tâu với vua
rằng:
- “TÔI
NAY CHỈ CÓ THỂ ÐIỀU PHỤC ÐƯỢC THÂN VOI, CHỨ KHÔNG THỂ
ÐIỀU PHỤC ÐƯỢC TÂM VOI”.
Vua
hỏi:
- “VẬY
CÓ AI ÐIỀU PHỤC ÐƯỢC THÂN CẢ TÂM KHÔNG?”.
Tâu
Ðại Vương:
- “CHỈ
CÓ PHẬT THẾ TÔN, KHÔNG NHỮNG ÐIỀU PHỤC ÐƯỢC THÂN, MÀ
NGÀI CÒN ÐIỀU PHỤC ÐƯỢC CẢ TÂM NỮA”.
Vua
Quang Minh vừa nghe đến danh hiệu Phật, trong lòng xiết nỗi
kinh ngạc, chân lông dựng đứng, bảo với Tản Xà rằng:
“Ngươi vừa nói đến Phật, vậy ngươi có biết Phật thuộc
về dòng giống họ nào mà sanh ra không? Tản Xà tâu vua: “Phật
Thế Tôn từ hai dòng họ mà sanh ra: Một là dòng giống TRÍ
TUỆ, hai là dòng giống TỪ BI. Ngài siêng năng làm sáu việc,
gọi là lục Ba La Mật, công đức trí tuệ đầy đủ nên
gọi là Phật, đã tự hay điều phục được mình, lại hay
điều phục hết thảy chúng sanh”.
Vua
nghe Tản Xà nói như thế, trong lòng hớn hở vui mừng, liền
trở về cung, tắm gội sạch sẽ, vận y phục mới, lên trên
lầu cao hướng lễ cả bốn phương, sanh đại bi tâm thương
xót tất cả chúng sanh và đốt hương thệ nguyện: “Nguyện
tôi ngày nay làm được chút phước đức gì, tôi đều hướng
về Phật Ðạo cho tới khi nào tôi thành Phật, tự điều
phục được tâm mình, cũng sẽ điều phục cho hết thảy
chúng sanh, nếu còn sót một chúng sanh nào mà bị đọa đầy
ở nơi địa ngục chịu khổ, tôi sẽ nguyện vào ở trong
đó đề cứu vớt, và làm những việc lợi ích cho chúng sanh,
thoát khỏi mọi điều khổ não, và tôi thệ nguyện trọn
đời không bỏ tâm Bồ Ðề”.
Khi
vua phát lời đại nguyện lớn lao như thế, quả đất đều
rung động, nước ở các đại hải đều dâng trào, trên hư
không tự nhiên có vô lượng chư Thiên trỗi các thiên nhạc,
ca ngợi Bồ Tát, mà xướng lớn lên rằng: “Như việc làm
của Ngài, không bao lâu sẽ thành Phật, khi nào Ngài thành
Phật nguyện sẽ độ cho chúng tôi. Khi ấy cũng sẽ có phần
được dự vào pháp hội của Ngài.
Phật
bảo các Tỳ kheo: “Con bạch tượng lúc bấy giờ nay là ông
Nan Ðà, Quản Tượng nay là ông Xá Lợi Phất, còn vua Quang
Minh nay là thân ta ngày nay vậy. Ta thấy việc điều phục
voi mà phát Ðạo Tâm, cần cầu Phật Ðạo”.
Bấy
giờ đại hội, nghe Phật khổ hạnh như thế, có người chứng
được bốn đạo quả, có người phát Ðại Ðạo Tâm, có
người xuất gia tu hành, và ai cũng hoan hỷ tin kính thực hành
theo lời Phật chỉ dạy.
CHÍNH
TIẾN
“Làm
chủ được thân, tức là làm chủ được ngôn ngữ. Làm chủ
được cái ý, tức là làm chủ được cái tâm. Kẻ học đạo
nào tự chủ được thân tâm, sẽ thoát khỏi mọi nỗi khổ
não”.
Con
nhền nhện
Ngày
xưa, có một vị sư tọa thiền rất chuyên cần tinh tấn.
Trải qua nhiều năm tu tập, một ngày nọ trong lúc tọa thiền,
sư thấy một con nhện to bự giăng tơ trước mặt ông. Càng
lúc nó càng lớn và xích tới gần ông một chút, cho đến
khi nó án ngữ cả vòm trời tâm thức. Tám cái chân của nó
giăng ra đe dọa, như sẵn sàng vồ lấy nhà sư mà nuốt chửng.
Bốn mắt nhìn nhau quái đản, kinh hoàng. Sư nhiếp tâm chánh
niệm, nhưng hình ảnh con nhền nhện càng rõ hơn. Mở mắt
đã thấy rõ mà nhắm lại rõ hơn bội phần. Sư toát mồ
hôi hột, định thần quán không quán giả. Nhưng quán không
mà con nhền nhện vẫn có sờ sờ ra đó, quán giả thì đã
đành là giả nhưng mà... run vẫn cứ run. Sư bèn đổi pháp
môn, quay ra niệm Phật, bắt ấn giữ quyết, trì niệm thần
chú cầu chư Phật Bồ Tát, Thiên Long bát bộ đến cứu mình
ra khỏi con nhền nhện ác ôn này. Nhưng, mặc dù sư đã bắt
ấn đủ kiểu, mật niệm đủ thứ thần chú nổi tiếng trừ
tà rất linh nghiệm, mà con nhền nhện vẫn cứ ỳ ra đấy,
càng lúc càng gần nhà sư hơn, càng đe dọa hơn. Sư đành
phải chịu thua, xả thiền đứng dậy. Hình ảnh ghê rợn
của con nhền nhện trong thời thiền định vẫn ám ảnh sư.
Sư trở nên thẫn thờ suy nhược như người mất hồn. Quá
đau khổ, nhà sư đi đến vị thầy trình bày tự sự. Vị
thầy hỏi sư:
-
Bây giờ ông tính thế nào?
-
Bạch Thầy, con đã làm đủ mọi cách, nhưng con nhền nhện
vẫn trơ trơ ra đó. Con nghĩ rằng, phải giết quách nó đi
mới tu hành được, con định bụng, sẽ để sẵn một con
dao bén. Chờ nó tới thì con đâm cho nó một dao rồi đời.
-
Ông tính vậy cũng được, nhưng trước khi đâm con nhền nhện,
ông hãy gạch dấu chữ thập bằng phấn trắng ở ngay cái
chỗ mà ông định thọc con dao. Vào thời tọa thiền kế tiếp
ông sẽ đâm nó cũng không muộn.
Vị
sư nghe lời, cáo từ thầy trở về tọa thiền. Lần này ông
thủ sẵn một viên phấn trắng, chờ con nhền nhện xuất
hiện, ông cầm phấn gạch ngay một dấu chữ thập vào bụng
nó. Sau khi xuất định, ông trở lại yết kiến vị thầy,
bày tỏ ý chí cương quyết giết con nhền nhện vào giờ tọa
thiền kế tiếp. Vị thầy bảo:
-
Ðược nhưng ông hãy vén áo cho tôi xem thử. Vị đệ tử
ngạc nhiên nhưng đành phải vâng lời thầy. Ông mở áo ra
cho thầy xem, và lạ thay trên bụng mình, ông bỗng thấy một
dấu chữ thập bằng phấn trắng... do chính ông đã gạch,
ông nhân đó hoát nhiên đốn ngộ.
THÍCH
NỮ TRÍ HẢI
“Thông
thường chướng ngại mà ta nghĩ là ở ngoài tới kỳ thật
nó ở ngay trong ta. Khi tách biệt nó và ta xem nó như thù nghịch,
muốn hủy diệt nó, thì coi chừng ta hủy diệt ngay chính mình”.
La
Vân Châu
Thuở
Phật còn tại thế, có một thầy Tỳ kheo số phận hẩm hiu,
từ lúc mới sanh cho tới khi tu hành chứng quả, chưa khi nào
thầy được một bữa no lòng. Vì thiếu sinh tố dinh dưỡng,
nên người thầy trông ốm o, lều khều, nước da mét mét,
trong lòng lúc nào cũng đói meo, thật thiểu não.
Tuy
trong lòng trống trơn như vậy, nhưng thầy vẫn siêng năng
tu hành. Mỗi sáng thầy dậy thật sớm, cần mẫn trong công
việc của chúng tăng, rồi sau đó thầy đắp y, mang bát vào
thành khất thực. Thầy lần lượt đến nhà này đến nhà
kia, hết xóm này đến xóm khác, nhưng chẳng ai cúng cho thầy
một tí đồ ăn nào cả. Ðến đâu họ cũng đóng cửa, hoặc
lẩn tránh nơi khác, cho đến khi hết buổi, thầy buồn bã
ôm bát trở về. Có khi năm bảy hôm mới được một bữa
tàm tạm để cầm hơi. Dù vậy, thầy không bao giờ nản lòng,
thối chí, thầy biết do nghiệp lực nhiều đời của thầy
đã tạo, nên thầy càng dõng mãnh tinh tiến tu hành hơn. Ðối
với bổn sư của thầy – Ngài Xá Lợi Phất, thầy hết lòng
hầu hạ, đối với các vị Trưởng lão kỳ túc, thầy luôn
luôn tôn kính, đối với bậc ngang hàng hoặc nhỏ hơn, thầy
luôn luôn từ hòa nhu thuận. Ai cũng mến thầy, nhưng vì nghiệp
lực chẳng ai giúp gì được cho thầy.
Một
hôm thấy thầy mệt lả vì cơn đói hoành hành, Ngài Xá Lợi
Phất sau khi khất thực về dành phần cho thầy, nhưng thương
thay, cơm vừa để vào bát liền hóa thành đất bùn. Ngài
Mục Kiền Liên thấy thế liền vận thần thông cho cơm vào
bát, nhưng oan nghiệt lạ, từ trên không một con chim to tướng
bay rớt xuống gắp phần cơm đi mất, thần thông của Ngài
Mục Kiền Liên cũng không làm sao thắng được nghiệp lực,
đành đứng mà nhìn. Ðến phiên Ngài Ca Diếp, thương lòng,
đem cơm đến và tự mình bốc cơm đưa vào miệng cho thầy,
nhưng cơm vừa đến miệng, thì miệng thầy tự nhiên ngậm
lại chẳng chịu hả ra, nên không ăn được.
Từ
nơi Tịnh Xá, Ðức Thế Tôn biết được tình trạng của
thầy La Vân Châu như vậy, Ngài đi đến và dùng bi lực trao
đồ ăn cho thầy, nhờ bi lực của Thế Tôn, đồ ăn ấy trở
thành vị cam lồ, thầy vừa đưa vào miệng đã thấy một
niềm hoan lạc vô biên. Sau khi dùng cơm xong, Ðức Thế Tôn
nói pháp cho thầy nghe, quá cảm xúc tấm lòng đại bi của
Phật, thầy thọ nhận pháp vi diệu ấy với cả thân tâm,
hoát nhiên chứng quả A La Hán.
Các
thầy Tỳ kheo chứng kiến cảnh ấy rất lấy làm cảm kích,
bạch Phật rằng:
-
Bạch Thế Tôn, La Vân Châu tu hành như vậy, nhưng vì sao mà
không khi nào thầy được no lòng cho đến khi chứng quả?
-
Này các Tỳ kheo, đây không phải là lần đầu tiên La Vân
Châu phải chịu đói khát, mà từ vô lượng kiếp, La Vân
Châu đã phải chịu rồi. Khi thì làm ngạ quỷ, khi thì súc
sanh, khi thì người, trải qua 500 kiếp không khi nào no lòng,
nhưng đến hôm nay, nhờ thầy tinh tấn tu hành, chứng quả
A La Hán thầy mới hết nghiệp.
Này
các Tỳ kheo, quả báo như thế cũng chỉ vì từ vô lượng
kiếp La Vân Châu đã lấy trộm đồ ăn của một vị Bích
Chi Phật, do quả báo ấy mà phải chịu đói khổ nhiều đời.
GIỚI
ÐỨC
“Nỗi
khổ bị thiêu trong ba đường dữ, nỗi khổ con lạc đà,
con lừa chở nặng, nỗi khổ bị đói khát áp bức chưa gọi
là khổ. Si mê không học, không biết hướng đi mới gọi
là khổ”.