Phần
Một
Tấm
gương đạo hạnh muôn đời còn ghi
Hương
Trinh công chúa
Tôn
giả Bạt Ðà Lợi
Mở
mắt chiêm bao
Ðại
bố thí
Tấm
gương đạo hạnh muôn đời còn ghi
Khu
rừng phía Nam kinh thành bỗng xáo động hẳn lên. Chim chóc
gọi nhau lẩn trốn, thiêm thiếp lo sợ trong các cành cây kẽ
lá. Từ hươu nai cho đến hổ báo đều loan truyền một tin
hung dữ: Nhà vua đi săn.
Ca Lợi Vương đi săn. Khác hẳn với các cuộc đi săn thường,
lần này nhà vua tổ chức một cuộc săn quy mô trong suốt
tuần lễ. Vì nhiều lẽ, và trong đó có một lẽ là để
trừ khử uy tín của một đạo sĩ về tu hành trong khu rừng
phía Nam này.
Ðoàn người đi săn đã đến tại mé rừng. Thật như là
một binh đoàn đi chiến trận. Có đủ cung tên gươm giáo,
có ban tiếp vận lương thực, có hệ thống truyền tin liên
lạc. Họ dựng lều trại và sửa soạn cho vua tá túc. Ca Lợi
Vương cưỡi một con bạch mã, bận nhung phục gọn ghẽ, dẫn
đầu toán lính săn. Bản chất mạo hiểm của ngài thường
thấy bộc lộ trong những trường hợp như thế này. Ðoàn
người tiến sâu vào rừng. Mỗi lần nhà vua bắn hạ được
một con thú thì cả đoàn hoan hô vang dậy và sẽ có một
bọn sắp sẵn để mang con vật xấu số đến trước mặt
ngài.
- Muôn
tâu Hoàng thượng! Con thú bị mũi tên thần bắn trúng vào
chính giữa đầu.
- Muôn
tâu Hoàng thượng! Hoàng thượng vừa hạ một con hươu đẹp
đẽ nhất trong loài hươu.
- Muôn
tâu Hoàng thượng!...
Và
Hoàng thượng kiêu hãnh mỉm cười, truyền lịnh khao thưởng
quân sĩ.
Ðến
trưa, cuộc đi săn tạm nghỉ. Vua ngả người trên chiếc võng
và an mình trong giấc điệp. Khi ngài thức dậy thì ngài ngạc
nhiên thấy quân lính thiếu mặt rất nhiều. Bọn chúng đi
đâu? Ngài đang băn khoăn thì bỗng đội liên lạc về phi
báo là bọn quân lính đã tề tựu ở dưới một gốc cây
Bồ Ðề để nghe một đạo sĩ thuyết pháp.
Hãy
tưởng tượng Ca Lợi Vương giận dữ đến bực nào! Trước
đây, dư luận đã xôn xao về tin này, người ta đã cho nhà
vua hay là có một vài người trong hoàng tộc cũng lén lút
đến nghe đạo sĩ thuyết pháp. Và chính bởi lẽ đó mà vua
tổ chức cuộc đi săn này để tìm hiểu thực hư. Vậy mà
giờ đây, tên đạo sĩ lại cả gan khuyến dụ cả quân lính
nhà vua.
Lệnh
tập họp cấp tốc được lan truyền. Số vắng mặt vẫn
chưa thấy trở về. Vua đinh ninh rằng kẻ tu hành đã đánh
bùa mê để cầm giữ một cách phi pháp lính của ngài. Ngài
nhảy lên ngựa và đích thân đến nơi. Quan quân lục tục
kéo đi theo ngài.
Gần
đến nơi rồi. Một vài cận thần thân tín thúc ngựa lên
trước. Họ quát tháo ầm ĩ. Quân lính đang vây quanh vị đạo
sĩ sực nhớ lại nhiệm vụ của họ đối với Hoàng thượng,
nên vội vàng nới rộng vòng và cúi đầu chịu hình phạt.
Họ vừa nghe một bài dạy về hạnh từ bi, họ cảm thấy
tội lỗi của họ trong cuộc đi săn đầy sát khí, và giờ
đây họ ước muốn nhà vua đuổi cổ họ về, hơn là họ
tiếp tục cuộc chém giết.
Nhà
vua đã xuống ngựa. Ngài định tiến đến trước mặt nhà
đạo sĩ, nhưng những cận thần đã vội ngăn cản :
- Muôn
tâu Hoàng thượng, việc trục xuất tên Sa Môn này đâu phải
nhọc đến thánh thể, xin cho phép để hạ thần ra tay.
Vừa
tâu xong, họ xông đến. Họ dùng bao nhiêu lời thô bỉ để
lăng mạ, để chửi rủa như trong giây phút họ sẽ phanh thây
đạo sĩ thành trăm mảnh. Nhưng “chó vẫn sủa mà lạc đà
vẫn đi qua”, đạo sĩ vẫn không nói lại một lời, không
sắc giận, điềm nhiên như không.
Cảnh
tượng ấy làm vua Ca Lợi Vương khá ngạc nhiên. Từ trước
đến giờ, kẻ nào thấy vua cũng phải phủ phục dưới chân
để tung hô hoàng đế vạn tuế, thế mà hôm nay lại có một
kẻ tu hành trước mặt ngài vẫn cứ ngồi lỳ như chết.
Ngài bước tới, truyền lịnh cho các cận thần lui ra và dõng
dạc hỏi :
- Này tên Sa môn ương ngạnh kia! Nhà ngươi ngồi đây để
làm gì?
Ðạo sĩ trả lời:
- Kẻ này tu hạnh nhẫn nhục.
- Hạnh nhẫn nhục là thế nào?
Ðạo sĩ điềm tĩnh trình bày, giọng từ hòa như giọng đã
thuyết pháp cho các người lính săn ban nãy :
- Tâu
Hoàng thượng! Tu hạnh nhẫn nhục là giữ tâm khiêm nhường
với tất cả mọi người, là trừ bỏ những hành vi tự đắc,
kiêu mạn, là dùng lời nói êm dịu để khuyến hóa chúng
sanh. Tâu Hoàng thượng...
Nhà vua không nén được giận dữ nữa. Những lời đáp của
đạo sĩ thì chân thật mà vua tưởng là cố ý xoi bói công
kích sự ồ ạt nóng nẩy của mình. Hoàng thượng thét, cắt
ngay lời đạo sĩ:
- Im, im ngay.
Vua quay lại, như muốn hạ lịnh cho vệ sĩ của ngài ra tay
tức khắc. Bỗng vừa nẩy ra sáng kiến gì, vua lại hướng
về phía đạo sĩ, rồi dịu giọng hỏi:
- Nhưng mà, ta hỏi thêm nhà ngươi câu này. Tại sao khi nãy,
cận thần của ta hết lời mắng chửi nhục mạ nhà ngươi
mà nhà ngươi vẫn làm thinh?
- Tâu Hoàng thượng! Kẻ này suy nghiệm rằng: Nếu như những
lời chửi mắng của người khác là đúng thì phải sanh lòng
hổ thẹn để mà hối cải. Còn nếu những lời chửi mắng
nhầm lẫn thì xem như là những tiếng vang như gió thoảng
ngoài tai mà thôi. Tuyệt nhiên không khi nào sanh tâm oán hận.
Câu trả lời có một phản ứng mạnh. Quân lính thì thầm
thán phục, các cận thần trố mắt kinh ngạc. Còn nhà vua,
ngài cảm thấy tự ái của ngài xúc động. Ðể phục hồi
uy tín của ngài, ngài rút mạnh thanh kiếm, và bảo:
- Ðây
là những lời xảo trá và vô lễ!
Rồi
ngài hạ tay cắt đứt đôi vành tai của đạo sĩ. Dòng máu
đỏ rỉ rả thấm ướt đầm cả đôi má. Mọi người nín
lặng. Tuy nhiên, đạo sĩ vẫn tĩnh tọa sắc mặt vẫn thản
nhiên. Không chút gì tỏ vẻ đau đớn và oán thán.
Nhà vua không ngờ có một sức chịu đựng lạ lùng. Hay đây
là một tên phù thủy có nhiều pháp thuật? Dầu sao, vua không
thể lùi bước được. Ngài vung kiếm chặt đứt thêm hai
bàn tay đạo sĩ đang chấp trước ngực:
- Hãy
xem tên th ầy pháp này nhẫn nhục đến nước nào?
Máu đào tuôn ra, thấm quanh chỗ ngồi của vị tu hành. Tuy
thế đạo sĩ vẫn không thốt lên một tiếng kêu than. Vết
thương như làm cho thần trí của người thêm sáng suốt và
dõng mãnh. Gương mặt người trông từ bi lạ lùng.
Thật
là một dòng nước mát rưới lên lửa hận thù của nhà vua
hung bạo. Vua lặng thinh. Bây giờ ngài hiểu rằng kẻ đương
ngồi trước mặt ngài không phải là một kẻ tầm thường.
Ngài gượng cất tiếng giữa sự im lặng nặng nề của quân
binh :
- Hỡi đạo sĩ, tại sao ngươi bị hành hạ thân xác mà ngươi
không chút gì sắc giận?
Ðạo sĩ thong thả trả lời:
- Tâu ngài, nếu như tôi có lỗi mà bị hành hạ thì tôi phải
nhẫn thọ như uống được nước cam lồ và sinh lòng cung
kính với người. Còn gặp trường hợp không phân biệt phải
trái mà người xúc phạm đến tôi, thì tôi suy nghĩ rằng
ngày nay tôi vô tội, nhưng biết đâu không phải do ác nghiệp
ngày trước mà nay phải chịu. Vả lại, thân này là sự cấu
hợp giả tạm thì cũng không nên lấy gì làm luyến tiếc.
Ca Lợi Vương bấy giờ đã hối hận về tội ác của mình.
Nhưng vì tập tánh chủ quan chỉ biết hạch lỗi kẻ khác
lâu nay, vua gạn hỏi thêm một lần nữa :
- Hay lắm! Nghĩ được như thế thì hết sức tốt đẹp. Nhưng
làm thế nào cho ta tin rằng nhà ngươi thật tình nghĩ như
thế. Làm thế nào cho ta tin rằng nhà ngươi không oán hận
ta, không oán hận những cận thần của ta đã sỉ nhục nhà
ngươi?
Ðạo sĩ giơ hai cánh tay cụt, mắt sáng lên một cách lạ
thường. Người phát thệ:
- Tôi thề rằng tâm tôi không có một chút oán hận nào. Những
người gây đau thương cho tôi chỉ vì bị mây mờ che lấp
đáng thương mà thôi. Nếu như lời tôi không chân thành với
tâm tôi thì những vết thương của tôi trở thành lở lói
ghê gớm, bằng như trái lại, tâm tôi hoàn toàn không oán
hận thì những vết thương của tôi sẽ lành lặn.
Trời đất bỗng nhiên rung chuyển. Hương thơm tỏa ra ngào
ngạt. Ca Lợi Vương và mọi người nín lặng chờ đợi. Họ
trông thấy, ôi kinh ngạc biết bao! Họ trông thấy thân thể
đạo sĩ lành lặn như xưa. Người ngồi tĩnh tọa dưới gốc
cây Bồ Ðề, gương mặt từ bi, chói lọi hào quang.
Cái kiêu hãnh trước đây tạm thời cung cấp cho nhà vua một
sức mạnh ồ ạt, mong manh, bây giờ vỡ tan ra bọt nước.
Và hạnh nhẫn nhục của đạo sĩ quả là một năng lực bền
bỉ, trường cửu, và bất khả chiến thắng. Nhà vua qùy sụp
xuống bên đạo sĩ và xin sám hối bao nhiêu tội lỗi. Vua
còn nguyện ghi nhớ gương sáng nhẫn nhục này để thực hiện
trong đời sống cá nhân, trong việc trị quốc của mình và
đời đời kiếp kiếp xin tận tâm phụng sự Chánh Pháp.
Ðạo sĩ khiêm tốn đỡ Ca Lợi Vương dậy và hiền dịu bảo:
- Lời phát tâm tốt đẹp của ngươi tự nó đã xóa bỏ được
lỗi lầm do chính ngươi gây ra. Và ta hứa với ngươi rằng,
trong tương lai khi ta thành đạo, ta sẽ nhận ngươi làm đệ
tử đầu tiên của ta.
*
Vị
đạo sĩ đáng kính trên đây là tiền thân Ðức Phật Thích
Ca và Ca Lợi Vương là tiền kiếp của ngài Kiều Trần Như.
Và đúng như lời đã hứa, sau khi thành Phật, mở đầu cho
lịch trình truyền đạo 49 năm trời, Ðức Thế Tôn đã thuyết
pháp lần đầu tiên tại khu vườn Lộc Uyển cho năm vị đệ
tử, trong đó có ông Kiều Trần Như.
Quảng
Huệ
“Kẻ
nào bị người khác làm nhục mà trong lòng không sinh mối
ác cảm, kẻ ấy đã thắng một trận vẻ vang.”
Hương
Trinh công chúa
Hoàng đế Ðại Lâm nhìn ra sân, màn sương còn dày đặc:
Ủa, Võ hộ giá sao chưa thấy? Thì tiếng nhạc ngựa vừa
đến. Một thanh niên bước xuống, chàng nai nịt gọn gàng
trong bộ đồ săn thú trông oai phong nhưng không kém vẻ hào
hoa.
Là Tiên Ðình võ hộ giá của Hoàng đế Ðại Lâm, chàng đã
đẹp trai lại có vẻ tiên phong đạo cốt. Tuy được vua trọng
dụng, Tiên Ðình vẫn gây nhiều thiện cảm với quần chúng.
Nhất là chàng đã khuyên vua bỏ nhiều tội ác. Vì thế Tiên
Ðình rất được lòng dân, các bạn đồng liêu đều kính
mến và thường gọi chơi là “bạch diện thư sinh”.
Lịch sử của chàng như một giấc mơ. Người ta không biết
Tiên Ðình con cái nhà ai? Chỉ nghe đồn miệng: cách 10 năm
về trước, trong ban nhạc của nhà vua có một em bé mặt đẹp
mà ca hay, nên một hôm sau buổi tấu nhạc Hoàng hậu cho tuyển
em vào hầu cận ở hoàng cung. Tiên Ðình thông minh ý tứ nên
hai vua đều thương cả.
Giữa lúc đang được cưng sủng thì bỗng đâu tai bay họa
gió đến với em. Một chuỗi ngọc châu quý của Hoàng hậu
khi không, không cánh mà bay.
Hôm ấy sau buổi dạ yến, Hoàng hậu vừa trở về phòng vừa
cởi ra thì không biết vì sao xâu chuỗi mất biến. Trong phòng
riêng của Hoàng hậu trừ hai vua thì chỉ có một Tiên Ðình
ra vào. Vì vậy em bị bắt.
Quan tư pháp bộ hình để riêng một phiên xử vụ Tiên Ðình.
Khi chủ ngục dẫn em ra, thoạt nhìn, quan bộ Hình cũng phải
yêu. Ngài ôn tồn: “Theo tuổi con thì chưa có luật (em mới
12 tuổi). Vậy con có lấy chơi bỏ đâu thì khai ra ta sẽ tâu
vua tha tội cho. Nếu không khai chắc bị tra tấn con làm sao
chịu được những hình phạt nặng nề, vậy con cứ khai đi
ta sẽ châm chước cho.
Em cúi đầu lặng, vẻ mặt bình tĩnh có dáng suy nghiệm nhiều,
lúc lâu em thưa:
- Thưa ngài, về vụ này một mình con không thể lấy lọt
được nên trong đây có bốn người tòng phạm.
Mọi người đều nín lặng, nhất là quan bộ Hình chăm chỉ
nghe. Ông dỗ:
- Ừ, ai con cứ khai ra ta sẽ xử phân minh.
- Thưa ngài, nếu con đã khai thì ngài phải mời cả bốn người
chứ đừng vị tình chi cả.
- Ừ được rồi, con nói đi!
Giao hẹn xong, em khai trong vụ này có Hoàng tử Mạnh Ðan, đại
thần Trí Tuệ, phú ông Ðức Trí và cô ca kỹ Dạ Lý Hương.
- Ủa sao bốn nhận vật em khai lại toàn những danh nhân trong
nước cả. Thái tử Mạnh Ðan là điện hạ của đương kim
Hoàng đế, đại thần Trí Tuệ là tể tướng đầu triều,
phú ông Ðức Trí oai quyền sang trọng địch quốc, Dạ Lý
Hương một danh ca tài sắc đương thời.
Từ cái ngạc nhiên này đến cái ngạc nhiên khác, bốn nhân
vật em khai sao không dính dáng gì đến nhau cả. Nhưng không
lửa sao có khói? Không lẽ thằng bé này dám khai dựng đứng?
Coi bộ nó nói chắc chắn lắm mà... năm sáu dấu hỏi trong
lòng mọi người, nhất là rắc rối cho quan tư pháp. Vì thế
vụ xử đành đình lại, và dĩ nhiên quan tư pháp tâu lên
chúa thượng.
Vua và Hoàng hậu rất lấy làm lạ. Cho hỏi Ðông cung cũng
tức cười rồi vì tính hiếu kỳ ngài muốn đi cho biết.
Ðại phàm việc gì vừa vừa thì người ta mới tức bực
chớ những cái không ngờ mà xảy ra thì họ tức cười hơn.
Nhất là trong vụ này lại có nàng Dạ Lý Hương. Cái nhan
sắc khuynh thành của cô ca kỹ đã làm cho ba ngài quên đi
cái bực mình. Thái tử, Ðại thần, Phú ông ngồi nhìn sững
Dạ Lý Hương nét mặt buồn của người đẹp càng đẹp lạ,
các ngài đồng nghĩ: Không biết thằng bé này vô tâm hay hữu
ý, mà nó khai kèm Dạ Lý Hương vào đây thật diệu kế. Thật
thế nếu không có cô Dạ Lý Hương ngồi đó thì em bé phải
biết tay ba ngài. Nhưng nhờ vậy, Hoàng tử khoan hồng hỏi
Tiên Ðình: con có dại lấy chơi thì trả lại ta sẽ tâu Hoàng
hậu tha tội cho, chứ sao con dám khai cho ta hử? Trước mặt
người đẹp dù sao Phú ông cũng không lẽ hung hăng, ông nhìn
Tiên Ðình: Này em, em ngó lại qua đây có khi nào vào Hoàng
cung đâu, huống chi chỗ phòng riêng của Hoàng hậu sao em lại
khai rắc rối cho qua thế? -Dạ Lý Hương e lệ trước quý
ngài nàng cũng dịu dàng: Này em coi có bao giờ chị gặp em
đâu mà em lại đi khai lựng lựng cho chị tội quá!
Trí Tuệ đại thần ngồi yên lặng, ông đang suy nghĩ: Lạ
thật, không biết ai bày mà nó lại khai ta với ba người này
thật vô lý quá, ông có ý tức nhưng khi nhìn thấy Tiên Ðình
thì ý tức giận của ông tiêu ngay. Mặt nó thông minh thế
kia, xinh quá ai mà không yêu! Nó khai rắc rối cho người ta
rồi ngồi tự nhiên tự tại. Ừ, sao nó không khai cho bọn
cung nữ lính tráng trong cung, lại lựa bốn người nhất hạng
trong nước mà khai? Lạ thật! Vậy để ta bình tĩnh suy nghiệm
kỹ may ra manh mối chăng?
Từ khi nghe Thái tử bị liên quan vào việc này, tuy Hoàng hậu
không nghi nhưng rất buồn, Ngài truyền nhiều lính Ngự lâm
đi khắp nơi dọ hỏi. Mấy chục cung nhân giả dạng thường
dân cũng phân đi các ngả dò xét.
Phú ông khi có lịnh quan mời, Phú bà rất lo sợ, một mặt
sai gia nhân đi kiếm và bỏ tiền thuê người rải tán mọi
ngả, đón đường để hỏi tìm.
Dạ Lý Hương một danh ca được nhiều vương hầu bá tước
để ý, nhưng nàng còn chưa ghé mắt xanh. Nay nghe Dạ Lý Hương
bị bắt, các ngài bết bát cưỡi ngựa rong xe thân hành lùng
khắp tất cả, từ thành nội thành ngoại, các thôn quê, những
ngả đường, hiệu cầm đồ, nhà bán ngọc v...v... ai cũng
tâm niệm cho mình tìm ra thì được người đẹp để ý.
Suốt mấy hôm Trí Tuệ đại thần không nhắm mắt, ông suy
nghiệm mãi, rồi đến một hôm cách ba ngày sau ông tin cho
quan bộ Hình biết là: xử vụ này phải mời cả Chúa thượng,
Hoàng hậu cùng tất cả bá quan chứng kiến.
Hôm sau khi công chúng tề tựu đông đủ, Ðại thần đứng
lên dõng dạc hỏi: Tâu Thánh thượng, trong phòng Hoàng hậu
trừ Tiên Ðình ra, ngài có nuôi con vật nào không? Câu hỏi
của Ðại thần như một tiếng trống dội mạnh, cả hai vua
đều thốt:” À hay Lệ Nô? Có lẽ Lệ Nô”. Thế là một
toán Ngự lâm vội vàng chạy vào hậu cung... thì trên một
cây nhãn cành lá sum sê, đấy, gia đình của Lệ Nô, quả
nhiên chuỗi ngọc treo tòn ten trên cành cao. Lệ Nô là một
con khỉ cái rất tinh khôn cũng được hai vua thương lắm.
Thái giám dâng chuỗi ngọc ra, đức vua đưa lên cao cho mọi
người xem. Ai cũng khen tài của quan Ðại thần. Nhưng người
ta không khỏi ngạc nhiên cái việc em bé khai, nhất là quan
Ðại thần Trí Tuệ. Ông liền xoay lại hỏi em vì lý do chi
em khai như vậy?
Tiên Ðình đứng lên hùng dũng thưa :
- “Thân con thơ dại tứ cố vô thân, may được vua thương
cho vào hầu cận, rủi mất ngọc, Hoàng hậu nghi con cũng phải,
vì cung ngài chỉ một mình con được ra vào. Ðã bị nghi,
nếu con nói quanh quẩn chắc các ngài nổi xung thế nào cũng
bị tra tấn, con bé bỏng làm sao chịu được cực hình? E
phải chết oan! Con nghĩ: Nếu khai mạo cho Thái tử thì Hoàng
hậu đủ uy thế, cung nga thể nữ nhiều, ngài sẽ cho đi tìm
ngọc. Phú ông giàu sang địch quốc, nếu khai ông dính dáng
vào vụ này thì Phú bà phải thuê người dò xét. Cô Dạ Lý
Hương bị bắt thì các công tử nóng ruột thi nhau đi tìm
giùm. Còn đại thần Trí Tuệ là quan công minh xưa nay, may
nhờ trí sáng của ngài xét nghiệm có thể ra manh mối...
Mọi người đều ngạc nhiên và khâm phục trí thông minh của
em. Có người cảm động đến rơi nước mắt.
Sau vụ tìm ra ngọc, hai vua càng thương quí, cho em học hành
và dĩ nhiên Tiên Ðình học rất thông minh, đến năm 20 tuổi
thì văn võ toàn tài, hiện nay tức Lã Tiên Ðình võ hộ giá
của Hoàng đế Ðại Lâm.
Cuộc lạp du (Ði săn bắn) hôm nay do Tiên Ðình tổ chức đơn
sơ vì chàng đã tâu trước với đức vua nhân việc săn
bắn ở Mã Lạp Sơn sẽ bàn nhiều quốc sự.
Săn bắn là thú thích của ông vua gian hùng hiếu sắc ấy.
Nhưng đã mấy năm nay Tiên Ðình lên giúp vua chàng thường
can vua, không để vua chơi những trò hung bạo.
Thế
mà hôm nay chàng lại tổ chức đi săn khiến vua ta rất bằng
lòng. Màn sương còn đọng, bạc cả ngàn cây. Hai con bạch
mã song song trên đường thiên lý, hướng về Mã Lạp Sơn.
Vua
mặc thường phục, theo sau vài tên Ngự Lâm không xuất sắc.
Tiên
Ðình đăm chiêu nhìn khoảng đường khúc chiếc quanh co. Ðã
đôi ba phen chàng trả lời bâng quơ không ăn khớp câu hỏi
của Chúa thượng. Nhưng bạo chúa làm sao đọc được những
ý niệm tế nhị trong đôi mắt của vị thiếu niên anh tuấn
ấy??? Rồi không hiểu sao? Hay chàng đã thấy gì? Bỗng nhiên
Tiên Ðình quất ngựa chạy, chạy mau, vua cũng chạy theo, ngựa
chàng cứ phi lên, ngựa vua cũng thế, hai anh Ngự lâm bất
giác cũng chạy theo nhưng không kịp nữa. Con đường đến
núi quanh co nhiều ngả quá, họ trông theo dấu bụi để tìm
nhưng vẫn chịu tìm không thấy. Hai anh ngơ ngác nhìn nhau,
được cái họ tin ở tài quan Võ hộ giá chắc không để
Chúa thượng phải lâm nguy.
Hai
chúa tôi nãy giờ cứ loanh quanh mãi tìm đường, nhưng càng
tìm hình như lại càng đi sâu vào núi. Có lẽ xa lắm rồi,
nơi đây không có dấu chân người. Vua hơi chột dạ, nhưng
được Tiên Ðình bình tĩnh nên ngài đỡ lo.
Không
biết đã mấy giờ? Cơn nắng lên cao lắm, xuyên qua những
cành cổ thụ. Trên nét mặt Tiên Ðình nổi lên nhiều đường
gân, môi chàng mím lại... Vua mệt nhiều, mồ hôi ướt như
tắm, ngựa cũng uể oải vì nắng gắt. Tiên Ðình tâu vua
xin dừng ngựa nơi đây cho định thần và đỡ mệt. Vua nằm
dài trên tảng đá dưới cây cao rồi ngủ mê như chết. Chàng
vén tay áo lên trong đôi mắt cháy đỏ vì hận thù... Phải
chăng chàng đã thấy gì trong cánh tay nõn nà như ngọc chuốt
ấy? Hai cái sẹo to nổi lên hai chữ “phục thù”... Rồi
cả một khung cảnh diễn lại tuy mơ hồ từ ngày chàng còn
bé... nhưng càng theo tuổi lớn lên lại rõ thêm.
Ngày
ấy, khi vua cha bị Hoàng đế Ðại Lâm chiếm ngôi, mẹ con
chàng được một vị trung thần phò đi lánh nạn. Năm ấy
Tiên Ðình mới lên sáu, chàng còn nhớ câu nói đầy uất
hận của phụ vương: “Than ôi! Nếu Hương Trinh là trai thì
thù này mong báo được, ta vô phước sinh Hương Trinh, thôi
còn nói gì nữa!?”. Tuy mới 6 tuổi, Hương Trinh cũng biết
tủi mình trước lời Phụ hoàng than. Không chịu nhục và
bắt đầu nuôi chí nguyện, nàng khắc ngay hai chữ “phục
thù” vào cánh tay để nhớ mãi.
Trong
những ngày mẹ con lánh nạn, Hương Trinh nhớ rõ lắm. Nhớ
những khi mẫu hậu cầm tay dặn con qua hơi buồn thảm: “Con
ơi! Bốn năm trước khi Phụ hoàng bị cực hình, cha con có
than: Không con trai để phục thù” nhưng giờ đây mẹ lại
mừng vì con là gái. Mẹ là Phật tử, được tắm trong bể
cả từ bi của Phật, vì thế không bao giờ muốn con nuôi
chí ấy. Lâu nay mẹ chờ con đủ trí khôn mẹ mới nói: Con
ạ! Lấy ân trả oán thì oán mới tiêu, lấy oán trả oán,
oán kết thêm nhiều, vả lại mẹ khuyên con nên thấy cảnh
gia đình mình tan nát, thì đừng gieo rắc sự tan nát cho kẻ
khác, mẹ chỉ khuyên con như thế... rồi vì không chịu được
sơn lam chướng khí, Hoàng hậu đã băng hà trong núi sâu giữa
đêm mưa gió tơi bời. Cựu thần an táng Hoàng hậu xong, rồi
không lâu, tuổi già cũng đưa con người trung thần ấy về
nơi cõi chết. Những tấm màn đen dày đặc phủ lớp này
lớp khác lên đời công chúa thơ ngây, mất lần hết những
tình thương yêu. Một mình Hương Trinh sống bơ vơ giữa núi
rừng hoang vu. Trong huyết quản của Công chúa trộn lẫn hai
dòng: Mẹ là Phật tử phụng sự từ bi, cha thuộc Bà La Môn
giáo, tính cương quyết và hiếu chiến. Cương quyết của
Công
chúa giống cha. Hương Trinh cải trang (giả trai) rồi lần về
đồng nội. Nhờ mặt đẹp ca hay đã tiến cử em sung vào
ban nhạc kịch đồng ấu của tân quân. Rồi mối thù cũng
như tuổi tác mỗi ngày lớn lên. Hương Trinh chờ cơ hội.
Và nàng đã sắp đặt cơ hội trong cuộc lạp du hôm nay.
14
năm nuôi chí nguyện, sống trong lo sợ hồi hộp, chịu nhiều
oan trái... cơ hội chỉ đến trong giờ phút này. Hương Trinh
run lên, khi hình tướng tiều tụy của Phụ Hoàng nhìn mẹ
con lần cuối cùng. Nàng nóng bừng đôi má vì câu than của
Tiên vương... Kẻ thù làm tan nát gia đình, tan nát hạnh phúc
của nàng nằm sờ sờ trước mặt. Hương Trinh vận hết sức
lực tuốt kiếm ra... Linh hồn Tiên Vương đang mỉm cười
sung sướng vì thấy nàng không kém con trai.
Nhưng
than ôi! Lưỡi kiếm sáng vừa ra khỏi vỏ thì bóng mẫu hậu
hiền dịu hiện ra... “Mẹ là Phật tử được tắm trong
bể cả từ bi mẹ không muốn con nuôi chí phục thù...” nghe
cha thì bỏ mẹ, nghe mẹ thì phụ cha, hai chí hướng trái ngược
của mẹ và cha dằng co trong lòng người con hiếu. Tay bủn
rủn, nàng cảm thấy thanh kiếm nặng nề cầm không muốn
nổi. Nhưng hình ảnh Tiên Vương lại hiện ra, hai cánh tay
người cha yêu quí bị kẻ thù trói chặt, nàng còn bé, nắm
áo mẹ đứng xa xa, Mẫu Hậu vì khóc to đã bị lính nạt
nộ. Nét mặt Phụ Hoàng tiều tụy, tiếng than đầy uất hận
: “Ta vô phước sinh Hương Trinh! Thì còn mong gì?”.
Mặt
nàng nóng rần, khí hận xung lên, hiếu tâm kích phát dữ dội
trong lòng. Hương Trinh rít lên: “Không thể dụ dự hèn yếu
nữa, 14 năm trời ta chỉ trông có một chút này. Ðại Lâm,
ngươi phải đền tội. Ngươi đã giết Phụ Hoàng ta, ta phải
giết ngươi, ngươi đã làm cho gia đình ta tan nát ta phải
làm gia đình ngươi tan nát lại. Nghe chưa Ðại Lâm!” Lưỡi
kiếm Hương Trinh vừa chém mạnh xuống... thì ôi! Bàn tay hiền
mẫu lại dịu dàng đưa ra:... “Con ạ, hãy lấy ân trả oán
thì oán mới tiêu. Ðem oán trả oán thì oán kết thêm nhiều...
Mẹ không muốn con gieo rắc nỗi đau khổ cho kẻ khác...”.
Hương
Trinh tưởng tượng khi Ðại Lâm chết, một nhóm cựu thần
sẽ thời cơ khởi nghĩa giam Hoàng Hậu, hại Ðông Cung v.v...
gia đình tan nát... thêm vào đấy muôn dân đồ khổ điêu
linh vì chiến tranh... ba, bốn năm nay từ ngày nàng giúp tay
với kẻ thù để trị nước, mục đích nàng chỉ muốn trăm
họ được an, nay nếu vì thù riêng, sẽ không khỏi xáo trộn
cuộc sống thanh bình của quần chúng. Rồi vô số gia đình
cũng tan nát theo... điều mà mẫu hậu không muốn, đã tha
thiết khuyên nàng.
Hương
Trinh nhẩm lại: “Ngươi đã giết cha ta, ta phải giết ngươi,
ngươi đã làm gia đình ta tan nát, ta phải làm cho gia đình
ngươi tan nát lại... Ồ sao mà hèn quá, ta nuôi chí nguyện
14 năm để làm cái việc hèn ấy ư”.
Giọt
nước Từ bi của Phật đã làm dịu ngọn lửa hận thù, tâm
trí nàng lần lần bình tĩnh. Hương Trinh nhìn lại Ðại Lâm,
một ông già gần 60 tuổi, chòm râu đế vương điểm hoa râm
tuy hãnh diện vênh lên, nhưng giấc ngủ vô minh đã làm con
người thành thây chết. Nàng nghĩ: Nếu ta hại người thất
thế thật không phải khí tượng anh hùng. Và lại ngai vàng
đã dày vò tâm trí kẻ gian hùng không ít, mà thời gian cũng
tàn phá sức lực ông đã nhiều rồi, đợi gì ta phải giúp
thời gian kết liễu đời ông? Thôi ta tha cho.
Giấc
ngủ nặng nề vì nặng nhọc nắng bức, Ðại Lâm nằm nhừ,
mồ hôi nhễ nhại, ông ú ớ trong mơ... Hương Trinh tra kiếm
vào vỏ. Thức vua dậy: Tâu Chúa Thượng đường về hạ thần
đã tìm ra.
Vua
bàng hoàng mở mắt: Ồ may quá! Quả nhân vừa thoát cơn ác
mộng. Vua quẹt mồ hôi, tiếp: quả nhân mơ thấy con gái cựu
Hoàng vác kiếm đuổi trẫm.
Lã
Tiên Ðình buông mắt nhìn xa, trong nét thu ba của vị anh hùng
căng quắt (con gái) đượm một vẻ buồn khó tả.
Chàng
nhìn vua: Oai danh bệ hạ lừng lẫy bốn phương, một người
con gái đuổi bệ hạ sợ chạy sao?
Vua
vuốt râu chữa thẹn: Ừ mộng mị nhiều khi biến tướng
(không thật, thấy lớn hoá nhỏ, nhỏ hóa lớn, v.v...).
Lã
Tiên Ðình nghiêm nét mặt: Nhưng giá như thật, Công Chúa tính
chuyện phục thù thì Chúa Thượng nghĩ sao?
Linh
tính đế vương cũng có một phần nào trong người con gái
ấy. Ðại Lâm ngờ vực nhìn Lã Tiên Ðình, thấy vua thất
sắc, chàng thương hại, rồi như một nhà hùng biện, Tiên
Ðình đứng lên kể hết sự tình...
Vua
hoảng hốt kinh ngạc và cảm động trước cử chỉ cao thượng
của Hương Trinh và đức độ từ bi của cựu Hoàng hậu...
thần lương tâm đã trở về với con người tham vọng. Ðại
Lâm như một tội nhân, ông quỳ xuống: Quả nhân còn biết
nói sao cho hết sự ăn năn của tội ác, thôi giờ đây trẫm
xin giao lại đất nước để công chúa...
Tiên
Ðình vội đỡ vua dậy: Bệ hạ yên tâm, tôi sẽ đưa đường
ngài về để phục vụ muôn dân, còn đất nước là của
chung. Ngài làm cũng như tôi. Nhưng tôi chỉ khuyên Ngài: muốn
củng cố giang sơn phải triệt để thực hành phước thiện.
Thưa Ngài: lấy nhân ái để giữ gìn đất nước là khí tượng
của Thánh quân, lấy bạo tàn duy trì ngôi báu là hành động
của bạo chúa.
Ðại
Lâm cúi đầu ngượng ngạo ông thở dài, Tiên Ðình tiếp:
Bệ hạ đừng ngại, trong Khế Kinh dạy: có hai hạng người
được Như Lai tán thán: 1- Là người biết sợ tội phước
tin nhân quả nên không bao giờ dám gây tội ác. 2- Là người
chót làm tội ác, rồi biết sợ nhân quả mà ăn năn, nguyện
chừa bỏ mà lấy công chuộc tội, thi ân cứu khổ cho mọi
người v.v... cả hai đều được gọi là “đại trượng
phu”. Hối hận, hổ thẹn, cảm động, kính phục... xáo trộn
trong lòng. Ðại Lâm bơ phờ ngẩng nhìn Lã Tiên Ðình với
tấm lòng tri ân.
Trên
đường về, lại song song hai ngựa, nhưng chúa tôi hai dòng
tư tưởng khác nhau.
Buổi
thiết triều hôm nay sao mà buồn bã thế? Quân vương bâng
khuâng như mất đi một vật gì quý giá. Mọi người cũng
đều mặc cảm như thiếu một cái gì quen biết lâu nay.
Nhưng
khi câu chuyện Lã Tiên Ðình là công chúa Hương Trinh đã công
khai khi Hoàng đế Ðại Lâm kể lại, thì bá quan đều chưng
hửng cũng như sự kinh ngạc và cảm động kính phục chí
khí đức độ của vị nữ anh hùng.
Ðại
Lâm tiếp: Thật thế, chỉ có lấy ân mà trả oán thì oán
mới tiêu, lấy oán trả oán thì oán kết thêm nhiều. Nếu
công chúa chiêu binh đem về phục thù thì trẫm không bao giờ
chịu thua. Nhưng cựu Hoàng hậu đã dặn con: “Lấy nước
từ bi dội lên lửa hận” thì quả nhân há không bằng một
phu nhơn sao? Vậy trẫm cũng nhờ giọt nước từ bi rửa sạch
lòng tham vọng... Thôi giang sơn trả về cho công chúa. Phiền
các khanh ra dinh quan võ hộ giá thỉnh người vào đây.
Bá
quan nôn nả ra đi. Nhưng đến nơi thì cửa văn phòng đóng
chặt thanh bảo kiếm Tiên Ðình thường mang, đã treo sẵn
trước cửa, là câu trả lời dứt khoát việc không có mặt
của nàng.
Phải
chăng Hương Trinh biết trước nên nàng đã yên lặng giã từ
ngai vàng để đi tìm một cái gì cao đẹp hơn?
Thích
Nữ Thể Quán
“Lấy
oán thù đáp oán thù,
Oán
thù không dứt, niềm từ lại tiêu.
Lấy
tình yêu, gọi tình yêu,
Sóng
lên một gợn, thủy triều liền dâng.”
Tôn
giả Bạt Ðà Lợi
Không
phải lúc nào thuyết pháp Ðức Phật cũng được mọi người
hoan hỷ tín thọ phụng hành. Ðôi khi ngài phải đương đầu
với những kích bác của ngoại đạo, và ngay trong chúng Tỳ
kheo đệ tử đương thời của Ngài, cũng có nhiều vị không
hoan hỷ, nhất là khi Ngài đưa ra những học thuyết hay giới
luật họ khó thật hành, vì còn nhiều ngã ái. Nhưng chính
trong những dịp này, chúng ta mới được thấy rõ đức bình
tĩnh của đấng Thiên Nhân Sư. Ngài không bao giờ tỏ ra mất
kiên nhẫn, đối với những kẻ cứng đầu.
Một
thời khi đức Thế Tôn ở Kỳ Viên tịnh xá, Ngài gọi các
Tỳ kheo bảo:
Này
các Tỳ kheo, hãy ăn chỉ một bữa trong ngày, chỉ ngồi ăn
một lần rồi thôi. Nhờ ta chỉ ăn một bữa trong ngày, ngồi
ăn một lần, ta cảm thấy ít bịnh ít não, nhẹ nhàng có
sức và yên vui. Do vậy, này các Tỳ kheo, các ngươi chỉ nên
ăn một lần, thì sẽ cảm thấy ít bịnh ít não, nhẹ nhàng
có sức và an vui.
Khi
nghe vậy Tôn giả Bạt Ðà Lợi bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn, con không thể chỉ ăn một bữa, ngồi ăn một lần,
ăn như vậy con sẽ thấy nhiều phiền não, hối tiếc, ân
hận, mất sức và buồn rầu.
- Vậy
này Bạt Ðà Lợi, khi nào ai mời ăn ngươi hãy ăn tại chỗ
một ít còn một ít đem về để ăn sau. Ngươi có thể ăn
như vậy mà sống qua ngày được không?
- Bạch
Thế Tôn, con cũng không thể làm được. Bạch Thế Tôn, ăn
như thế con cũng cảm thấy nuối tiếc, ân hận.
Trong
mùa an cư ấy, Tôn giả Bạt Ðà Lợi luôn luôn lánh mặt Phật,
vì đã không chấp hành học giới Ðức Ðạo Sư chế định
cho chúng Tỳ kheo. Khi giải hạ, Tôn giả đi đến chúng Tỳ
kheo để thăm viếng. Những vị này đang ngồi may một tấm
y Tăng Già Lê cho Ðức Thế Tôn. Khi thấy Tôn giả Bạt Ðà
Lợi, chúng Tỳ kheo nói:
- Tấm
y này đang làm cho Ðức Thế Tôn, sau khi làm y xong, Thế Tôn
sẽ du hành. Hiền giả hãy suy nghĩ lại về trường hợp vi
phạm học giới của hiền giả để đến sám hối với Ðức
Ðạo Sư, chớ để về sau lại càng khó khăn cho hiền giả.
- Thưa
vâng, chư hiền.
Tôn
giả Bạt Ðà Lợi vâng lời chúng Tỳ kheo đi đến Ðức Ðạo
Sư, đảnh lễ và bạch rằng:
- Bạch
Thế Tôn, một lỗi lầm đã chiếm đoạt con, con thật ngu
ngốc, thật si mê, thật bất thiện. Trong khi chúng Tỳ kheo
tuân hành học giới đã được Thế Tôn chế định, thì con
lại tuyên bố mình bất lực. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn
nhận cho sự sám hối của con, để có thể ngăn chừa trong
tương lai.
- Này
Bạt Ðà Lợi, đúng như vậy, một lỗi lầm đã chiếm đoạt
ngươi, ông thật ngu ngốc si mê, bất thiện khi tuyên bố sự
bất lực của ông đối với học giới đã chế. Này Bạt
Ðà Lợi, trong thời gian ấy, ông đã không ý thức được
rằng, bậc Ðạo sư đã biết ta là bậc Tỳ kheo không thực
hành học giới trọn vẹn. Ông không ý thức rằng một số
đông Tỳ kheo đến an cư tại Xá Vệ, sẽ biết mình là một
Tỳ kheo không thực hành trọn vẹn học giới. Ông không ý
thức rằng, một số đông Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ
sẽ biết đến một thượng tọa Tỳ kheo là Bạt Ðà Lợi,
là đệ tử của Sa môn Gotama, không thực hành trọn vẹn học
giới.
- Bạch
Thế Tôn, thật sự một lỗi lầm đã chiếm đoạt con. Mong
Thế Tôn nhận cho sự sám hối của con, để có thể ngăn
chừa trong tương lai..
- Này
Bạt Ðà Lợi, khi một vị Tỳ kheo đã chứng câu phần giải
thoát hay Tuệ giải thoát, hay Thân chứng, hay Kiến đạo, hay
Tín thắng giải, hay Tùy pháp hành, hay Tùy tín hành, khi một
đã chứng một trong bảy địa vị ấy, được ta bảo rằng,
hãy lấy thân mình làm cầu trải cho ta đi qua đám bùn, vị
ấy có vâng lời hay tránh né, bảo “Không”.
- Bạch
Thế Tôn, vị ấy vâng lời.
- Này
Bạt Ðà Lợi, vậy ông là gì trong thời gian ấy mà cãi lời
ta? Ông đã chứng Câu phần giải thoát hay Tuệ giải thoát,
hay Thân chứng, hay Kiến đạo, hay Tín thắng giải, Tùy pháp
hành, Tùy tín hành.
- Bạch
Thế Tôn, không.
- Vậy
có phải ông là kẻ rỗng tuếch, mà lại ương ngạnh không?
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận cho sự sám hối của
con, để ngăn chừa về sau.
- Này
Bạt Ðà Lợi, vì ông thấy rõ lỗi lầm, và như pháp phát
lộ, chúng ta sẽ chấp nhận cho ông. Vì rằng, này Bạt Ðà
Lợi, như vậy là sự lớn mạnh trong giới luật bậc thánh,
nghĩa là bất cứ ai, sau khi thấy rõ lỗi lầm, phải như pháp
phát lộ và ngăn chừa trong tương lai.
Này
Bạt Ðà Lợi, khi một vị Tỳ kheo không thực hành trọn vẹn
học giới trong giáo pháp bậc Ðạo sư, thì dù vị ấy sống
trong rừng núi hoang vu với hy vọng chứng được pháp môn
hơn người, vị ấy cũng không chứng được, vì bị Ðạo
Sư quở trách, các vị đồng phạm hạnh có trí quở trách,
bị chư thiên quở trách, và tự mình cũng quở trách mình.
Nhưng
này Bạt Ðà Lợi, nếu vị Tỳ kheo nào thực hành trọn vẹn
giới luật trong giới pháp của bậc Ðạo sư, thời vị ấy
có thể chứng được các pháp thượng nhân, vì vị ấy không
bị Ðạo sư quở trách, không bị chư thiên quở trách, và
không bị chính mình quở trách. Vị ấy có thể ứng sơ thiền,
nhị thiền, tam thiền, cho đến tứ thiền, và với tâm định
tĩnh, thuần tịnh vô nhiễm, vô phiền não, nhu nhuyễn, dễ
sử dụng, vị ấy hướng tâm đến túc mạng minh, nhớ được
nhiều đời trước của chúng sanh, biết người hạ liệt,
kẻ cao sang đều do hạnh nghiệp của chúng. Vị ấy có thể
hướng tâm đến lậu tận trí, trừ được dục lậu, hữu
lậu, vô minh lậu, nhờ đã thực hành trọn vẹn các học
giới trong giới Pháp bậc Ðạo Sư.
- Bạch
Thế Tôn, do nhân duyên gì, có người được chúng Tăng giải
tội một cách mau chóng, có người lại không?
- Này
Bạt Ðà Lợi, nếu một vị Tỳ kheo thường phạm giới tội,
khi bị cử tội lại tỏ ra bất phục, không có thiện chí
sửa đổi, vị ấy không được giải tội mau chóng.
Nếu
vị Tỳ kheo ít phạm giới tội, nhưng khi phạm và bị chúng
Tăng cử tội, lại tỏ ra phẫn nộ, bất mãn, thì chúng Tăng
cũng không giải tội mau chóng.
Nếu
vị Tỳ kheo thường phạm giới tội, khi bị cử tội tỏ
ra ăn năn lỗi lầm, vị ấy được giải tội mau chóng.
Nếu
vị Tỳ kheo ít khi lỗi lầm, nhưng khi bị cử tội, lại ăn
năn chừa bỏ, thì chúng Tăng giải tội người đó mau chóng.
Nhưng
khi một vị Tỳ kheo chỉ còn sống trong Tăng chúng với chút
ít lòng thương, chút ít lòng tin, thì Tăng chúng không kết
tội người ấy, vì không muốn mất chút ít lòng thương còn
lại nơi vị ấy. Này Bạt Ðà Lợi, cũng như người chỉ
còn một con mắt, thân bằng quyến thuộc của người ấy
sẽ lo bảo vệ con mắt còn lại của người ấy, không để
cho nó bị đoạn diệt. Tăng chúng đối xử với Tỳ kheo chỉ
còn chút ít lòng tin cũng thế. Do nhân duyên ấy, có khi chúng
Tăng giải tội mau chóng, và có trường hợp chúng Tăng không
kết tội một vị Tỳ kheo, khi vị ấy chỉ còn một ít tình
thương đối với chúng Tăng.
- Bạch Thế Tôn, vì sao ngày xưa, học giới ít mà có nhiều
Tỳ kheo ngộ nhập chánh trí, còn ngày nay học giới nhiều,
mà Tỳ kheo nhập chánh trí rất ít?
- Này Bạt Ðà Lợi, khi diệu pháp sắp diệt thì học giới
nhiều mà Tỳ kheo ngộ nhập thì ít. Khi hữu lậu pháp chưa
sanh khởi trong Tăng chúng thì bậc Ðạo sư không chế giới
làm gì. Chỉ khi hữu lậu pháp sanh khởi, bậc Ðạo sư mới
chế giới luật để đối trị.
Khi nào thì hữu lậu sanh khởi? Ấy là khi Tăng đoàn lớn
mạnh, đông người, khi Tăng chúng có nhiều quyền lợi, khi
Tăng chúng bắt đầu có danh tiếng, khi Tăng chúng bắt đầu
đạt đến địa vị kỳ cựu. Khi ấy bậc Ðạo sư mới chế
định giới luật để đối trị các pháp hữu lậu ấy. Này
Bạt Ðà Lợi, khi các người còn số ít, ta đã giảng thí
dụ con ngựa tốt, ngươi có nhớ không?
- Bạch Thế Tôn, không.
- Này Bạt Ðà Lợi, tại sao vậy?
- Bạch Thế Tôn, bởi vì trong một thời gian dài con đã không
thực hành trọn vẹn các học giới trong giáo pháp bậc Ðạo
sư.
- Bạt Ðà Lợi, không những chỉ có vì như vậy mà thôi,
còn vì lý do này nữa: là trong khi ta thuyết pháp ngươi không
có để tâm, chú ý, không nghe pháp với cả hai lỗ tai của
ngươi. Vậy ta sẽ giảng lại cho ngươi, hãy nghe và suy nghiệm
kỹ.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
- Này Bạt Ðà Lợi, như người luyện một con ngựa tốt,
trước hết phải tập cho nó quen với dây cương. Khi nó đã
thuần thục với dây cương lại tập cho nó quen với yên ngựa,
kế đó quen với sự diễn hành, rồi tập đi vòng quanh đi
bằng đầu móng chân, phi nước đại, chơi các trò vương
giả, vương lực, tốc lực tối thượng và cuối cùng trang
sức đẹp đẽ cho nó. Con lương mã trở thành một báu vật
của vua chúa.
Cũng vậy, này Bạt Ðà Lợi, một Tỳ kheo thành tựu mười
pháp thì trở thành người đáng cung kính cúng dường: ấy
là thành tựu vô học chánh tri kiến, vô học chánh tư duy,
vô học chánh ngữ, vô học chánh nghiệp, vô học chánh mạng,
vô học chánh tinh tấn, vô học chánh niệm, vô học chánh
định, vô học chánh trí, vô học chánh giải thoát. Này Bạt
Ðà Lợi! Một vị Tỳ kheo thành tựu mười pháp này sẽ là
phước điền vô thượng của thế gian.
Sau khi Ðức thế Tôn thuyết giảng, Tôn giả Bạt Ðà Lợi
hoan hỷ tín thọ lời thế Tôn dạy.
Thích
Nữ Trí Hải
“Chút
phước mọn hôm nay gần bóng Phật
Con
nghe như dìu dịu một mùi hương
Và,
phảng phất một tình thương êm ấm
Qua
huyết quản rộn ràng dâng mạch sống
Con
tự nhủ qua rồi cơn ác mộng
Và
theo Ngài vượt khỏi bến trầm luân
Xin
cho con một tiềm lực tinh thần
Ðể
vững thắng giữa trần ai phiền não.”
Mở
mắt chiêm bao
Thuở
xưa, có một chú Sa Di tên là Tăng Hộ. Tăng Hộ xuất gia cùng
vị Thầy tế độ - Một vị A La Hán nguyên là cậu ruột
của chú.
Hôm
nọ, Tăng Hộ được thí chủ dâng cúng cho hai xấp vải thật
đẹp. Chú mừng lắm, định đem về dâng Thầy để tỏ lòng
biết ơn và kính mộ của mình. Ngờ đâu khi mới mở lời,
ông Thầy của chú đã gạt phắt đi.
- Thôi
ta đã đủ ba y rồi. Con hãy giữ lấy mà xài hoặc dâng cúng
vị nào còn thiếu. Chú Tăng Hộ năn nỉ đến ba lần nhưng
Thầy chú vẫn một mực từ chối. Tăng Hộ đâm ra buồn rầu,
bực bội, vừa đứng quạt hầu cho Thầy, chú vừa để dòng
tư tưởng trôi lan man... “Mình tứ cố vô thân chẳng có
ai để nương tựa... chỉ có cậu mình là người thân nhất
trên đời. Vậy mà cậu cũng không thương ta... Vậy ta còn
sống ở đây làm chi cho bận lòng ổng. Ta đã năn nỉ ổng
đến ba lần mà ổng cứ lạnh lùng từ chối... Thôi ta đi
khuất mắt cho rồi. Nhưng ta đi đâu bây giờ? Lấy gì mình
sinh sống? À! Phải rồi! Mình sẽ bán hai xấp vải lấy tiền
mua một con bê... để nuôi. Hằng ngày mình dắt bê đi ăn
cỏ bên vệ đường vừa thanh nhàn, vừa ít tốn kém. Loài
thú này sinh sản rất mau nên chừng vài năm là mình đã có
cả một bầy gia súc. Mình sẽ bán bớt đi để tậu nhà cửa,
ruộng đất giường chõng... đồ đạc trong nhà cho khang trang
và đến lúc trưởng thành mình sẽ cưới một cô vợ. Khi
đứa con đầu lòng chào đời mình sẽ bế nó đến quy y với
cậu mình... Ờ! Thằng bé mới kháu khỉnh làm sao... Ðường
xa trời nắng, ngó bộ mụ vợ đã mỏi tay ta bảo:
- Ðưa
thằng cu anh bế cho. Nhưng nó không nghe, cứ giành ẵm trên
tay, bất chợt... mụ vợ vấp một rễ cây, thằng bé rớt
xuống đất... giận quá... ta với lấy một cành cây, gõ cho
mụ vợ một cái nên thân:
- Ðã
bảo đưa ta bế cho mà cứ không nghe cái thứ đàn bà hư...
chỉ biết có cãi lời...
Dòng
suy tư của chú Sa Di còn đang tiếp tục trôi chảy như thế
thì bỗng nhiên chú nghe tiếng nói điềm đạm của Thầy chú
vị La Hán cất lên :
- Này
chú! Chú đánh không trúng cái mụ vợ hư thân ấy đâu, mà
lại trúng ngay cái đầu trọc của ta, kêu cái “tróc” đây
này.
Tăng
Hộ bừng tỉnh cơn mơ chú hốt hoảng co giò chạy vừa ngẫm
nghĩ:
- Chết
rồi ta nghĩ gì trong bụng ổng biết hết trọi... phải chạy
cho lẹ mới được.
Thấy
chú khi không bỏ chạy như ma đuổi, các bạn chú vội vã
rượt theo bắt lại được. Ðương sự được dẫn đến
gặp Ðức Phật.
Sau
khi nghe rõ đầu đuôi câu chuyện. Ngài an ủi chú Tiểu:
- Này
chú! Cái tâm của phàm phu thường hay lén lút đi chơi như
thế, nó thường đi rất xa, vô hình vô dạng... Người thiện
trí nên khéo léo như gã mục đồng dùng dây xỏ mũi con trâu
hoang, dẫn nó về chuồng cũ. Chăn dắt đến lúc nào buông
lơi giây giàn mà nó không lén đi rong nữa mới tạm yên…
- Ðược
lời dậy dỗ của Ðức Thế Tôn, chú Tăng Hộ bình tĩnh ở
lại Tu Viện và tu cho đến ngày đắc quả A La Hán.
Tuy
lâu chú vẫn bị lâm vào cảnh “mở mắt chiêm bao” nhưng
không khi nào chú trở cán quạt gõ vào đầu Sư phụ như lần
trước, vì chú đã biết cách chăn trâu và cột trâu rồi.
“Loay
hoay đã nửa kiếp người
Thu
bay trên những nụ cười xanh xao.
Rõ
ràng mở mắt chiêm bao
Biết
như mộng huyễn vẫn đau xé lòng”.
Ðại
bố thí
Tại
nước Tỳ Xá Ly trong vườn cây Sa La, Ðức Thế Tôn hỏi A
Nan:
- Ðối
với những người đã chứng đắc tứ thần túc, thì mạng
sống được một kiếp, còn như Ta đã chứng đắc tứ thần
túc, còn phải hành trì giới đức, vậy thì A Nan có biết
rằng Như Lai sẽ sống được bao nhiêu chăng? Thế Tôn hỏi
luôn ba lần như vậy, nhưng khi ấy A Nan bị ma ba tuần che
kín tuệ căn nên vẫn ngồi im lìm, chẳng trả lời cho Phật.
- Này
A Nan, thầy hãy đi vào rừng, nơi thanh vắng, tịch tịnh mà
tư duy thiền định.
Sau
khi A Nan đi rồi, ma ba tuần liền hấp tấp vô ngay, đứng
trước Phật bạch với Ðức Thế Tôn:
- Ngài
xuất hiện ở đời đã lâu rồi, hóa độ vô lượng chúng
sanh, làm lợi cho Chư thiên và nhân loại nhiều như cát sông
Hằng, nay tuổi già yếu rồi Ngài còn luyến tiếc gì nữa,
hãy vào Niết bàn cho yên tĩnh thân tâm, khỏi phiền lụy cho
lũ chúng tôi nhờ. Ði Ngài, Ngài hãy vào Niết bàn đi.
Nghe
ma ba tuần nói vậy, Thế Tôn bèn cạy chút đất để trên
đầu móng tay, hỏi Ba tuần rằng:
- Ðất
trên đầu móng tay của ta nhiều, hay đất trên đại địa
này nhiều?
- Dĩ
nhiên đất trên đại địa này nhiều hơn đất trên đầu
móng tay của Thế Tôn rồi.
- Cũng
vậy, ba tuần, chúng sanh vô lượng, hằng hà sa, chẳng thể
tính toán còn trôi lăn trong ba đường sáu nẻo nhiều như
đại địa kia, còn đối với chúng sanh mà Ta đã hóa độ
thì thương thay rất ít oi, như đất trên đầu móng tay này.
Nhưng nay cơ duyên hóa độ đã mãn, giáo pháp Ta đã truyền
xong, Ta sẽ vào Niết bàn trong vòng ba tháng nữa. Ngươi đừng
lo.
Ba
tuần nghe Phật đã hứa, mừng rỡ rồi lui ra.
Khi
ấy, A Nan vào rừng sâu, nơi tịch tĩnh, nhập thiền định
nhưng cũng bị loạn động. Chợt thấy một thân cây to lớn,
che rợp cả hư không, cành nhánh xanh um, trái hoa tươi tốt,
điều thiện ích của cây vi diệu vô cùng. Bỗng nhiên, từ
đâu thổi đến một trận cuồng phong mãnh liệt, đánh tan
tác những chiếc lá xanh tươi, cành nhánh gãy rụng tơi bời,
những đóa hoa tơi tả, những chiếc quả vỡ đôi lăn lóc,
làm chấn động tinh thần A Nan, A Nan bừng tỉnh. Trống ngực
hãy còn dồn dập, toàn thân nổi da gà, sửng sốt bàng hoàng.
A Nan thầm nghĩ: “Cây đại thọ tỏa rợp bóng mát xanh tươi
đã xoa dịu nổi nắng gió cho mọi người, làm mát cơn nắng
hè gay gắt, rồi tại sao lại bị một trận cuồng phong ác
liệt đánh tơi tả như vậy? Như Ðức Thế-Tôn là đấng
Ðạo sư của Trời, Người làm lợi ích cho chúng sanh, một
lòng thương tưởng cho đời, cũng giống như đại thọ, nay
phải chăng Ðức Thế Tôn sắp vào Niết bàn nên đất trời
chấn động? A-Nan liền đi thẳng vào tịnh xá, bạch Phật:
- Kính
bạch Thế Tôn! Con vừa mơ thấy một ác mộng: trong khu rừng
kia có một đại thọ sum suê hoa lá, là nơi trú ngụ của
muôn chim, chốn nhà cửa của muôn loài, vậy mà từ đâu một
trận gió thổi tới làm rơi rụng tiêu điều có phải chăng
là điềm Thế Tôn sắp vào niết bàn?
- Thật
vậy, này A-Nan, sau ba tháng nữa Ta sẽ vào Niết bàn, vì hồi
nãy Ta đã nói với Thầy là người đã chứng tứ thần túc
rồi có thể duy trì tuổi thọ một kiếp còn Ta do đức lực
tu hành và đã chứng tứ thần túc vậy tuổi thọ được
bao nhiêu? Ta đã hỏi ba lần như vậy, nhưng thầy vẫn im lặng,
nên ma ba tuần đã thỉnh ta vào Niết bàn.
Như
sét đánh ngang tai, A Nan choáng váng quá lo sợ, quá buồn khổ.
Giờ đây Thế Tôn vào Niết bàn, chúng sanh biết nương dựa
vào đâu? Con mắt thế gian sắp mất rồi.
Tin
Phật sắp nhập niết bàn được truyền ra, hàng đệ tử
vị nào cũng buồn bã, lo âu. Thấy vậy Thế Tôn bảo:
- Tất
cả mọi vật trên thế gian này đều bị luật vô thường
chi phối, nay còn mai mất, có cái sự gì là bất biến, nhất
định đâu. Ta vì chúng sanh mà thị hiện ra đời, nay sự
hóa hiện đó đã mãn thì ta vào nơi tịnh mặc, có gì mà
các thầy phải khóc lóc, lo buồn. Ðiều Ta cần lưu ý các
thầy, là phải chăm lo tu niệm để tự mình giải thoát vòng
luân hồi sanh tử.
Lúc
ấy Tôn-giả Xá Lợi-Phất than rằng: “Than ôi! Con mắt của
thế gian đã đến ngày diệt tận, bóng tối tăm lại bao trùm
nhân thế. Như-Lai sắp vào niết bàn, thật thảm thương cho
chúng sanh hết chỗ cậy trông”. Rồi quỳ xuống bạch Thế
Tôn :
- Kính
lạy đức Ðạo sư chí kính, con không nỡ lòng nào để nhìn
thấy sự ra đi của Thế Tôn vào nơi tịch mặc vĩnh viễn.
Vậy cúi mong Thế Tôn hoan hỷ cho con được vào Niết bàn
trước.
- Này
vị thầy Trí Tuệ, thầy hãy làm việc gì mà thầy nghĩ là
đúng thời. Nhưng thầy biết tất cả các bậc hiền thánh
rồi cũng đều tịch diệt.
Nghe
Thế Tôn nói xong, Xá Lợi Phất đi quanh Phật ba vòng, cúi
lạy sát đất lấy chân Phật để lên đầu ba lượt mà bạch
rằng:
- Kính
lạy đức Ðạo sư của trời người, hôm nay là lần cuối
cùng con xin từ biệt Thế Tôn. Xin Thế Tôn hãy khoan vào Niết
bàn, vì lòng thương tưởng chúng sanh. Nói rồi cúi đầu cung
kính lui ra. Xá Lợi Phất trở về La Duyệt Kỳ nơi sinh quán,
Sa di Quân Ðề tin cho vua và các thân tín đều biết.
Khi
ấy, Vua A Xà Thế biết Tôn giả Xá Lợi Phất sắp vào Niết
bàn, tự thốt lên rằng: “Tôn giả Xá Lợi Phất là một
kiện tướng trong Phật Pháp, than ôi! Ngài nhập niết bàn
sao mà sớm vậy? Giờ biết lấy ai chấn chỉnh tà ma?
Mọi
người từ Vua quan đến dân chúng ai cũng đều biết và kéo
đến vây quanh Ngài và nói rằng:
- Kính
lạy Tôn giả, xin Tôn giả hãy thương xót chúng con, Ngài vào
Niết bàn rồi lũ chúng con đây bơ vơ như con mất cha, như
gà mất mẹ chiu chít ngóng trông, chẳng chốn nương thân,
không bề trông cậy. Tôn giả hãy đoái thương.
- Các
Phật tử, Ta thương các ngươi lắm chứ, nhưng đến lúc Ta
phải vào Niết bàn, các ngươi chớ buồn, tất cả muôn vật
trên thế gian này đều trong định luật vô thường, đều
phải tan rã. Vậy các ngươi hãy gieo căn lành, trồng điều
thiện lợi để nhờ duyên lành đó mà sanh ra đời được
gặp Phật tại thế, để chăm tu phước nghiệp cầu giải
thoát sanh tử luân hồi.
Tùy
theo căn cơ quần chúng, Tôn giả đi từ thấp lên cao mà giảng
giải thuyết nghĩa an vui, lợi ích, khiến cho họ có kẻ đắc
sơ quả, có người chứng A La Hán, thân tâm vắng lặng, an
hòa, lễ tạ rồi lui.
Giờ
này đã quá nửa đêm, Tôn giả đang tĩnh tọa vào thiền định:
nhập Sơ thiền, rồi từ Sơ thiền lên Nhị thiền, Tam thiền
và Tứ thiền, từ cõi Tứ thiền hướng đến Vô lượng Không
xứ, rồi từ Vô lượng Không xứ hướng đến Vô lượng
Thức xứ, từ Vô lượng Thức xứ hướng đến Vô sở Hữu
xứ, từ Vô sở Hữu xứ hướng đến Phi hữu tưởng, Phi
Vô tưởng xứ rồi nhập vào định Diệt tận và Bát niết
bàn.
Sau
khi Xá Lợi Phất xả báo thân, trời đất rúng động, chư
thiên Ðế thích, quyến thuộc hàng trời, mang hương, dâng
hoa cúng dường. Ðế Thích nhìn thấy báo thân Tôn giả mà
bùi ngùi: “Tôn giả trí tuệ rộng sâu như trời cao, như
biển rộng biện luận ứng cơ mau như chớp loáng, âm thanh
như nước chảy, giới định tuệ hoàn toàn là một dõng tướng
trong Phật pháp, thay Phật để chuyển pháp luân, nhưng giờ
này Ngài đã Bát niết bàn rồi, kể từ đây nhân thiên lại
tăm tối”.
Rồi
từ thành thị đến thôn quê, người ngoài đông như mở hội,
hoa hương tràng phan, bảo cái rợp đường, nhưng có điều
rõ nhất là trên đôi mắt người nào cũng đẫm lệ, trong
lòng âm thầm thương tiếc một bậc Tôn túc tuyệt luân đã
vào nơi vắng lặng.
Phạm
Thiên Vương và Tỳ Thủ Yết La cưỡi xe trời bay xuống, theo
sau là sáu bộ chúng. Ðế Thích sai quỷ Dạ Xoa ra biển lấy
gỗ chiên đàn, gỗ ngưu đầu về chất thành một đống,
đổ dầu Tô, phóng hỏa thiêu báo thân Tôn giả. Ngọn lửa
rực lên, như một lần bừng sáng rồi phụt tắt.
Ðốt
xong, mọi người đều bái tạ lui về. Chờ cho ngọn lửa
nguôi, Sa di Quân Ðề thâu tóm Xá Lợi của Thầy và y bát
đem về bạch Phật.
- Kính
lạy Ðức Thế Tôn, Thầy con là Xá Lợi Phất đã nhập Niết
bàn, và đây là Xá Lợi, y bát, xin Thế Tôn chứng minh.
Khi
ấy A Nan đứng hầu Phật thấy cảm động quá, liền quỳ
xuống bạch Thế Tôn :
- Tôn
giả Xá Lợi Phất là bậc thượng tôn trưởng lão, ấy mà
Ngài đã vào Niết bàn rồi, mai này Thế Tôn lại tiếp tục
xả báo thân nữa thì chúng con còn lại biết nhờ ai?
- Tuy
Xá Lợi Phất nhập niết bàn nhưng pháp thân vẫn thường
hiển hiện, vì Xá Lợi Phất không muốn thấy Ta Niết bàn
nên đi trước ta. Này A Nan, không phải chỉ đời này là như
vậy, mà ở đời quá khứ cũng vậy.
*
Thuở
xưa, đã lâu lắm rồi, cũng tại Diêm Phù Ðề này, có vua
tên là Chiên Ðàn Bà La Tỳ, thống lãnh tám vạn ngàn nước
nhỏ, sáu muôn núi sông, tám muôn ức tụ lạc. Ông có hai
muôn phu nhân và Thế nữ, bà thứ nhất tên là Tu Ma Ðàn,
một vạn quan đại thần, quan lớn nhất tên là Ma Chiên Ðà,
năm trăm Thái tử, người thứ nhất tên là Thi La Bạt Ðà.
Thành
này chu vi ngang dọc bốn trăm do tuần, làm thuần bằng vàng
bạc, lưu ly, pha lê, đầy đủ mọi vật báu, trong nước an
cư lạc nghiệp, dân chúng vui mừng, sung túc.
Một
hôm vua ngồi trên bảo điện, chợt nghĩ như vầy: “Người
ta ở trên đời được tôn vinh phú quí, chắc do quả báo
tu nhân tích đức ở đời trước lưu lại. Cũng như kẻ làm
ruộng, mùa Xuân phải mất công cầy bừa, gieo mạ cấy lúa,
tới mùa Hạ, mùa Thu gặt hái được thóc gạo đem về ăn
uống. Nếu mùa Xuân chẳng lo cấy cầy, thì kết quả mùa
Hạ, mùa Thu chẳng có lúa đâu thu hoạch. Cũng vậy, Ta đời
trước có tu phước lành, nên đời này hưởng quả tốt đẹp,
nếu bây giờ Ta lại không tiếp tục tu phước bố thí nữa
thì đời sau lấy chi thọ hưởng”. Nghĩ vậy, liền sắc
quan mở kho đem tiền bạc, lụa là bố thí cho toàn dân và
vua cũng ra lệnh cho tám vạn bốn ngàn vua kia cũng mở kho chẩn
bần, bố thí.
Mệnh
lệnh được truyền đi khắp nơi, từ thành thị đến thôn
quê, hay hang cùng ngõ hẻm nào cũng biết vào ngày ấy vua xuất
kho bố thí, nên mọi người kéo đến kinh thành đông như
kiến cỏ. Người mạnh cõng kẻ yếu, người sáng dắt kẻ
mù, lần lượt nhà vua phân cấp tiền gạo, áo quần đầy
đủ. Tứ đó muôn dân được an nhàn hỷ hả. Danh đức nhà
vua lừng lẫy, tiếng khen đồn khắp bốn phương.
Thì
cũng thời đó, có một ông vua nước nhỏ ở bên cạnh tên
là Tỳ Ma Tư Na thấy nhân dân ca tụng và cảm phục oai đức
Vua Chiên Ðàn Bà La Tỳ, sanh lòng ganh ghét, ngày quên ăn đêm
quên ngủ, ông thầm nghĩ mưu toan sát hại: “Nếu ta không
tiêu diệt được lão vua kia, oai danh vang lừng trời đất,
như vậy ta làm sao hiển danh trời đất, như vậy ta làm sao
hiển đạt cho được”. Nghĩ xong, ông liền thi hành ngay độc
kế, ra lệnh triệu tập hết thảy các thày Bà La Môn trong
nước, nhà vua kính trọng cúng dường lễ bái. Sau rồi vua
trình bày:
- Thưa
các thầy Bà La Môn, tôi có một việc đáng lo, đến nỗi
ngày quên ăn, đêm quên ngủ, quý ngài có kế chi để giải
quyết cho chăng?
- Tâu
bệ hạ, có việc chi xin cứ nói, nếu giúp được chúng tôi
sẽ giúp.
- Thưa
các ngài, hiện nay vua Chiên Ðàn Bà La Tỳ được muôn phương
mến phục, phúc đức lớn lao, đó là điều đáng ngại cho
tôi về sau này, vậy các ngài có phép chi cứu giúp giùm tôi
để trừ khử ông vua ấy.
- Tâu
bệ hạ, vua Ðàn Bà La Tỳ là người có đức lớn, thương
dân như thương con, dân coi vua như bậc cha mẹ, chúng tôi nỡ
lòng nào mưu tâm sát hại, thà chịu chết chớ không bao giờ
giết người hiền lương. Nói xong tất cả người Bà La Môn
đều kéo nhau về.
Vua
Tỳ Ma La cảm thấy bực mình, vì công việc chẳng như ý,
liền hạ chiếu cho toàn nước biết:
- Ai
có khả năng lấy đầu vua Ðàn Bà La Tỳ mang về đây, vua
sẽ gả con gái và phân nửa nước cho cai trị.
Thời
đó có một người Bà La Môn tên là Lao Ðộ Sai, tu luyện
ở núi nghe vua rao truyền như vậy, bèn đi đến ra mắt vua,
và xin đi lấy đầu vua Ðàn Bà La Tỳ. Nghe nói vậy, vua hớn
hở, vui mừng.
- Nếu
khanh làm việc tốt, sứ mệnh hoàn thành, ta sẽ giữ đúng
lời hứa. Vậy khi nào khanh đi, xin cho biết.
- Hẹn
bệ hạ bảy ngày nữa. Nói xong từ tạ về rừng, quyết tâm
liên tiếp bảy ngày, trì chú hộ thân.
Qua
bảy ngày, ông lại đến cung vua, và được cung cấp lương
thực, tiền lộ phí để lên đường. Trước khi đi ông còn
ngoảnh lại nói rằng:
- Bệ
hạ an lòng, tôi thề: “Nếu không lấy được đầu vua, quyết
chẳng trở lại nơi này”.
Khi
đó, trong nước vua Ðàn Bà La Tỳ, có những điềm chẳng
lành xuất hiện: như động đất, chớp giật, sao băng, sấm
động, ban ngày sương khói mờ mịt kéo giăng, sao chổi mọc,
mưa đá, sét đánh tứ tung, các loài chim kêu thảm thiết
trên không, và tự nhổ lông rơi đầy mặt đất. Hổ báo,
sài lang tự đâm mình xuống hố, kêu gào thảm thiết. Tám
vạn bốn ngàn ông vua nước nhỏ đều nằm mộng thấy cánh
phướn vàng của nhà vua bị gãy, trống vàng bị thủng. Còn
chính tự thân vua Ðàn Bà La Tỳ mơ thấy ác quỷ cướp mũ
vàng của mình mang đi. Trên nét mặt mọi người cảm thấy
lo âu, chẳng hiểu vì sao lại có những điềm bất tường
như vậy.
Khi
ấy thần coi thành biết ý định của Lao Ðộ Sai đến xin
đầu vua, nên thần hóa phép làm tâm trí Lao Ðộ Sai cuồng
loạn, không biết lối vào cung, cứ luẩn quẩn bên ngoài thành
mà thôi.
Thấy
vậy, các vị trời ở Tịnh Cư Thiên báo cho vua hay:
- Bệ
hạ phát tâm bố thí, nên hiện giờ có người đến xin, nhưng
ở bên ngoài thành không vào được.
Nhà
vua thức dậy, ngạc nhiên hỏi cận thần:
- Ai
ngăn cản dân chúng đến xin đồ cấp phát, ông hãy ra ngoài
xem sao.
Ra
cổng thành, nhìn bốn phía ngơ ngác, quan cận thần chẳng
thấy ai đến, mà cũng chẳng có quân lính nào cản ngăn. Khi
đó, thần giữ thành hiện lên thưa rằng:
- Thưa
quan lớn, hiện có người dòng Bà La Môn ở nước khác muốn
xin đầu vua của chúng ta, nên tôi không cho nó vào.
- Nếu
quả thật như vậy thì đây là một tai họa lớn cho chúng
ta, nhưng vua đã ra lệnh, chúng ta đâu dám trái ý, khi ấy
quan cận thần Ma Chiên Ða tự nghĩ: “Nếu kẻ này quyết
chí xin đầu vua thì ta hãy bày ra một kế, lấy năm trăm cái
đầu bằng thất bảo để đổi cho nó”.
Sau
cơn mê Lao Ðộ Sai bước vào cửa cung và lớn tiếng nói:
- Tôi
là kẻ phương xa, biết được vua rủ lòng bố thí, chẩn
bần cho muôn phương, ai muốn xin gì cũng được. Vì vậy,
nay tôi tới đây muốn xin một việc.
- Ngài
muốn xin gì cứ nói, dù khó khăn đến đâu, nếu có thể,
tôi cũng xin làm vừa lòng ngài.
- Vua
bố thí tài vật, tiền của cho mọi người có phước báo
nhưng chưa bằng bố thí những vật trong thân vua, phước báo
càng lớn hơn. Vậy tôi xin cái đầu của vua. Vua nghĩ sao?
Cho hay không?
- Thành
thực, ngài cứ lấy.
- Bây
giờ hay khi nào?
- Ðạo
sĩ xin cho khất lại bảy ngày.
Liền
khi đó, quan cận thần Ma chiên Ðà liền mang năm trăm cái
đầu bằng thất bảo đến trước Lao Ðộ Sai và nói rằng:
- Ðầu
vua bằng xương thịt, máu mủ tanh hôi, là đồ bất tịnh
chẳng quí giá gì vật ấy, ông xin làm gì cho nhơ nhớp. Và
đây là những cái đầu làm bằng thất bảo quý hóa tuyệt
luân, ông hãy mang đầu này về mà được giàu sang, phú quí
suốt đời.
- Tôi
chẳng cần thứ đó, chỉ cần đầu vua thôi.
Trước
thái độ ương ngạnh của Lao Ðộ Sai, Mã Chiên Ðà chẳng
biết làm sao, bằng xuống giọng êm dịu, năn nỉ, nói ngọt
ngào mong thay đổi ý định, nhưng cuối cùng Lao Ðộ Sai cũng
chẳng thèm nghe, bỏ đi chỗ khác.
Mã
Chiên Ðà phẫn uất quá tim vỡ thành bảy mảnh chết ngay
trước mặt vua.
Trên
từ vua, xuống cho tới bá quan văn võ ai nấy đều rơi lệ
tiếc thương cho một bậc trung thần, chánh khí. Vua sai thâu
hài an táng đúng nghi lễ của một quan đại thần. Ðám tang
vừa xong, vua cho quan quân cưỡi voi đi khắp nước thông báo
cho dân chúng biết ngày vua bố thí đầu.
Ðược
tin này, ai nấy đều rơi lệ, tám vạn bốn ngàn nước nhỏ
liền đến tâu vua:
- Tâu
bệ hạ, tất cả Diêm Phù Ðề này đều nhờ đức độ của
bệ hạ mà mưa thuận gió hòa, an cư lạc nghiệp, cây cỏ
muôn màu, mùa màng sung túc, khoái lạc an khương, sống trong
cảnh thái bình thịnh trị. Vậy tại sao bệ hạ lại vì một
người mà bỏ muôn dân?
Khi
ấy các quần thần đồng thanh nói:
- Xin
bệ hạ hãy bỏ ý định bố thí đầu, một sự việc quái
lạ chưa từng thấy, bệ hạ nghe lời một kẻ khốn nạn,
cùng đinh, sống trong núi rừng như dã thú, để rồi bỏ chúng
tôi bơ vơ hay sao?
Hai
muôn phu nhân và năm trăm thái tử vật mình xuống đất khóc
lóc:
- Tâu
bệ hạ, hãy xót thương vợ con của bệ hạ, rồi đây sẽ
ngơ ngáo, vợ xa chồng, con chẳng có cha, sống đời mô côi
mồ cút. Hãy nghĩ lại bệ hạ ôi!
Thật
muôn cảnh bi đát, đáng thương tâm diễn ra trước mặt vua,
nhưng vua với nét mặt hiền hòa, bình tĩnh an ủi:
- Xin
các vương hầu khanh tướng, hãy bình tâm nghe tôi nói, con
người vì kết buộc nhau trong tình ân ái từ kiếp lâu xa,
nên chịu ách sanh tử bức bách, ta chưa thấy ai thực hành
để bỏ, nhất là quý chuộng bản thân. Ta nghĩ rằng từ
thời vô thỉ âm u trở lại đây, sống chết đã bao đời
đâu kể xiết, lúc ở trong địa ngục, bỏ thân một ngày
không biết bao nhiêu lần, chết trong nước phân tro, nằm trên
giường sắt đốt, ôm cột đồng nóng, ngâm mình trong vạc
dầu sôi, hay ngồi trên xe lửa, nằm ở hố than. Thật cái
khổ nơi địa ngục biết kể sao cho cùng như vậy, thân này
chết đây rồi sanh kia, trải qua vô số kiếp mà chẳng có
chút ích lợi hay phước báo gì. Khi làm loài súc sanh thì bị
người ta chém giết, thân thể bị phân thây, máu rơi xương
rã. Còn khi làm loài quỷ đói, thì lửa trong mình phát ra hoặc
vòng đao lửa bay tới chém thân chặt đầu, chết đi sống
lại bao lần thì cũng chẳng có phước báo gì. Rồi khi ở
nhân gian, làm người thì sanh lòng tham lam, giết hại lẫn
nhau, cũng do tài sắc ràng buộc, cũng vì ân ái kéo lôi toàn
là những việc xuôi theo nhân thế. Còn như hiện tại thân
ta, đây cũng chỉ là một khối nhơ bẩn, máu tanh huyết nồng,
rồi một ngày nào đó cũng sẽ rã tan, có gì luyến tiếc
với cái đầu ô uế ấy mà chẳng dám xả bỏ, để tu lấy
pháp thân thường hằng vĩnh tịch. Hơn nữa, ta còn có thể
đem lại sự ích lợi cho muôn dân ở đời vị lai, phải nhìn
xa thấy rộng, đừng vì tình thương luyến ái hạn hẹp trong
một lúc này. Vậy thì các khanh khuyên ta làm gì. Ta bỏ cái
đầu này để cầu đạo giải thoát, sau khi thành đạo, ta
sẽ hóa độ các ngươi vượt khỏi nỗi khổ sanh, già, bịnh,
chết được niềm an lạc của đạo tâm. Vậy các khanh hãy
hiểu việc làm của ta không phải vô dụng. Các khanh cứ yên
tâm lo toan việc nước.
Ai
nấy nghe vua giảng giải đều làm thinh chẳng biết phải nói
năng sao nữa. Ðã yên lòng trước sự an tâm của quần thần,
vua kêu Lao Ðộ Sai bảo:
- Giờ
đã đến lúc ngươi tự do lấy đầu ta.
- Tâu
bệ hạ, hiện đây tôi chỉ có một mình, lực yếu thế cô,
còn chung quanh vua, bá quan văn võ quá nhiều, nhỡ khi tôi lấy
đầu vua họ thấy thương tâm mà giết tôi thì sao? Vậy nếu
vua cho thì hãy ra sau vườn, nơi vắng vẻ, chỉ riêng mình
tôi và vua, thì tôi mới dám.
Vua
nói với quần thần:
- Các
khanh thương ta, kính ta thì chớ hại Lao Ðộ Sai.
Nói
xong, vua nắm tay Lao Ðộ Sai cùng ra hậu viên.
- Sức
vua hùng tráng khỏe mạnh, khi bị cắt đầu đau đớn mà hối
tiếc rồi đánh tôi thì sao? Vậy vua hãy cột đầu vào cành
cây để tôi cắt cho dễ.
Ngồi
dưới gốc cây to, vua túm lấy tóc cột vào cây rồi nói:
- Khi
cắt đầu xong, hãy để trên tay ta, để ta dâng cho ông.
Rồi
vua chắp tay phát đại nguyện rằng:
- “Kính
lạy thập phương tam thế chư Phật, nguyện nhờ công đức
bố thí này, con không cầu làm Phạm Vương, Ma Vương, Ðế
Thích, Chuyển luân Thánh vương để được hưởng khoái lạc,
mà duy chỉ một lòng cầu làm Phật, độ chúng sanh, hết thảy
muôn loài đồng vào ngôi Chánh giác”.
Lúc
ấy Lao Ðộ Sai vừa đưa dao lên chém, thì trên cây có ông
thần, lấy ngón tay chỉ vào đầu làm cho Lao Ðộ Sai bủn
rủn tay chân, vứt dao xuống đất ngã ngửa.
Vua
xoay lại bảo thần cây:
- Thần
cây nên hiểu rằng, từ đời quá khứ tới nay, dưới gốc
cây này ta đã bố thí 999 cái đầu rồi, vậy hôm nay một
lần nữa là đủ số. Ðối với nguyện bố thí của ta sắp
hoàn mãn, ông đừng rắc rối, cản ngăn, làm suy thối đạo
tâm của ta.
Nghe
vậy thần cây thu hồi thần lực, Lao Ðộ Sai tỉnh lại, xách
dao chém một phát, đầu rơi xuống tay vua, dâng cho Lao Ðộ
Sai.
Ngay
giờ phút đầu vua lìa khỏi cổ, đất trời chấn động,
các cung điện trên thiên cung đều nghiêng ngả, các thiên
tử, Phạm thiên chẳng biết điềm gì, bèn ngó xuống trần
gian, thấy vị Bồ Tát vì chúng sanh mà bố thí thân mạng
tất cả đều bay xuống tung hoa trời muôn màu, hòa lẫn với
những dòng nước mắt của chư thiên rợp cả hư không.
- Kính
lạy Bồ Tát, Ngài làm hạnh bố thí xuất tục siêu phàm,
chưa ai dám bố thí như vậy, vô cùng tận chúng sanh đều
phải tán phục sự thực hành, vô ngã tướng bố thí này.
Khi
ấy tại nước mình, vua Tỳ Ma Tư Na, hay tên Lao Ðộ Sai đã
lấy được đầu vua Ðàn Bà La Tỳ, đang trên đường trở
về nước, ông vui mừng vô hạn, nhảy nhót, la hét thỏa chí,
bất ngờ ông quay lăn ra chết tại chỗ, vì tim bị kích thích
quá mạnh, nên vỡ tung từng mảnh trong lồng ngực ông.
Lao
Ðộ Sai xách đầu ra về, vua quan, dân chúng, phu nhân, thái
tử nhìn thấy lăn đùng ra đất gào thét. Có người cảm
động quá hộc máu mà chết, có người nằm ngay đơ chết
giấc, các phu nhân xé áo quần, vò tóc tai, ngất xỉu tại
chỗ, các thái tử cào mặt máu chảy đầm đìa, lăn lộn
dưới đất. Một thảm trạng đang diễn ra.
Mấy
ngày đường đi về bổn quốc, Lao Ðộ Sai xách đầu vua đi
thấy hôi thối quá chừng, bèn vất xuống đường, đạp lên
mà đi. Dân chúng thấy vậy họ nguyền rủa: “Ông là kẻ
bất lương, là phường lang sói ác độc, không dùng thì xin
làm chi, giờ lại vất bỏ.” Rồi họ nói với nhau, không
giúp đỡ đồ ăn, nước uống chi cho hắn.
Nhịn
đói những ngày qua đã ngất xỉu, nửa đường gặp được
người quen, Lao Ðộ Sai hỏi thăm vua Tỳ Ma Tư La như thế
nào, người ấy đáp:
- Nghe
tin ông xin được đầu vua, nên mừng quá mà vỡ tim chết
rồi.
Một
nỗi buồn vô hạn, bức đầu rứt tóc, vì sẽ không được
vợ và mất ngôi vị vua, tức quá nên ông ta cũng vỡ tim chết
luôn. Gieo ác gặp ác. Cả hai vua tôi đều phải gánh lấy
quả báo hiện tiền và rơi vào địa ngục A Tỳ.
Ðến
đây, Ðức Thế Tôn bảo A Nan rằng:
- Này
A Nan, chính vua Ðàn Bà La Tỳ thuở ấy là tiền thân của
Ta. Vua Tỳ Ma Tư Na nay chính là Ma Ba Tuần. Lao Ðộ Sai là ông
Ðiều Ðạt (Ðề Bà Ðạt Ða) bây giờ. Thần cây là Mục
Kiền Liên. Và quan đại thần Ma Chiên Ðà chính là Xá Lợi
Phất. Thuở ấy Xá Lợi Phất còn không nỡ thấy Ta chết
mất đầu, nên ông cũng tự mình chết trước, huống nữa
là bây giờ Xá Lợi Phất đã chứng đắc A La Hán, trí tuệ
cao siêu.
Giới
Ðức
“Ở
đời ai nghèo đến nỗi không có thân. Thấy người làm việc
thiện, tự mình giúp, như vậy cũng gọi là thí chủ, cũng
được phước đức” (^)