Phần
Hai
6/
Người làm mặt nạ
7/
Người chăn bò
8/
Chồn và sư tử
9/
Chim bồ câu và chàng đặt bẫy
10/
Quả cam oan nghiệt
Người
làm mặt nạ
Ngày
xưa tại kinh thành có người đàn ông sanh sống bằng nghề
chế tạo mặt nạ. Nhà ông bày la liệt những hình vẽ, những
khuôn mặt bằng giấy cứng đủ loại tướng mạo màu sắc
lòe loẹt, lúc nào sơn mực cũng bừa bãi khắp phòng.
Lúc
ấy ông đang nhận làm một mặt nạ ác qủy Dracula cho một
ban kịch lớn. Suốt mấy ngày đêm hì hục tô vẽ, cố gắng
làm nổi bật những nét đanh ác, ma quái cho khuôn mặt qủy.
Tình cờ một người bạn đến thăm, nói chuyện quanh co một
hồi. Người bạn ngạc nhiên thấy vẻ mặt chủ nhân có chiều
bực bội hắc ám, liền hỏi:
- Dạo
này tôi thấy khí sắc anh hơi sút kém, hay anh có việc gì
bực mình?
- Không
có gì cả.
Người
bạn không tin hỏi lại:
- Có
thật không anh?
Cuộc
nói chuyện mất hẳn hứng thú, nên một lát sau người bạn
đứng lên cáo từ.
Bẵng
đi một thời gian khoảng nửa năm, người bạn lại đến
thăm người làm mặt nạ. Vừa trông thấy chủ nhân, người
bạn reo lên mừng rỡ:
- Ồ!
Lúc này trông anh hồng hào tốt tướng hơn trước nhiều,
chắc hẳn anh đã được nhiều điều may mắn phải không?
Chủ
nhân vẫn tỉnh bơ đáp:
- Không
có gì lạ bạn ơi.
Chủ
nhân thật không hiểu được vì sao người bạn có nhận xét
lạ lùng như vậy. Dần dần, ông mới vỡ lẽ ra rằng: Vì
nửa năm trước làm mặt nạ quỷ, suốt ngày cứ tưởng tượng
hình ảnh nhe nanh, trợn mắt, thè lưỡi, các tướng mạo hung
ác dữ dằn để làm mặt quỷ cho thật giống, vì thế vẻ
mặt ông cũng biểu hiện những nét sân giận, dữ tợn, người
nhút nhát trông thấy đến phát sợ. Sau đó nửa năm, ông
nhận làm mặt nạ một vị công thần chánh trực và đức
độ. Ông miệt mài tìm những nét thanh cao, khả ái để thể
hiện những đức tính đặc biệt này, vẽ làm sao để ánh
mắt đầy nhân từ và công chính, tô khéo đến mức nào để
có đôi môi hiền hòa nhưng cương nghị, nụ cười độ lượng
mà vẫn uy nghiêm. Ngày đêm chỉ liên tưởng đến đề tài
sáng tạo này nên tự nhiên bên ngoài nó thoát ra từ thái
nhu hòa, khuôn mặt chủ nhân có nét thỏa ái, dễ chịu. Ðến
lúc khám phá ra điều này, người làm mặt nạ thầm công
nhận: những điều tâm ta nghĩ ngợi, tư duy đều được biểu
lộ ra ngoài dung mạo.
Kinh
Phật đã nói đến động lực của Tâm trong câu nói hàm xúc:
“Tâm như họa sư, khéo vẽ muôn hình tượng”.
Thích
Nữ Như Thủy – Như Ðức
“Lòng
buồn thì mặt cũng buồn
Lòng
buồn thì mặt có vui bao giờ”
Người
chăn bò Nanda
Khi
còn tại gia Tôn giả Nanda là một thanh niên chăn bò mướn.
Ngày ngày, Nanda dẫn bò đến ăn cỏ bên bờ sông Hằng thuộc
địa phận xứ Kosambi. Lúc ấy gặp dịp Ðức thế Tôn trú
ở Kosambi, cùng với chúng Tỳ kheo 1250 vị.
Một
hôm Thế Tôn cùng các Tỳ kheo du hành dọc bờ sông. Ngài thấy
một khúc gỗ lớn trôi theo dòng nước và chỉ cho các Tỳ
kheo:
- Này
các Tỳ kheo, nếu khúc gỗ ấy không đâm vào bờ này, không
đâm vào bờ kia, không chìm giữa dòng, không mắc cạn trên
đất nổi, không bị người nhặt lấy, không bị phi nhân
nhặt lấy, không bị lọt vào xoáy nước, không bị mục nát
bên trong... thì nó sẽ hướng về biển, xuôi theo biển, nhập
vào biển. Vì cớ sao, này các Tỳ kheo, vì dòng sông này hướng
về biển, xuôi theo biển. Cũng vậy, hỡi các Tỳ kheo, nếu
các con không đâm vào bờ này, bờ kia, không chìm giữa dòng,
không mắc cạn, không bị người nhặt lấy, không lọt vào
xoáy nước, không mục nát bên trong... thì các con sẽ hướng
về, sẽ xuôi theo niết bàn, sẽ nhập vào dòng niết bàn.
Vì sao, này các Tỳ kheo, chính vì pháp của Như Lai, giảng
nói xu hướng của niết bàn, xuôi theo niết bàn, nhập vào
niết bàn.
Khi
được nghe nói vậy, một tỳ kheo bạch:
- Bạch
Thế Tôn, bờ này là gì? Bờ kia là gì? Thế nào là chìm giữa
dòng? Thế nào là mắc cạn trên miếng đất nổi? Thế nào
là bị người nhặt? Phi nhân nhặt? Thế nào là lọt vào xoáy
nước? Thế nào là mục nát bên trong?
- Các
Tỳ kheo, bờ này ám chỉ sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân,
ý. Bờ bên kia chỉ cho sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc,
pháp. “Bị chìm giữa dòng” dụ cho hỉ và tham (khoái thích,
ham muốn). Mắc cạn trên đất nổi đồng nghĩa với ngã mạn.
“Bị người nhặt” là dụ cho vị Tỳ kheo sống quá liên
hệ với cư sĩ, chung vui chung buồn, an lạc khi chúng an lạc,
đau khổ khi chúng đau khổ, trói buộc mình trong các công việc,
chúng xướng xuất. Ðó gọi là vị Tỳ kheo bị loài người
nhặt lấy. Và này các Tỳ kheo, “Bị phi nhân nhặt lấy”
có nghĩa là vị Tỳ kheo tu phạm hạnh với mơ ước được
sanh lên cõi trời, hưởng phước báo chư thiên. “Bị lọt
vào xoáy nước” là đồng nghĩa với năm dục trưởng dưỡng:
tài lợi, sắc đẹp, danh tiếng, ăn và ngủ. “Bị mục nát
bên trong” ám chỉ vị Tỳ kheo theo các ác pháp có những
hành động khả nghi, không giữ giới mà hiện tướng thanh
tịnh, nội tâm hủ bại, đầy dục vọng, đó gọi là bị
mục nát bên trong”.
Khi
ấy người chăn bò Nanda đứng cách Thế Tôn không xa. Chàng
tiến lại bạch:
- Bạch
Thế Tôn, con không đâm vào bờ này, con không đâm vào bờ
kia, con không chìm giữa dòng, con không bị mắc cạn trên đất
nổi, con không bị loài người nhặt lấy, con không bị
phi nhân nhặt lấy, con không lọt vào xoáy nước, con không
mục nát bên trong. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn cho con được
xuất gia với Thế Tôn, được thọ đại giới.
- Này
Nanda, hãy đem trả bò cho chủ của con đã.
- Bạch
Thế Tôn, chúng sẽ tự trở về. Các bò mẹ đang mong gặp
lại chúng.
- Tuy
vậy này Nanda, con hãy trả lui các con bò ấy cho những người
chủ.
Nanda
vâng lời dắt bò về trả cho chủ rồi trở lại bên Phật:
- Bạch
Thế Tôn, con đã trả lại những con bò. Hãy cho con được
xuất gia với Thế Tôn. Hãy cho con thọ đại giới.
Rồi
Nanda, người chăn bò, được xuất gia với Thế Tôn, được
thọ đại giới. Sau khi thọ giới không lâu, Tôn giả Nanda
sống một mình an tịnh thân cảm được lạc thọ mà các
thiện gia nam tử vì lòng tin xuất gia từ bỏ gia đình đã
hướng đến. Vị ấy biết “sanh tử đã tận, phạm hạnh
đã thành, các việc nên làm đã được làm xong, không còn
phải trở lại đời này nữa” Tôn giả Nanda trở thành một
vị A La Hán.
Thích Nữ Trí Hải
“Trải
lòng bi mẫn Tâm đồng Phật
Dứt
hết vô minh Phật tức Tâm
Phật
Phật Tâm Tâm đồng thể tánh
Phật
Tâm cũng diệt đến viên thành”.
Chồn
và sư tử
Trong
thời quá khứ, lúc dòng vua Bra-ma-na trị vì xứ Ba Ra Na Thi,
có một gia đình Sư tử gồm cha, mẹ và hai con, một trai,
một gái. Cậu trai tên là Mê Năn. Chẳng bao lâu cậu lớn
lấy vợ. Gia đình từ đấy thêm một miệng ăn. Mỗi ngày
Mê Năn phải ra khỏi hang, đi đông đi tây, săn thú đem về
nuôi dưỡng song thân, vợ và em.
Một
hôm, trong khi đi tìm miếng ăn hàng ngày, Mê Năn gặp một
con chồn nằm sát trên cỏ, đầu cúi rất lễ phép. Bộ hầm
hừ, thét như sấm nổ, chàng hỏi:
- Chồn
làm gì ở đây?
- Bẩm
Chúa Công, chồn khép nép thưa, chúng con biết hôm nay có chúa
Công đi ngang đây, nên quỳ đón từ sáng sớm đến giờ để
chào mừng.
Bẩm
tánh kiêu hãnh, Mê Năn nghe mấy lời tưng bợ của Chồn, lấy
làm đắc ý.
- Thế
là Chồn biết bổn phận con dân, Chúa Công khen cho đó. Thôi
đứng dậy về cùng ta. Chồn vâng vâng dạ dạ, khúm núm đứng
dậy và trỗi bước theo sau Sư tử.
Nhưng
cha chàng, vừa thoáng thấy người khách lạ vào hang là tỏ
ý không bằng lòng ngay:
- Mê
Năn con, Chồn là giống quỷ quyệt, xảo trá khôn lường,
bất nghĩa bất tín, con nên đề phòng mà đừng thân cận.
Hãy đuổi quách nó đi cho cha an dạ.
Mê
Năn không trả lời, nhưng không đổi ý. Chàng giữ Chồn ở
lại làm bạn tác sớm chiều.
Một
hôm, Chồn ngọt dịu bảo Mê Năn là chồn thèm thịt ngựa,
Mê Năn hỏi:
- Ở
đâu có ngựa?
- Dạ,
ở bờ sông Ba Ra Thi. chồn đáp.
- Ngươi
hảy dẫn đường ta đi.
Không
đợi bảo hai lần, Chồn hối hả làm hướng đạo.
Băng
rừng vượt núi, chẳng bao lâu cả hai đến bờ sông, một
bầy ngựa nõn nà, lớn có nhỏ có, đang trầm mình dưới
nước, hí hú nô đùa. Lẹ như chớp nhoáng, Sư tử phóng mình
vồ một con ngựa con rồi lao mình trở lên bờ sông, một
mạch chạy về hang, phía sau có Chồn nỗ lực đuổi theo,
nét sung sướng lộ trên gương mặt.
Ông
lão Sư tử nghiêm nghị:
- Con
đã sanh sự rồi đó, Mê Năn. Ai đời lại dám bắt ngựa
của vua mà ăn. Coi chừng, một ngày kia, vua nổi trận lôi
đình, sẽ truyền cho lính nã tên thì mười mạng con cũng
không còn. Sư tử mà ăn thịt ngựa thì sống lâu bao giờ!
Hãy nghe ba, từ nay đừng sanh tâm bắt ngựa nữa.
Mê
Năn không trả lời. Quá tin ở tài nhảy cao chạy lẹ của
mình, phần một bên Chồn cứ nịnh hót, chàng bất kể lời
huấn từ, hễ đôi ba hôm là cùng chồn đi đánh cắp một
con ngựa về làm tiệc.
Chẳng
bao lâu, Vua hay tin, dạy đem ngựa vào nhốt trong vòng thành
không cho ra bờ sông nữa. Thế mà Mê Năn và chú quân sư Chồn
vẫn lập thế bắt tha được vài con.
Vua
dạy làm chuồng nhốt, song cài cửa khóa. Vô ích. Năm mười
hôm là có tin ngựa mất.
Vua
giận quá, hỏi kế trừ gian ở các quan. Một vị đại thần
tiến cử một tay thiện xạ, có tài giết thú dữ. Vua cho
đòi vào và phán hỏi. Nhà thiện xạ quả quyết, nếu Sư
Tử còn trở lại, thì trong một phát chàng sẽ hạ mãnh thú,
đem xác về nạp vua. Hoan hỷ, nhà vua hứa trọng thưởng.
Ðến
đêm, nai nịch hẳn hòi, bên đeo cung, bên vắt tên, nhà thiện
xạ ẩn mình trong bóng tối, sau một trụ đá. Tiếng trống
trên vọng đài vừa sang canh ba, chàng nghe có tiếng sột sạt.
Sư tử tới, phía sau có chú Chồn. Nhưng là tay sảo quyệt,
chồn không tiến bước mà núp lại phía sau.
Sư
Tử phóng mình một cách nhẹ nhàng lên đầu tường, nhảy
xuống đất, chạy bay lại chuồng ngựa. Chàng thiện xạ tự
bảo:” Sư Tử lẹ lắm, bắt ngay lúc này, e hạ nó không
được. Chi bằng đợi nó cõng ngựa chạy ra sẽ hay”. Chàng
vừa suy nghĩ xong là Mê Năn đã trở lại mé tường, trên
vai nặng trĩu một con ngựa. Chuyển hết thần lực, chàng
thiện xạ buông tên.
Rống
lên một tiếng, Sư Tử té bạt qua một bên, rồi góp sức
tàn, nhảy vượt lên mặt thành, bỏ ngựa, miệng kêu : “Ta
bị thương rồi”.
Chồn
nghe tiếng la của bạn và hơi gió tên bay, biết chuyện chẳng
lành. “Thế là hỏng! Thôi đành tiên bảo kỳ thân. Ai có
số nấy, ta phải lo phận ta”. Nói xong, Chồn quặp đuôi
chạy một mạch về hang mình, không đoái hoài gì đến Mê
Năn.
Tuy
máu ra nhiều, Mê Năn vẫn cố gắng la lết về với gia đình,
nhưng vừa thấy mặt cha, mẹ, vợ, em là chàng ngã ra tắt
thở.
Thấy
con mình mẩy đẫm máu, cha mẹ Mê Năn biết chàng đã bị
bắn trọng thương và chú Chồn gian xảo kia là nguyên nhân
của tai nạn thảm khốc. Tức tưởi, mẹ chàng kể lể: “Mê
Năn con ơi! Như thế này cho con biết để trước không nghe
lời cha mẹ dạy. Hễ chơi với kẻ ác thì không toàn thân
là vậy. Nếu con không nghe lời xúi biểu của Chồn thì nay
đâu ra nông nỗi này”.
Cha
chàng cũng cảm động: “Cha đã nói mà! Kết bạn với kẻ
xấu thì cái chung cuộc bao giờ cũng không hay. Con nghe chi đứa
nịnh bợ để cho thân thể phải đầm đìa những giọt máu
đào của mẹ con đã chan sớt cho con?
Em
gái chàng, sụt sùi: “Anh Mê Năn ơi! Anh thấy chưa, trước
kia nếu anh nghe lời cha dạy, thì ngày nay anh em ta đâu có
chia lìa như thế này. Anh có ăn năn chăng, hỡi anh? Không bỏ
vào tai những lời minh chánh, là tự mình làm cho mình mù quáng,
người xưa quả nói không sai”.
Vợ
Mê Năn cũng khóc: “Tại mình không khéo kết bạn, nên mới
chết oan uổng. Ai đời lại hạ mình thân cận với kẻ lòng
dạ bẩn thỉu, để cùng với nó bị đời khinh nhạo, chê
bai”.
Trên
đây là một câu truyện chính Ðức Phật đã thuật lại để
giáo hóa một Sa di thường hay lai vãng với những bạn bè
không tốt.
Phật
thuyết vừa xong, vị Sa di liền tỏ ngộ, đoạn tuyệt với
những bạn xưa và đắc quả Tu đà hoàn.
Thiện
Tâm
“Nghe
lời chê bai mà giận là làm ngòi cho người dèm pha, nghe câu
khen ngợi mà mừng là làm mồi cho người nịnh hót”.
Chim
bồ câu và chàng đặt bẫy
“Thuở
xưa, lúc nhà vua giòng Bra-ma-na ngự trị tại Bra-ma-na-thi, Như
Lai là một con bồ câu sống an vui với cha mẹ, họ hàng trong
một cánh rừng nhiều trái ngon nước ngọt. Mỗi ngày, đồng
thời với vừng thái dương lố dạng, toàn họ bồ câu đều
thức giấc ra khỏi ổ ấm, sè cánh rỉa lông, líu lăng ca
hát, rồi chia nhau từng đoàn đi kiếm ăn. Ðến trưa, trời
nóng bức, kẻ chui vào những lùm lá tươi mát mẻ ẩn mình,
người xuống suối nô đùa trong dòng nước lạnh. Chiều đến,
trước sau, các đoàn lần lượt trở về ổ. chờ đêm đến
là gác mỏ lên cửa thưởng ngoạn những hột ngọc lóng lánh
trên nền trời xanh.
Nhưng
bất hạnh thay cho giống bồ câu! Trong xứ có một anh chàng
chuyên nghề đặt bẫy chim. Anh ta trét lên cành cây có trái
chín một chất nhựa quái quăm. Chim nào dẫm lên đấy là
dở chân hết lên, cố đập đến gãy đôi cánh cũng không
thế nào thoát nạn. Hớn hở, anh chàng ác độc leo lên bắt
từng con đem về nhà, bỏ vào lồng sơn vẽ rất đẹp, nuôi
dưỡng như con cưng, đợi đến khi thân tròn thịt béo, anh
mang ra chợ bán với một giá rất đắt.
Họ
hàng bồ câu nhà ta rất biết cái mánh khóe bất lương của
chàng đặt bẫy, thường bảo nhau phải cẩn thận trong khi
vào rừng kiếm trái. Nhưng một hôm, quá mê chơi đuổi bắt,
ta lại dẫm lên chất nhựa giết chim. Vừa cảm nhận cái
rít của nhựa, ta biết nguy, thọc chân trái xuống để lấy
chân mặt lên, không dè đôi chân bị giữ ghì lại. Thôi rồi!
Còn đâu cảnh đoàn tụ, còn đâu cuộc đời êm ấm trong
thanh thoát tự do. Ta cất tiếng thảm sầu kêu to. Cha mẹ,
họ hàng vừa bay đến là bóng chàng đặt bẫy lù lù hiện
ra dưới gốc cây. Vù một cái, bao nhiêu người thân yêu đều
tứ tán, để mình ta trong tuyệt vọng và sợ hãi. Anh chàng
thợ bẫy từ từ leo lên, gỡ ta ra khỏi nhựa, ta vùng vẫy
muốn bay, nhưng than ôi! Sức con bồ câu non đâu đương với
bàn tay lực sĩ. Thôi đành cho số kiếp! Ta được bỏ vào
một cái lồng tre, trong đó đã có đôi bà con xa đồng phận.
Chàng
thợ bẫy, thấy trời đã gần trưa, quảy lồng ra về. Ðến
nhà, anh bốc từng chú câu, bỏ vào một cái lồng lưới lớn.
Quả như lời ta đã nghe kể lại trước kho ngộ nạn: trong
chốn ngục tù, không thiếu một thức ăn uống nào, lại còn
cửa sơn, phòng rộng, kể ra phong lưu không biết gấp mấy
lần những cái ổ tranh chốn quê nhà. Nhưng ta biết rồi,
tham lấy những cái của này là có ngày đem ra chợ bán. Lập
tâm tuyệt thực cho mình gầy vóc hẻo, ta không động đến
những hạt thóc no tròn của chủ nhà đặt cạnh bên ta.
Một
hôm, hai hôm, ba hôm ta vẫn nén lòng chịu đói. Ðến sáng
ngày thứ tư, anh chàng đến thăm. Thấy ta tiều tụy, anh có
vẻ lấy làm lạ. Nhẹ mở cửa lồng, anh bắt ta ra và nhẹ
nhàng đặt ta lên lòng bàn tay, đưa lên ngang mắt để xem
coi vì cớ nào mà ta xanh xao vàng úa. Thấy ta gật gờ, chàng
không còn nghi kỵ như lúc đầu, để ta đứng thong thả trên
đôi chân run run. Chàng biết đâu rằng ta chỉ đợi chờ phút
này. Chàng vừa quay đầu vì có tiếng động sau lưng, ta góp
hết tàn lực tung đôi cánh vọt lên cành cao, rồi từ cành
này sang cành nọ, ta trở về với núi rừng bao la, để lại
tất cả những sung sướng đầy nguy cơ cho anh chàng ác độc”.
Nói
đến đây, Ðức Phật thố lộ: “Chàng đặt bẫy kia, chính
là Ðề Bà Ðạt Ða ngày nay vậy”.
Thiện
Tâm
“Kẻ
thù đối đãi kẻ thù
Oan
gia đối đãi oan gia
Người
nuôi dưỡng tâm ác
Còn
tự làm hại mình
Hơn
là kẻ thù đối kẻ thù
Oan
gia đối oan gia”.
Quả
cam oan nghiệt
Dưới
triều chúa Ðịnh Vương, tại thành Qui Nhơn có người tàu
Quảng Ðông, tục gọi Tàu Dư, cứ mỗi năm đến tháng chạp,
chở hàng hóa lên thôn Vĩnh Thạnh, huyện Tuy Viễn, bán cho
người địa phương. Hiểu rõ tâm lý người dân Việt Nam
và hoàn cảnh chốn thôn quê lúc gần Tết, Tàu Dư bán hàng
chịu, kẻ đáng nhiều thì nhiều, kẻ đáng ít thì ít, rồi
đến mùa gặt lúa tháng ba sang năm, mới trở lại thu tiền.
Nhờ vậy hàng chú không bao giờ ế, và người địa phương
đối với chú rất có cảm tình.
Ở
Vĩnh Thạnh có người bán bánh bèo tên là Phan Phiên. Nhà cửa
tuy nhỏ nhưng rất ngăn nắp, lại có vườn rộng và quán
bánh ở bên đàng. Vì tiện lợi cho sự buôn bán nên mỗi
khi đến Vĩnh Thạnh thì Tàu Dư đến ở đậu nhà Phan Phiên.
Hai bên rất tương đắc.
Năm
năm lui tới yên vui, Tàu Dư bỗng mất tích. Lúc bấy giờ
nhằm lúc nhà Tây Sơn khởi nghĩa binh đánh lấy thành Qui Nhơn.
Người thì đoán rằng Tàu Dư sợ giặc giã đi lánh cư nơi
khác. Người thì cho rằng chú đã gặp rủi ro trong chốn ba
quân. Kẻ bàn người tán, xôn xao trong ít lâu, rồi công ăn
việc làm xóa mờ dần dĩ vãng.
Rồi
noi dấu Tàu Dư, Phan Phiên đi Qui Nhơn mua hàng về bán Tết.
Và mỗi năm đi buôn chỉ một lần, mà chưa đầy năm năm,
trong nhà đã dư ăn dư để. Chàng dẹp lò bánh bèo, mua trên
vài chục mẫu ruộng tốt cho làm rẽ, dỡ bỏ mấy căn nhà
cặp nhỏ hẹp, cất lại một tòa nhà mái ba gian, có hồ sen
có non bộ, nghiễm nhiên thành một người giàu sang nhất vùng.
Ai nấy đều cho rằng nhờ Thần tài phù hộ.
Ðể
tạ ơn trên trước, Phan Phiên rước hát bội đến hát. Chàng
định hát một đêm một ngày. Rạp hát cất cổ lầu, đồ
trần thiết mướn toàn đồ Tàu, vàng thêu rực rỡ. Người
đến xem đông như kiến. Chủ nhân lựa tuồng Tiểu Giang San
để tôn vương xong là bế mạc.
Mặt
trời vừa gác núi, tiếng trống chầu trống chiên đã nổi
dậy vang lừng. Và trong nhà cúng tế vừa xong thì ngoài rạp
bắt đầu khai diễn. Bao nhiêu con mắt đều dồn lên sân khấu.
Trống chầu đôi gióng, trống chiên thúc.
Anh
kép đóng vai Khương Linh Tá bước ra giáo đầu. Ðiệu bộ
thật khéo. Tiếng chầu thưởng dòn. Nhưng vừa toan cất tiếng
xưng danh thì anh kép liền ngậm miệng, mặt dớn dác, chân
bước lui... Vừa vào buồng, bị thôi thúc, anh kép trở ra
lại, nhưng cũng vừa toan cất tiếng thì liền ngậm miệng
lại, và hốt hoảng chạy vào buồng. Anh kép khác ra thay, rồi
anh kép khác ra thay nữa, nhưng anh nào cũng vừa muốn cất
tiếng thì liền ngậm miệng, hốt hoảng chạy vào buồng.
Ông bầu hỏi duyên do, anh nào cũng làm thinh, lấy tay khoát,
có vẻ sợ hãi.
Cả
rạp đều ngạc nhiên hết sức!
Ông
bầu đề nghị cùng chủ nhân cho thay vở tuồng khác, rồi
tự mình ra giáo đầu.
Ông
bầu đóng vai Quan Công phò nhị tẩu vừa bước ra sân khấu
thì liền được khán giả hoan nghênh. Nhưng cũng vừa toan
cất tiếng xưng danh thì liền ngậm miệng lại bước lui mấy
bước, rồi cũng hốt hoảng chạy vào buồng. Ngoài rạp nhao
nhao... Hai vị phụ lão cầm chầu quăng dùi đứng dậy bỏ
về. Chủ nhân vừa lo ngại vừa tức giận vào cự bầu hát.
Bầu hát không nói không rằng, chỉ hối thúc con em lo dọn
gánh rút lui.
Thế
là đám hát bị tan rã.
Cho
là điềm xấu, Phan Phiên đâm đơn kiện người bầu hát đã
làm mất thể diện mình.
Ðể
Ly Tuy Viễn lúc bấy giờ là quan huyện họ Tàu, có tiếng
là công bình chính trực. Ðêm trước hôm Phan Phiên đầu đơn
kiện, Tào Công đang ngồi đọc sách dưới đèn, thì một
người Tàu vào đặt ngay thư án một quả sơn đỏ, rồi vái
hai vái mà lui. Công mở quả xem thì thấy một trái cam chín
thắm. Công toan cầm cam lên ngửi thì một con quạ bay đến,
lấy chân quắp tha đi, Công vội đuổi theo thì vấp ngã...
Giật mình tỉnh dậy thì là một giấc chiêm bao. Vì vậy sáng
hôm sau nhận được đơn của Phan Phiên, Công đoán chắc có
sự liên quan giữa giấc chiêm bao và vụ kiện. Công sức trác
đòi đoàn hát bội đến và tự mình lấy khẩu cung.
Ông
bầu gánh cùng mấy người kép đều khai giống nhau rằng khi
ra tuồng, chúng vừa toan cất tiếng thì một người Tàu cầm
quả cam chín thắm nhét vào miệng không cho nói. Sợ quá chúng
phải bỏ cuộc rút lui.
Tào
Công ngẫm nghĩ:
- Thật
là kỳ! Cũng chú Tàu, cũng quả cam chín thắm! Nhất định
có điều gì bí ẩn chi đây.
Công
cho đoàn hát bội về nhà, rồi cùng một viên thuộc hạ lên
thẳng Vĩnh Thạnh. Ðến nhà Phan Phiên, Công không đề cập
đến vụ kiện chỉ truyền đưa đi xem quanh vườn.
Vườn
rộng chừng nửa mẫu, cau chuối xanh tươi, chim se sẻ từng
đoàn bay kêu ríu rít. Không thấy chi lạ, Công toan trở vào
nhà xét xem, thì nơi góc vườn bỗng nghe tiếng quạ kêu não
ruột. Lòng sanh nghi hoặc, Công lần bước theo tiếng quạ
kêu. Ði được vài mươi bước thì Công dừng ngay lại: một
cây cam xanh tốt đứng choán một góc vườn nhưng trên cành
sum sê chỉ có vỏn vẹn một quả chín thắm. Thấy quả cam
trên cành giống quả cam trong mộng, Công đứng ngẩn người.
Ðương tần ngần suy nghĩ thì một con quạ bay đến đậu
nơi cành cam, kêu mấy tiếng não nùng, rồi lấy mỏ mổ vào
quả cam đoạn cất cánh bay mất... Liền đó một vòi huyết
từ quả cam quạ mổ vụt phun ra... Viên thuộc hạ hết hồn.
Phan Phiên sợ run cầm cập. Tào Công lấy làm kinh dị tự
nhủ:
- Nhất
định có kẻ bị chết oan.
Bèn
sai đào gốc cam lên.
Cây
cam vừa ngã thì bày ra một bộ xương khô! Phan Phiên hãi hùng,
thét lên một tiếng rồi cắm đầu chạy trốn.
Tào
Công một mặt cho tẩn liệm bộ xương và chôn cất tử tế,
một mặt cho bắt giải Phan Phiên đến huyện đường.
Ðến
huyện đường, không cần tra tấn, Phan Phiên qùy cung:
- Bộ
xương ấy là của Tàu Dư.
- Tàu
Dư đến buôn bán tại Vĩnh Thạnh rất phát đạt. Thấy y
chân chất và không vợ con, tôi bèn làm mối cô em vợ tôi
cho y. Y bằng lòng, bàn cùng tôi tậu ruộng nương, cất nhà
cửa tử tế rồi lo việc gia thất. Tôi tán thành, y về Qui
Nhơn lo thu xếp công việc.
Một
đêm tôi vừa thiu thiu ngủ thì nghe tiếng Tàu Dư gọi cửa.
Lúc bấy giờ vợ con tôi đã ngủ say. Tôi dậy mở cửa. Y
gánh vào một cặp bầu cũ kỹ, ngó quanh quất rồi thẳng
vào buồng nhà trong. Y chỉ cặp bầu nói cùng tôi:
- Tài
sản của tôi có chừng nấy.
Ðoạn
mở bầu lấy ra hai chĩnh sành, một chĩnh đựng toàn vàng
nén, một chĩnh đựng toàn bạc nén. Chưa bao giờ thấy của
giàu như thế, mắt tôi hoa lên! Tàu Dư nói:
- Không
nên để trong nhà. Hãy đem chôn ngay ra sau vườn.
Tôi
lấy cuốc thuổng rồi cùng Tàu Dư khuân hai chĩnh vàng bạc
ra sau vườn. Tôi cuốc đất, Tàu dư xúc đổ. Vừa làm việc
tôi vừa nghĩ đến hai chĩnh vàng bạc... Cảnh giàu sang hiện
ra trước mắt tôi, lòng tham của tôi tưng bừng nổi dậy.
Thấy Tàu Dư đương chú ý vào việc xúc đất thuận tay tôi
trở đai cuốc xáng mạnh xuống đầu, y vỡ sọ chết tức
khắc. Sẵn hầm đào đã sâu, tôi liền lấp xác chết. Rồi
bứng cây cam bên cạnh trồng lên trên. Từ trong nhà đến
người ngoài không một ai hay biết.
Rồi
để che mắt thế gian, tôi bỏ nghề bánh bèo, bắt chước
Tàu Dư đi mua hàng về bán Tết... Tôi trở nên giàu có. Năm
năm trôi qua, không còn ai nhắc nhở đến Tàu Dư, cũng không
hề thấy ai đàm luận đến sự giàu sang của tôi, tôi liền
rước hát bội về hát để tạ ơn kẻ khuất mặt đã phù
hộ. Nào ngờ...
Tào
Công quăng bút thở dài! Ðoạn truyền đem giam Phan Phiên vào
ngục thất. Chợt nhớ đến quả cam, Công sai người thắng
ngựa đi lấy. Ngựa chưa kịp thắng, thì một con quạ bay
đậu trước huyện đường kêu inh ỏi. Công trông ra: một
quả cam chín thắm từ chân quạ rơi xuống mặt sân. Sai lượm
lên xem là quả cam nơi vườn Phan Phiên, nhưng ruột trống
rỗng, mà nơi quạ mổ vẫn còn vết máu tươi.
Công
hội ý, ra lệnh tịch biên gia sản Phan Phiên, trích ra một
số tiền làm chay cầu siêu cho Tàu Dư, ba ngày ba đêm. Ðêm
thứ ba, giờ tý, hồn Tàu Dư hiện đến, lạy trước bàn
Phật ba lạy rồi biến mất, và trên không một con quạ vừa
bay vừa kêu.
Quách
Tấn
“Chân
như cực lạc bởi duyên lành,
Túc
trái luân hồi do nghiệp khổ...”..