Phần
6
Vợ
chồng đánh nhau
Người
gieo mạ
Chuỗi
Anh lạc
Giành
làm lớn
Sự
tích Cá He
Vợ
chồng đánh nhau
Ngày
xưa, có một đôi vợ chồng làm chủ một tiệm bán bánh.
Họ sống với nhau trong một bầu không khí thuận hòa, nhưng
đôi khi họ cũng sanh chuyện xích mích và thường gây lộn
với nhau.
Một
hôm, vì một sự bất hòa chi đó họ bắt đầu cãi nhau, lúc
đầu họ còn nói nho nhỏ nhưng sau dần dần càng sinh to chuyện.
Cuối cùng, người vợ thét lên lanh lảnh :
- Giết
tôi hả? Tôi không sợ anh đâu!
Người
chồng nói:
- Ðược
rồi! Nhất định tao giết mày!
Hai
người đánh nhau rất kịch liệt.
Ông
già bên hàng xóm vội chạy sang khuyên can họ, ông nói:
- Này
hai bác ơi! Làm gì mà đánh nhau dữ vậy? Có việc gì không
nên không phải hai bác hãy bình tĩnh mà chỉ bảo nhau, chứ
đừng nên làm thế người ngoài sẽ chê cười.
Nhưng
họ không thèm nghe lời ông già. Người vợ lại nói:
-Cứ
giết tôi đi!
Người
chồng trả lời:
-Hôm
nay nhất định tao không nhượng bộ đâu, không giết mày
không được!
Ông
già thấy lời khuyên can của mình không có hiệu quả, ông
liền đến trước cửa tiệm bánh của họ thu tất cả những
bánh trong tiệm rồi đem phân phát cho những người đang bu
lại xem họ đánh nhau. Hai vợ chồng thấy thế lập tức không
đánh nhau nữa, vội chạy ra hỏi:
-Ồ
kìa! Ông làm cái gì vậy? Nhà người ta buôn bán sao tự nhiên
ông lại đem lấy của chúng tôi cho không mọi người.
Họ
trừng mắt nhìn ông già và hấp tấp ngăn cản ông, không
cho ông lấy bánh nữa.
Ông
già thản nhiên nói:
-Vừa
rồi bác nói bác nhất định sẽ giết bác gái, mà giết bác
gái rồi tôi tưởng sau này bác cũng không thể nào sống được.
Vậy cả hai người sẽ đều chết và tiệm bánh này cũng
sẽ vô dụng, vì thế cho nên tôi đem bố thí hết các thứ
của hai bác để gây chút công đức cầu siêu cho hai bác đó.
-Không
được, nếu đem hết các thứ trong tiệm tôi mà cho người
ta rồi ngày mai chúng tôi lấy gì mà ăn đây.
Thôi
chúng tôi không đánh nhau nữa đâu!
Q.
Ð.
“Sự
giận giữ là cơn gió lớn làm tắt ngọn đèn thông minh”.
Người
gieo mạ
Một
buổi bình minh, ánh nắng vàng trải trên những thảm cỏ xanh
non bao trùm những vườn cây tươi tốt, muôn chim líu lo trên
cành, mọi ngườI sửa soạn ra đồng làm việc.
Ðức
Từ Tôn mặc y nghiêm trang, ôm bát khoan thai đi vào xóm để
khất thực, lúc Ngài đi ngang qua nhà của ông Bà La Môn giàu
có và danh tiếng nhất trong xứ tên là Ba Ra Va Da, Ngài bèn
dừng chân lại trong lúc lão Bà La Môn mang lễ vật ra sân
để cúng thần Nông.
Trước
dung mạo trang nghiêm và đầy vẻ từ bi của Ðức Phật, mọi
người đều tỏ vẻ kính trọng Ngài, người thì chắp tay
cúi đầu, kẻ thì nghiêng mình, người lại đảnh lễ sát
đất. Trước khung cảnh uy nghi ấy đã không phát tín tâm
Ba Ra Va Da còn phát sanh lòng sân hận, lão hét lên:
-Ồ,
này Sa Môn kia, tại sao còn khỏe mạnh, tay chân đầy đủ
lại đi xin ăn, sao lão không chịu làm lụng như bao nhiêu người
khác. Ta phải chịu cực khổ dầm sương giãi nắng cầy cấy,
gieo mạ hôm nay mới có cơm ăn. Nếu lão chịu khó làm lụng
như ta, thì lão cũng có cơm ăn vậy.
Ðức
Phật bèn từ tốn trả lời rằng:
-Ta
đây cũng cầy cấy gieo mạ, ta cũng có lúa ăn như ngươi vậy.
Ba
Ra Va Da cướp lời:
-Lão
dám mạo nhận là một người nông dân sao?
Ðức
Thế Tôn yên lặng không trả lời.
Người
Bà La Môn cất tiếng cười ngạo nghễ hỏi tiếp:
-Vậy
chớ trâu, bò, cầy, bừa và lá lúa giống của lão ở đâu?
Ðức
Phật bình thản giảng giải:
-Hột
giống của ta gieo là Ðức tin, những việc lành là mưa thuận
gió hòa thấm nhuần cho lúa càng ngày càng tốt tươi. Ý chí
dõng mãnh và nhẫn nại là cái cày, sự tinh tấn là con bò,
trí tuệ là sợi dây đàn, còn Ta cầm cán cân giới luật.
Ta
cầy cấy đặng trừ tuyệt cỏ xấu đang đâm chồi nẩy lộc
trong tâm của chúng sanh.
Lúa
của ta gặt là nơi an vui tuyệt đối bất sanh, bất diệt
đại niết bàn, nơi dứt tất cả sự thống khổ. Vốn là
một người thông minh và đã tạo nhiều thiện duyên từ nhiều
kiếp trước, Ba Ra Va Da nghe những lời giảng giải của Thế
Tôn xong được thấm nhuần như tấm vải trắng sạch nhuộm
ăn màu, như người bị ngã được đỡ đứng dậy, như ngọc
qúy bị giấu kỹ bỗng nhiên được phát hiện trí tuệ, Ba
Ra Va Da cung kính bạch Ðức Phật rằng:
-Tiếng
đồn thật không sai, Ðức Từ Tôn quả là ngọn đuốc sáng
để đưa chúng sanh từ chỗ tối tăm đến chỗ sáng suốt.
Nói
xong, Ba Ra Va Da vội lấy dĩa bằng vàng, đựng cơm đề hồ
(cơm nấu bằng sữa) đến thành kính sớt vào bát của Ðức
Phật và nói rằng:
-Kính
bạch Ðức Thế Tôn, xin Ngài hoan hỷ nhận lấy lễ vật mọn
này để con được gieo duyên lành cho kiếp vị lai.
GIỚI
ÐỨC
“Tam
Bảo là ruộng phước phì nhiêu cho chúng sanh gieo
giống”.
Chuỗi
Anh lạc
Ba
Lợi là người con trai rất chí hiếu, nội trong thôn xóm anh
ở ai cũng mến thương. Mồ côi cha ngay khi còn nhỏ, lớn lên
anh lại theo nghiệp của phụ thân làm nghề hàng hải, là
một nghề nhiều nguy hiểm hơn an toàn. Nên mỗi lần ra đi,
anh từ giã mẹ già thì mẹ anh không lần nào quên dặn con
phải luôn luôn chí tâm kêu cầu Bồ Tát Quán Thế Âm. Lần
này bà đeo vào cổ cho con một tượng Bồ Tát bằng ngà và
cũng dặn con lúc nào gặp nguy hiểm thì phải niệm Ngài cho
chí thiết.
Quả
nhiên chuyến đi này thuyền anh bị lạc hướng bởi một cơn
gió dữ thình lình. Trong thuyền 8, 9 người chơi vơi giữa
biển khơi đã hai ngày, nguy ngập nhất là khát nước. Giữa
biển mênh mông chỉ trời với nước, thế mà trong thuyền
khát nước đến gần nguy. Anh bình tĩnh bảo cả thuyền đều
phải nhất tâm kêu cầu Bồ Tát Quán Thế Âm cứu khổ cứu
nạn cho, thì may đâu từ xa xa có một chiếc thuyền đang hướng
về thuyền anh chèo đến, khi hai thuyền xáp nhau anh hỏi xin
nước uống. Người thuyền chủ đưa cả hũ nước ngọt cho
thuyền anh. Uống xong anh hết sức cảm tạ. Người thuyền
chủ hỏi anh, nước ở biển nhiều hay nước ở hũ nhiều?
Anh
đáp: nước trong hũ nhiều, vì nước biển tuy nhiều song không
thể uống được, nước ở hũ ít nhưng cứu được sự khát
ngặt cho người thì phước đức vô lượng.
Thuyền
chủ tán thán câu trả lời lý thú của anh, rồi tặng anh
một chuỗi ngọc châu quí giá và bảo: “Ta thưởng cho người
con chí hiếu”. Nói xong thì không thấy thuyền và người
đâu cả. Những người cùng thuyền anh rất cảm động và
tin tưởng mãnh liệt vào sự linh ứng của Bố Tát Quán Thế
Âm.
Về
nhà, anh thuật chuyện cho mẹ nghe, và dâng chuỗi ngọc châu
cho mẹ.
Thân
mẫu anh bảo: Chuỗi ngọc châu này là của vô giá, con nên
đem dâng vua, đừng bán.
Vâng
lời mẹ, Ba Lợi đem dâng vua.
Vua
Ba Tư Nặc được chuỗi ngọc châu quí giá rất mừng, tạ
anh nhiều vàng ngọc khác.
Cách
mấy hôm sau vua liền triệu tập các cung phi đến, ý vua nghĩ
để ta xem trong số cung nhân người nào đẹp nhất hôm ấy
ta sẽ thuởng.
Mấy
nghìn cung phi nghe vua đòi, ai nấy đều lo sửa soạn trang sức
cực kỳ lộng lẫy.
Thoạt
nhìn, không thấy Mạc Lợi phu nhơn (*) Ba Tư Nặc liền hỏi:
Sao không thấy đệ nhất phu nhân?
Các
cung phi thưa:
- Hôm
nay là ngày rằm, ngày của phu nhân thọ giới “Bát Quan Trai”
nên không đến được.
Vua
có ý giận, hỏi:
- Thọ
Bát quan trai mà dám trái ý trẫm ư?
Vua
cho đòi ba phen, Mạc Lợi phu nhân sợ, phải đến yết kiến.
Song vì ngày trai giới nên nàng không trang điểm gì cả, và
chỉ mặc một thứ hoại sắc.
Nhưng
nhờ nghiêm trì tịnh giới nên phu nhân có một nhan sắc thanh
khiết tỏa ra sáng chói như muôn ánh nhật nguyệt. Khi phu nhân
vừa bước vào chánh điện thì có hào quang tỏa khắp hoàng
cung. Thoạt thấy, vua rất ngạc nhiên, và sanh tâm ái kính
bội phần.
Vua
hỏi: Ái khanh nhờ oai đức gì mà hôm nay sắc đẹp lộng
lẫy bội phần?
Phu
nhân thưa: Thiếp tự tủi mình bạc phước lại sanh làm thân
nữ nghèo hèn (*) may nhờ ơn trạch của Ðại Vương nên thiếp
được dự phần sang quý. Nhưng thiếp nghĩ: thân mạng vô
thường dầu cho hoàng hậu, vương phi châu ngọc đầy mình
rồi cũng có ngày già, xấu, lại thêm bịnh hoạn theo liền,
khi chết lại bị nghiệp ác dắt dẫn đi vào con đường đau
khổ tội lỗi. Vì vậy, thiếp vâng theo lời Phật dạy mỗi
tháng thọ trì Bát quan trai giới trong các ngày trai tiết, thiếp
nguyện đem công đức ấy để hồi hướng cho nước nhà thịnh
trị, muôn dân an lạc, và khi xả báo thân thiếp khỏi bị
cái nghiệp phú quý mà sa đọa.
Vua
nghe, rất cảm kích và khen ngợi liền đem chuỗi anh ngọc
tặng phu nhân.
Mạc
Lợi phu nhân từ chối không nhận mà nhường lại cho các
cung phi.
Vua
đáp: Từ hôm được ngọc, trẫm đã định hôm nay vân tập
tất cả các cung phi xem ai đẹp nhất thì trẫm thưởng. Nay
thấy ái khanh nhan sắc thù thắng hơn các cung phi, thật hiệp
ý trẫm nên trẫm chỉ để tặng ái khanh.
Phu
nhân thưa: Thiếp nay thọ trì giới cấm của Phật giữ mình
thanh tịnh nên không ưa trang sức những thứ xa hoa, đấy là
các nhân gây ra tham lam tội lỗi. Vậy nay thiếp có ý kiến
là Ðại Vương nên đem chuỗi ngọc dâng lên Ðức Thế Tôn,
nhân dịp được lãnh lời giáo hóa của đức Từ Phụ để
về bổ túc thêm cho việc an dân thì phước đức vô lượng.
Vua
rất hoan hỷ liền sắc nghiêm sức xe giá, vua cùng Mạc Lợi
phu nhân và cả cung phi đồng yết kiến Như Lai. Hôm ấy là
ngày rằm, ngày chúng tăng thuyết giới vừa xong, vua vào bái
yết Ðức Thế Tôn rồi đem dâng chuỗi ngọc anh lạc lên
Ðức Phật và bạch cùng Ðức Phật về việc trì giới không
thọ chuỗi anh lạc của Mạc Lợi.
Ðức
Thế Tôn hoan hỉ doãn nạp (*) liền thuyết bài kệ rằng:
Người
đời ưa trang sức
Cho
ngọc châu là quý
Người
cầu đạo giải thoát
Lấy
giới luật làm hơn
Dù
ngọc ngà châu báu
Cùng
các thứ hoa thơm
Không
sao bằng giới luật
Có
năng lực đưa người
Ðến
tận bờ ly dục
Trường
từ ba cõi khổ
Quyết
định được an lạc
Ðức
Phật là đệ nhất phước điền (làm ruộng phước để cho
chúng sanh gieo công đức vào) nên ai cúng gì Ðức Phật cũng
không từ chối, dù một chuỗi ngọc quý giá của vua chúa
cũng như một nắm đất của em bé nghèo hèn.
THÍCH
NỮ THỂ QUÁN
“Giới
luật là anh lạc vô giá, trang nghiêm giáo lý vô thượng Phật
đà”.
Giành
làm lớn
Ngày
xưa, sau khi Ðức Phật nhập niết bàn không lâu, tại một
khu rừng nọ có một con rắn thật to, nhân dân trong xứ ấy
ai cũng sợ. Một bữa nọ, đầu và đuôi rắn ta tranh luận
với nhau:
Ðầu
bảo đuôi:- Ta đây thật đáng làm lớn.
Ðuôi
nói lại:- Chính ta mới thật là lớn.
Ðầu
nói:- Ta có tai để nghe, có mắt để thấy, có miệng để
ăn đầy đủ trí hiểu biết, lúc nào nên đi, lúc nào không
nên đi, chỗ nào nên tiến, chỗ nào nên thoái và khi nào ta
cũng đi trước. Còn mày, mày làm sao có những điều kiện
đó mà đòi làm lớn vậy ta làm lớn mới đúng.
Ðuôi
không chịu nghe, cãi lại:
-Như
mày nói tao không có những điều kiện ấy, thì thôi cũng
đành được đi, nhưng mày nên nhớ rằng khi nào tao khiến
mày đi thì mày mới được đi, chứ đâu phải mày muốn là
được. Nếu không muốn đi, tao dùng thân tao quấn chặt vào
cây luôn 3 ngày, thì xem mày có bò đi và tìm thức ăn được
không, hay bị đói khát mà chết khô, rồi bị người ta xách
đầu về ăn thịt.
Ðầu
nghe đuôi ngụy biện lớn lối như vậy, không biết phải
nói như thế nào để đuôi hiểu cho phải, nên buồn rầu
bảo đuôi:
-Này
đuôi, thôi mày nói như thế tao xin chịu thua. Vậy tao cho mày
làm lớn mày hãy đi trước đi.
Ðuôi
nghe đầu chịu thua, lòng mừng phấn khởi, ngoắt đuôi phóng
ngay nhưng vì chẳng thấy đường nên cứ bò quàng, bò xiên
bậy bạ không đường lối, cuối cùng bị rơi xuống hầm
lửa chết tươi.
Cũng
vậy, như trong chúng tăng, có hàng trưởng thượng đạo cao
đức trọng, đủ trí tuệ để phán quyết mọi việc, nhưng
gặp phải hàng hậu học sơ cơ ngu muội lại tự thị cho
mình là trí tuệ hơn người, nên tỏ ra khinh khi bậc trưởng
thượng tôn túc, không chịu nghe lời dạy bảo. Ðến nỗi
các ngài buồn phiền nói: “Thôi thôi tôi xin lỗi, các vị
tự ý muốn làm gì thì làm”.
Vì
vậy, những kẻ thiếu trí ngu si tự do làm theo ý mình tạo
các điều bất thiện, khi mạng chung đều đọa vào địa
ngục.
GIỚI
ÐỨC
Chỉ
có ngọn đèn dẫn đường cho chúng ta tới chỗ thành tựu
là ngọn đèn của kinh nghiệm.
Sự
tích Cá He
(cá
heo, cá nược)
Ngày
xưa, có một nhà sư trẻ tuổi rất ngoan đạo. Sau hơn ba mươi
năm khổ công tu luyện, sư thuộc lòng tất cả kinh kệ nhà
Phật, lại giỏi thuyết pháp. Vậy mà lâu rồi vẫn chưa thành
chánh quả. Sư bụng bảo dạ:- “Phải đến đất Phật một
phen mới có hy vọng thành Phật”. Nghĩ vậy, sư ta mới quyết
chí tìm đường sang Tây Trúc.
Ðường
đi từ nước nhà sang Tây Trúc ngày đó chưa có cách nào cho
thuận lợi. Việc giao thông hầu hết là đường bộ, mà đi
bộ thì thật là muôn vàn nguy hiểm. Nhưng nhà sư trẻ tuổi
quả quyết nhằm hướng tây tiến bước.
Cuộc
hành trình đã được năm mươi ngày. Nhà sư đã nhiều lần
lạc đường và mấy lần mê man vì sốt rét, nhưng nhờ được
giúp đỡ nên đều qua khỏi, và chàng cứ tiếp tục cuộc
hành trình.
Một
hôm, sư đến một khu rừng thì trời đã chiều. Sư cố bước
dồn, hòng tìm một nơi nghỉ vì trong người đã thấy ớn
rét. May sao giữa rừng sâu, sư bỗng gặp một ngôi nhà. Nghe
tiếng gọi cửa một bà cụ già bước xuống sàn. Sư tỏ
ngay ý định của mình là xin ngủ nhờ một đêm. Nhưng bà
cụ vừa thấy khách đã xua tay rối rít.
-Ði
mau lên! Mau Lên! Con ta mà về thì không còn tính mạng.
Sư
đáp:
-Tôi
bây giờ thật là kiệt sức, không thể nào bước được
bước nữa. Nếu không cho nghỉ thì cũng đành nằm liều trước
cửa đây thôi.
Bà
cụ bảo:
-Chao
ôi! Con ta vốn là Ác Lai hay ăn thịt người. Có đi nhanh lên,
bây giờ nó sắp về rồi đó.
Nhưng
sư đã vứt tay nải, nằm vật xuống đất. Hai đầu gối
va vào nhau chan chát. Bà cụ không biết nói thế nào nữa,
đành nắm tay y lôi đến một cái hầm đá lớn. Sau khi đẩy
vào, bà cụ bảo y phải cố giữ cho thật im lặng để tránh
một cái chết thê thảm. Ðoạn, bà cụ chất củi phủ lá
rất kín đáo.
Trời
tối hẳn thì Ác Lai về đến nhà, tay xách một con mang, hắn
dừng lại ở chân thang và khịt mũi mãi. Hắn nói:
-Có
mùi thịt mẹ ạ!
Mẹ
hắn đáp:
-Thì
chả là thịt mày đem về đây là gì?
-Không
phải. Thịt người. Con biết lắm. Có thịt người.
Bà
cụ chưa kịp cản thì hắn đã quẳng con mang lên sàn rồi
chạy đi tìm. Chả mấy chốc, hắn đã lôi được nhà sư
bất tỉnh nhân sự từ dưới hầm về nhà mình.
Khi
sư tỉnh dậy thì đã thấy Ác Lai đang cầm một mũi mác lăm
lăm ở tay. Hắn quát:
-Mày
đi đâu
Sư
nhìn kỹ thấy hắn cũng không khác gì người thường, bèn
tỉnh táo đáp :
-Tôi
đi tìm Phật.
-Tìm
để làm gì?
Sư
bây giờ mới nói rõ mục đích của mình. Rồi luôn miệng,
sư giảng giải đạo từ bi cho hắn. Sư nói mãi, kể lại
bao nhiêu ngày gian khổ của mình dọc đường, và niềm mong
muốn cuối cùng là làm sao được nhìn mặt Ðức Phật để
được thành đạo. Sư nói khéo quá, đến nỗi mẹ con Ác
Lai đều cảm động đến rơi nước mắt. Thấy họ thành
thật hối lỗi. Sư cho họ biết là họ cũng sẽ trở nên
“vô sinh vô diệt”, sẽ sống một đời sống vô cùng sung
sướng trên niết bàn, nếu họ kiên quyết bỏ ác làm thiện.
Tự nhiên mũi mác ở tay Ác Lai rơi xuống sàn. Những đường
nhăn hung ác lúc nãy bây giờ dịu lại.
Sáng
hôm sau, khi Sư sắp lên đường thì mẹ con Ác Lai vui vẻ sắp
sẵn lương thực cho chàng. Họ lại tiễn đưa Sư đi qua một
ngọn núi đá. Khi sắp từ biệt Ác Lai hỏi:
-Tôi
biết lấy gì mà dâng Phật đây?
Sư
đáp:
-“Tâm
tức thị Phật. Phật tức thị tâm”. Chỉ dâng tấm lòng
mình là đủ.
Sư
không ngờ Ác Lai đã rút mũi mác, nhanh như cắt tự rạch
bụng mình lôi ra cả một mớ ruột gan đưa cho sư và nói:
-Nhờ
Hòa thượng đưa hộ dâng lên Ðức Phật.
Sư
lấy làm bối rối quá. Chỉ vì Ác Lai hiểu nhầm lời nói
của mình. Bây giờ còn biết làm thế nào đây. Cuối cùng
Sư ta đành nhìn vào cặp mắt của Ác Lai, gật đầu nhận
lời rồi gói bộ lòng của người đáng thương đó lại và
quảy lên đường.
Sư
vừa đi được mấy ngày thì khu rừng rậm chấm dứt, hiển
lộ ra trước mặt mênh mông bát ngát. Nước trời một vẻ
trông rất vui mắt, nhưng trong bụng Sư thì chẳng vui một
tí nào. Món lễ vật của Ðức Phật đè nặng trên vai. Nếu
chỉ có thế thì không có gì là ngại cho lắm. Khổ một nỗi
là mùi thối trong bộ lòng kia xông ra khó tả. Sư đã bọc
nó ba tầng bốn lớp mà mùi thối vẫn nồng nặc. Sư lẩm
bẩm:- “Như thế này thì các nhà quán dọc đường còn ai
dám chứa mình”. Qua ngày hôm sau, không thể chịu được
nữa, Sư bèn vứt bộ lòng Ác Lai xuống biển.
Nhà
sư đi mãi rồi cũng đến Tây Trúc. Nhưng khi phủ phục trước
Phật đài nói lên nỗi thắc mắc của mình vì sao chưa được
đắc đạo thì bỗng nhiên trên điện cao có tiếng vọng xuống
bảo chàng: “Còn thiếu một vật nữa mới thành chánh quả”.
Sư rất đỗi ngạc nhiên, cố ngước mắt nhìn lên một tí.
Trên cao vòi vọi, Sư thấy Ðức Phật ngự giữa tòa sen sáng
chói, sau lưng có bóng dáng hai người tựa hồ như hai mẹ
con Ác Lai. Sư bỗng hiểu hết: Ðức Phật đã rõ sự thiếu
thành thực, thiếu tận tâm của mình rồi, còn mẹ con Ác
Lai nay đã thành chánh quả chỉ là nhờ sự ngộ đạo đột
ngột và chân thành trong phút chốc. Sư nằm phục vị hồi
lâu, trong lòng thẹn thò vô kể.
Nhà
sư ta sau đó trở về chốn cũ để tìm lại bộ lòng. Tuy
biển mênh mông và sâu kín, nhưng cũng cố lặn hụp để mong
thấy lại món quà dâng Phật mà Ác Lai gửi cho mình. Sư nghĩ
chỉ có làm thế mới dám nhìn lại mẹ con Ác Lai và hy vọng
gần gũi tòa sen đức Phật. Sư bơi lên lặn xuống mãi. Sau
đó sư hóa làm loài cá mà người ta vẫn gọi là cá he, cũng
gọi là cá nược hay có nơi gọi là cá ông sư. Vì cho đến
ngày nay dòng dõi loài cá đó con nào con nấy có cái đầu
trọc như đầu ông sư, và vẫn làm cái việc của nhà sư,
nghĩa là chúng đi hàng đàn, cứ lặn xuống nổi lên luôn
không chịu nghỉ.
Những
người đánh cá còn nói loài cá he rất ghét những ai trêu
chọc mình. Ai trêu chọc nghĩa là gợi lại chuyện cũ của
tổ tiên chúng nó, chúng nó sẽ làm cho đắm thuyền rách lưới.
Trái lại, ai khen ngợi reo hò thì chúng nó sẽ lặn xuống
nổi lên nhiều lần cho mà xem.
NGUYỄN
ÐỔNG CHI
Truyện
Cổ Việt Nam tập II
“Những
người không giữ đức “Thành tín” thì chỉ lừa gạt mọi
người được trong một thời gian nào đó thôi, tai hại nhất
là sau dù nói thật người ta cũng không tin”.