Phần
Bốn
Ông
Trưởng Giả Keo Kiệt
La
Hầu La Xuất Gia
Ðạo
đức trở về
Không
biết mình điên
Chuyện
chàng 4 vợ
Ông
Trưởng Giả Keo Kiệt
Cách
thành Vương Xá không xa có một gia đình ông Truởng giả mệnh
danh là keo kiệt. Bởi vì, mặc dầu ông sở hữu tài sản
kho đụn chất đống, gia súc ruộng vườn mênh mông bát ngát,
ông không bao giờ sử dụng của ấy cho vợ con hay cho chính
mình, nói gì đến người thiên hạ.
Một
buổi sáng, sau khi có việc đến cung vua trở về, ông keo kiệt
trông thấy một người ăn xin đang gặm một miếng bánh tiêu
giữa đường (thứ bánh làm bằng bột mì trộn đường bỏ
vào dầu sôi phồng lên làm thành một cái bánh rỗng ruột).
Ông thèm quá định bụng về bảo vợ làm như vậy. Nhưng
về đến nhà, ông suy nghĩ: “Nếu ta nói cho bà ấy biết
ta thèm bánh tiêu bà ấy sẽ làm cho cả nhà cùng ăn, thì sẽ
tốn kém quá nhiều bột, đường, mè, dầu mỡ, và các thứ
khác. Chi bằng lặng thinh tốt hơn”. Nghĩ như vậy ông keo
kiệt lặng lẽ vào phòng, leo lên giường nằm thở dài sườn
sượt, chiến đấu với cơn thèm, nhưng sợ hao tốn ông không
dám thố lộ cùng ai nỗi thèm khác ấy.
Bà
vợ thấy chồng buồn bã, đến bên hỏi han:
-
Sao ông buồn rầu như vậy? Có chuyện gì không?
-
Không có gì đâu, bà ạ. Vua có rầy rà gì ông chăng?
-
Không có.
-
Các con trai, con gái, dâu,rễ, cháu chắt, người ăn, kẻ làm
, tôi tới trong nhà, có đứa nào làm ông phật lòng hay không?
-
Tuyệt đối không có chuyện ấy. Vậy thì, ông đang ao ước
một điều gì?
Ông
keo kiệt nghe vợ nói vậy, càng sợ tốn hao của cải, nên
nhất quyết không hở môi, vẫn nằm bất động mà thở dài.
Bà vợ năn nỉ:
-
Này, ông hãy nói đi, ông muốn cái gì thì bảo?
Ông
Trưởng giả nuốt nước bọt đánh ực một cái rồi mới
thở dài não ruột mà bảo: Phải tôi thèm một chuyện.
-
Thèm chi, ông nói ra thử tôi nghe.
-
Tôi thèm ăn một cái bánh tiêu.
-
Trời đất quỷ thần ơi! Bộ mình nghèo lắm sao? Tạo sao
ông không bảo tôi ngay? Thứ bánh đó làm dễ ợt. Tôi có
thể làm ngay một mớ bánh tiêu, cho dân chúng cả thành phố
này ăn..
-
Này, nhưng tại sao bà nghĩ điên rồ như vậy? Dân chúng ai
làm nấy ăn, mắc gì tới bà?
-
Vậy thì, tôi có thể làm bánh cho hết thảy người ở con
đường này ăn.
-
Cái đầu của bà làm sao vậy hả? Tại sao lại cứ nghĩ chuyện
ngoài đường?
-
Vậy, tôi có thể làm bánh cho cả nhà ăn.
-
Bà điên mất rồi. Bà có biết nhà ta đông đến mấy trăm
mấy ngàn miệng ăn không?
-
Vậy, tội sẽ làm bánh cho ông, tôi, và các con chúng ta ăn.
-
Tại sao bà phải bận tâm với chúng nó?
-
Vậy, tôi sẽ làm bánh cho ông và tôi ăn thôi.
-
Nhưng còn bà, bà ăn bánh tiêu làm gì đã chứ?
-
Vậy, tôi làm bánh cho một mình ông ăn thôi.
-
Bà nói vậy nghe mới được. Nhưng ở trong cái nhà này, chúng
ta làm gì cũng nhiều người trông thấy. Vậy bà hãy đem bột,
đường, dầu, mè và các thứ soong chảo, lò bê đi lên tuốt
trên tầng lầu thứ 7, ở chót vót trên cao ấy, chúng ta mới
làm bánh được, khỏi bị ai nhòm ngó.
-
Ðược rồi.
Bà
vợ soạn tất cả dụng cụ và vật dụng làm bánh, lễ mễ
bưng lên từng lầu chót. Ông Trưởng giả xách xâu chìa khóa
đi theo, khóa hết các lối đi lên. Sau khi đến tầng lầu
cuối, khóa cửa xong, ông mới bắt đầu bảo vợ khuấy bột
chiên bánh.
Lúc
ấy, tại Kỳ Viên Tịnh xá, Ðức Ðạo sư bảo Tôn giả Mục
Kiền Liên:
-
Này Mục Liên, trong thành phố kia, có ông Trưởng giả keo
kiệt đang ngồi trên tầng lầu chót mà chiên bánh vì sợi
mọi người thấy. Vậy ông hãy vận thần thông mà đến đó,
đem tất cả người và bánh lại cho ta. Trưa nay ta và chúng
Tỳ kheo sẽ độ ngọ bằng bánh ấy và cải hóa Trưởng giả
keo kiệt.
-
Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Tôn
giả Mục Kiền Liên vâng lời vận thần thông đi đến chỗ
trưởng giả Ngài hiện hình đắp y chỉnh tề đứng giữa
hư không, ngay trước cửa sổ. Ông keo kiệt nhìn ra giật mình
tự nhủ: “Chính vì sợ gặp những người như vậy mà ta
mới leo tận đây, thế mà Sa môn này cũng lò dò tới được,
lại đứng ngay trước cửa sổ! Rồi ông tức giận nói lớn:
- Này
Tỳ kheo kia, muốn gì mà đứng như trời trồng ở đó? Dù
ngươi có đi tới đi lui cho mỏi cả chân, cho thành một con
đường mòn giữa hư không, ngươi cũng không được gì đâu.
Tức
thì vị Tôn giả đi tới đi lui. Ông keo kiệt tức mình bảo:
- Ngươi
đi tới đi lui làm chi cho mất công! Dù ngươi có ngồi kiết
già giữa trời, ngươi cũng không được gì đâu.
Vị
Tôn giả liền ngồi kiết già giữa hư không. Ông keo kiệt
liền bảo:
- Ngồi
kiết già làm chi đó? Vô ích mà thôi! Cho dầu ngươi có phun
ra khói đi nữa, ngươi cũng không được gì đâu.
Tôn
giả liền phun khói vào cửa sổ, khói lên đầy đặc cả
căn phòng. Sợ Tôn giả sẽ làm cho căn phòng phát hỏa nên
ông keo kiệt không dám nói thêm “Dù ngươi có phun lửa
ngươi cũng không được cái bánh nào! Ông tự nhủ: “Sa môn
lì lợm này có lẽ nhất quyết ăn cho được bánh của mình
mới chịu đi”. rồi ông bảo vợ:
- Này
bà, thôi thì hãy chiên một cái bánh nhỏ xíu đưa cho ông
ta đi cho xong.
Bà
vợ lấy một ít bột bỏ vào chảo dầu. Nhưng cái bánh phồng
lên đầy cả chảo. Ông bảo bà:
- Bà
lấy nhiều bột quá để tôi lấy cho.
Ông
lấy một chút bột dính đầu muỗng bỏ vào chảo. Do thần
lực của tôn giả, cái bánh này còn lớn hơn cái trước.
Ông keo kiệt cứ tưởng mình lấy nhiều bột, nên tiếp tục
chiên cái khác nhỏ hơn mới đem cho. Nhưng càng ngày bánh cứ
càng lớn, không thấy cái nào nhỏ cả, ông bèn bảo bà:
- Thôi
bà hãy lấy đưa cho ông ấy bất cứ cái nào, một cái một
mà thôi.
Bà
vợ lấy một cái từ nơi rổ bánh đã chiên. Nhưng bà không
rứt ra được cái nào, nên bảo:
- Ông
ơi, bánh mắc dính với nhau. Tôi không thể nào gỡ ra được
một cái.
- Ðể
tôi gỡ cho.
Rồi
ông cầm một cái bánh đã chiên, bà cầm rổ bánh, cả hai
cố kéo ra một cái mà biếu vị Sa môn. Nhưng ông không tài
nào rứt ra được, mồ hôi đổ ra nhể nhại, ướt cả mặt
mày y phục. Mắt hai vợ chồng đỏ ngầu vì khói do Tôn giả
phun ra, cuối cùng ông Trưởng giả mệt nhoài, không thiết
gì nữa, bảo vợ:
- Này
bà, tôi không ăn uống gì nữa hết. bà hãy đem hết rỗ bánh
cúng đường vị Sa môn đi.
Mục
Liên Tôn giả thu hồi thần lực là cho hết khói, rồi thuyết
pháp cho ông keo kiệt nghe. Nghe xong ông phát sinh lòng tin thanh
tịnh đối với Tam bảo, cung kính mời: Bạch Tôn giả, xin
Ngài hãy tới đây, ngồi trên chỗ này mà dùng bánh của con.
-
Này Trưởng giả, Ðức Ðạo sư đang chờ để dùng bánh này.
Ta hãy đem tới cúng dường Ngài.
-
Bạch Tôn giả, nhưng hiện giờ Ngài ở đâu?
-
Ngài đang ở Kỳ Viên Tịnh xá, cách đây chừng 45 dặm.
-
Quỷ thần ơi, xa như vậy làm sao chúng con kịp giờ Ngài dùng
ngọ?
- Trưởng
giả, nếu ngươi muốn, ta sẽ đưa ngươi, vợ ngươi và bánh
đến nơi Ngài trong chớp mắt. Ðỉnh cầu thang ở nguyên chỗ,
nhưng cái chân cầu thang này sẽ ở ngay chỗ vào Tịnh xá.
Các ngươi sẽ đến đó trong thời gian ngắn hơn đi bộ xuống
bảy từng lầu.
Bạch
Tôn giả, như vậy rất tốt.
Tôn
giả liền hoá phép cho cái chân cầu thang ở ngay cổng Tịnh
xá trong chớp mắt. Vợ chồng ông keo kiệt xuất hiện trước
đấng Ðạo sư, đảnh lễ và thỉnh Phật dùng bánh. Khi Phật
và chúng Tỳ kheo ngồi vào bàn ăn ông Trưởng giả đặt một
cái bánh vào bát của Ngài. Tăng chúng thì dùng bánh từ rổ
do bà vợ dâng lên. Vợ chồng Trưởng giả cũng được dùng
bánh thỏa thích. Sau khi Ðức phật, Tăng chúng và hai cư sĩ
dùng xong bữa, rổ bánh vẫn còn nguyên vẹn như cũ. Ðức
Phật bảo đem bánh ấy để ngoài cổng Tịnh xá cho chim ăn.
Ðến nay nơi ấy vẫn còn được gọi là động bánh.
Ðức
Phật thuyết tùy hỷ pháp cho hai cư sĩ. Khi nghe xong thời
pháp của Phật, ông bà Trưởng giả đều đắc quả Dự lưu
(nhập dòng thánh). Họ đảnh lễ Phật bước lên cầu thang
và do thần lực của Tôn giả Mục Kiền Liên, đến ngay tầng
bảy của lâu đài mình. Ðức Thế Tôn nhân đấy đã khen
Tôn giả Mục Kiền Liên một lời mà sau được ghi vào kinh
Pháp cú như sau:
“Này
các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo muốn cải hóa một gia đình
mà không làm mất tín tâm của họ, không phiền nhiễu họ,
thì phải như ong hút mật hoa, chỉ giữ lấy mùi vị, không
làm tổn thương hương sắc và như vậy chính là hạnh của
Pháp Tử Mục Liên!”.
Thích
Nữ Trí Hải
“Nhân
quả kia kìa có sai đâu
Thử
xem trần thế khắp hoàn cầu
Giàu
nghèo, sướng khổ sang hèn đó
Khác
biệt do nhân tạo thuở nào”.
La
Hầu La Xuất Gia
Lúc
Ðức Phật còn tại thế, một hôm Phật bảo Ngài Mục Kiền
Liên rằng: “Ông hãy về thành Ca Tỳ La Vệ kính thăm Phụ
vương, Thúc Phụ và bà Di mẫu của ta, ủy dụ mẹ của La
Hầu La hãy cắt tình ân ái cho La Hầu La xuất gia làm
Sa di. Tình ân ái giữa mẹ con thương nhau chỉ trong giây lát,
chết rồi bị đọa vào địa ngục, không bao giờ được
biết nhau. Nếu La Hầu La xuất gia chứng đạo, thời sẽ trở
lại độ cho mẹ, trọn đời ra khỏi luân hồi sanh tử như
ta ngày nay vậy”.
Ngài
Mục Kiền Liên liền đến thành Ca Tỳ La Vệ trình bày ý
định của đức Phật, bà Gia Du Ðà La nghe tin có sứ giả
của Ðức Phật đến tìm bắt La Hầu La, liền đem con lên
trên một lầu cao và đóng bít tất cả ngõ vào. Ngài Mục
Kiền Liên liền dùng thần thông vào tiếp kiến, bà Gia Du
Ðà La bất đắc dĩ phải làm lễ kính thăm Ðức Thế Tôn
và hỏi sứ mệnh của Ngài đến đây có việc gì. Ngài Mục
Kiền Liên nói rằng: “Thái tử La Hầu La nay đã chín tuổi
nên cho xuất gia tu học Thánh đạo để tự giải thoát và
giải thoát cho mọi người. Chính bổn ý của Ðức Phật là
như vậy”.
Bà
Da Du Ðà La đáp: “Ðức Thích Ca Như Lai khi còn làm Thái tử
cưới hỏi tôi làm vợ, tôi phụng thờ Thái tử như phụng
thờ một vị thiên thần. Chưa được ba năm, Thái tử vượt
thành xuất gia tu đạo, lòng tôi đau khổ biết bao, tự nghĩ
sau khi Thái tử thành Ðạo, chắc có thể cùng nhau tương kiến.
Nhưng từ khi Ðức Phật thành đạo, hoàn toàn quên hết tình
nghĩa cũ đối với những người thân cựu, lạt lẽo hơn
người dưng nước lã, khiến tôi phải sống cô độc khốn
cùng. Ngày nay Ngài lại muốn chiếm đoạt con tôi , thời còn
gì tàn khốc hơn nữa. Thái tử thành đạo tự nói là từ
bi nhưng nay Thái tử làm cách biệt mẹ con tôi, thời từ bi
của Ngài ở chỗ nào? Mong Ngài hãy trở về bạch lên Ðức
Thế Tôn, nỗi lòng của tôi cho Ngài rõ.”
Ðức
Mục Kiền Liên liền từ tạ, đến kể lại câu chuyện cho
vua Tịnh Phạn hay. Vua liền bảo bà Ma Ha Ba Xà Ba Ðề đến
khuyên nhủ nàng Da Du Ðà La, bà đến khuyên ba lần, nàng nhất
quyết không nghe và thưa rằng: “Ngày tôi còn ở nhà, vua
của tám nước tranh nhau đến cầu tôi, cha mẹ tôi đều từ
chối, để dành riêng tôi cho Thái tử là bậc xuất chúng
hơn người. Nếu Thái tử không muốn ở đời, thời ân cần
cầu tôi làm gì? Phàm ở đời, lập gia đình thành vợ thành
chồng, đều mong có con cháu nối giòng, đó chính là chánh
lẽ ở đời. Thái tử đã đành tâm đi rồi, nay lại đòi
đem La Hầu La đi, cho tuyệt hẳn giòng dõi truyền thống thời
còn có nghĩa lý gì nữa”.
Bà
Ma Ha Ba Xà Ba Ðề liền im lặng không biết nói gì. Ðức Phật
hiểu được tâm trạng câu chấp và buồn khổ của nàng Da
Du Ðà La, liền dùng vị hóa nhơn đến nói rằng: “Nàng còn
nhớ thệ nguyện của nàng không? Thời ta còn làm vị Bồ
Tát lấy 500 đồng tiền bạc mua 5 bông sen của nàng để dâng
cúng Ðức Phật Ðịnh Quang, nàng còn gởi hai bông sen nhờ
ta dâng cúng Ðức Phật, và cầu xin đời đời kiếp kiếp
làm vợ của ta. Ta có nói với nàng: Ta là vị Bồ Tát, có
nguyện bố thí tất cả, nếu nàng muốn làm vợ ta, thời
nếu ta có bố thí cả quốc thành thê tử cho đến tự thân,
nàng phải hoan hỷ. Nàng đã thỏa thuận cùng ta rồi, sao nay
nàng lại thương tiếc La Hầu La không muốn rời bỏ”.
Nàng
Da Du Ðà La nghe nói liền biết sự lỗi lầm của mình, làm
lễ sám hối với Ngài Mục Kiền Liên, ân cần giao phó cho
Ngài, và khóc lóc từ biệt con. La Hầu La biết mẹ sầu muộn
liền khuyên giải mẹ và từ tạ mẹ mà đi. Vua Tịnh Phạn
liền bảo các nhà hào tộc, mỗi nhà cử cho một người con
trai cùng xuất gia với La Hầu La.
La
Hầu La cùng với 50 vị công tử đến đảnh lễ Ðức Phật.
Ðức Phật sai Ngài A Nan cắt tóc cho La Hầu La và 50 vị công
tử, cho xuất gia, bảo Ngài Xá Lợi Phất làm Hòa Thượng,
Ngài Mục Kiền Liên làm A Xà Lê truyền trao 10 giới Sa Di.
Ðức Phật giảng kinh Phiến Ðà La nói về tội báo các đời
trước cho các vị Sa Di nghe.
La
Hầu La nghe kinh, trong lòng lấy làm ưu sầu, bạch Phật rằng:
Bậc Hòa Thượng đại trí đức, thọ lãnh các món cúng dường
tối thượng, kẻ tiểu nhi ngu mà không có đức, ăn đồ tín
thí của người, đời sau chịu khổ như Phiến Ðà La. Vậy
nên chúng con rất lo lắng, nguyện Phật cho chúng con bỏ đạo
về nhà để khỏi các tội lỗi”.
Ðức
Phật dạy: “Như có hai người bị đói, gặp được người
chủ đãi bữa cơm ngon, tham ăn quá no. Một người có trí,
liền uống thuốc xổ, gìn giữ nghỉ ngơi nên giữ được
mạng sống. Một người vô trí sát sanh tế lễ để cầu
được sống, không ngờ đồ ăn chất chứa không tiêu, nên
bị đau phải chết, đọa vào cõi địa ngục. Người sợ
tội mà xin bỏ đạo về nhà thật là kẻ vô trí. Các con
đã có nhơn lành được gặp ta, thời nên uống thuốc cứu
khổ, thời khỏi phải chết”.
La
Hầu La nghe lòi Phật dạy, hiểu rõ chơn nghĩa của sự tu
hành, đảnh lễ chân thật, vâng theo lời giáo huấn của đấng
Thế Tôn.
La
hầu La chưa chứng đạo, nên tâm tánh còn thô tháo chưa được
thuần thục, lời nói ít thành tín.
Một
hôm, Phật bảo La Hầu La: “Ngươi hãy về ở tại tịnh xá
Hiền Ðề, giữ miệng nhiếp ý, siêng tu kinh giới”.
La
Hầu La vâng theo lời Phật dạy, về ở tịnh xá Hiền đề
90 ngày, tàm quý tự hối, ngày đêm không dừng nghỉ. Ðức
Phật đến thăm La Hầu La hoan hỷ đảnh lễ, sửa soạn chỗ
ngồi thỉnh Phật an tọa, nhiếp tâm đứng hầu một bên Phật.
Phật bảo La Hầu La:
- Ngươi
hãy bưng chậu nước đến đây, rửa chân cho ta.
La
hầu La vâng lời rửa chân Ðức Phật. Khi rửa xong Ðức Phật
bảo La Hầu La: Ngươi có thấy nước rửa chân trong chậu
kia không?
-
Bạch Thế Tôn, con thấy.
-
Nước ấy có thể dùng để ăn uống súc miệng được không?
-
Bạch Thế Tôn, không thể được. Nước ấy trước kia trong
sạch, nay vì rửa chân trở thành nhớp đục nên không thể
dùng.
Phật
dạy:
-
Ngươi cũng như vậy, là con ta, là cháu vua Tịnh Phạn, bỏ
sự vui sướng ở đời, làm vị Sa Môn, nếu không tinh tấn,
nhiếp thân giữ miệng, thời sẽ bị ba món độc là tham sân,
si làm nhơ nhớp tâm ý, cũng như nước kia không thể dùng
được.
Phật
lại bảo La Hầu La:
- Hãy
đổ chậu nước kia đi.
La
Hầu La liền đổ nước trong chậu ra.
Phật
dạy:
- Chậu
kia không còn nước nhớp nữa, vậy có thể đựng đồ ăn
uống được không? Bạch Thế Tôn, không thể dùng được,
vì đã mang cái tên chậu đựng nước rửa và đã từng chứa
nước không sạch.
Phật
dạy La Hầu La:
-
Ngươi cũng như vậy, tuy làm vị Sa môn, miệng không nói thành
tín, tâm tánh lại cang cường, chẳng niệm tinh tấn, thường
bị tiếng đồn không tốt. Thật cũng như cái chậu rửa kia
không thể đựng đồ ăn được.
Ðức
Phật lại lấy ngón chân hất cái chậu rửa, khiến chạy
lăn tròn, nghiêng qua nghiên lại vài lần rồi mới dừng lại.
Phật lại hỏi La Hầu La:
-
Ngươi có tiếc cái chậu này bị bể không?
-
Bạch Thế Tôn, cái chậu để rửa chân là vật không quý
giá gì. Trong ý tuy cũng có tiếc đôi chút, nhưng không đến
nỗi thiết tha lắm.
Phật
bảo La Hầu La:
- Ngươi
cũng như vậy, tuy là người Sa môn, không nhiếp thân và miệng
nói lời thô ác làm hại nhiều người, thời trong chúng không
ai thương, người tri thức không ai tiếc, thân chết bị luân
chuyển trong ba đường dữ, sống chết vô lượng, các vị
Hiền Thánh không ai thương tiếc, cũng như ngươi nói không
tiếc cái chậu vậy.
La
hầu La nghe lời Phật dạy lấy làm hổ thẹn và sám hối
tất cả lỗi lầm đã phạm. . .
Minh
Châu
“Hãy
xem người thợ rèn dung sắt, phải cạo bỏ tất cả sét bẩn,
mới trở nên đồ dùng tốt.
Người
học Ðạo phải bỏ tất cả thói xấu, mới trở nên trong
sạch được”.
Ðạo
đức trở về
Trị
vì kinh thành Ba La Nại, một thời kia, là going họ Sudasa. Nhà
vua thì ham mê săn bắn hơn chăm lo đến đời sống dân chúng.
Trong một cuộc săn, nhà vua mải miết đuổi theo đàn hươu
tơ nên lạc vào rừng sâu. Ðến khi dừng lại, mệt quá, vua
ngũ thiếp đi. Và lúc ngài thức giấc, ngài thấy một con
sư tử cái đang ngồi cạnh liếm chân ngài ra chừng luyến
ái. Ngài cũng vuốt ve hắn một cách thân mật như quen biết
nhau từ thuở nào. . .
Câu
chuyện lạ lùng trên đây lần lần theo thời gian xóa mờ
đi thì một hôm kia ngạc nhiên khác đến. Người ta thấy
đi vào kinh thành Ba La Nại một con sư tử cái to lớn, trên
lưng nó cõng một đứa bé mới sinh. Nó đi thẳng vào cung
điện, trao đứa bé cho nhà vua rồi trở lại rừng sâu.
Nhà vua không có con nên nhận đứa bé làm con minh và đặt
tên là Kamasa (Chân vằn) Kamasa lớn lên rất nhanh chóng và
được vua cho đi học ở Ta Xi La. Tại đây, Kamasa làm quen
với nhiều hoàng tử ở nhiều nước, trong đó có hoàng tử
Su Ta Ma mà ta sẽ biết sau này.
Ðến
sau cua cha mất, Kamasa được lập lên ngôi, kế tục giòng
họ Sudasa cũng nhớ các của trước, Kamasa duy trì được nề
nếp cũ nhưng chỉ mỗi một điều khác là nhà vua rất thèm
thịt. Ðó là bản tính mà ông thừa hưởng của mẹ. Người
đầu bếp biết tính vua nên bữa nào cũng sửa soạn đầy
đủ nhiều món thịt kho nướng ngon lành. Cho đến một hôm
kia, trước bữa ăn, vì sơ ý anh ta không cất đặt đồ ăn
kỹ lưỡng nên tất cả các món thịt đều bị bọn chó săn
chén hết sạch. Hôm ấy là ngày lễ nên các cửa tiệm đều
đóng cửa. Và chạy đủ hết mọi nơi cũng không thể mua
được mẩu thịt nào, tình thế thật là nguy cấp. Vợ người
đầu bếp bỗng nảy ra một sáng ý. Chị ta lén xẻo một
miếng thịt đùi của người tù vừa bị xử trảm đem vào
cho chồng. Rồi hai vỡ chồng hối hả chiên xào với nhiều
đồ gia vị thơm tho. . .
Mới
vào ngồi vào bàn ăn nhà vua đã để ý ngay đến mùi vị
khác thường. Rồi nhà vua gạn hỏi tên đầu bếp về món
thịt mới lạ này. Người đầu bếp sợ hãi nói quanh và
đến cuối cùng phải thú thật. Rồi hắn nén thở chờ sự
trừng phạt mà hắn dự đoán sẽ rất nặng nề. Nhưng, nhà
vua không tỏ vẻ giận dữ mà trái lại khen ngợi hắn, nhà
vua lại còn dặn dò kỹ lưỡng rằng sau này nhà vua chỉ thích
một món thịt ấy thôi.
Ở
miền khí hậu nóng của xứ Ấn Ðộ khó mà giữ được thịt
tươi sang đến ngày hôm sau, nên cứ mỗi ngày phải hạ thịt
một người. Những tên tù lần lược đem ra chém để lấy
thịt dọn cho vua. Nhưng rồi cũng đến cái ngày mà nhà tù
hết người. Thế là cái tên đầu bếp khốn nạn lại phải
đi săn người. Những người đi về khuya thường bị bắt
cóc, trẻ con đi chơi một mình thường bị mất tích, gieo
một kinh khủng trong khắp kinh thành mãi cho đế một
hôm người ta bắt được hung thủ. Tên đó chẳng phải ai
khác là tên đầu bếp của nhà vua. Người ta dẫn hắn ra
trước pháp đình với cả xâu thịt đùi treo ở cổ hắn.
Hắn nhận tất cả tội lỗi và cung khai là hắn làm theo lệnh
nhà vua. Dân chúng rất đổi ngạc nhiên. Rồi nhớ đến cái
giòng giống sư tử của ông vua khát máu, người ta đều hiểu
được sự thật. Mọi người phẩn uất, định nổi dậy
lột mặt nạ thật ông vua độc ác. Nhưng Kamasa đã đứng
dậy, vung gươm vạch một lối thoát để trốn vào rừng sâu
cùng với tên đầy tớ.
Cũng
vào thời kỳ đó, trong lúc ở thành Ba La Nại cái màn khủng
khiếp diễn ra thì ở xứ Indra (gần Ðề Ly bây giờ) không
khí sinh hoại lại khác hẳn. Nhà vua thuộc giòng họ Khu Ra
và Thái tử Su Ta Ma ( tiền thân của Ðức Phật) là người
đức hạnh. Dân chúng sống yên ổn thanh bình. Người ta thường
đọc lên rất nhiều bài thơ ca ngợi hạnh phúc và lòng đạo
đức của Thái tử. Thái tử Su Ta Ma còn trao nhiều giải thưởng
quý giá cho những đoạn văn thơ lỗi lạc. Hơn một lần Thái
tử đã thưởng hàng chục lạng vàng cho những áng thơ tuyệt
tác đến nỗi vua cha phải tìm cách khuyên can. Nhưng Thái tử
đều một mực xin cha được như nguyện vì theo ý ngài thì
không có kho của cải nào trên đời này quý giá bằng nhhững
ý tưởng cao đẹp thoát lên từ những lời thơ hay.
Một
buổi sang đầu mùa, lúc Thái tử đi đến vườn hoa để dự
hội mùa Xuân, Ngài gặp một ông lão Bà La Môn, ông lão từ
Ta Xi La đến, quần áo còn dính đầy bụi đường, đến tìm
Ngài để đọc cho Ngài nghe bốn đoạn thơ tuyệt tác với
hy vọng mong ở Ngài một phần thưởng xứng đáng. Vì còn
phải dự lễ nên Thái tử hẹn sẽ gặp lại ông già khi Ngài
trở về. Ngài không quên dặn người nhà phải đối đãi
với ông già rất tử tế. . .
Buổi
lễ đã khai diễn. Người ta chào đón Thái tử trong những
điệu múa tươi đẹp như hoa hồng nở, trong những lời ca
trong lành như gió reo ánh sang. Bỗng một tiếng gầm lớn.
Cuộc vui dừng lại. đoàn lính hầu cận Thái tử đã sẵn
sang để bảo vệ Ngài chống với một kẻ lạ mặt cao lớn,
thân hình đầy lông lá trông vô cùng man rợ đang tiến về
phía Thái tử, Thái tử Su Ta Ma bình tĩnh hơn bao giờ hết
và nhận ra kẻ lạ mặt là Kamasa, bạn cùng học tại Ta Xi
La. Ngài khoác tay cho lính đừng chống cự. Kamasa rống lên
như một thú rừng rồi chạy xổ tới, trông khỏe như voi
và nhanh như gió bão. Hắn cõng Thái tử lên vai và chạy biến
vào rừng sâu.
Kamasa
đã làm gì trong rừng này từ sau khi từ bỏ kinh thành Ba La
Nại. Thật khó kể hết những hành vi tàn bạo của hắn.
râu tóc hắn mọc dài ra. Áo quần hắn rách tươm, dính đầy
bùn và máu. Hình thù khhủng khiếp ấy đã làm nhiều người
đi trong rừng chết ngất, Trước khi biến thành thịt ngon
để vào bụng hắn.
Một
hôm kia, hắn săn suốt ngày mà không tìm được một người
nào. Lúc trở về dưới gốc cây đa dùng làm nhà cho hắn
lâu nay, Kamasa đói cào ruột. Hắn bổng thấy một bóng người,
hắn nhảy xổ đến, giết chết. Hắn gọi tên đầu bếp.
Hắn gọi đã năm bảy lần mà vẫn không thấy trả lời.
Tức giận hắn định đứng dậy đi tìm thì bổng hắn nhìn
kỹ lại xác người nằm dưới chân hắn. Ðó! Người nằm
dưới chân hắn không ai khác là tên đầy tớ của hắn. Không
một chút cảm động, hắn tự tay phanh thịt tên đầu bếp
tại chỗ mà trước đây tên kia đã quay thịt rất nhiều
người. Thế là từ ngày ấy hắn phải đích thân làm đầu
bếp.
Cũng
chưa bằng lòng, Kamasa còn đón bắt 99 vị hoàng tử, phần
lớn là bạn bè của hắn hồi ở Ta Xi La về giam dưới gốc
cây đa. hắn định bắt đủ một trăm để cùng chọc huyết
một lượt lấy máu tế thần cây, và Thái tử Su Ta Ma là
người thứ một trăm.
Tất
cả đều đã sẳn sàng. Hắn đặt Thái tử Su Ta Ma xuống
đất với một cử chỉ thắng trận. Hắn tuyên bố cho Su
Ta Ma biết ý định của hắn. Su Ta Ma không hề mất bình tĩnh
nhưng bổng nhiên mắt Thái tử rươm rướm ướt. Kamasa cười
chế nhạo, hắn nói:Thái tử còn tiếc nhiều điều lắm phải
không. Và danh vọng và thú vui và vợ con ngài. . .
Phải!
Ðối với Kamasa hắn chỉ hiểu chừng ấy. Làm sao mà hắn
có thể biết rằng hiện Thái tử Su Ta Ma đang nghĩ đến ông
lão Bà La Môn, đến bài thơ tuyệt tác mà ông ta sắp đọc
cho Ngài nghe, đến hy vọng được khen thưởng của ông lão,
đến lời hứa của Ngài với ông lão chưa thực hiện được.
Ông ta sẽ thất vọng buồn khổ biết bao nhiêu!
Suy
nghĩ một lát, Thái tử Su Ta Ma bèn tỏ cho hắn biết và xin
hắn để cho mình được trở về làm tròn lời hứa. Ban đầu
hắn nhất định không thuận vì hắn không tin rằng Su Ta Ma
sẽ trở lại với hắn. Nhưng đến khi Su Ta Ma chỉ vào gươm
mình mà thề lời thề danh dự của người Su Ta A. với ngay
cả Kamasa, phải chăng lời thề danh dự đó tác động đến
tâm hắn. Hay là hắn muốn thử lòng thủ tín của người
bạn hắn chăng. Chỉ biết rằng cuối cùng hắn để chịu
cho Thái tử Su Ta Ma trở về gặp ông lão Bà La Môn.
Su
Ta Ma được mọi người đón mừng nhưng việc đầu tiên của
Ngài là đến gặp ông lão Bà La Môn để ông ta khỏi chờ
đợi. Thái tử chăm chú nghe ông ta đọc bốn đoạn thơ tuyệt
tác. Bốn đoạn thơ có mãnh lực phi thường! Nó kích động
tận tâm can những đức tín cao đẹp của con người. Ngài
ghi sâu bài thơ vào lòng. Ngài thưởng cho lão rất hậu. Rồi
Ngài ghé lại từ biệt vua cha. Vua cha không muốn Su Ta Ma trở
lại một mình sợ thiệt hại đến tính mạng Thái tử, lại
còn muốn cử một đội binh hùng mạnh để chấm dứt cuộc
đời tàn bạo của Kamasa. Nhưng Thái tử can vua. Và giữ đúng
lời hứa ttrước mặt kẻ thù, Su Ta Ma trở lại một mình.
Su
Ta Ma trở về đúng hẹn làm Kamasa kinh ngạc. Sự coi thường
cái chết của Ngài đã làm cho nó cảm phục. Rồi tự nhiên
đến lượt hắn, hắn tò mò muốn nghe bốn đoạn thơ huyền
diệu. Su Ta Ma từ chối vì cớ rằng những lời thơ hay không
thể để lọt vào tai kẻ không xứng đáng. hắn chột dạ
nhưng lòng muốn biết lại mạnh hơn, nên cố gắng nén tức
giận. hắn từ tốn xin Thái tử đọc cho nó nghe. Một lát
sau biết là đã đến lúc hắn tình tĩnh để hiểu. Su Ta Ma
đọc lên toàn bài thơ một cách nồng nhiệt như ông lão Bà
La Môn trước đây đã đọc cho Ngài. Bài thơ có tác dụng
kỳ diệu. Nó khơi dậy các điều lành trong tâm của một
kẻ hầu như đã mất hẳn tánh người. Nghe xong Kamasa yên
lặng suy nghĩ rồi đáp lại hắn hứa cho Thái tử ao ước
bốn điều.
Sau
khi cân nhắc, Thái tử Su Ta Ma phát biểu lần lượt các điều
ước của mình. Ðầu tiên, Ngài ước cho Kamasa, người bạn
của Ngài thời niên thiếu được sống lâu. thật không thể
nào ngờ được, Kamasa không thể nào ngờ được người sắp
bị hắn ăn thịt lại không có một ác ý gì với hắn, trái
lại còn đặt nhiều tình cảm với hắn.
Ðiều
thứ hai, Ngài ước rằng 99 vị hoàng tử đang bị giam cầm
sẽ được trả lại tự do. Kamasa chấp thuận điều này một
cách dể dàng.
Ðiều
thứ ba, các vị hoàng tử sẽ cùng được thả ra cùng trong
một lúc ở đây, kamasa hơi do dự một chút vì hắn sợ sẽ
bị trả thù nhưng sau hắn cũng bằng lòng.
Chỉ
còn một điều ước cuối cùng. Ðã ba lần rồi, Su Ta Ma chưa
uớc gì về Ngài cả. Kamasa đoán chắc thế nào lần này hắn
cũng sẽ nghe Thái tử Su Ta Ma ước về sự giải thoát của
mình. Nhưng hắn lầm vì Su Ta Ma đang ao ước một lần nữa
về hắn. Ngài ước rằng: Từ nay về sau Kamasa sẽ bỏ cuộc
đời man dã. Thật là một lời sét đánh, trong tâm Kamasa có
một cuộc nổi loạn. Hắn, kẻ đã từ bỏ của cải, đất
đai ngôi báu để sống theo bản chất hung hãn, giờ đây hắn
trở về con đường hiền lành của con mồi của hắn? Chưa
khi nào hắn có ý nghĩ như thế. Nhưng lần này có một sức
mạnh đang truyền khí lực vào những cái gì tốt còn sót
lại trong tâm hắn. Và bài thơ ban nãy, và người đang đứng
trước mặt nó, quả đã tiếp sức cho nó một nguồn lực,
một nguồn lực tinh thần dồi dào. Cho nên trong cuộc chiến
đấu bên trong, Kamasa đã tự thắng được mình.
Kamasa
đã tự thấy được tội ác của mình. Nó hối hận quá,
sụp xuống chân Thái tử Su Ta Ma tỏ lòng muốn quay về con
đường lành.Trong lúc đó trên khắp cõi trời đất vạn vật
đều rung động tỏ nỗi vui mừng chào đón sự thắng lợi
của Thái tử Su Ta Ma.
Thái
tứ hoan hỷ đỡ Kamasa dậy, giúp Kamasa thực hiện những điều
đã thuận hành, Kamasa cắt dây cởi trói, trả lại tự do
cho 99 vị hoàng tử trước sự vô cùng ngạc nhiên của họ.
Những
điều quan trọng cần phải giải quyết là việc đưa Kamasa
trở lại kinh thành Ba La Nại. Làm thế nào bảo không còn
sự căm hờn của dân chúng, của những kẻ bị mất con, mất
chồng, mất người thân thuộc? Tội ác của tên đầu bếp,
hắn đã nhận cái hậu quả tai hại trong dạ dày của chủ
hắn rồi. Còn tất cả tội lỗi của Kamasa, Kamasa phải chuộc
bằng tất cả việc lành sau này của mình. Ai phải bảo đảm
điều đó với dân chúng? Giải quyết khó khăn này, không
thể trông cậy vào người nào ngoài Su Ta Ma.
Thái
tử Su ta Ma cùng với 99 vị hoàng tử Kamasa về thành. Ngài
đứng ra phân giải với dân chúng. Tin ở Ngài, dân chúng bằng
lòng tiếp đón Kamasa.
Ngày
hôm sau khắp kinh thành mở hội. Trước mọi người, Kamasa
hứa giữ gìn tập tục tốt và đức hạnh. Rồi mời 99 vị
hoàng tử và Thái tử Su Ta Ma cùng dự bữa tiệc chào mừng
ngày trở về của đức hạnh trong tâm tư con người, ngày
thắng lại của lẽ phải, ngày hết âu lo của kinh thành.
Quảng
Huệ
“Thắng
lợi thì bị oán thù, thất bại thì bị đau khổ, kẻ nào
không màng đến thắng bại, kẻ ấy sẽ sống một cuộc đời
hòa hiếu an vui”.
Không
biết mình điên
Ngày
xưa, tại một xứ nọ trong nước Ấn Ðộ dân chúng sống
đời bình yên, mưa thuận gió hòa, chưa khi nào gặp phải
thiên tai hạn hán.
Nhưng
chẳng ngờ, một chiều hôm đó, bầu trời mây đen giăng kín
và trút xuống cơn mưa, ngập tràn hồ ao sông biển, dân chúng
uống phải thứ nước mưa ấy ai nấy thảy đều loạn tâm,
cuồng trí, cởi bỏ y phục, nhảy múa như những kẻ điên.
Họ hốt đất bùn tô trét đầy mình mẩy, mặt mày. Trải
qua bảy ngày như vậy mọi người mới tỉnh cơn cuồng loạn,
nhưng họ chẳng biết do nguyên nhân nào gây nên sự kiện
này.
Trong
triều đình, vị vua đang trị vì xứ ấy là một bậc minh
quân, tài trí một hôm thấy trời kéo mây đen, nhà vua biết
được đó là cơn mưa độc sắp trút xuống, bèn lấy đồ
đậy miệng giếng lại. Lúc ấy cả thành, nước mưa độc
tràn xuống ao hồ sông suối, dân chúng uống thứ nước ấy
đều bị cuồng loạn như lần trước.
Sáng
hôm sau, nhà vua lâm triều thấy quần thần, bá quan văn võ
đều trần truồng, bùn đất dính khắp thân thể, ngồi chầu
hai bên. chỉ có một mình nhà vua vì không uống phải thứ
thuốc độc ấy nên bình tĩnh sáng suốt, mình mặc áo long
phụng, đầu đội mão cửu long gắn đầy châu báu, ngồi
trên long ỷ. Quần thần thấy vậy, ngơ ngác, chủ chỏ nói
với nhau rằng: “Ồ kìa! Thằng khùng! Nó làm cái gì mà dị
hình dị tướng như vậy, chắc là nó điên. Nó quấn cái
gì cùng mình chẳng giống ai, chúng ta hãy hỏi tội nó”.
Nhà
vua nghe quần thần bàn tán với nhau như vậy sợ hãy, liền
nói rằng:
- Ta
có thú thuốc hay, có thể trị được bịnh này. Các ông hãy
chờ ta một chút, ta đi lấy thuốc đem ra ngay. Nhà vua trở
vào cung trút bỏ y phục trần truồng giống như bọn quần
thần rồi lấy đất bùn trét lên mình mặt rồi trở ra. Bọn
người thấy thế vui mừng, hớn hở, cho rằng ông ta đã hết
điên, giống y như mình.
Trải
qua bảy ngày chất độc tan hết, mọi người đều tỉnh lại,
thấy mình trần truồng lấy làm xấu hổ, về nhà mặc quần
áo rồi lâm triều nhưng khi ấy nhà vua lại ngồi trần truồng
trên long ỷ, đầy mình đất cát nhơ nhớp, quần thần ngó
thấy kinh ngạc nói rằng: Ðại vương là bậc đa mưu
trí tuệ tại sao cuồng loạn như vậy?
Nhà
vua nói:
-
“Tâm ta thường vắng lặng không biến đổi, chính các ông
bị cuồng loạn”.
Ðấng
Thế Tôn cũng lại như vậy, chúng sanh bị màng vô minh làm
mê mờ, cuồng loạn, nếu nghe bậc đại Thánh Trí giảng thuyết
về các pháp bất sanh, bất diệt , nhất tướng. . . thì cho
đó là lời cuồng loạn. Bởi vậy Như Lai tùy theo chúng sanh
mà phương tiện, nói thiện bất thiện, hữu vi, vô vi vậy.
Giới
Ðức
Không
lửa nào có thể ví được với lửa của tham dục.
Không
có ngục tù nào có thể ví được với ngục tù của oán
hờn.
Không
mối ràng buộc nào có thể ví được với sự rối loạn
của tâm trí.
Không
đau khổ nào giống như sự đau khổ của loài người.
Nhưng
chẳng có hạnh phúc nào lớn bằng sự an định của tâm trí.
Chuyện
chàng 4 vợ
Một
chàng kia có bốn bà vợ.
Bà
thứ nhất, được chồng mến yêu, đi đứng, nằm ngồi, làm
lụng không rời nửa bước. Ăn uống, áo quần thường được
chồng lo cho trước hết. Lạnh nóng đói khát xem sóc tùy thời,
chìu theo ý muốn, chẳng bao giờ cùng nhau to tiếng.
Bà
hai, đi đứng nói năng, thường ở hai bên tả hữu. Chồng
gặp thì vui, xa chút thì buồn.
Bà
ba, thỉnh thoảng năm thì mười họa, khi cùng cực thiếu thốn,
mới được anh chồng nghĩ đến.
Bà
thứ tư, hẩm hiu hơn hết, bị chồng sai bảo đủ chuyện
, phục dịch đủ điều, nhưng chẳng bao giờ thèm hỏi đến.
Một
ngày kia, anh chồng hấp hối, kêu bà vợ thứ nhất vô bảo:
-
Ngươi phải đi theo ta.
Bà
thứ nhất trả lời:
-
Tôi không thể theo anh được. Anh chồng nổi xùng, hỏi:
Ta
vốn yêu mi nhất, thường cưng chìu ngươi đủ thứ. Tại
sao chẳng chịu theo nhau!
Bà
vợ đáp:
- Anh
tuy có lòng yêu mến tôi thật, nhưng tôi không thể đi.
Anh
chồng bèn kêu bà hai đến bảo:
-
Mình đi theo tôi đi.
Bà
này đáp:
-
Anh yêu mến chị cả sao không bắt chị ấy đi, tôi đâu có
đi theo anh được.
Anh
chồng bèn nạt nộ:
-
Ngày trước, ta tìm mi thật khổ sở không thể tả xiết.
Nào chịu lạnh, chịu nóng, nhịn ăn nhịn tiêu mới giữ được
mi. tại sao chẳng chịu đi với ta.
Bà
hai vẫn đáp tỉnh bơ:
- Bởi
lòng anh tham dục mới tìm đến tôi, chớ tôi đâu có cần
gì anh. Nay sao lại đem việc gian khổ ấy buộc nhau lằm gì!
Quá
ngao ngán, anh chồng phải kêu đến bà vợ ba mà rằng:
-
Mình nên đi theo tôi.
Bà
ba tỏ ra lưu luyến, nhưng chỉ khóc lóc mà nói:
-
Tôi với anh ân nghĩa nặng lắm. Nay đến phút cuối cùng,
tôi xin đưa tiễn anh tới ngoài thành ngoài thành mà thôi,
không thể theo anh đi đến tận chỗ anh ở được.
Sau
cùng, anh chàng bốn vợ đành phải kêu bà vợ thứ tư, người
thường ngày bị chàng ta hất hủi, mà bảo đi theo mình. chị
vợ này bảo chồng:
- Tôi
đã xa lìa cha mẹ tôi đi theo hầu hạ anh, thì việc sống
chết vui khổ phải có mặt với nhau. Giờ đây, tôi xin theo
anh đi cho đến chỗ.
Bốn
bà vợ trên là bốn thí dụ:
-
Bà thứ nhất, dụ cho thân xác con nguời. Người đời, ai
nấy ưa mến xác thân mình như anh chồng kia mê bà nhất. Nhưng
đến khi chết, nó nằm trơ trơ nơi đất, nào chịu đi theo.
-
Bà hai, dụ cho của cải tiền bạc. Khi được thì vui. chẳng
được thì buồn. Nhưng đến lúc chết của cải hoàn trả
cho đời, nào chịu đi theo.
-
Bà ba, dụ cho cha mẹ, vợ con, tôi tớ, bạn hữu. Sanh thời
lấy ân nghĩa tình ái, cùng nhau tưởng mến. Nhưng khi chết,
dù họ có khóc lóc than van, cũng tiễn đưa được nhau tới
nghĩa địa là cùng, rồi ai về nhà nấy. thương nhớ có lâu
lắm cũng chẳng qua mười ngày là lại ăn uống cười nói
mà dần quên người chết.
-
Bà tư, dụ cho tâm ý của con người. Trong thiên hạ, ai mà
không có lúc tự ái, bảo thủ ý mình, buông thả tâm ý, tham
dục giận dữ, chẳng tin chánh đạo. Ðến khi chết, chỉ
có tâm ý là chịu đi theo để phải đọa vào ác đạo.
Cho
nên, phải săn sóc tâm ý, bằng cách luôn luôn nhớ tới nó
mà thắng tâm chánh ý.
Báo
Bát Nhã
“Tâm
như nhà họa sĩ, vẽ các tranh ảnh.
Tâm
như người nô lệ bị các món phiền não sai khiến.
Tâm
như vị quốc vương làm mọi việc tự tại.
Tâm
như bọn giặc cướp khiến tự thân bị đau khổ.”