Phần
Hai
Mục
Kiền Liên Tôn Giả
Bát
Cơm Cúng Dường
Vườn
Nai
Duyên
Xưa Nghiệp Củ
Mục
Kiền Liên Tôn Giả
Trong
hàng Thánh chúng hay trong mười đại đệ tử của Phật. Mục
Kiền Liên là vị thần thông số một. Trong moiï tình
huống, Mục Kiền Liên thường hay sử dụng phép thần thông,
khi đi truyền giáo Mục Kiền Liên dễ dàng chinh phục được
người. Nhưng pháp căn bản của sự giải thoát không phải
là thần thông. Với nghiệp lực của con người thần thông
không thể giải cứu. Với phép thần thông có thể khuất
phục người được dễ dàng, nhưng chưa hẳn lòng người
đã chừa oán giận.
Dù
bị Phật quở, Mục Kiền Liên vẫn sử dụng phép thần thông
để làm phương tiện. Ngày vua Lưu Ly kéo binh đội đến dây
hãm thành Ca Tỳ La Vệ, Mục Kiền Liên đã dùng thần thông
đến cứu dòng họ Thích Ca bị bách hại, thành Ca Tỳ La Vệ
vẫn bị hỏa thiêu.Mục Kiền Liên cũng không cứu được
mẹ bằng phép thần thông. Ngay chính Mục Kiền Liên cũng đã
không thắng được nghiệp báo để thoát chết bởi bọn ngoại
đạo, khi Mục Kiền Liên đến truyền đạo thành Thất La
Phiệt.
Một
hôm, trên đường đi khất thực, Mục Kiền Liên dừng chân
trước một nhà bán bánh ít trần, thứ bánh ngọt mà không
bọc lá. Thấy bà không đem vật thực ra cúng dường, đoán
biết bà này có tâm keo kiệt, Mục Kiền Liên cố tình đứng
lại chờ đợi, để bà gieo công đức phước điền.
Không
những không cúng dường, bà còn xua đuổi Tôn giả, bà nói:
-
Làm gì mà sáng sớm ông đến đứng án nhà tôi thế? Ông
có biết rằng tôi đang hông bánh chưa có bán gì được cả
chăng? Xin mời ông đi mau cho với để sáng sớm tôi khỏi
mất hên.
-
Xin bà cho tôi một nắm cơm, nếu không bà cho tôi một cái
bánh cũng được. Mục Kiền Liên năn nỉ.
-
Tôi nghèo lắm ông ơi! Bà già nói, ông không thấy nhà tôi
đang xiêu vẹo sau trận cuồng phong, chưa sửa được đấy
à! Còn cái bánh, tôi đã bảo bánh chưa chín mà, ông này lẩn
thẩn thật.
-
Nếu bà không cho, tôi hóa phép làm gió thổi sập nhà bà luôn.
-
À! Thế ông biết làm phép ư? Nếu thật sự ông có thể
biến hóa chết được, tôi sẽ cho.
Với
thần thông đãchứng, Mục Kiền Liên rùng mình ba lần rồi
lăn ra chết.
Thấy
thây chết khiếp quá, nhưng vì tâm keo kiệt bà nói:
- Ðã
là xác chết, còn ăn uống gì được mà cho, giờ ông còn
lại báo đời, tôi phải chôn cất thây ma, thật đến khổ!
Mục
Kiền Liên đứng dậy và nói:
-
Giờ này, tôi là người bình thường, ăn uống được, xin
bà hãy đem vật thực cho tôi.
-
Tôi đã bảo là tôi nghèo rớt mồng tơi mà, xin ông hãy dời
gót gấp cho với, để tôi còn lo sanh kế nữa chứ.
-
Bà đã biết tôi có phép, Mục Kiền Liên nói: Sẳn có tảng
đá bên đường, nếu bà không cho vật thực, tôi sẽ mang
tảng đá thả đè bẹp nhà bà ngay tức khắc.
Giận
quá, nhưng lại sợ sập nhà, nhân đang hâm bánh (nấu cách
thủy) bà mở vung, chọn một cái bánh nào nhỏ nhất để
cho, hầu khỏi rắc rối. Lúc này, bà thấy cái bánh nào cũng
to lớn, cho thì thiệt hại cả vốn và lời. Dù bánh đã được
xoa dầu để khỏi dính nhau, nhưng bà càng xáo tìm cái bánh
nhỏ nhất thì bán càng dính chùm với nhau. Giận quá, bà khuân
cả nồi để trước Mục Kiền Liên và nói: Ông hại tôi
quá, làm bánh tôi dính chùm với nhau hết. Hỏng hết rồi,
ông mang luôn cả nồi này về mà ăn cho thỏa. Thấy ý cho
bánh trong sự tức giận, nhưng thiện tâm đã bắt đầu nhen
nhúm. Mục Kiên Liên gắp một cái bánh để vào bình bát,
rồi tạ từ bà già và tiếp tục lên đường.
Một
lần khác, nhân đi khất thực, ngang qua một khu vườn rất
nên thơ, Mục Kiền Liên gặp một phụ nữ tuổi trung niên
rất là kiều diễm. Bà này đón Mục Kiền Liên lại và mời
vào rừng nói chuyện. Biết chuyện chẳng lành, chuẩn bị
nếu có bị hại khi không chiều ý bà ta, thì sẽ đem sức
thần thông chống trả, Mục Kiền Liên từ chối và nói:
-
Bà không nên đem sắc đẹp mê hoặc tôi, con người của bà
bên ngoài vui tươi, ngọt ngào nhan sắc, nhưng chắc chắn lòng
bà không khác một cuộn chỉ rối. Bà đang có một tâm sự
uất nghẹn nên mượn sắc đẹp sẵn có để giết thời gian,
hầu quên lãng tất cả, xin lỗi, bà chớ phiền, tôi thẳng
thắn khuyên bà không nên chơi với lửa, lội vào vũng sình,
nguy hiểm lắm! Càng lao vào con đường trụy lạc, tâm hồn
càng thêm dơ bẩn. Trong vũng bùn, bà càng cố vẫy vùng thì
bà càng lún sâu, khó thoát khỏi tội lỗi. Thiện tâm của
bà chưa hẳn đã mất, bà nên quay hướng chưa muộn lắm đâu.
Nghe
nói đúng quá, bà ta giật mình khóc sùi sụt và thưa:
- Thưa
Tôn giả! Tôi vẫn biết thế, nhưng không có con đường nào
hơn. Tôi mượn lạc thú để quên hết uẩn khúc của cuộc
đời, quên quá khứ đau thương.
Mục
Kiền Liên bình thản khuyên:
Thông
thường, với những điều càng cố quên thì càng nhớ, càng
nhớ lại càng thấy đau. . . càng đau thì lòng càng căm tức,
càng oán tức lại có thể phát điên khùng. Lúc đó, hết
biết phương cứu chữa, ở đời có hai con người mạnh nhất.
-
Người không có tội lỗi. Người có tội lỗi mà biết ăn
năn, sám hối. Thân thể, quần áo dơ bẩn dùng nước giặt
rửa. Nước trên sông ô uế khi vào biển cả đều được
lóng trong. Tâm hồn nhiễm đầy trần cấu, Phật Pháp có năng
lực làm cho trong sạch, thánh thiện.
Nếu
biết sám hối bà sẽ hết tội, tăng phước, trở nên con
người gương mẫu.
-
Những tội lỗi quá nhiều, sám hối bao giờ mới hết tội?
! ! Bà ta nói, tôi đã mượn tiền tài và sắc đẹp làm lung
lạc không biết bao nhiêu người đàn ông nhẹ dạ. Tôi đã
phá tan hạnh phúc của nhiều gia đình, rồi tôi cũng bị người
cùng phái nguyền rủa, có lần tôi suýt toi mạng. Khinh ghét
tôi bội phần!
-
Với giáo pháp của Phật, khi nghe bà bộc lộ tâm hồn, tôi
sẽ tăng thêm từ ái,không có khi dễ gì đâu.
Nghe
thế, rất yên tâm, bà kể:
-
Tôi là con của trưởng giả ở thành Ðức Xoa Tỳ La, tên
là Liên Hoa Sắc, lúc lên 16 tuổi tôi lấy chồng, chẳng may
cha chồng chết sớm, mẹ chồng tôi còn xinh đẹp, và sinh
lý còn cường thịnh, do đó bà khuynh đảo chồng tôi, phạm
tội loạn luân. Quá buồn, tôi xin ly dị, để lại cho chồng
tôi một bé gái, rồi tôi đi lang thang như kẻ mất hồn. Vì
buồn, tôi lại kết bạn với một chàng thương gia trẻ tuổi.
Tôi ở nhà lo việc quản gia, chồng tôi lại đi đó đi đây
để buôn bán. Làm ăn phát đạt, lắm tiền của lại sinh
tật. Một chuyến đi buôn xa trở về, chồng tôi đem về một
hầu thiếp son trẻ, gởi ở nhà một người bạn hữu. Thường
mượn cớ đến nhà bạn hàn huyên, chồng tôi ít ngủ ở
nhà. Nghe bà con xì xầm, tôi nổi cơn ghen, quyết tìm cho bằng
được và ăn thua đủ với con quỉ cái đã ám hại gia đình
tôi. Không ngờ khi chạm mặt nhau, hầu thiếp của chồng tôi
chính là con gái của tôi với đời chồng trước.
Oan
trái gì mà ghê thế! Bà già tôi lại đi cướp chồng của
tôi. Rồi con tôi và tôi lại cùng chung một chồng. Xưng hô
như thế nào cho phải đạo lý? Uẩn khúc như thế thì
hỏi ai còn chịu đựng nổi?
Khi
tỉnh lại, không giữ được thăng bằng của tâm hồn, tôi
lại bỏ nhà ra đi, mượn những cuộc truy hoan đó đây đùa
cợt cho quên sầu. Chuyện đời của tôi quá bi thảm, Tôn
giả có đủ năng lực để cứu vớt tôi chăng?
Nghe
tâm sự não nùng của Liên Hoa Sắc, Mục kiền Liên đem thuyết
duyên sanh, thiện ác, nghiệp báo, nhân quả luân hồi giảng
giải cho Liên Hoa Sắc nghe.
Khi
thấy Liên Hoa Sắc có thể hồi tâm, Mục Kiền Liên hướng
dẫn Liên Hoa Sắc về bái yết Ðức Phật . Liên Hoa Sắc hết
lòng sám hối, tinh tấn tu hành, chẳng bao lâu chứng quả A
La Hán và có thần thông số một bên phái nữ. Trong khi, Mục
Kiền Liên đã là bậc thần thông số một bên phái nam.
Trong
hàng Thánh Chúng. Mục Kiền Liên không những là vị thần
thông số một, bản tánh rất năng động mà còn là một vị
có hiếu đạo hơn hết. Một hôm, nhớ mẹ, Mục Kiền Liên
vận dụng thần thông đi khắp mọi nơi để tìm mẹ. Khi vào
địa ngục, Mục Kiền Liên thấy mẹ không chỉ ở chốn địa
ngục, mà còn đói khủng khiếp, cơ thể vô cùng gầy yếu.
Ðể phục hồi sức lực cho mẹ là bà Thanh Ðề, Mục Kiền
Kiên đem cơm dâng cho mẹ. Mừng quá, bà Thanh Ðề dùng tay
trái che bát để cho tù nhân khác không thấy thức ăn, tay
phải bốc cơm đưa vào miệng. Nhưng than ôi! Cơm thành than
đỏ, bà không thể nào ăn được. Mục Kiền Liên rơi nước
mắt, lòng buồn vô tận! Mục Kiền Liên vận đủ mọi phương
tiện để cứu mẹ, nhưng vẫn không có kết quả.
Trở
về bạch Phật sự tình và hỏi lý do. Với tinh thần từ
ái,Phật nói: Mục Kiền Liên, lúc sanh tiền mẹ ông đã hủy
báng Phật, mắng Tăng, bà không tin nhân quả luân hồi. Ðặc
biệt bà rất bỏn xẻn, chẳng bao giờ bố thí cho ai, kể
cả bố thí cho con kiến hạt gạo. Vì thế, sau khi chết bà
phải chịu quả báo như thế. Ông tuy là con người hiếu đạo,
thương cha nhớ mẹ, muốn đền đáp thâm ân, nhưng sức của
cá nhân giới hạn, dù đã có thần thông, một mình ông cũng
không thể giải cứu nghiệp lực của bà Thanh Ðề. Ông hãy
đợi đến rằm tháng bảy, ngày chư Tăng mãn hạ, thiết lễ
Vu Lan nhờ chư Tăng chú nguyện, mẹ ông mới thoát khỏi cảnh
địa ngục.
Theo
như lời Phật dạy, ngày Rằm tháng bảy, Mục Kiền Liên sắm
sửa trai diên, dâng cúng mười phương Tăng, và nhờ thần
lực của chư Tăng chú nguyện.
Quả
như vậy, với đạọ nghiệp tấn tu 3 tháng, chư Tăng không
những giúp cho bà Thanh Ðề, mà nhiều nhiều người khác trong
ngày đó cũng thoát khỏi cảnh địa ngục tối tăm.
Kinh
Vu Lan, lễ Vu Lan, và gọi là ngày Rằm xá tội vong nhơn có
từ đó. Vu Lan Bồn có nghĩa là mở sợi dây treo ngược cho
người có tội. Trung Quốc gọi là giải đảo huyền.
Vào
thời Ðức Phật, Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên là hai cánh
tay đắc lực của đức Phật. Cả hai đã làm cho ngoại đạo
kính sợ. Xá Lợi Phất đã dùng trí tuệ biện tài chinh phục
bọn goại đạo. Với dũng khí kiên cường năng động. Mục
Kiền Liên dùng thần thông lấn lướt bọn ngoại đao. Bởi
thế hàng ngoại đạo rất ghét Mục Kiền Liên hơn hết, và
tìm cơ hội bức hại.
Một
hôm trên đường đi du hóa trở về, Xá Lợi phất và Mục
Kiền Liên bị đồ đệ Bảo Lặc Noa, thuộc phái Ni Kiền
Tử, thường gọi là phái lõa hình đem gậy gộc ra chận đường
gây sự : Bọn này hỏi Xá Lợi Phất: “ Trong chúng cháng
mạng ( tự xưng của phái lõa hình) có sa môn không?” Vốn
bậc trí tuệ, đoán biết được ý đồ của Bảo Lạc Noa,
Xá Lợi phất nói: “Chúng chánh mạng sa môn không. Chúng Thích
Ca sa môn có, nếu A La Hán còn tham ái là không có kẻ ngu si”.
Không hiểu ý, tưởng đó là lời khen mình, họ để cho xá
Lợi Phất đi.
Bọn
lõa hình xây qua hỏi Mục kiền Liên. Giọng đanh thép, Mục
Kiền Liên đáp: “Trong chúng của các ông làm gì có sa môn”.
Cho là giọng trịch thượng, bọn lõa hình tức giận, vác
gậy gộc đánh Mục Kiền Liền. Không chịu nổi trận đòn,
Mục Kiền Liên bất tỉnh, tưởng là địch thủ đã chết,
bọn lõa hình bỏ đi. . . Xá Lợi Phất trở lại tìm xem bạn
như thế nào. Thấy Mục Kiền Liên bất tỉnh thân thể tím
bầm, máu r a lai láng, Xá Lợi Phất lấy cà sa làm võng đưa
Mục Kiền Liên về tịnh xá. Ðại chúng hỏi Mục Kiền Liên:
“ Tôn giả là bậc có thần thông, sao lại chịu thua thiệt
đến thế?”. Mục Kiền Liên liền đáp:
“Vì
bất ngờ, hơn nữa, khi nghiệp lực đến, chỉ một chữ Thần
còn chưa thể được, huống là phát Thông”. Nói xong Tôn
giả vào Niến bàn. Khi nghe tin Mục Kiền Liên bị ám hại,
vua A Xà Thế đã phẫn nộ và đã hạ lịnh truy nã bọn lõa
hình. Khi có tên nào bị bắt, nhà vua cho xử bằng cách ném
sống vào hầm lửa.
Sau
khi hỏa tán Mục Kiền Liên, Ngài Xá Lợi Phất, Mã Túc và
Mãn Túc đã đem hài cốt của Mục Kiền Liên về trình Phật.
Phật tập họp chúng Tỳ kheo lại và dạy:
Này
các vị Tỳ kheo! Hãy chiêm ngưỡng hài cốt của Mục
Kiên Liên. Ðã mang sắc thân, chắc chắn còn nghiệp phải
trả.Nhục thể phải chịu vô thường. Do đó, sinh tử, trả
nghiệp là chuyện thường tình. Không có gì phải hoang mang
lo sợ. Khi xã báo thân con người nên giữ tâm hồn không nên
mê muội, oán thù, sân giận. Trong các nghiệp, cận tử nghiệp
là nghiệp nặng nhất. Mục Kiền Liên vì tuyên dương giáo
pháp mà phải tử nạn đó là một vinh dự, đáng cho tất
cả noi gương. . .
Minh
Tuệ
“Còn
thân 5 ấm là còn nghiệp lực phải trả. Người đạo sĩ
hơn kẻ thường tình là mỉm cười trước cái chết, không
oán hờn, than khóc, tiếc nuối, mê mờ”. . .
Bát
Cơm Cúng Dường
Thuở
Ðức Phật còn tại thế, hằng ngày Phật và hàng đệ tử
đi khất thực để mọi người có duyên gieo hạt giống lành
vào thửa ruộng phước của mình.
Trong
mùa an cư, Phật thường thọ trai của thí chủ phần đông
là hàng cư sĩ, luân phiên nhau mang thức ăn sẵn vào Tịnh
xá cúng dường.
Trong
giới tại gia của Ðức Phật, có một người học trò tuy
của cải không bằng ai nhưng lại khá giàu lòng tốt. Phiên
chàng cúng dường thường vào những ngày cuối tháng. Những
bữa cơm giản dị không phải quý giá về phẩm chất,mà quý
vì chàng đặt đó tất cả lòng thiết tha thành kính của
một đứa con thuần hiếu, mà lòng chân thành lắm khi làm
cảm động đến chư Thiên. . .
Khi
sao mai vừa ló dạng, chàng thức dậy, sửa soạn vớt chất
đề hồ cho vào chiếc bình trắng trong, để lên chiếc bàn
con bằng gỗ chiên đàn, một gia bảo của mẹ chàng thuộc
dòng Bà La Môn để lại cho chàng. Chiếc bàn đã mấy đời
dùng làm bàn sắp đồ cúng tế trong các buổi lễ.
Kế
đó, những món rau đậu chính chàng trồng lấy ở vườn nhà
được tự tay chàng nấu nướng.
Hôm
nào cũng như hôm nào, bữa cơm chàng sửa soạn cúng dường
Ðức Phật cũng mang trọn tất cả lòng thành kính vui mừng.
Chàng khẩn nguyện cho cơm chàng cúng dường là bửa cơm đầy
Pháp vị, tuy chàng biết vốn liếng tu học của mình không
được bao nhiêu và gia thế lại còn tệ hại hơn cả sự
hiểu biết của mình nữa.
Nhưng
không biết tại sao tâm chàng thấy hoan hỷ và tin tưởng rằng
những bữa cơm đơn giản của mình mang đến cho người thọ
dụng tất cả niềm thanh tịnh, hoan hỷ. Và đó cũng là nguồn
an ủi lớn lao nhất trong kiếp sống hiện tại của chàng.
Mặt
trời lên khá cao, chàng vui vẻ mang thức ăn đi cúng dường
Ðức Phật. Con đường đi vào Tịnh xá Kỳ Hoàn thật êm
ả trầm lặng. Chàng không bao giờ ngắm mây bay hoa nở, bước
chân chàng nhẹ nhàng thanh thoát lướt qua không kịp nhuốm
bụi đường, lòng chỉ lo quá ngọ Ðức Phật không kịp thọ
dụng. . .
Nhưng
có một hôm, ra khỏi nhà một đỗi, mắt chàng dừng lại,
bóng dáng một sinh vật thất thểu dưới nắng hè. Ðó là
một con chó gầy guộc, lông lá rụng hết, từng mảng lở
ghẻ loét hiện rõ dưới ánh mặt trời chói chang. Bốn chân
nó khẳng khiu xiêu vẹo không đỡ nổi chiếc thân vốn đã
quá gầy còm!
Hình
như nó đánh hơi được thức ăn đang xách trên tay nên lấm
la lấm lét tiến lại gần. Nó không biết noí, nhưng đôi
mắt van nài, bộ tướng ủ rủ tiều tụy của nó, đủ nóí
lên được với chàng rằng: “Tôi không được ăn từ lâu
lắm”.
Chàng
đứng khựng lại. Bấy giờ, trước mắt chàng chỉ có hình
ảnh của một sinh vật đói lả, mà trong tay chàng lại có
sửa, cơm và thức ăn. Thật may phước cho nó quá! Chàng ngồi
xuống bên đường, mở bình bát ra, bày các thức ăn trước
mặt nó. Con chó ăn không kịp thở, chàng hồi hộp nhìn con
vật cùng chia sớt với nó sự bằng lòng, niềm vui hy hữu
đang âm thầm tràn ngập tâm hồn. Trong một thoáng chiếc bình
đề hồ, cơm, thức ăn hết sạch. Bây giờ con chó no, thong
thả ra đi. Chàng trông theo bước chân của nó, giờ đây chắc
chắn vững chải trên con đường và nở một nụ cười thoải
mái. Nhưng, khi chó vừa khất dạng sau rặng cây trước cửa
Tịnh xá, chàng nhìn lại bình đề hồ và liễn cơm với thức
ăn sạch nhẵn, lo sợ kinh hoàng! Mặt trời rọi bóng chàng
lùn xủn trên mặt đường vậy là vừa đúng ngọ. Tới thì
không dám, lùi cũng không đành, sau một giây, thu hết can đảm,
chàng hớn hở rảo bước vào Tịnh xá mà nước mắt lăn
tròn theo mồ hôi.
Ðức
thế Tôn dùng huệ nhãn soi rõ sự tình. Ngài ngồi yên, đôi
mắt như hai vì sao sáng, nụ cười hoan hỷ từ bi nở tươi
làm sáng một vùng trời.
Chàng
nào dám ngó lên, đôi mắt e dè dán chặt xuống đôi bàn chân
tê dại. Tuy nhiên, chàng quyết không dối Phật, quyết thú
thật hết tội lỗi của mình, mà cũng không dám mong cầu
được Phật tha thứ.
-
Bạch Thế Tôn! Hôm nay con có lỗi nặng vô cùng. . . và tiếng
chàng rứt lại nhỏ dần như tắc nghẹn. . .
Ðức
Phật ôn tồn khuyến khích như thường lệ: Hôm nay phải phiên
con đem cơm cúng dường Như Lai đó không?
-
Bạch Thế Tôn!. . . Tiếng chàng nức nở trong nước mắt.
Xin Ngài thứ tội cho con. Vừa rồi trước Tịnh xá, con gặp
con chó ghẻ đói lả con lú lẫn quên mất giờ trai của Thế
Tôn, con lỡ đem bình bát thức ăn cho con chó ăn hết. Tội
con xuẩn ngốc, vô lễ nặng nề không biết ngần nào.
Nhưng,
một vùng hào quang giữa đôi mày Ðức Phật phóng ra ánh ngời
Tịnh xá như những hôm Phật lên Pháp tòa khởi điểm nói
bài kinh trác tuyệt. Tiếng Ngài ngân vang, từ ái tròn đầy:
- “Mùa
hạ này, Như Lai muốn cho các con biết, chỉ có hôm nay Như
Lai thọ dụng một bữa cúng dường rất thanh tịnh của một
vị đại thí chủ, đầy đủ Pháp vị trong một bữa cúng
dường”.
Diệu
Chương
“Phụng
sự chúng sanh tức cúng dường Chư Phật”.
Vườn
Nai
Vào
một thuở xa xưa, tại thành Ba La Nại nước Ấn Ðộ, có
một khu rừng xanh tốt, rậm rạp. Một đàn nai quy tụ lại
đó sinh sống. Lúc mới di cư đến chúng không khỏi phập
phồng lo sợ, mỗi ngày chúng phải cắt phân nhau canh phòng,
nếu có nguy hại thì lo tầm đường tẩu thoát, nhưng dần
dần dọ dẫm, một ngày, hai ngày, một tháng, hai tháng cho
đến cả năm vẫn không thấy dấu hiệu gì điềm chỉ một
tai biến có thể xảy ra, nên chúng yên lòng sinh sống một
cách hiền lành thanh thản, vui vẻ. Nhưng một việc đáng buồn
đã xảy ra giữa chúng. Một con nai nay tánh kiêu hãnh, hẹp
hòi, nổi máu háo danh đòi lên làm chúa đầu đàn, song lạ
lùng gì tư cách, tài năng và tâm địa của hắn, ai mà tôn
hắn làm chúa đầu đàn?
Chẳng
kể phải quấy, dư luận, con nào theo hay không theo, hắn vẫn
mang râu đội mũ xưng là nai chúa đầu đàn. Rồi bằng những
mánh khoé dỗ dành, mua chuộc, van lơn dần dần hắn cũng lôi
được một số nai nhẹ dạ theo hắn. Thế là đàn nai thuần
nhất khi mới đến, bây giờ bị chia ra làm hai. Tuy vậy chúng
vẫn sống lẫn lộn với nhau trong khu rừng đó. Năm này qua
năm khác, chúng sống và tiếp tục sinh sôi nẩy nở, mới
đó mà bây giờ mỗi đàn của chúng đều có tới năm trăm
con. Chúng sống ở đây như vậy đã không biết bao nhiêu ngày
rồi mà chẳng có điều gì tai biến, nên tâm hồn chúng trở
nên giản dị vô tư. Chúng tưởng mọi loài, mọi vật chung
quanh cũng đều như chúng nên không đề phòng. Không ngơ,ø
trong khi đó, ông vua Phạm Ðạt Ða ở thành Ba La Nạïi đã
nghe tin đồn về chúng, ông lập tâm để dành một ngày dò
biết chúng tập trung về đó đủ cả, ông sẽ kéo quân đến
vây bắt hết để làm thịt. Sớm nọ khi ông biết rõ tình
hình đàn nai đã quy tụ như ý ông chờ đợi, ông cắt quân
đến bao vây. Cả đàn nai đều không để ý. Lúc đầu tưởng
người ta đi chơi hay làm việc gì, không dè vòng vây mỗi
lúc một thắt chặt, nhìn phía nào cũng thấy toàn gươm giáo,
cung tên, chúng hoảng hốt lên, con này chạy báo con kia, hoang
mang nhốn nháo, sợ hãi, khủng khiếp tràn lan, bỗng chốc
khu rừng, tổ ấm an lành của chúng trở thành khu rừng lửa,
phen này đành phải chết hết không còn cách gì thoát khỏi.
Quả vậy, vua đã ra lệnh vây chặt khu rừng rồi châm lửa
đốt để bắt thịt lớn bé một lần. Trước cảnh nguy biến
cấp bách ấy, một con nai chúa đầu đàn vốn thông minh nhân
từ được tôn trọng ngay từ đầu, dõng dạc đứng lên tuyên
bố cho cả hai đàn nai biết, nó sẽ đi thẳng tới vua, trình
bày ý kiến xin hoãn sự chết cho cả đàn và tưởng thế
nào cũng được nhà vua chấp thuận. Khi nghe qua lời tuyên
bố, ngoại trừ con nai đầu đàn kiêu hãnh, vì tự ái không
biểu lộ vẻ hân hoan, còn con nào con nấy đều sáng cả con
mắt lên, lấy lại sự bình tĩnh để chờ đợi. Nai chúa
nhân từ một mình mạo hiểm ra đi.
Khi
trông thấy nó, thì bao nhiêu mũi tên, giáo mác châu lại. Nhưng,
“Ồ! Con nai này hình thù đẹp quá, để bắt sống, chớ
bắn, chớ giết”. Nghe một người trong đám quân nói vậy,
các người khác hưởng ứng theo, con nai khỏi bị chết, nhưng
đã lọt vào tay đám quân. Nó xin đưa trước mặt nhà vua.
Vừa đến nó liền quỳ xuống trình bày:
- “Thưa
nhà vua, hôm nay nhà vua hạ lệnh vây đốt rừng để bắt
chúng tôi làm thịt, dẫu biết mạng sống đã nằm trên dao
thớt, chúng tôi không trái lệnh, song thiết nghĩ đàn chúng
tôi có tới một ngàn con, nếu chúng tôi phải chết một lần
để làm món ngự thiện, thì nhà vua cũng chỉ dùng được
đôi ba ngày đầu, đến ngày thứ tư, thứ năm chắc thịt
chúng tôi sẽ bị sình thúi ắt phải đổ đi, sau đó nhà
vua muốn dùng thịt chúng tôi nữa cũng khó lòng. Vậy điều
hay nhất, chúng tôi xin hứa mỗi ngày tự đem thân đến nạp
nhà vua một con để nhà vua làm thịt, như vậy món ngự thiện
được tươi tắn, ngon lành mà chúng tôi cũng sống thêm được
ít lúc, khỏi bị chết một cách oan uổng vô dụng”.
Nhà
vua nghe xong tấm tắc khen chí lý, liền truyền lịnh cho nai
lui về và không quên dặn phải giữ lời hứa, và hạ lịnh
giải vây, kéo quân về. Khi ấy ông liền yết lịnh cho toàn
dân biết không ai được phép xâm phạm khu rừng bắt nai.
Nếu ai thấy nai đi về phố thì phải dẫn đến cung vua, không
được phá phách, ngăn chận hay bắt giết. Còn đàn nai thì
lo sắp đặt thứ tự đi nạp mình. Sáng này một con nai xấu
số bị thui trên lửa. Sáng nọ lại một con nai xấu số khác
bị đưa vào cỗ ăn của nhà vua. . .
Ăn
thịt nai vài ba hôm, nhà vua lại hạ lịnh cho hoãn 10, 15 ngày
lại tiếp tục con nai khác đến nạp mạng. Lần này đến
phiên một con nai đang chửa, nó đến trước nai đầu đàn
kiêu hãnh của nó van xin cho nó đi phiên sau, bây giờ chọn
con nai khác đi thay, viện lẽ nó sắp sinh. Ðến phiên nó nạp
mạng nó không có tránh né, đưa đẩy kêu oan, nhưng nghĩ đứa
con trong bụng sắp sinh, chưa đến phiên mà phải bị chết
thì rất tội, chi bằng cho nó sinh xong, nó sẽ đi nạp mạng.
Ngưng con nai đầu đàn kiêu hãnh khư khư không chịu, nộ nạt
mắng nhiếc: “ Mầy không đi, đây ai dại gì đi chết thế
cho mầy”. Con nai chửa ríu ríu ra về tìm đến nai chúa nhân
từ ở đàn nai kia cầu khẩn. Vừa nghe qua, nai chúa nhân từ
chấp nhận liền. Nó suy nghĩ chọn con nào đi thay thế bây
giờ dễ gì đã có, thôi ta hãy đi nạp mạng, nếu không thì
tức khắc chết rụi hết cả đám, nó liền bình tĩnh ra đi.
Khi vừa đến phố thì mọi người xúm lại chỉ trỏ, trầm
trồ: “Con nai đẹp quá!”. Có người muốn chận lại, nhưng
nhớ lệnh nhà vua nên tức tốc đưa nó đến cung đình.
Vừa
thấy nó nhà vua ngạc nhiên hỏi: “Nay tới phiên ngươi sau?”
Nai chúa nhân từ đáp: “Không phải” và trình bày đầy
đủ lý do mà nó đi nạp mạng sớm như vậy. Nhà vua nghe xong
liền đổi ra dáng đăm chiêu nghỉ ngợi: “Không ngờ, không
ngờ, trong loài thú mà có con nai đầu đàn này vừa thông
minh, vừa nhân từ đại độ, vừa cam đảm thành tín như
vậy. Nó là chúa đầu đàn của chúng nó, nó biết thương
yêu đùm bọc, biết can đảm hy sinh cho sự sinh tồn của đàn
nó như vậy. Còn ta, ta là người, là chúa đầu đàn của
một đám thần dân rộng lớn, ta có bằng nó không? Liệu
khi thần dân ta bị bao vây sát hại, ta có đủ trí lực thông
minh, nhân từ, can đảm để đối phó với sự nguy hiểm như
nó không? Có lẽ ta sẽ không bằng! Không bằng! Nếu bây giờ
ta chỉ nghĩ đến một chút khoái khẩu trong giây lát mà giết
nó, thì khác nào ta tự chôn vùi lương tâm sâu thêm một từng
nữa. Ta giết nó tức là ta giết một đạo lý sống cao thượng,
giết một tình thương rộng lớn, một lòng quả cảm hy sinh,
tức là giết hết những gì cao quí nhất của cuộc đời.
Ôi! Nếu cuộc đời không từ bi, thiếu trí tuệ, không dũng
cảm, chỉ là cuộc đời trống rỗng tối tăm, ta còn mặt
mũi nào để xưng mình là một ông vua trong loài người ở
trên chúng nó”.
Con
nai chúa nhân từ vẫn đương quỳ yên đợi lịnh, nhà vua
sau một hồi chìm đắm trong ý nghĩ miên man, vụt ngồi thẳng
mình, lộ vẻ hân hoan như vừa tìm ra chân lý, ông dùng hết
lời ca ngợi nai chúa, hạ lịnh đưa nó trả về rừng và
truyền cho toàn dân từ nay không ai được phép xâm phạm đến
khu rừng, cũng như không ai được phép phá nai, bắt nai, giết
nai làm thịt. Từ nay đàn nai trở lại đời sống yên lành
như trước dưới sự thương yêu chăm sóc của nai chúa sáng
suốt nhân từ ( một tiền thân của Ðức Phật) và cũng từ
đây khu rừng này mang tên là Rừng Nai hay Vườn Nai ( Lộc
Uyển).
Lúc
Ðức Phật ra đời, Vười Nai này lại một lần đặc biệt
nổi tiếng, trở thành một trong bốn chỗ động tâm của
Phật giáo. Vì sau khi Ðức Phật thành đạo, Ngài liền tìm
đến năm ông đạo sĩ nhóm Kiều Trần Như đang tu tại Vườn
Nai để chuyển bánh xe pháp lần đầu tiên cho họ nghe.
Lại
một thuở xa xưa khác, có 500 vị tiên vừa đi ngang qua chỗ
này thì gặp đoàn cung nữ của nhà vua đi du ngoạn, liền
động lòng mê đắm mà bị sa đọa, nên chỗ này cũng có
tên là Chư Tiên đọa xứ ( Isipatana – chỗ các vị tiên đọa).
Giới
Ðức.
Người
biết “đạo” tất không khoe.
Người
biết “nghĩa” tất không tham.
Người
biết “đức” tất không thích tiếng tăm lừng lẫy.
Duyên
Xưa Nghiệp Củ
Câu
chuyện sau đã xảy ra ở một nhà giàu tại Trung Quốc ngày
xưa.Truyền thống “Cải gia vi tự” (biến nhà thành chùa)
bắt nguồn từ đó.
Một
gia đình rất giàu sửa soạn nhà cửa đón dâu. Phú ông đang
bận rộn với việc đám cưới thì gia nhân vào báo, có một
sơn Tăng đến khất thực hóa duyên. Vốn là người mộ đạo,
Phú ông vội vàng ra nghinh tiếp, mời sư vào nhà, thỉnh ngồi
ở ghế thượng khách. Nhưng vị Sư chỉ chống trích trượng
đứng cười ha hả. Lạ lùng trước cử chỉ của nhà Sư,
nhưng Phú ông không dám có ý nghĩ đấy là người cuồng.
Bởi, trông mọi dáng vẻ Ngài đều có tiêu phong đạo cốt,
phú ông quyết đấy không phải là người thường giả bộ.
Ngước nhìn đôi mắt sáng như sao của nhà Sư, phú ông bất
giác rơi lệ quỳ mọp xuống:
-
Bạch Hòa Thượng, đệ tử ngu dốt, nay có phước duyên được
người chiếu cố, xin người từ bi dạy bảo!
-
Hà hà. Chúng sanh mê muội, làm tội ác tày trời còn hí hửng
đánh trống thổi kèn.
Trong
khi nhà Sư nói vậy, thì từ nhà sau vọng lên tiếng lợn kêu
thống thiết. Vị Sư tiếp:
-
Con heo đó là cha ngươi ngày trước. Vì tham tiếc cái gia tài,
ông đã tái sanh làm con heo sau chuồng nhà ngươi.
Phú
ông đầm đìa nước mắt, bạch:
-
Bạch Hòa Thượng, quả đúng như vậy, cha con khi sắp chết
cứ thao thức tiếc cái gia tài của cải một đời mồ hôi
nước mắt này, và dặn đi dặn lại chúng con phải giữ gìn
đừng hoang phí.
Nói
rồi, vội bảo gia nhân đình chỉ việc giết heo. Nhà Sư lại
nói tiếp:
-
Còn đứa con gái ngươi sắp cưới cho con ngươi là ai biết
không?
-
Bạch Hòa Thượng, đó là đứa con gái nhà láng giềng của
con. Hai trẻ có cảm tình với nhau từ nhỏ, nên khi chúng thành
niên, con cho tác hợp thì có gì ø sai quấy.
-
Hà hà. Mới bà bà cháu cháu đó, mà nay đã vợ vợ chồng
chồng. Than ôi, chúng sanh có mắt như mù.
-
Bạch Hòa Thượng, xin Hòa Thượng từ bi khai thị cho kẻ ngu
muội. Con không được rõ thánh ý.
-
Có gì là mờ mịt đâu, chỉ gì ngươi không thấy! Ðứa con
gái kia là mẹ ngươi ngày trước. Do vì khi sắp chết, người
lưu luyến đứa cháu nội không nỡ rời, nên thần thức đầu
thai lại cõi đời để sống gần nó.
Phú
ông nhẩm lại, thì quả nhiên cô gái thua cậu con 4 tuổi,
nghĩa là cô ra đời đúng lúc bà mẹ ông mất, lúc con trai
ông lên 4.
- Bạch
Hòa Thượng, quả như Ngài nói, mẹ con khi mất đã cầm chặt
tay đứa cháu nội, bà rất yêu cháu vì nó là đứa cháu trai
duy nhất. Nay sự tình vậy thì con không dám làm việc ác tày
đình thế kia. Xin Hòa Thượng chứng minh cho con được thế
phát xuất gia biến nhà thành chùa.
Rạp
trang hoành cho tiệc cưới trong chốc lát được sửa lại
thành đạo tràng. Phú ông cung thỉnh Sư lên pháp tòa thuyết
pháp cho bá tánh đến dự và coi đám cưới. Nghe xong thời
pháp, mọi người đều xin quy y Tam Bảo, từ bỏ sát sanh,
chú rể xin cha theo vị Hòa Thượng về núi tu hành, còn cô
dâu nguyện trọn đời ở vậy phụng dưỡng cha mẹ cho đến
khi hai thân khuất núi, rồi cô cũng xuất gia.
Thích
Nữ Trí Hải.
“Cuộc
thế tợ rạp cao, con người như kép hát
Ðổi
thay nhiều lớp, biết ai mẹ ai con?
Luân
chuyển lâu đời, tưởng người dưng người lạ
Ðời
nay thù oán, té ra cha mẹ trước không hay!”