Phần
bảy
Vô
duyên với Phật thì không được Phật độ
Bà
lão kỳ dị
Voi
trung nghĩa
Nhà
sư vướng lụy
Sự
tích cây huyết dụ
Vô
duyên với Phật thì không được Phật độ
Trong
thời Ðức Thích Ca còn tại thế, khi đó có ông Trưởng giả
tên là Tu Ðạt, ông Trưởng giả này có một bà lão già tên
là Tỳ Ðề La để coi giữ nhà cửa, tất cả kho tàng vàng
bạc. . . cũng đều tin cậy phó thác gìn giữ. Nhân một hôm
ông Trưởng giả thỉnh Phật và chúng Tăng để cúng dường.
Những vị Tỳ kheo có bệnh thì ông lại phải dùng mọi thứ
thích nghi để cung cấp cúng dường.
Bào
lão ở thấy vậy sanh lòng tham ghen ghét mà nói rằng: “Ông
Trưởng giả nhà này thật là ngu si mê hoặc, đến nỗi xin
thụ giáo qui y cả những Sa môn đi khất thực, có đạo nào
mà như vậy”.
Bà
ta lại sanh ra ý niệm: “Không muốn nghe thấy cái tên Tam
Bảo nữa”.
Hoàng
hậu của vua Ba Tư Nặc là Mạt Lợi phu nhân nghe biết chuyện
đó, liền nói: “Ông Tu Ðạt Trưởng giả này thương mến
bà lão ở như thương yêu nàng Liên Hoa kiều diễm vậy”.
Tức thời sắc cho ông Trưởng giả Tu Ðạt phải sai vợ đến
chầu hoàng hậu”.
Trưởng giả phu nhân đến nhà vua kính lễ Hoàng hậu và tâu
rằng:
- Kính
thưa Hoàng hậu, người ở nhà tôi quả thật ác khẩu, bất
tín phỉ báng Tam Bảo.
Hoàng
hậu nói:
- Sao
không đánh đập đuổi đi?
Trưởng
giả phu nhân thưa:
- Tâu
hoàng hậu: Ðức Phật là cha của tất cả chúng sanh, thương
tất cả như con đỏ, Ngài coi kẻ oán người thân như ruột
thịt, huống người ở già này mà Ngài lại không thương?
Ta là con Phật, há còn đánh đập làm chi.
Hoàng
hậu nghe Trưởng giả phu nhân tâu rồi, tâm rất hoan hỷ mà
nói rằng:
- “Tôi
muốn thỉnh Phật và Chúng Tăng, bà nên sai người ở ấy
đến trợ giúp việc cúng dường cho tôi, trước khi Phật
và Chúng Tăng đến”.
- Ông
Trưởng giả liền sai người ở đem vàng bạc đến giúp nhà
vua để cúng dường Phật và chúng Tăng.
- Khi
Ðức Phật và Chúng Tăng tới cửa nhà vua, thì người ở
kia thấy rồi tâm sinh ra buồn rầu tức thời muốn bỏ chạy
đi. Ðức Phật ở trước người kia, giơ tay hoá thành 10 Ðức
Phật, thần tướng trang nghiêm phóng ra hào quang sang lớn,
mỗi Ðức Phật lại nói ra mọi pháp mầu nhiệm.
Người
ở kia ra về lại sợ thấy Phật nên không dám đi, Ðức Phật
bảo người đó rằng: “Ngươi thật là vô duyên đối với
ta, ta lấy Phật nhãn xem biết ngươi chỉ có duyên với ông
La Hầu La mà thôi”.
Ðức
Phật dùng Phạm âm sai ông La Hầu La qua để hóa độ.
Bấy
giờ Ngài La Hầu La thừa sức uy thần của Phật dùng thần
túc bay đi trên hư không mà đến, khi người ở thấy Ngài
La Hầu La có sức thần thông tự tại từ trên hư không mà
xuống, tâm sinh ra rất vui mừng chưa từng có, liền cầu xin
quy y.
Bấy
giờ Ngài La hầu La vì thương người ở kia mà nói các pháp
cho nghe, nghe rồi xin thọ Tam quy, ngũ giới, liền chứng được
sơ quả Thánh nhân Tu Ðà Hoàn.
Tâm
Minh.
“Thân
người khó được, Phật Pháp khó nghe,
Chúng
Tăng khó gặp, Tín tâm khó sanh. . .”
Bà
lão kỳ dị
“Tâm
phàm phu xoay vần theo ngũ dục xao động không thể nắm bắt.
Chỉ những người nào điều phục được tâm mình mới được
yên vui”
Câu
thứ 35 trong kinh pháp Cú có duyên khởi như sau:
Thuở
Phật còn tại thế, trong xứ Kiều Tất La có một khu làng,
nằm dưới chân núi là Mã Ðề thôn. Tại đấy có một bà
lão sống một mình với một gia tài phong phú. Bà được mệnh
danh là Mã Lão mẫu. Vào một ngày an cư sau khi Ðức Phật
chỉ dạy cho chúng Tỳ kheo pháp quán 32 thể trược trong thân,
có 60 vị đi đến Mã Ðề thôn để thực hành thiền quán.
Bà lão cho xây cất một tu viện cho 60 vị ấy cư trú và cúng
dường đầy đủ về y phục, thực phẩm, dược phẩm, mền
chiếu trong suốt mùa an cư. 60 vị Tỳ kheo ấy muốn tinh tiến
tu hành nên cùng đặt ra một quy luật như sau: Không được
hai vị Tỳ kheo đứng hay ngồi tại một chỗ đồng thời
với nhau. Ðại chúng chỉ nhóm họp hai lần trong ngày là sáng
sớm trước khi vào rừng tọa thiền và chiều tối sau khi
ở rừng về, để bái yết vị Thượng Tọa chúng trưởng.
Tuy nhiên nếu có Tỳ kheo nào bị bệnh, thì hãy đánh một
hồi kẻng tất cả nhóm lại lo cho bệnh nhân.
Sau
khi thỏa thuận quy luật trên, chúng Tỳ kheo đi vào rừng mỗi
ngày. Một hôm bà lão đem thực phẩm tới chùa cúng dường,
không thấy ai cả, bà bèn hỏi những người ở xung quanh,
làm cách nào để gặp chúng Tỳ kheo. Có người biết quy luật
nói trên, bày cho bà đánh kiểng. Tức thì từ trong rừng,
các vị Tỳ kheo lần lượt trở về. Bà lão lấy làm quái
lạ thấy mỗi người đi từ một hướng, không ai đi chung
với ai, nên nghĩ thầm: “Có lẽ các Ðại Ðức có chuyện
cãi vã nhau chăng?” Khi họ đến gần, bà lão hỏi ngay câu
ấy, và được trả lời: “Không đâu lão mẫu”. bà lão
hỏi:
- Nếu
quý vị không xích mích thì tại sao khi tới đây quí vị đi
chung, mà bây giờ mỗi người đi mỗi ngã?
- Lão
mẫu, chúng tôi mỗi người ngồi một gốc cây riêng để
thực hành một phép quán của Thế Tôn chỉ dạy.
- Thưa
quý Ðại Ðức, phép quán gì thế?
- Lão
mẫu, chúng tôi quán 32 thể trược nơi thân.
- Thưa,
phép quán ấy chỉ dành cho các vị Tỳ kheo mà thôi hay cư
sĩ như lão cũng được tập tành?
- Ồ,
lão mẫu, phép quán ấy ai muốn học cũng được cả, không
ai cấm.
- Vậy
xin Ðại Ðức dạy cho lão với.
- Ðược
lão hãy nghe kỹ.
Rồi
một Tỳ kheo đảm trách dạy cho bà lão phép quán 32 thể trược
trong thân, để đi đến nhận thức rõ ràng về hoại diệt,
chết chóc luôn luôn ẩn lặng trong thân mình. Bà lão thuộc
lòng ngay phép quán và tinh cần tu tập đến nỗi bà đắc
được quả vị thứ ba (bất lai) trong bốn thánh quả, trước
các vị Tỳ kheo. Với thiên nhãn thiền định siêu nhân, bà
quán thấy tất cả những vịTỳ kheo chưa ai được đạt
cái gì, và sau khi quán sát kỹ, bà thấy họ có khả năng
chứng quả A La Hán. Khi nhận thấy điều này bà lão quyết
định hỗ trợ cho chúng Tỳ kheo đầy đủ về mọi mặt,
để họ có thể mau chứng quả. Vị nào thích hợp với món
ăn nào, thức uống nào, bà cung cấp đúng nhu cầu của họ.
Bà thận trọng không cúng dường những thực phẩm có vị
chua cho người nào yếu bao tử. Vị nào ưa ngủ gục trong
lúc tọa thiền bà lão cúng trà đậm, vị nào yếu phổi,
bà cúng thêm mền và áo lạnh. Trong tâm vị nào tưởng đến
món ăn gì, bà lão biết ngay, và đáp ứng. Nhờ sự chăm sóc
ấy, sau khi giải hạ, 60 Tỳ kheo trở về bên Phật với sắc
diện hồng hào tươi nhuận, và tiến bộ khá hơn trên đường
tu.
Phật
âu yếm nhìn đàn con trở về và bảo:
- Này
các Tỳ kheo, chắc chắn các con được an vui, sức khoẻ, thực
phẩm đầy đủ trong mùa an cư?
- Dạ
thưa vâng, bạch Thế tôn. Chúng con được an vui, sức khỏe,
và khỏi lo gì đến chuyện ăn uống. Bởi vì, có một bà
lão ở Mã Ðề thôn biết được tận thân tâm chúng con, đến
nổi chúng con vừa ước món gì là có ngay món đó.
Các
Tỳ kheo thi nhau kể về bà lão dị kỳ cho Phật và Tăng ở
Xá Vệ nghe. Một vị Tỳ kheo nghe xong, quyết đi đến Mã Dề
thôn để thiền định và xin Phật:
- Bạch
Thế Tôn cho con đến đó.
Phật
bằng lòng, sau khi ra đề tài cho vị ấy thiền quán. Vị Tỳ
kheo lên đường đi đến Mã Ðề thôn khi đến ngôi chùa của
bà lão bỏ vắng, vị ấy nghĩ:
“Mình
nghe bà lão dường như biết được tâm kẻ khác.Vậy nay mình
vừa mới tới, quá mệt vì đường xa không thể quét dọn
chùa. Mong sao bà lão cho người đến quét dùm”. Bà lão đang
ở nhà riêng, biết được ý ấy, bèn cho một người đến
quét chùa. Vị Tỳ kheo lại ao ước trong lòng “Ước chi mình
có được ly nước mát lạnh mà giải khát”. Bà lão cho người
đem ly nước lạnh cho vị Tỳ kheo. Hôm sau, vừa thức dậy,
vị Tỳ kheo ước: “Mong sao bà lão dọn cho mình một bữa
điểm tâm nhiều bơ và thức ăn ngon lành:. Bà lão cho người
đem bữa điểm tâm như người ấy muốn. Vị Tỳ kheo kia nghĩ:
“Bà lão đã cho ta mọi thứ ta ao ước. Bây giờ ta muốn
gặp mặt bà, mong sao bà hãy đích thân đến, mang cho thật
nhiều thứ ăn loại cứng loại mềm”. Bà lão đi đến chùa
cùng với thức ăn cúng dường đúng sở thích của vị Tỳ
kheo. Vị Tỳ kheo hỏi:
- Lão
mẫu, có phải bà là Mã lão mẫu không ?
- Thưa
vâng.
- Bà
có tha tâm thông à?
- Tại
sao Ðại Ðức hỏi vậy?
- Vì
bà đã cho tôi mọi thứ tôi nghĩ đến.
- Nhiều
vị Tỳ kheo cũng có tha tâm thông.
- Tôi
không nói các Tỳ kheo, tôi muốn hỏi bà.
Bà
lão vẫn tránh né bằng cách nói:
- Thưa
Ðại Ðức đâu cần phải có tha tâm thông mới có thể cúng
dường các thứ ấy?
Khi
ấy vị Tỳ kheo bắt đầu hoảng sợ, nghĩ: “Khốn thay”
Kẻ chưa chứng đạo như ta thì có khi nghĩ tốt nhưng lắm
khi nghĩ bậy. Nếu lỡ có một ý bậy bạ khởi lên, bà lão
sẽ tóm lấy cổ ta như tóm bắt một kẻ trộm, và liệng
hành lý ta ra khỏi chùa. Ta sẽ bị khốn đốn với bà lão.
Chi bằng ta hãy thoát khỏi chốn này.
Nghĩ
như vậy xong, vị Tỳ kheo nói với bà lão:
- Này
lão bà, tôi muốn rời khỏi nơi đây.
- Ðại
Ðức đi đâu?
- Trở
về Thế Tôn.
- Ðại
Ðức ở lại ít lâu đã.
- Không
, tôi không thể ở lại. Tôi phải đi ngay.
Nói
xong, vị Ðại Ðức của chúng ta thu xếp hành lý thoát ra
khỏi ngôi chùa bà lão, vừa đi vừa thở phào nhẹ nhõm cả
người, như vừa trốn thoát khỏi tử nạn. Khi trở về vườn
Cấp Cô Ðộc, đến đảnh lễ Phật, Phật hỏi:
- Sao,
con không ở Mã Ðề thôn nữa à?
- Bạch
Thế Tôn, bà lão ấy biết hết mọi ý nghĩ trong tâm con, và
con nghĩ rằng, kẻ chưa chứng đạo như con thì có khi nghĩ
tốt, nhưng cũng nhiều khi nghĩ bậy, lỡ mà con có ý nghĩ
gì xấu, bà lão ấy sẽ túm lấy đầu con như bắt kẻ trộm,
và làm cho con khốn đốn.
- Con
ơi, chính nơi ấy con cần nên cư trú.
- Bạch
Thế Tôn, con không thể nào ở chỗ ấy được nữa.
- Này
Tỳ kheo, con có thể chỉ giữ một điều này thôi không?
- Ðiều
gì bạch Thế Tôn, con chưa hiểu.
- Chỉ
giữ cái tâm của con, không làm việc gì khác nữa.
Sau
khi nghe lời dạy của Phật, vị Tỳ kheo trở lại làng bà
lão. Với thiên nhãn bà biết được vị Tỳ kheo sắp đắc
quả nên càng chu đáo cúng dường để hộ trợ vị Tỳ kheo
chóng đạt được mục đích. Do đó, chỉ trong vài ngày vị
ấy đắc quả A La Hán.
Sau
khi chứng quả, vị ấy suy nghĩ: “Bà lão ấy quả thực giúp
ta rất nhiều. Nhờ bà ấy mà ta thoát ly được vòng sống
chết. Không biết chỉ trong kiếp này bà ấy giúp ta, hay nhiều
kiếp trước cũng vậy? Vị La Hán nhập định quán sát các
tiền kiếp thì biết được rằng trong 99 kiếp trước, bà
lão đã làm vợ mình và bà ấy đã ngoại tình với những
người đàn ông khác đã làm cho mình phải thất điên bát
đảo. Bà lại còn âm mưu giết mạng sống của mình. Khi biết
được điều ấy, vị La Hán nghĩ: “Ồ, tín nữ này đã
phạm biết bao tội lỗi!”
- Bà
lão ngồi trong nhà riêng biết được tâm niệm của vị A
La Hán. Bà nghĩ thầm: “Vị ấy đang nghĩ về tội lỗi 99
kiếp trước của ta. Nhưng trong vòng luân hồi đã qua, có
lần nào ta giúp vị ấy không? Bà lão nhập định thấy ở
kiếp 100 về trước, bà đã cứu mạng sống của vị A La
Hán ấy, khi vị ấy là chồng bà. Do đó, bà dùng thần giao
cách cảm bảo vị La Hán:
- Hãy
quán tiếp, đi sâu thêm nữa vào quá khứ.
- Bằng
thiên nhỉ thông vị La Hán nghe được hiệu lệnh trên, và
tiếp tục quán sát đến kiếp thư 100 về trước của mình,
thì thấy quả nhiên bà lão cứu mạng mình. Vị La Hán nghĩ:
“Tín nữ này quả giúp ta rất nhiều”. Sau khi nghĩ như vậy,
ngay tại chỗ vị ấy nhập Niết Bàn vô dư y.
Thích
Nữ Trí Hải
“Nghìn
sông cơn nước lưu giao
Mênh
mông muôn dặm nơi nào không trăng
Hư
không chẳng vướng mây ngàn
Minh
linh hiển lộ màu xanh da trời”.
Voi
Trung nghĩa
Từ
kinh thành Ba La Nại, ngược dòng sông hằng độ ba bốn ngày
đường, người ta đi kiếm một khu rừng rậm của dãy Hy
Mã Lạp Sơn. Khu rừng già này có rất nhiều cây gỗ quý.
Ven rừng, bên triền sông, một đám nhà lá san sát nhau, đây
là một làng nhỏ. Dân làng kể cả đàn ông, đàn bà và trẻ
em độ trên vài trăm người. Họ sống về nghề làm gỗ.
Họ hạ cây, xẻ ván ghép thành bè chở về bán tận kinh thành.
Công việc tuy vất vả nhưng họ kiếm được khá tiền để
nuôi miệng họ và cả gia đình.
Một
hôm kia, trong lúc mọi người trong làng đang hì hục đốn
cây, cưa gỗ trong rừng, họ nghe có chân thình thịch bước
đến và tiếng rống đau đớn. Rồi một con voi khổng lồ
hiện ra, nhắc bước nặng nhọc trên ba chân. Chân trước
bên phải của nó nâng lên khỏi mặt đất bàn chân sưng húp
lên. Nó chậm rải, nhăn nhắc, tiến đến rừng các thợ rừng,
tỏ ý cầu cứu họ. Thấy dáng điệu hiền lành của voi,
một người thợ rừng đến gần, vết thương đang làm mủ.
Cũng khá trầm trọng, nhưng đối với các người thợ rừng
quen sống trong rừng sâu và từng gặp những tai nạn như thế,
họ thấy không khó khăn gì trong việc cứu chữa cho voi. Họ
gỡ gai ra, nặn hết mủ, rồi rửa chân voi bằng nước nóng.
Họ hái lá, nhai nhỏ, rịt vào vết thương. Voi thấy dễ chịu,
nhẹ hẳn đi. Và chỉ còn thời gian là vết thương sẽ lành.
Voi gật đầu ba lần tỏ vẻ cám ơn rồi từ biệt.
Thời
gian qua. Người ta cũng không nhớ ra câu chuyện trên đã xảy
ra đã bao lâu rồi. . . Bỗng một hôm, một con voi đã đi vào
giữa đám thợ đang làm việc. Phải rồi chính là con voi hôm
nọ. Nhưng trông nó mập mạp, tươi trẻ hơn hôm trước nhiều.
Vết thương ở chân đã lành hẳn rồi. Nó bước mạnh dạn.
Nó đến bên người đã cứu chữa cho nó hôm trước mà quỳ
xuống. Nó tỏ ý muốn gíúp đỡ các người thợ rừng để
trả ơn họ. Không ai ngờ lại có câu chuyện như thế. Người
ta đứng im xem nó làm gì. Voi đứng dậy, đến bên các cây
vừa hạ xong, dùng vòi khuân các thân cây to đem đến chỗ
cưa rồi những bó gỗ từ trại cưa đến bờ sông. Sức khoẻ
của nó thật là kinh khủng. Nó làm một cách gọn gàng công
việc của vài mươi người. Thế là từ đó, trong đoàn thợ
gỗ có thêm một năng lực vô cùng dồi dào và chen vào trong
tiếng cưa, tiếng búa đốn cây, lâu lâu lại có tiếng voi
rống trầm hùng, vui vẻ. . .
Năm,
tháng trôi qua, sức khoẻ của voi không còn như buổi mới
đến. Các người thợ rừng cũng thấy rõ điều ấy nên không
để voi làm nhiều. Cho nên một hôm voi thấy không thể tiếp
tục công việc nặng nhọc được nữa, nó cúi chào mọi người
rồi đi lẫn vào rừng sâu. Ai cũng thương nó đã giúp quá
nhiều cho họ.
Nhưng
đến chiều, voi lại trở về và dẫn theo một con voi trẻ
đẹp. Ðây là con voi con, chịu tuân theo lời cha, đến đây
để thay thế cha nó mà trả ơn cho các người thợ rừng.
Thật là cảm động. Nhiều người thợ rừng đã rưng rưng
nước mắt.
Voi
con tiến đến gần. Lông nó trắng như tuyết. Ðôi mắt voi
sâu, hiền lành và cương quyết. Toàn thân voi như thoát lên
một oai lực làm cho mọi người kính nể. Ðích rồi! Voi con
là một con voi chính thống. Cũng cần phải nhớ rằng đời
xưa, voi chính thống có một thể lực lạ thường trong các
trận chiến tranh. Sức khỏe nó, hơi hám nó có thể trong phút
chốc làm tan rã bao đàn voi của địch quân để đem lại
thắng lợi chắc chắn cho chủ nó.
Voi
con làm tất cả công việc trước đây cha nó đã làm cả
ngày. Voi hết sức gíúp đỡ các người thợ rừng, rồi đến
chiều voi trở về làng chơi đùa với bọn trẻ con sau khi
đã tắm rửa sạch sẽ. Mọi người vì thế đều thương
mến và kính phục voi.
Có
một điều lạ là duy nhất có nhiều lúc phải lăn lộn ngoài
sông nhưng không bao giờ voi đại tiện bừa bãi trong dòng
nước. Những đống phân của voi khi nào cũng tìm thấy ở
nơi cao ráo và kín đáo.
Nhưng
cuộc đời không luôn bình thường như thế, có một lần
trời mưa to suốt ba ngày. Nước sông Hằng dâng lên ngập
cả vùng. Nhiều bè gỗ bị nước cuốn trôi phăng. Dân làng
bị thiệt hại nhiều, và đến khi nước rút xuống, nước
cũng đã rút theo các đống phân voi. Những đống phân to này
lềnh bềnh trôi đi và một hôm tình cờ đưa dạt vào bờ,
trong đám lau gần kinh thành Ba La Nại. Chỗ này lại là chỗ
bầy voi của nhà vua thường tắm.
Khi
trời nắng ráo lên, bọn quản tượng nhà vua, lại dẫn voi
đi tắm. Ðến nơi, cả bầy voi năm trăm con cùng nhận ra một
mùi đặc biệt, mùi của con voi chính thống, một con voi chúa.
Cả bầy voi dừng lại, không con nào dám xuống nước. Rồi
bỗng chúng sợ hoảng lên, dựng thẳng đuổi, cắm đầu chạy
trốn mặc sức cho bọn quản tượng tìm hết cách trấn tĩnh
chúng, không ai hiểu nguyên do kỳ lạ này. Sau cùng, nhờ kinh
nghiệm của một quản tượng cao niên, họ dự đoán rằng:
Tất trong nước sông có điều gì khác thường. Theo ý đó,
người ta tìm tòi và thấy được trong đám lau, vật “quý
báu” trên kia. Ðiều này đã làm họ nghiệm rằng trên dãy
rừng Hy Mã Lạp Sơn phải có một con voi chính thống. Họ
tâu lên nhà vua điều nhận xét của họ. Vua Ba La Nại mừng
rỡ vô cùng. Ngài truyền lệnh chuẩn bị thuyền lương để
vượt ngược sông Hằng.
Nhà
vua đã mất công tìm kiếm nhiều ngày ròng rã. Mãi đến hôm
kia nhà vua đến làng của đoàn thợ rừng đông đảo. Nghe
vua đến, mọi người đều nghỉ tay, cùng với vợ con họ
ra bờ sông để đón tiếp. Có người đã nói với vua:
Tâu
Bệ hạ nếu ngài cần dùng đến gỗ, cần dùng đến chúng
con thì không phiền gì Ngài phải đến đây, nhọc thân Ngài.
Chỉ cần có lịnh của Ngài là chúng con sẽ đích thân mang
đến tận tay Ngài những điều gì Ngài muốn.
Nhà
vua không trả lời, chỉ đăm đăm nhìn voi. Nhà vua ngắm kỹ
làng trắng tinh bạch của lông voi, đôi mắt cương quyết
lạ thường của voi. Một lúc sau vua quay lại các người thợ,
nói với họ:
Ðiều
ta muốn đòi hỏi ở các ngươi không phải là gỗ rừng mà
chính là con voi đang đứng đàng kia.
Dân
làng ngơ ngác. Nhà vua thiếu gì voi mà phải băng rừng tìm
cho được con voi khuân gỗ của họ. Dâng voi cho nhà vua? Họ
thấy không tiếc cái công sức mà voi đã giúp họ, nhưng họ
mến thương lòng trung nghĩa của voi. Tuy vậy họ cũng không
dám trái ý vua. Riêng đám trẻ con thì tỏ ý không bằng lòng.
Chúng nghĩ đến những buổi chiều trèo lên mình voi, đùa
giỡn với voi và chúng muốn khóc rống lên.
Mọi
người quay nhìn về phía voi đang đứng im không nhúc nhích.
Nó còn món nợ ân nghĩa phải trả đối với thợ rừng. Vua
dò đợc ý voi và hỏi thăm dân làng. Biết được câu chuyện
đầu đuôi, nhà vua càng tỏ ý khâm phục voi hơn nữa. Rồi
nhà vua sai khuân vác lương thực dưới thuyền để thưởng
tặng cho toàn thể dân làng, tặng cho mỗi người đàn
bà 2 đồng để sắm áo quần nói là để trả ơn thay con
voi. Nhưng voi chưa chịu đi, nhìn sang các bạn thiếu niên đang
âu yếm nhìn về phía voi rơm rớm lệ. Nhà vua đem tiền
túi phát cho mỗi đứa bé 1 đồng gọi là chút tình đối
với các bạn thân mến của voi. Bọn chúng phải cầm lấy
tuy trong lòng không đứa nào tích nhận cái mà hằng ngày chúng
mơ ước.
Lúc
bấy giờ voi mới chịu bước đi, voi đến gần vua, cúi đầu
cảm tạ và chịu đi theo đoàn thuyền để trở về kinh thành.
Trước khi lên đường, voi còn nhìn lại toàn thể dân làng
và núi rừng quen thuộc một lần chót, vô cùng lưu luyến.
Ðến
kinh thành nhà vua dành cho voi một sự săn sóc ân cần. Nhà
vua gọi là voi D õng Mãnh bộ giáp trận thật oai vệ. Vua ngồi
trên lưng voi, dạo khắp các đường lớn trong kinh thành trước
khi đưa voi về nhà riêng của nó. Vua xem Dõng Mãnh như người
bạn thân thiết và Dõng Mãnh thường quấn quít bên vua, xem
thật hết lòng trung nghĩa.
Ít
lâu sau đó, Hoàng hậu có thai. Ngày sanh đẻ gần đến thì
một chuyện đau đớn bất thình lình xảy đến: Vua băng hà.
Cả triều đình đều nhất trí dấu không cho voi hay. Người
ta sợ tin buồn này sẽ làm tan vỡ tim gan Dõng Mãnh.
Liền
ngày hôm đó, một tin hung dữ khác lại đến làm náo động
cả kinh thành. Ðó là tin quân lính nước Cô Xa La hùng hổ
tràn vào, và vua Cô Xa La định nhân cơ hội Ba La Nại thiếu
vua, chưa có người kế nghiệp mà muốn tóm thâu đất nước,
chiếm đoạt ngôi báu. Quân giặc đã vây chặt kinh thành.
Các
cửa thành Ba La Nại đóng kín. Triều đình đã gởi người
thương thuyết với vua Cô Xa La hoãn việc tấn công bảy ngày
nữa, chờ Hoàng hậu sanh đẻ, hẹn 2 điều, hoặc là sẽ
mở cửa thành khi Hoàng hậu sanh công chúa, hoặc là sẽ nghinh
chiến khi Thái tử ra đời để kế tục ngôi báu. C ô Xa La
bằng lòng.
Ngày
thứ bảy đúng theo dự tính của các ngự y. Hoàng hậu sanh
ra được Thái tử. Thế là giòng vua đã có người kế nghiệp.
Lệnh truyền ra cho mọi người sẳn sàng chống giặc. Thái
tử mới sinh có tướng mạo khác thường đã làm vững lòng
triều đình. Nhưng chuyện chống giặc, thắng giặc đâu phải
chuyện dễ vì thiếu người điều khiển tối cao. Trong cơn
nguy cấp này người ta còn một hy vọng mạnh mẽ, hy vọng
ở tài trí của voi Dõng Mãnh.
Hoàng
hậu nghiêm trang trong đồ lễ phục, mặc áo vàng cho Thái
tử và tự tay ẵm Thái tử đi thẳng xuống chỗ voi ở. Nhiều
vị quan trong triều cũng đi theo Hoàng hậu, đặt Thái tử
trước mặt voi rồi long trọng nói với voi:
- Hỡi
Dõng Mãnh! Vua ta, chủ của ngươi và cũng là bạn thân của
ngươi đã qua đời. Ta đã bảo dấu không cho ngươi biết
tin đau xót ấy sợ làm đau xót tâm can ngươi. Nhưng mà, ngươi
hãy bình tĩnh: Ðây là Thái tử, con vua, sẽ thay vua để chăm
sóc dân chúng, chăm sóc ngươi. Hiện nay, kinh thành đang bị
vây khổn và sắp sửa bị dày xéo bởi quân lính của vua
nước Cô Xa La. Toàn nước ta đang đứng trước hai điều,
hoặc là để Thái tử mới sinh phải chết dưới lưỡi gươm
quân địch, hoặc là chúng ta phải gìn giữ non sông gấm vóc.
Hoàng
hậu vừa dứt lời, voi Dõng Mãnh rống lên một tiếng trầm
dài não ruột. Bỗng nó đứng dậy, đến bên Thái tử, quỳ
xuống, lấy vòi nâng Thái tử lên cao rồi đặt xuống trên
bắp thịt trước trán nó. Voi muốn nói sự tôn thờ trung
nghĩa của nó đối với người chủ bé nhỏ cũng như trước
đây nó đã hết lòng với vua cha.
Voi
trao Thái tử cho Hoàng hậu rồi phủ phục chờ lịnh. Hoàng
hậu khoát tay cho nó đứng dậy và dặn: “Hỡi voi Dõng Mãnh.
Bây giờ là lúc ngươi hành động để tỏ lòng trung nghĩa
của ngươi, để tỏ giòng máu quật cường trong ngươi trong
một con voi chính thống” Hoàng hậu vẫy tay cho nó lên đường.
Một vị đại thần mặc áo giáp cho voi, và xuống lệnh cho
quân lính sẳn sàng.
Voi
rống lên hùng dũng, rung chuyển cả không gian. Tiếng rống
xuất trận của một con voi chính thống đã làm bầy voi địch
nhớn nhác. Bây giờ là lúc đánh bật quân địch. Người
ta mở cửa thành cho voi xông ra. Voi Dõng Mãnh rống lên một
lần nữa. Thật là kinh hoàng. Bầy voi tiên phong của Cô Xa
La khiếp sợ. Trong giây phút, tất cả đều quay đầu về
phía sau, cướp đường mà chạy. Hàng ngũ địch rối loạn
nhanh chóng. Voi Dõng Mãnh lanh lắm. Nó xông tới trước mặt
vua nước Cô Xa La, lấy vòi nắm chặt thân vua và quay trở
về trong lúc quân địch hoàn toàn tan rã. Thế là trận đánh
kết liễu và thắng lợi thuộc về nước Ba La Nại.
Voi
Dõng Mãnh đặt vua giặc dưới chân Thái tử mới sinh chờ
triều đình xét xử. Dân cúng đòi phải xử tử tên vua xâm
lược tàn bạo. Nhưng Hoàng hậu thể theo sự thông cảm của
mình đối với Thái tử truyền thả vua Cô Xa La được trở
về xứ sở với điều kiện là từ nay về sau, không được
lợi dụng Thái tử còn nhỏ mà trả thù buổi thất trận
này. Voi Dõng Mãnh rống lên tỏ ý bằng lòng sung sướng.
Từ
đấy, nhờ voi Dõng Mãnh mà Thái tử mới còn niên thiếu đã
truyền được sự tin cậy trong toàn thể các nước ở Ấn
Ðộ, trị nước một cách công minh.
Quảng Huệ
“Tình
thương sẽ thắng hận thù,
Chùa
thiêng phải dựng ngục tù phải tan”
Nhà
sư vướng lụy
Lúc
Phật ngự tại Trúc Lâm cùng Tăng đoàn, có một thầy Tỳ
kheo trẻ tuổi là đồ đệ của Ngài Ca Diếp, tinh cần tu
tập đã đắc đến tứ thiền. Một hôm thầy về thăm nhà,
trông thấy những đồ trang sức đủ kiểu rất đẹp mắt
tại hiệu kim hoàn của người chú, thầy khởi lòng tham ái,
mất định và hoàn tục. Chàng trai nhiều tham vọng này khoái
ăn ngon mặc đẹp, đeo đồ trang sức, tắm dầu thơm. Nhưng
ngoài những sở thích đó ra, chàng chẳng có tài cán gì cả,
suốt ngày ăn rồi đi bát phố chẳng chịu làm một công việc
gì. Thân quyến chú chịu hết nổi đành đuổi ra khỏi nhà.
Du
thủ du thực, chàng bèn kết bạn với mấy tên bụi đời,
lập thành một băng cướp có vũ khí, chuyên “ăn hàng mà
sống”.
Một
hôm băng bụi đời sa lưới, cả đám đều bị bắt, quân
lính còng tay các đương sự đem về nha, đánh đập đến
mềm xương. Vì có nhiều thành tích bất hảo toàn băng đều
bị tuyên án tử hình.
Ngày
hành hình dân chúng rủ nhau đi xem rất đông. Tôn giả Ca Diếp
trên đường đi khất thực gặp lại đồ đệ của mình đang
bị áp giải ra pháp trường. Ðộng lòng trắc ẩn Ngài dùng
thần lực nới lỏng dây trói và bảo:
- Con
hãy cố gắng tập trung tư tưởng vào đề mục thiền định
mà thầy đã dạy, như con từng làm ở tăng đường.
Nhà
sư hoàn tục y lời chú tâm hành thiền ngay trên đường bị
áp giải. Bị tử thần rượt nà sau lưng, thầy nổ lực cao
độ và đắc tứ thiền trở lại.
Ðể
răn dân, nhà vua truyền lịnh một pháp trường tại phía nam
thành phố. Cờ xí rạp đất, chuông trống, thanh la, não bạt
khua vang, dân chúng đi xem như mở hội. Ba vòng phủ quân nai
nịt chỉnh tề, gươm giáo sáng ngời bao quanh pháp trường.
Trước mặt đám tử tội, đao phủ bày la liệt dụng cụ
hành hình: giáo mác, tên, nỏ, trường thương, đoản côn.
. . và họ bắt đầu nung chông nhọn. Ngoại trừ sư thầy
hoàn tục, các tử tội mặt xanh như chàm, mồ hôi nhỏ giọt,
có tên lăn ra chết giấc.
Sư
thầy hoàn tục được hành hình đầu tiên. Đao phủ ngạc
nhiên khi thấy tội nhân không hề đổi sắc, toàn thân còn
thấm nhuần một niềm an lạc vô biên. Ðám đông cũng nhận
thấy điều đó, họ đồng thanh cất tiếng hoan hô:
- Thật
lạ lùng! Tên tử tội ấy chẳng sợ hãi chút nào.
- Xem
đồng bọn của hắn ngất xỉu hết kìa!
- Thật
là một con người can đảm phi thường!
Trước
hiện tượng lạ, quân canh liền phi báo cho nhà vua. Vua truyền
lệnh hoãn vụ hành hình, và xa giá đến Trúc Lâm thỉnh ý
Phật. Ðức Thế Tôn từ Hương thất gởi một hóa thân đến
pháp trường đọc bài kệ:
“Người
đã lìa dục xuất gia, ẩn mình chốn sơn lâm rồi lại hoàn
tục, Khác nào kẻ đã được mở trói rồi tự buộc vào”.
Pháp Cú 344
Phật
vừa đọc kệ xong, sư thầy hoàn tục đắc quả Dự lưu,
thầy dùng thần túc bay về tịnh xá đảnh lễ Ðức Thế
Tôn.Và giữa hội chúng đông đảo gồm các Tỳ kheo Tăng,
Ni, vua quan, binh lính. . . thầy đắc luôn quả vị A La Hán.
Thích
Nữ Như Thủy – Như Ðức
“Hồn
đạo sĩ say sưa trong cõi định
Màu
thời gian không dính áo cà sa
Quên
bao nhiêu cảnh tưởng cõi ta bà
Ðể
tìm lại pháp sâu xa vi diệu
Nguồn
tâm thể nghĩa là kho tịch chiếu
Trải
nghìn muôn ức triệu vẫn như nay
Xa
không gian và xa cả tháng ngày
Xa
tất cả nét thương vay đau khổ”.
Sự
tích cây huyết dụ
Ngày
xưa, có một bác đồ tể chuyên mua lợn về giết thịt để
mang bán ở chợ. Nhà bác ta ở bên cạnh một ngôi chùa làng.
Hàng ngày, vào lúc mờ sáng là lúc sư cụ bên chùa theo lệ
thường dậy tụng kinh. Và cũng theo lệ thường sư cụ thức
chú tiểu dậy gõ một hồi chuông mai. Bấy giờ cũng là lúc
bác đồ tể sửa soạn giết lợn, cho nên bác ta quen lấy
tiếng chương chùa làm chừng thức dậy làm việc hàng ngày.
Cứ như thế, ngày nào cũng như ngày ấy không bao giờ sai
lạc.
Một
đêm nọ, Sư cụ nằm mộng thấy một người đàn bà dắt
năm đức con nhỏ đến trước mặt mình rồi vái lấy vái
để, miệng nói “Xin cứu mạng! Xin cứu mạng!” rối rít.
Sư hỏi nguời đàn bà:
- A
Di Ðà Phật! Cứu mạng là thế nào? Bần Tăng phải làm gì
đây?
Người
mẹ có bộ điệu hãi hùng ấy trả lời:
- Ngày
mai xin Hòa Thượng hãy cho đánh chuông chậm lại. Như vậy
mẹ con tôi rất đội ơn.
Nhà
Sư tỉnh dậy không hiểu thế nào cả. Nhưng tờ mờ sang hôm
đó, vâng theo lời báo mộng, Sư cụ chỉ lâm râm đọc kinh
cầu nguyện mà không thức chú tiểu dậy thỉnh chuông.
Lại
nói chuyện cũng hôm ấy bác đồ tể ngủ một giấc li bì.
Mãi đến lúc mặt trời lên chừng một cây sào, tiếng chuông
chùa mới bắt đầu vang rền làm cho bác giật mình choàng
dậy. Thấy trời đã quá trưa, bác không dám giết lợn như
thường lệ, vì nếu làm thịt thì khi đưa ra đến chợ, chợ
đã vãn người rồi. Tức mình vì lỡ mất buổi chợ, bác
ta lật đật sang chùa trách Sư cụ. Sư cụ cho biết câu chuyện
nằm mộng đêm qua để phân trần với ông hàng xóm không
phải lỗi tại mình.
Nhưng
bước chân về chuồng lợn nhà mình bác đồ tể ngạc nhiên
thấy con lợn nái mới mua ngày hôm qua toan giết thịt sáng
đó, đã đẻ được năm con lợn con. Vừa mừng vừa sợ,
bác ta kể cho mọi người biết sự lạ lùng: “Ðúng là linh
hồn người đàn bà ẩn trong con lợn cái đã tìm cách cứu
bầy con của mình khỏi chết”
Tự
nhiên bác đồ tể đâm ra suy nghĩ. Bác thấy bàn tay của mình
đã từng vấy máu biết bao nhiêu là sinh mạng. Trong một lúc
hối hận đến cực điểm, bác ta cầm cả con dao bầu chạy
sang chùa bộc bạch nỗi lòng với Sư cụ. Bác ta quả quyết
cắm con dao của mình trước sân chùa, thề trước Phật đài
từ nay xin giải nghệ.
Không
rõ bác đồ tể rồi sau đó như thế nào, nhưng con dao của
bác tự nhiên hóa thành một loại cây có lá đỏ như máu
và nhọn như lưỡi dao bầu, người ta vẫn gọi là cây huyết
dụ.
Nguyễn
Ðổng Chi
Truyện
cổ Việt Nam tập II
“Trăng
sáng sau khi trời mới tạnh
Hiên
ngoài thoang thoảng gió hương đưa.
Tiếng
chuông ngân nga trong đêm vắng
Thử
hỏi lòng ai đã tỉnh chưa?”