Phần
sáu
Hồ
ly vượt bể mót vàng
Trư
hòa thượng
Sự
tích con muỗi
Phước
Huệ song tu
Quạ
Cú thù nhau
Hồ
ly vượt bể mót vàng
Ngày trước, bên sườn núi có một khu sơn trang, trong đó,
một ngôi chùa thờ Phật được dựng lên từ lâu lắm rồi.
Trong chùa, trừ vị sư già cỡ chừng 70 tuổi ra, không còn
có ai nữa. Năm đó, Người đã trắng xóa đôi lông mài, và
chòm râu phất phơ trước ngực tựa hồ chùm cước trắng.
tuy nhiên, Người vẫn mạnh khoẻ. Các công việc trrong chùa
như khóa tụng sớm chiều, thổi cơm, quét đất, nhặt cỏ,
giặt áo, lên đèn nhang. . . nhất nhất đều do hai bàn tay
Người đảm đương cả.
Các người trong sơn trang, ngày ngày đi qua sân chùa thấy Người
làm lụng cực khổ đều ra ý ái ngại hỏi:
- Thưa
Hòa thượng! Hòa thượng tuổi già sức yếu mà còn làm việc
cực nhọc. Vậy không cảm thấy sự mệt mỏi sao? Bà con chúng
tôi xin lại giúp Người giặt giũ đây! Hoặc có việc gì
khác xin cứ dạy bảo, chúng tôi nguyện tận tâm làm thay.
-Cảm
tạ tấm lòng quý hóa của quí vị: hiện bần Tăng còn có
1sức công tác, khi nào sức ấy kiệt quệ, quí vị có lòng
giúp đỡ, lúc đó bần tăng đâu dám từ chối. Vả chăng,
sức còn khoẻ mà được phục vục công tác, cũng là một
đều khoái hoạt cho tinh thần.
Hòa
thượng nói xong, để hở hai hàng lợi móm phát lên một hồi
cười giòn giã: Khách . . . khách. . .
Ðại
khái cuộc sinh hoạt hằng ngày của Hoà thượng rất là hồn
nhiên vui sướng, không bợn chút phiền não ưu tư chi hết.
Các người trong thôn trang gặp sự gì khó giải quyết, hoặc
không thông hiểu đều ra hỏi Hòa thượng và được Hòa thượng
giải đáp một cách rành rẽ, đầy lòng từ bi hỷ xả, có
khi thuận miệng, Hòa thượng còn giảng them kinh kệ và Ðạo
Phật cho nghe nên hầu hết gia đình ở thôn trang này đều
tỏ ra cung kính tôn sùng Hòa thượng.
Ðể
biểu lộ tấm lòng ấy, họ thường mang gạo, rau tương ra
chùa cúng dường. Khi nào trời mưa to, gió lớn, họ ra chùa
hỏi Hòa thượng xem chùa có bị hư hoại gì không, và mái
chùa có chỗ nào lủng dột?
Hòa
thượng trả lời mọi người với giọng vui vẻ:
- Cảm
tạ quí vị! Cảm ơn quí vị! Ðêm qua nước dỏ giọt lên
trên đầu bần Tăng, lên giường bần Tăng, đại khái, trời
mưa luôn ít ngày như thế này thì nhất định gìường lên
nấm và lúc đó tha hồ làm ăn.
Thế
là mọi người cùng xúm lại lên mái chữa dột, thay chiếc
rui mục nát đi và lấp các chỗ trống lại. Nhân vị Hòa
thượng là vị đạo đức, nên dù là chùa nhỏ, cảnh nghèo,
mà nhân dân hết sức ủng hộ, lại kính trọng phi thường
vị Hoà thượng trụ trì. Còn vị Hòa thượng trụ trì này
tuyệt đối không cảm thấy sự nghèo khổ là gì. Trái lại,
lúc nào cũng hồn nhiên, vô tư lự, đến nổi gian chùa nhỏ
này, giường của sư nằm, nấm cứ tự do mọc, tường chái
và sân chùa, cỏ cứ tự do lên. Hòa thượng vẫn giữ nếp
sống vui vẻ, từ bi tự tại.
Một
năm qua, mùa đông heo hút đã đến.
Hôm
đó, tuyết trắng phau nphau, chất đầy cổng mái, sân chùa,
càng về chiều khí lạnh càng toát, thấu đến xương tủy.
Bỗng có tiếng gõ cửa: Cách cách cách. . .
- Ai?
Hòa thượng lớn tiếng hỏi:
- Lão
Hòa thượng! Lão Hòa thượng! Ở ngoài có tiếng trả lời.
Hòa
thượng lấy làm kỳ dị, tự nghĩ: “quái lạ! Ðêm đông
lạnh lẽo như cắt ruột thế này mà có ai đến gọi ta?”
Tuy nhiên, chân Hòa thượng đã như chiếc máy tiến sát tới
cửa.
Chiếc
cửa mở ra, ngờ đâu chú hồ ly đang ngồi thu hình vào khe
tường, ngoài trời, những tràng gió bấc vù vù thổi tới,
đập vào cánh cổng ầm ầm. Khí lạnh thấu xương, chú hồ
này toàn thân rung lên lẩy bẩy, thật là run như cầy sấy!
- Té
ra là mi, tội nghiệp! Ðêm hôm giá lạnh tới đây làm gì?
Hay là có chi cần đến bần Tăng này chăng? (Hòa thượng xúc
cảnh sanh tình mà phát lên lời này, chứ ai chẳng biết rằng
loài vật đâu có biết nghe tiếng người)
Nhưng
thật lạ lùng! Hồ ly này biết nghe và nói tiếng người nữa.
Nó nghe Hòa thượng nói xong, liền quỳ xuống sát đất thưa
với Hòa thượng:
- Lão
Hòa thượng! Hòa thượng không nhận con ra sao? Con ở ngay phía
sau núi này, hiện nay tuổi mỗi năm mỗi già, thân thể gầy
ốm, không chịu nổi được sức rét của trời đông này
ở trong hang, nên con đến đây trông ơn Hòa thượng từ bi
cứu khổ, cho con được vào trú tạm thời đêm nay và đốt
lửa hông cho đỡ rét, phỏng có được không?
- Ðược,
được. Vào đi!
Vị
Hòa thượng từ bi này đưa hồ ly vào bếp, lấy luôn củi
nhóm lửa cho hồ ly sưởi, và bảo hồ ly:
- Củi
này của đồng bào thôn trang đem ra cho bần Tăng chuẩn bị
mùa đông ngay từ khi trời thu mới bắt đầu. Nhưng bần Tăng
nghĩ rằng sưởi một mình thì phí quá, nếu là hai người
thì số củi cũng chỉ tốn như thế mà thôi. Vậy hồ ly đừng
e ngại, lần sau cứ lại đây sưởi chung với bần Tăng nhé!
Hồ
ly nghe câu này, cũng cảm tạ lòng thương người của Hòa
thượng, thì gật đầu lia liạ.
Hòa
thượng lại hỏi hồ ly:
- Xưa
nay bụng đói làm tăng cơn rét. Chắc rằng hồ ly đói lắm
phải không? Ðây bần Tăng còn cơm, bần Tăng đem ra cho hồ
ly ăn, nghe không? Nói rồi, Hòa thượng lấy ra một bát cơm
lớn đưa hồ ly.
Hồ
ly đỡ lấy cơm nét hoan hỷ lộ ra ngoài mắt, làm chiếc đuôi
ngoe ngoảy lên trời, và chỉ nháy mắt, bát cơm to lớn đã
trút hết vào bụng chỉ còn trơ lại chiếc bát.
Cơm
no, sưởi ấm, hồ ly dần dần trở lại trạng thái bình thường,
tưởng đến giấc ngủ ngon liền từ biệt Hòa thượng mà
về hang của mình.
Hòa
thượng tươi nét mặt đáp:
- Hồ
ly có tánh quen ngủ trong hang, bần Tăng cũng chẳng cần giữ
lại ở đây. Duy tiết trời kỳ này lạnh lắm, vậy thường
lại đây mà sưởi ấm nhé!
Từ
hôm đó trở đi, chiều nào hồ ly cũng lại chùa sưởi ấm
với Hòa thượng. Có một chiều nọ, hồ ly lụm cụm vác
một cây củi lớn trên lưng đem lại đưa Hòa thượng.
Hòa
thượng cười, khuyên:
- Hồ
ly! Bần Tăng khen trí thức hồ ly mỗi ngày một mở mang, đã
biết nhặt cây khô đem lại sưởi ấm, bần tăng rất cảm
ơn. Tuy nhiên, hồ ly nên để ý chớ bẻ bậy cây cối của
người. Người ta đánh chết đấy!
Chẳng
bao lâu xuân tàn xuân tới, những mảng tuyết trắng phau chất
đầy ngọn núi đã tan hết, để lộ cành cây trơ trụi đã
bắt đầu lú nhú mầm non. Khí tiết cũng đổi thay với một
ôn độ ấm áp như trả về bình thườnh cho vạn vật.
Một
buổi chiều nọ, hồ ly gập mình xuống đất nói với Hòa
thượng:
- Lão
Hòa thượng! Con được bóng từ bi che chở, nếu không thì
đã chết rét ngay từ đêm mùa đông vừa rồi! Cái ân ấy
to tát lắm thay, con chưa biết gì báo đáp. Vậy xin Hòa thượng
có cần chi, nói cho con biết, để con tận lực làm theo ý
muốn của Hòa thượng.
- Không,
không, hồ ly không cần để tâm điều đó làm gì! bần tăng
hiện nay, không cần chi hết.
- Hồ
ly từ tạ trở ra, nhưng trong lòng vẫn thắc mắc phải có
dịp báo đáp được ân tình của Hòa thượng đã ban cho mới
thôi, mặc dầu Hòa thượng có nói là không cần đến.
- Qua
mấy hôm sau, hồ ly lại đến. Trong lúc vui chuyện, Hòa thượng
bất gíác buột miệng than thở với Hồ Ly:
- Bần
Tăng trụ trì ở ngôi nhà nhỏ bé này đã 60 năm nay, đội
ơn từ bi của Phật Tổ, và nhờ sự thôn trang ủng hộ. Nhưng
60 năm, ngôi chùa đã dần dần hư hoại, cần phải sửa chữa,
tượng Phật cũng cần phải thếp vàng. Bần Tăng nghĩ rằng,
trong đời bần Tăng còn sống đây, thế nào cũng phải lo
sửa chùa, tô tượng, và mời thôn trang lại thọ trai một
bữa để tỏ tình cảm tạ mới hả lòng này.
- Thế
sao Hòa thượng không khởi sự ngay đi? Hồ ly ngây thơ hỏi:
- Cái
đó phải đợi lúc nào trong tay có được vài lượng vàng
mới nói chuyện khởi sự được. Còn bây giờ, dù có nghĩ,
cũng chỉ là không tưởng mà thôi!
Hòa
thượng nói đây, chỉ là rổi rãi bàn chơi, không ngờ hồ
ly cúi đầu trầm trầm tỉnh tỉnh nghe Hòa thượng nói hầu
như ngây ra không còn cử động, khiến cho Hòa thượng rất
hối hận cho lời nói của mình, muốn đánh lảng sang chuyện
khác, nhưng hồ ly vội vàng cáo biệt.
- Hòa
thượng! Con cần phải về, xin hẹn một buổi khác sẽ lại.
Kính chào Hòa thượng.
Mấy
ngày sau, không thấy hồ ly tới chùa. Hòa thượng trong lòng
nghĩ: có lẽ trời đã ấm, không cần sưởi nữa, nên hắn
không lại, nhưng nếu quả vì đó mà hắn không lại thì cũng
là thường, chuyện vài lượng vàng mà ta vô tình buột miệng
nói ra, khiến hắn không kiếm được mà mắc cỡ không dám
lại thì đó cũng là thường không đáng quan tâm. Ta chỉ sợ,
hắn đi ăn trộm ăn cắp vàng của người khác, rồi bị đánh
chết thì mới là tội nghiệp quá.
Vị
Hòa thượng từ bi này nghĩ như thế thì trong lòng nổi lên
hối hận, yên trí hồ ly không còn sống ở cõi đời này
nữa, nên cứ sớm chiều hai buổi gắng sức tụng kinh, niệm
Phật cầu cho Hồ ly kiếp sau không phải đọa vào loài súc
sinh, mà được chuyển sang làm người.
Thời
gian thấm thoát như nước chảy dưới cầu. Chớp mắt trôi
qua đã ba năm có lẽ. Vị Hòa thượng cũng đã tám, chín mươi
tuổi và vẫn trụ trì ở chùa này.
Một
buổi mùa hạ, vào khoảng đêm lặng canh tàn, vừng trăng ngà
treo lơ lửng trên không tỏa ánh êm dịu xuống khắp khu chùa.
Trong bờ lau, bụi cỏ, các côn trùng đang cùng nhau hòa khúc
nhạc du dương, Hòa thượng toan đi nằm, thì ngoài cổng bỗng
có tiếng gõ và tiếng gọi:
- Lão
Hòa thượng! Lão Hòa thượng!
Hòa
thượng lắng nghe, trong đêm im lặng, rõ là tiếng hồ ly,
liền mau ra mở cửa.
- À!
Hòa thượng như trút được mối ưu tư trong mấy năm trường,
quả nhiên là hồ ly! Thế ra hồ ly vẫn còn sống? Mừng quá!
Mừng quá! Mau vào đây!
Hòa
thượng vuốt đầu hồ ly, cả hai cùng rươm rướm mắt cảm
động về sự lâu ngày cách biệt, nay bỗng trùng phùng.
Hồ
ly cầm tay Hoa thượng rồi đặt vào lòng bàn tay một thỏi
vàng.
Hòa
thượng ngac nhiên, hỏi Hồ ly:
- Cái
gì đây? Làm ao mà có được của này? Hồ ly đem ngay đi nơi
khác, đâu trả về đấy, chớ có tham lam phải tội!
Hồ
ly đặt thoi vàng xuống giường từ tốn giải bày:
- Ba
năm trước đây, Hòa thượng có còn nhớ câu chuyện cần
vài lượng vàng để sửa chùa, tô tượng, cùng thiết cơm
chay không? Từ đó đệ tử vốn có ý niệm đi lấy trộm
của người đem về cúng dường, nhưng nghĩ rằng Lão Hòa
thượng là một vị cao Tăng đạo đức, đâu chịu nhận như
thế, nên con phải rút lui ý đó mà theo người ta vượt qua
bể sang đảo Kim Sa, ở đấy có mỏ vàng nhân dân đang khai
mỏ lấy vàng, nhưng dù sao vẫn còn tí chút vàng rơi vải
lẫn vào cát, con liền cố công nhặt kỹ luôn trong ba năm,
được một số ngần này đây, con đốt củi nung cho vàng
chảy liền với nhau và đem về cúng dường Hòa thượng để
khởi sự sửa chùa, tô tượng, thiết trai như ý Hòa thượng
mong mỏi.
Hồ
ly nói xong, nhặt thoi vàng đặt vào lòng bàn tay Hòa thượng.
Hòa
thượng quá cảm động, bất giác ứa lệ, không phải ứa
lệ vì mừng được vàng, mà ứa lệ thấy hồ ly có tín tâm,
không quản ngàn dặm, vượt bể mót vàng luôn trong ba năm
biết bao là lao khổ, biết bao là bền gan nhẫn chí, thật
là cái tinh thần ấy, cái nghị lực ấy, cái tín ngưỡng
sắt đá ấy mới khiến cho Hòa thượng nhỏ lệ và cứ để
thoi vàng đặt trên lòng bàn tay run run như thế mãi hàng giờ
không hạ xuống.
Phạm
ngọc khuê
“Con
người không phải là một vị Thánh, cũng không phải là một
con thú, nhưng là cả hai.Vậy thì con thú cũng có thể là Người,
cũng có thể là Thánh”
Trư
hòa thượng
Ngày
xưa, ở một ngôi chùa nọ, vị thiền sư trụ trì nuôi một
con heo lâu năm. Tuổi heo xấp xỉ tuổi đạo của nhà sư,
và cả đại chúng kể từ vị tri sự tăng trở xuống đều
phải nhường heo về phía cạnh thâm niên nọ. Do đó vị trụ
trì đặc cho heo một biệt danh là Trư hòa thượng.
Trư hòa thượng chỉ việc ăn, nằm và bài tiết (để lấy
phân bón cho vườn chùa) nên rất mập mạp đến không ngồi
dậy nổi. Tuy nhiên mỗi khi tiếng hồng chung của nhà chùa
vang lên vào chiều tối hoặc canh khuya, Trư hòa thượng đều
cố ngốc đầu dậy một cách mệt mỏi. Nhân đấy mà thiền
sư rất yêu mến Trư hòa thượng chỉ cho chúng xem, bảo:
- Các
con thấy đó, loài súc sanh cũng có Phật tánh, chớ khinh thường.
Một
hôm thiền sư có việc phải đi xa vài hôm. Ngài cho hợp chúng
căn dặn:
- Trong
khi tôi đi vắng, lỡ Trư hòa thượng có viên tịch, thì các
ông hãy cắt thịt, chia cho láng giềng mỗi nhà một miếng.
Hãy nhớ làm theo lời dặn của tôi.
Ðại
chúng lấy làm quái dị về lời dặn của Thầy, nhưng không
dám hỏi, cứ vâng dạ lãnh tôn ý. Có lẽ họ nghĩ rằng Thầy
quá lo xa, Trư hòa thượng không bệnh hoạn gì chưa chắc đến
nổi chết. Nhưng ngờ đâu Thầy vừa đi vắng một hôm thì
Trư hòa thượng ngã lăn ra chết. Ðại chúng bây giờ thật
khó xử nếu làm theo lời Thầy dặn thì sợ đời dị nghị,
nhất là trong khi vắng Thầy. Lỡ người ta nghi chúng Tăng
nhân Thầy không có nhà đã làm thịt con heo, rồi ăn không
hết mà đem biếu thì sao? Thầy tri sự sau khi hội ý toàn
thể đại chúng, quyết định đem mai tang Trư hòa thượng
sau vườn chùa, rồi Thầy về sẽ sám hối sau.
Khi thiền sư trở về, hỏi ra mới biết chúng không làm theo
lời Ngài dạy:
- Thế
là các ông làm lỡ việc của ta rồi.
Khi
đại chúng thưa hỏi, Ngài kể:
- Trư
hòa thượng chỉ còn một kiếp cuối cùng là được giải
thoát. Trong kiếp cuối ấy, Trư hòa thượng phải chết vì
nạn “loạn đao phân thây”. Nhờ có túc duyên mà Trư hòa
thượng được thoát nghiệp ấy trong lúc sống, nhưng định
nghiệp không thể không trả. Do đó mà ta muốn giúp Trư hòa
thượng trả xong định nghiệp bằng cách phân thây ông ta
sau khi chết. Ðược vậy khỏi thọ sanh kiếp khác. Nhưng bây
giờ gì các ông không làm theo lời ta, Trư hòa thượng sẽ
phải luân hồi trở lại để trả cho xong định nghiệp.
Ðại
chúng nghe lời Thầy dạy đều lấy làm hối hận. Ðại sư
an ủi:
- Không
hề gì, rồi đây các ông còn duyên gặp lại Trư hòa thượng.
Thời
gian trôi qua nhanh chóng. Thấm thoát đã hơn 20 năm kể từ
ngày Trư hòa thượng viên tịch. Một hôm, vị trụ trì mới,
đệ tử trưởng kế vị thiền sư sau khi Ngài viên tịch tiếp
đón vị quan huyện trẻ tuổi vừa tới nhậm chức tại địa
phận chùa nhà. Quan đi quanh chùa thăm viếng tỏ ý lưu luyến
như một vị cố nhân. Quan có cảm tình đặc biệt với tất
cả đại chúng, và từ đấy mỗi lúc rảnh rỗi việc quan,
ông lại tới chùa đàm đạo với chư Tăng,
Mối
đạo tình đã đằm thắm ấy kéo dài thời gian cho tới một
ngày. . .
Tin
đồn quan huyện bị triệu về kinh đô vì một vụ án phản
nghịch, và ngay sau đó đem ra giữa chợ phân thây, được
loan đi rất nhanh đến chùa. Chư Tăng bàng hoàng sửng sốt,
thương cho số phận quan huyện nhân từ, người bạn chí thiết
của đại chúng. Tại sao một người tốt như quan huyện lại
phải chịu một cái chết thê thảm như kia? Chư Tăng ngậm
ngùi tự hỏi. Nhất là vị trụ trì người kỳ cựu nhất
ở chùa, người ngày xưa đã từng săn sóc Trư hòa thượng
chết, và bây giờ là người bạn thân của tri huyuện, vị
trụ trì buồn bã mất mấy ngày.
Vào
một thời tọa thiền, Ngài bỗng thấy quan huyện mỉm cười
hòa nhã và một âm thanh nhẹ như hơi gió thoảng bên tai Ngài:
- Tôi
là Trư hòa thượng ngày xưa, xin đến vĩnh biệt Thầy và
tạ ơn tri ngộ.
Vị
trụ trì bàng hòang dụi mắt nhớ lại tất cả chuyện xưa
nay.
Thích
nữ Trí Hải
“Ðừng
mất thì giờ để sửa lại cho thẳng cái bóng của một cây
cong”.
Sự
tích con muỗi
Có
hai vợ chồng nhà nọ yêu nhau rất mực. Ngày mới lấy nhau,
họ đã từng ăn thề hẹn không bỏ nhau,. Nếu không may một
trong hai người chết đi thì người kia sẽ chết theo để
xuống âm ty cho có bạn.
Sau
đó không lâu, người vợ trẻ tự cái chết mang đi một cách
đột ngột. Người ta không thể tả được cảnh đau thương
của người chồng. Anh chàng đã mấy lần toan tự tử, nhưng
bị người nhà ngăn trở và canh phòng ráo riết. Hôm sắp
sửa cất đám bỗng có một đạo sĩ đến bày cho chàng phép
cải tử hoàn sinh mà theo lời ông ta, đã từng có nhiều người
dùng phép đó cứu người chết sống lại. Phép của ông ta
rất giản dị, chỉ cần người sống gan dạ và kiên trì
một chút là được. Nghĩa là người sống mỗi lần ba lần
ôm ấp và truyền hơi ấm của mình cho tử thi. Làm luôn như
thế không nghỉ ngày nào, chỉ trong khoảng ba tháng mười
ngày là người chết sống lại.
Người
chồng cảm ơn đạo sĩ và làm đúng như lời dặn, hy vọng
đưa người yêu trở lại cõi thế. Anh ta ngày ngày ôm ấp
vợ, truyền sức nóng, hơi thở của mình vào cái xác đã
lạnh toát.
Nhưng
sau đó ba ngày, mùi thối của tử thi bay ra khắp xóm làm cho
mọi người không chịu được. Họ kéo nhau đến nhà bắt
anh phải chôn lập tức.
Bất
đắc dĩ, người chồng nhờ xóm giềng chặt nứa làm giúp
một cái bè để mình đưa xác vợ đi một nơi khác. Nhiều
người vui lòng giúp anh chàng trong việc này. Chỉ trong nửa
ngày, hắn đã chở người yêu đi biệt.
Chiếc
bè theo dòng nước trôi mãi. Người chồng vẫn ngày ngày ấp
ủ vợ. Cái tử thi đó trông vẫn như người nằm ngủ. Lòng
anh chàng tràn trề hy vọng. Ðến một nơi kia, anh ta cấm bè
lại kề một bãi cỏ rộng, lên bộ nấu ăn.
Tình
cờ trong khi đi nhặt củi anh ta gặp một ông cụ già. Nhìn
thấy ông cụ chống gậy đi một mình giữa cảnh trời nước
hoang vu, lại râu tóc trắng xóa, hình dung không có gì lam lũ,
chàng trẻ tuổi lấy làm ngạc nhiên. Hắn đang suy nghĩ thì
thoáng một cái ông cụ đã đứng trước mặt. Hiểu ngay đó
là bậc Tiên Phật, hắn vội phục xuống chân cụ già rồi
kể lể sự tình, cuối cùng không quên cầu khẩn ông cụ
xin làm cho vợ mình sống lại.Thấy hắn nài nỉ hết sức,
đức Phật – vì chính cụ già đó là đức Phật – theo
xuống bè, bảo hắn chích máu ngón tay nhỏ ba giọt vào miệng
vợ. Tự nhiên người đàn bà mấp máy môi rồi từ từ ngồi
dậy như vừa tỉnh một giấc mơ. Ðức Phật trước khi ra
về có hỏi người vợ:
- Anh
chàng này cho vay ba giọt máu để ngươi được hồi sinh. Vậy
nhà ngươi có yêu anh ta chăng?
Trước
câu thề bội nặng nề của người đàn bà, Ðức Phật bảo:
- Không
can gì. Nếu không yêu nữa thì chỉ có việc trả lại ba giọt
máu cho anh ta thôi.
Thấy
bọn họ nóng lòng trở về quê hương, Ðức Phật gọi một
con cá sấu khổng lồ từ dưới nước lên bảo chở họ đi.
Cá
sấu vượt sông được nữa ngày đường thì bụng đã đói.
Nó bảo hai vợ chồng lên bộ để nghỉ ngơi để nó đi tìm
cái ăn. Hai vợ chồng dắt nhau vào quán cơm. Trong quán hôm
đó có một người khách thương sang trọng. Hắn ta thấy nhan
sắc người vợ diễm lệ ít có ai sánh bằng thì bỗng nảy
âm mưu chiếm đoạt. hắn lân la lại gần, đưa các mẫu hàng
tơ lụa và đồ trang sức ra chào khách. Tuy chào khách nhưng
kỳ thực là để tán tỉnh người đàn bà đẹp. Hắn nói
trong thuyền hắn đậu ở gần đấy còn có nhiều món hàng
nữa rất quý giá và rất rẻ, hắn mời họ xuống xem.
Nhưng
người chồng thì chẳng thiết một tí nào. Cơm nước xong,
chàng bỏ mặc người khách thương dắt vợ ra bến vắng,
ở chỗ hẹn với cá sấu, ngồi đợi. họ ngồi dưới bóng
cây trò chuyện một chốc rồi vì mệt quá, ngủ quên lúc
nào không biết. Họ cũng chẳng ngờ rằng sau lưng họ, người
khách thương kia vẫn theo hút không rời. Khi thấy hai người
nằm ngủ, hắn đi nhè nhẹ đến thức riêng người vợ dậy,
mời nàng xuống thuyền đậu kề đó để hắn biếu một
món trang sức rất đẹp. “Thuyền của tôi chỉ cách đây
mươi bước. bà không phải đợi lâu đâu!” Nghe nói thế,
lòng người đàn chuyển động. Nàng đứng lên, đi theo người
khách thương xuống thuyền, bọn thủy thủ nhổ neo và giong
thuyền chạy mất.
Lại
nói chuyện cá sấu lúc ngoi lên chỗ hẹn thì thấy chỉ có
một mình người chồng, bấy giờ vẫn đang ngủ say. Cá sấu
thức hắn dậy hỏi chuyện. Anh ta ngơ ngác không hiểu thế
nào. Một mất mười ngờ, hắn đổ tội cho cá sấu đã ăn
thịt mất vợ mình. Ðể giải mối ngờ, cá sấu mới bảo
hắn kiếm cây luồn qua miệng mình, khua trong dạ dày xem thử
cho biết. Anh chàng làm theo, chỉ thấy trong bụng cá sấu toàn
là xương cá và đá cuội, mới biết mình ngờ sai. Tìm khắp
mọi nơi chẳng thấy vợ, hắn trở về bến, ôm đầu kêu
khóc rất thảm thiết. Cá sấu thương tình bèn bảo hắn cưỡi
lên lưng để nó chở đi đuổi theo những chiếc thuyền vừa
qua lại ngang đây, dò tìm tung tích. Sau mấy lần dò hỏi,
người ta cho biết một chiếc thuyền buồm vừa đi qua có
một người đàn bà trẻ và đẹp. Họ tả nét mặt và hình
dạng thì đúng vợ chàng. Cá sấu bèn cố công đuổi riết.
Khi
nhìn thấy vợ ngồi trong thuyền khách thương, người chồng
nói vọt vào:
- Nàng
cứ nhảy ra đây. . . tôi không thể sống xa nàng được. .
. Tôi sẽ làm cho nàng sung sướng. . .
Nhưng
người vợ bảo chồng:
- Chàng
về đi! Em đành phụ chàng. Chàng tha thứ cho em vậy.
Rồi
đưa ra cho chồng một gói vàng:
- Chàng
nhận lấy cái này và coi như em đã chết từ hôm nào rồi.
Vừa
bực tức vừa thất vọng, chồng ném gói vàng xuống nước
nhờ cá sấu đưa mình trở lại tìm Ðức Phật. Khi Ðức
Phật gặp bọn họ, liền giục cá sấu hối hả rượt theo
chiếc thuyền của khách thương để cho anh chàng thất tình
đòi lại ba giọt máu của mình.
Lại
nói chuyện người đàn bà sau khi chích máu ở tay để lấy
ra ba giọt trả nợ cho chồng thì ngã vật xuống chết ngay.
Người khách thương hết sức chữa chạy nhưng vô hiệu. Rồi
đó hắn ném xác nàng xuống biển. Nhưng do phép mầu của
Ðức Phật, người đàn bà ấy hóa thành con muỗi. Vì thiếu
máu, nên lúc nào muỗi cũng lén lút đi chích trộm của người
một tí để sống.
Nguyễn
Ðổng Chi
Truyện
cổ Việt Nam tập II
“Luân
hồi vay trả, trả vay
Có
vay có trả có sai bao giờ!”
Phước
Huệ song tu
Vào
thời Ðức Phật Ca Diếp, tại một thôn kia có hai anh em nhà
nọ đều xuất gia làm Sa môn. Hai anh em cùng xuất gia tu hành,
người anh thì siêng năng thiền định, giữ giới, một lòng
mong cầu giải thoát, nhưng tâm tánh bỏn xẻn không chịu bố
thí. Ngược lại, người em thường thực hành hạnh bố thí,
làm phước, nhưng lại giải đải không chịu tu tập thiền
quán! Trải qua nhiều kiếp, đến đời Ðức Phật Thích Ca
Mâu Ni thị hiện, người anh sanh lại làm người, gặp Phật
xuất gia học đạo. Chẳng bao lâu diệt trừ lậu hoặc chứng
quả A La Hán, nhưng vì kiếp trước Ngài chẳng thực hành
hạnh bố thí, nên ngày nay thường hay túng thiếu.
Trong
lúc đó, người em lại bị sanh vào loài voi, được nhà vua
đem về cung huấn luyện, vua rất mực thương yêu, ăn uống
đầy đủ, dùng đủ thứ gấm vóc, vàng bạc, ngọc ngà, trang
sức cho voi, thật cực kỳ lộng lẫy.
Một
hôm thầy Sa môn đi khất thực, ngang qua cung vua, nơi vườn
thượng uyển, thấy con voi của vua, thầy Sa môn biết được
tiền kiếp của voi chính là em mình, liền đi đến bên voi,
vuốt ve rồi bảo rằng:
- Ta
cùng với ngươi đều có tội!
Voi
nghe người anh nói, liền nhớ được tiền kiếp, bỗng sa
nước mắt, buồn rầu bỏ cả ăn uống.
Bấy
giờ lão chăn voi, thấy voi buồn rầu bỏ ăn, nên sợ hãi
vào tâu với vua:
- Tâu
Ðại vương, chẳng biết vì sao voi buồn rầu bỏ cả ăn uống.
- Có
ai đến quấy rầy voi không?
- Chẳng
có ai cả. Duy khi sáng có một vị Tỳ kheo mang bát khất thực,
đi ngang qua đây, đến bên voi vuốt ve rồi đi.
Nhà
vua liền hạ lệnh cho quân lính đi tìm vị Sa môn ấy. Tìm
kiếm khắp nơi, đến trưa quân lính mới gặp thầy ở khu
rừng, đang tọa thiền dưới gốc cây, liền bắt đem tới
trước vua. Vua hỏi:
- Khi
sáng Ngài có đến vuốt ve con voi của tôi?
- Thưa
vâng.
- Ngài
đã nói những gì với nó?
- Tôi
chỉ vuốt ve rồi nói: “Ta cùng với ngươi đều có tội”.
Rồi
vị Tỳ kheo thuật rõ nhân duyên kiếp trước của mình và
voi cho cua nghe. . .
Giới
Ðức
“Tu
phước không tu huệ thì chỉ giàu sang phú quý,
tu
huệ không tu phước thì thông minh nhưng nghèo túng”.
Quạ
Cú thù nhau
Xưa
kia có một đàn Quạ và một đàn Cú, hai bên thù oán nhau.
Quạ đợi đến ban ngày, biết hẳn là Cú không thấy gì,
chiêu tập tất cả đàn kéo nhau tới chỗ Cú ở, dày xéo
tàn sát Cú lấy thịt ăn.
Cú
cũng lại đợi đến đêm biết là Quạ không trông thấy gì,
liền kéo nhau đến chỗ quạ ở đánh cả đàn moi lấy ruột
ăn.
Một
bên sợ đêm một bên sợ ngày, hai bên cùng nơm nớp sợ lẫn
nhau không biết làm thế nào chấm dứt tình trạng khốc liệt
đó được.
Bấy
giờ trong đàn Quạ, có một con khôn nhất, bảo tất cả các
con kia rằng: Mối thâm thù này đã gây ra, quyết không thể
nào mà giải cứu được, nếu cứ kéo dài mãi tình thế này,
thì có ngày phải tiêu diệt hết, không thể nào mà còn cả
hai bên cùng hoàn toàn được.
Nay
ta cần phải tìm cách tiêu diệt hết bọn kia, không còn mống
nào, thì sau này chúng mình mới có thể hưởng những sự
yên ổn được, nếu không thì thế nào cũng sẽ bị hại.
Cả
đàn nghe cho là phải, nhưng chưa biết làm cách nào mà tiêu
diệt hết bọn Cú, là những kẻ thù chung, không thể đội
cùng một trời với nhau được.
Con
Quạ khôn kia lại bảo cả đàn rằng: nay tất cả đàn hãy
nghe tôi, xúm lại đánh cho tôi sây sát mình mẩy đầu óc,
xơ xác lông cánh đi, làm cho máu me chảy ra, rồi tôi sẽ tìm
cách tiêu diệt chúng.
Bàn
xong làm đúng như thế. Khi con Quạ kia bị thương rồi coi
hình thể rất tiều tụy, lân la đến trước cửa hang chỗ
Cú ở, kêu ra những tiếng nghe rất rầu rỉ có lúc hình như
tắt thở.
Cú
nghe tiếng chạy ra hỏi, vì cớ gì mà thân thể xác xơ tiều
tụy đau đớn như thế và đến đây có việc gì?
Quạ
vừa rên vừa đáp: Tất cả đàn tôi nó oán ghét tôi, nó
đánh đập tôi, nó đuổi tôi đi, nay tôi bị bơ vơ không
biết nương tựa vào đâu, tôi đến đây ước mong các bạn
sẽ thương tình mà cứu giúp cho, tôi rất cám ơn, nếu tôi
sống qua được lúc này thì không bao giờ tôi dám quên.
Con
Cú ra trước trông thấy thế, nghĩ tình nên thương liền bảo
cho các con kia biết.
Các
con kia đều nói: Ðấy là kẻ oán gia ở gần còn không được
huống chi là ở chung và nuôi thì chả hóa ra là giúp sức
mạnh cho quân thù đó hay sao.
Con
kia nói: Nay vì bị khổ sở nên mới đến cầu cứu ta, vả
lại nó có một thân mình, thì nó còn làm gì mà sợ.
Bàn
xong liền cho Quạ vào ở, hằng ngày cho ăn các thức ăn còn
thừa, được ít lâu thân thể lông cánh Quạ lại bình phục
khỏe mạnh như cũ, Quạ liền giả cách vui mừng và lập phương
kế để hành động.
Ngày
ngày Quạ đi tha các cành củi và cỏ khô về chất cả chung
quanh hang chỗ Cú ở tỏ ra vẻ báo ân.
Cú
thấy thế hỏi thì quạ đáp rằng: ở đây toàn là hang đá
lạnh, nên dùng các thứ này để ngăn gió rét.
Cú
cho thế là phải cứ để mặc Quạ làm. Bấy giờ Quạ lại
canh gác ở ngoài cửa để đền ơn bấy nay nuôi nấng. Quạ
vẫn luôn luôn săn sóc hầu hạ canh gác ở ngoài cửa hang.
Thu
qua đông tới, tiết trời thay đổi, tuyết bay phủ khắp mọi
nơi, gió bấc thổi rất mạnh, khí lạnh buốt thấu xương,
rét run không được.
Tất
cả chung quanh đấy có bao nhiêu Cú đều vào hết trong hang.
Quạ
gặp được dịp may hiếm có, cơ hội thuận tiện rất lấy
làm mừng, ra ngay chỗ lũ trẻ chăn bò đốt lửa sưởi hãy
còn cháy dở, tha ngay một thanh củi còn than cho vào đống
củi và cỏ khô đã chứa sẵn, nhờ sức gió thổi mạnh chỉ
trong chốc lát mà cả đàn Cú đều bị tiêu diệt hết.
Trí
Hải
“Dò
sông dò biển dễ dò,
Nào
ai bẻ thước mà đo lòng người”