Phần
15
71/Niệm
Phật
72/
Mối tình thân hữu
73/
Dắt nhau xuống giếng
74/
Bồ Tát và Mãng Xà Vương
Niệm
Phật
Ngày
xưa, có một phú ông rất sùng mộ đạo Phật. Phú ông xuất
tiền xây cất một ngôi Chùa cực kỳ nguy nga tráng lệ. Ông
già hảo tâm ấy lại có tính hiếu kỳ. Sau khi hoàn thành
ngôi Bảo điện ông già muốn có một điểm gì đặc biệt
khác thường nên ông chạm trổ một bức hoành phi thật đẹp
và khắc sáu chữ vàng “Nam mô A Di Ðà Phật” bằng chữ
phạn rồi treo trước chánh điện. Những học giả và bô
lão trong làng đều chịu không biết là chữ gì. Họ rất
thánh phục Phú ông, cho Phú ông là một học giả uyên bác,
thông hiểu cả Phạn ngữ. Kỳ thật thì Phú ông đã nhờ
một Pháp sư người Ấn Ðộ viết cho sáu chữ đó.
Ðược
thiên hạ trầm trồ khen ngợi bao nhiêu thì tính hiếu kỳ
tự đắc của Phú ông càng bị kích thích bấy nhiêu. Một
hôm, ông cho viết sáu chữ ấy lên các tấm bảng gỗ kèm
theo mấy hàng chữ bản xứ ở dưới: “Nếu ai đọc được
mấy chữ này tôi sẽ gả con gái cho làm vợ và chia một nửa
gia tài”. Ðoạn Phú ông cho dựng những tấm bảng đó khắp
nơi trong vùng và mỗi nơi cắt một người đứng gác.
Sau
khi những tấm yết thị được dựng lên các học giả, văn
gia, thi sĩ và nho sinh nô nức đến xem, nhưng không một ai
đọc được cả.
Một
ngày nọ có chàng thanh niên bán chiếu tên Hoàng Kim Ấn, đi
qua một nơi có dựng bảng, thấy rất nhiều người đang chen
lấn nhau vào xem chữ, dĩ nhiên là ai cũng ôm một bầu hy vọng
to tướng trong lòng. Tò mò, chàng bán chiếu cũng cố len lỏi
để vào cho được. Nhưng khi đến nơi, nhìn lên tấm bảng
chàng chẳng hiểu cái quái gì, chỉ thấy mấy dòng chữ ngoằn
ngoèo như giun bò, chàng thất vọng quay ra. Song, lúc chàng vừa
quay ra thì không may đầu đòng gánh của chàng đụng ngay vào
trán của một văn sĩ đang đứng bên cạnh. Hoàng Kim Ấn hoảng
hồn la lên “Nam Mô A Di Ðà Phật”. Lập tức người đứng
gác bảng tóm lấy cổ chàng và nói: “Ðúng người này rồi”.
Hoàng Kim Ấn chẳng hiểu đầu đuôi ra sao, cứ van lạy để
xin lỗi vì trót vô ý để đòn gánh đụng vào trán nhà văn.
Nhưng người gác nhất định không buông tha chàng, và vội
vàng đưa chàng về trình với Phú ông. Chàng bán chiếu vẫn
kêu van lạy lục xin tha, nhưng người gác lại nói:
- Anh
này thật dại dột, sắp được vợ đẹp và giàu sang đến
nơi rồi mà không biết, còn cứ xin tha mãi! Bộ anh sợ vợ
hay sao?
Hoàng
Kim Ấn càng hoang mang ngơ ngác thêm không hiểu chi hết và
cứ bước theo người gác về nhà Phú ông.
Chả
là Hoàng Kim Ấn là một Phật tử rất kiên thành. Mặc dầu
nhà nghèo, học ít, không được đọc kinh sách, nhưng chàng
rất tin Phật, nên chỉ trì sáu chữ Nam mô A Di Ðà Phật và
lúc nào cũng nhớ Phật, niệm Phật, dù đi đứng, nằm, ngồi
không bao giờ quên cả. Niệm Phật đối với chàng đã thành
một thói quen. Mỗi khi gặp nguy hiểm, hay việc gì ngoài ý
muốn của chàng, chàng lại niệm Phật to hơn. Do đó,
lúc vô ý để đòn gánh của mình đụng vào tránh nhà văn
sĩ, chàng cất tiếng niệm danh hiệu Phật, mục đích để
cầu cho việc đó được vô sự. Nhưng không ngờ sáu chữ
chàng niệm lại đúng với sáu chữ viết bằng chữ Phạn
ở trên bảng, nên người đứng gác tưởng chàng biết những
chữ ấy, nên liền tóm lấy cổ chàng rồi lôi cổ chàng về
để Phú ông gả con gái cho. Khốn nỗi chàng bán chiếu không
hiểu cứ tưởng là người ta bắt đi để mang “gông” vào
cổ, vì đã làm sứt trán của nhà văn lúc nãy nên cứ kêu
xin tha tội hoài!
Khi
về tới nhà Phú ông, chàng bán chiếu mới vỡ lẽ là chàng
được tôn lên hàng “học giả” để cùng sánh vai với
tiểu thư, con gái Phú ông để cùng ca khúc “Phượng cầu
Kỳ Hoàng”. Chàng bán chiếu thấy bàn tay của định mệnh
xếp đặt lắm việc kỳ diệu quá. Bất giác chàng khẽ ngâm
hai câu đối để ghi lại một biến chuyển trong quãng đời
chàng mà chàng cho là vô cùng huyền bí:
“Phúc
chủ, lộc thầy, bát tất con hiền, con thận,
Thơm
tay, may miệng, hà tụ phụng thỉnh, phụng chư”.
Từ
đó, Hoàng Kim Ấn sống cuộc đời trưởng giả, nhưng hàng
ngày chàng vẫn không quên công việc niệm Phật của quãng
đời bán chiếu hồi xưa.
Một
hôm, vì trái nắng trở trời, vợ chàng cảm gió. Cũng tưởng
chỉ qua loa, nào ngờ mỗi ngày bệnh tình mỗi trầm trọng,
cứ sốt li bì, không thuốc nào khỏi. Hoàng Kim Ấn đâm
lo và lúc nào cũng ngồi bên giường bệnh nhân để niệm
Phật. Vừa niệm, chàng vừa đưa tay thoa từ đầu đến
chân của tiểu thư, và huyền diệu thay! Hễ chàng đưa tay
đến đâu là nàng cảm thấy nhẹ nhõm đến đó. Chẳng bao
lâu, vợ chàng bình phục hẳn. Thật là đã “may miệng”
lại “thơm tay”.
Từ
đó, Hoàng Kim Ấn nổi tiếng là một “Ðại y sư” thành
danh lừng lẫy, đồn đến tai Vua.
Thật
là một sự trùng hợp ly kỳ. Cũng trong thời gian trái nắng,
trái gió ấy. Công chúa cũng lâm bệnh, và bao nhiêu danh
y đã được triệu vào để trị liệu cho Công chúa, nhưng
đều vô hiệu. Khi tiếng tăm của Hoàng Kim Ấn được đồn
đến Hoàng cung, lập tức nhà vua hạ chiếu chỉ vời chàng
vào để chữa cho Công chúa. Nhận được chiếu chỉ,
Hoàng Kim Ấn cảm thấy bối rối, lo sợ, sợ vì không biết
miệng chàng còn may không nữa? Câu niệm Phật biết có còn
hiệu nghiệm để chữa bệnh cho Công chúa nữa không? Mặc
dầu lo sợ, song không cách nào để khước từ mệnh lệnh
của nhà Vua, bởi vậy chàng đành “nhắm mắt đưa chân”
và chỉ tin tưởng vào sức vạn năng của một câu niệm Phật
chí thành, đã đến chỗ nhất tâm bất loạn.
Khi
tới Hoàng cung, Hoàng Kim Ấn được đưa ngay vào phòng bệnh
của Công chúa. Chàng đuổi hết người hầu cận ra ngoài.
Trong phòng chỉ còn có chàng và Công chúa. Bây giờ chàng bắt
đầu chữa cho Công chúa bằng phương thần dược: Miệng chàng
niệm Phật, tay chàng thoa vào đầu và mình mẩy Công chúa.
Công chúa ngạc nhiên và không thấy y sư cho uống thuốc gì
cả, mà trong người thì cứ thấy nhẹ nhàng dần, rồi cuối
cùng như một chiếc đũa thần hễ tay Hoàng Kim Ấn đưa đến
đâu là bệnh hết đến đấy. Mừng và lạ quá, Công chúa
chạy vào tâu với Hoàng hậu và Ðức Vua. Nhà Vua thấy con
mình bình phục mau quá cũng hết sức ngạc nhiên và trong bụng
nghĩ thầm Hoàng Kim Ấn đúng là “Thánh sư”.
Nhà
Vua hạ lệnh mở yến ăn mừng và khoản đãi “Thánh sư”.
Trong bữa tiệc không thiếu một thứ gì, đủ cả sơn hào
hải vị. Trong lúc rượu đã ngà ngà, Nhà Vua nhìn ra sân,
nơi có đắp một con rồng thật lớn nói với Hoàng Kim Ấn:
- Trẫm
đố khanh biết trong miệng con rồng kia có cái gì? Nếu khanh
nói đúng, Trẫm sẽ cho làm phò mã và gả Công chúa cho, bằng
không trẫm bắt tội!
Nguy
to rồi, nếu lần này mà cái miệng của chàng hết “may”
thì đến “du địa phủ”. Ðầu óc Hoàng Kim Ấn lúc này
thật là rối tùng xòe, như một túi bòng bong vậy. Chàng tự
nghĩ: “Nếu không nói đúng, chắc mình phải chết, còn nếu
nói đúng thì cái nghĩa “tào khang chi thê” mới làm sao đây?”.
Thật là tiến thoái lưỡng nan. Ðúng cũng khổ mà không đúng
thì chết. Chàng cứ băn khoăn lo lắng, tự nghĩ đời tàn,
bất giác chàng than một câu để thương cho số phận: Hoàng
Kim Ấn! Nhưng chàng vừa dứt lời thì bỗng nhà Vua vỗ tay
reo và truyền gọi Công chúa ra dâng cho chàng một ly rượu.
Hoàng Kim Ấn ngơ ngác, không hiểu ra sao. Chàng còn đang ngơ
ngác thì nhà Vua nói:
- Khanh
nói đúng, thật là Thánh sư! Trẫm có cất chiếc “Hoàng
Kim Ấn” trong miệng rồng đó! Kỳ diệu biết bao! Tưởng
mình chết đến nơi, kêu tên mình lên để than thở cho số
phận, không ngờ tên mình lại trùng với tên có giấu bằng
vàng ròng của nhà Vua, chết thì thoát rồi, còn việc phò
mã và lấy Công chúa thì sao? Hoàng Kim Ấn vập đầu xin nhà
Vua tha cho tội đó, viện lẽ mình đã có vợ và phải giữ
trọn đạo thủy chung. Nhà Vua cảm khích vì người có tiết
nghĩa, không nỡ ép buộc, liền ban thưởng thật trọng hậu
rồi sai cận vệ đưa tiễn về nhà…
Huyền
diệu và linh nghiệm thay sáu chữ Nam mô A Di Ðà Phật khi được
phát ra với niềm chí thiết, chí thành và nhất tâm bất loạn!
NGƯ
ÔNG
Ví
dù muôn đắng ngàn cay,
Một
câu niệm Phật tan ngay cấp kỳ!...
Niệm
Phật dứt bỏ oán thù,
Lòng
không hung dữ ngục tù đâu vương?
Niệm
Phật mở rộng lòng thương
Oan
thân bình đẳng tai ương nào vào?
Mối
tình thân hữu
Nắng
vàng buổi chiều dịu lại, phảng phất trên các ngọn cây
xanh của rừng rậm. Gió nhẹ thổi mặt nước hồ khẽ gợn
sóng, rung rinh những bóng cây cao hai bên bờ in hình trong đáy
nước.
Trong
khung cảnh những buổi chiều êm mát này của chốn núi rừng,
một con linh dương đang thong thả uống từng ngụm nước trong.
Nó hình như đang chờ đợi. Nó nghĩ đến một chiều
trước đây, nó làm quen với chàng rùa cùng chị chim gõ kiến.
Cả hai bạn nó đều cùng cư trú ở bờ hồ này và thường
về vào cái giờ mà nó đến uống nước. Lâu rồi thành quen
nhau. Rồi chuyện trò qua lại trở nên thân thiết, mỗi lần
mà một con nào đến trễ là những con kia trông đợi và tỏ
vẻ lo lắng.
Nhưng
kìa linh dương ngẩng mặt lên mừng rỡ vì chàng rùa, đã
bò gần đến và trên cành cây chị gõ kiến cũng đã reo lên
những tràng tiếng dài. Câu chuyện của rừng sâu, của lưng
trời, của bờ nước, được trao đổi cùng nhau. Trong lúc
linh dương cúi thấp xuống gần sát chàng rùa và chim gõ kiến
đang gạt những con nhện vẩn vơ trên bộ lông linh dương
mướt màu nâu lợt. Cho đến khi mặt trời khuất sau trái
núi đằng xa, linh dương rời hai bạn để trở vào bên trong
đám cây rậm rạp.
Một
hôm kia, một người thợ săn lảng vảng đến rừng này. Hắn
mang theo cung tên giáo mác đầy đủ. Hắn lần theo dấu chân
linh dương và khám phá ra chỗ linh dương thường hay đến
uống nước. Hắn núp vào một bụi rậm chờ đợi.
Trưa
đã qua rồi, mặt trời đã chết về phương tây. Mệt mỏi
hắn đứng dậy, ra khỏi bụi, nhìn hồ nước, nhìn cái gốc
cây rồi bỏ đi nơi khác. Trong óc hắn đang chuẩn bị một
kế hoạch sát hại gì đây? Ngày mai hắn trở lại. Hắn
đào đất thành hục nhỏ, ở mỗi hục hắn đặt một chiếc
bẫy rồi khỏa đất lại liền láng. Nó còn bỏ thêm lên
vài chiếc lá để không ai để ý tới những dấu đất mới
ở trên đường. Nó khôn ngoan đoán trước những chỗ mà
linh dương sẽ để chân tới mà đặt bẫy. Xong đêm ấy nó
quanh sang đường khác, đi trở về, hẹn sáng mai trở lại
để trói chặt bốn chân linh dương xỏ vào đầu gậy quẩy
về. Từ trước đến nay, chưa lần nào nó đặt bẫy mà không
đánh được con thú nào.
Nắng
vàng buổi chiều dịu lại, phảng phất trên các ngọn cây
xanh, linh dương thong thả bước đi. Nó lánh một đôi dấu
lạ trên đường và tiến đến bờ hồ để gặp hai bạn
thân thiết. Vừa uống từng ngụm nước, nó vừa kể chuyện
của rừng sâu trong lúc chàng rùa và chị gõ kiến lắng tai
nghe.
Gió
mát quá thành ra cả ba đều muốn kéo dài thời gian gặp gỡ.
Ðến khi linh dương từ giã bạn ra về thì trời đã gần
tối. Trong rừng sâu, đêm đổ xuống rất mau, đường đất
chỉ trông thấy mờ mờ. Linh dương đang đi bỗng sụp một
chân xuống, nó nhảy lướt tới, nhưng không kịp nữa rồi,
một cái gì giữ chặt chân nó. Nó giựt mạnh và nghe chân
càng bị thắt chặt thêm. Nó biết là nó bị mắc bẫy rồi.
Cảnh tượng như thế này đã in sâu vào trí nó. Chính cha
nó, trước đây đã bị trói chặt chân sau, khi dẫn nó đi
ăn, hồi nó còn nhỏ lắm. Rồi liền sau đó hai người dữ
tợn từ bụi rậm nhảy xổ ra, vật ngã cha nó, trói chặt
bốn chân, khiêng đi trong lúc nó chạy lùi lại xa, đứng nhìn
theo, nước mắt tuôn trào, đến nỗi nó không còn thấy gì
nữa.
Giờ
đây đến lượt nó, nó nhìn ra hai bên cây là tối đen, không
có hai người tàn ác đó nhưng nó cũng đoán biết là chính
loài người đã gây ra tai ác này. Tại sao con người lại
tìm cách giết nó, giết gia đình nó, trong lúc chúng nó không
làm gì hại ai cả.
Nó
giật mạnh chân lần nữa. Sợi dây càng thắt chặt hơn trước
nó làm tê cả bắp đùi. Nó kêu cứu khe khẽ. Trong rừng lúc
này, tiếng kêu của nó thật không lợi gì cho nó vì loái
thú dữ có thể theo đó mà tìm đến. May quá là chim gõ kiến
nghe được liền chạy đến ngay. Tội nghiệp quá! Nó nhìn
quanh quẩn hồi lâu quanh linh dương mà chẳng tìm được cách
nào để cứu bạn. Thấy bạn lo lắng, linh dương không lộ
vẻ đau đớn nữa. Rồi bỗng gõ kiến bay đi. Chim vất vả
lắm mới tìm được chỗ rùa. Rùa đoán biết được việc
chẳng lành vì từ đầu hôm đến nó thấy nóng lòng không
sao ngủ được. Gõ kiến vừa nói xong, rùa vội vã giục đi.
Gõ kiến dẫn đường. Rùa bò theo sau, nhanh gấp mấy lần
ngày thường. Ðường tối mò, hai ba phen rùa ngã lăn lóc,
nhưng rồi cũng trở dậy được, bò theo kịp bạn.
Tới
nơi rồi, rùa không khỏi đau lòng khi nghe linh dương thở mệt
nhọc, và rờ thấy chiếc dây thừng to đang xiết chặt chân
bạn. Rùa bắt đầu thử sức nó mổ vào sợi dây thừng.
Dây thừng bằng gai bền chắc, làm tê cả hai hàm răng. Nó
mổ nhát thứ hai. Lần này dây thừng bị xơ ra đôi ba sợi
ngoài nhưng hàm răng rùa cũng rung rúng.
Rùa
ngậm dây, nghiến từng sợi nhỏ. Chậm, nhưng chắc chắn
và ít đau. Công việc phải làm xong trong đêm nay. Gõ
kiến suốt đêm canh chừng, và rùa không một chút nghỉ ngơi,
cắn đứt từng sợi trong lúc linh dương chịu đau giữ cho
dây căng thẳng.
Gần
sáng, dây thừng đã đứt quá nửa, việc cắn dây dễ làm
hơn trước, nhưng rùa đã mệt quá sức rồi. Có nhiều lần
rùa gục đầu vào dây không cử động được. Nhưng
rùa cố tỉnh lại để nghiến đứt thêm một vài sợi con
nữa.
Trời
sáng hẳn, thật khó lòng giải thoát cho linh dương trước
khi người thợ săn đến. Phải làm thế cho tên tàn ác đến
chậm, gõ kiến vụt bay đi. Chi tìm ra nhà người thợ săn
vào lúc hắn bước ra cửa mang theo tất cả những đồ dùng
sát hại của hắn. Gõ kiến bay đến trước hắn, kêu lên
những tiếng buồn thảm nhất. Tên thợ săn ngẩng đầu lên
lẩm bẩm, chửi rủa. Hắn cho là điềm xấu nên vội quay
lại. Khá lâu rồi mà không thấy hắn ra. Nhưng kìa hắn đã
lách cửa sau, định tiến bằng đường khác. Rất nhanh, chim
bay tới trước mặt hắn và kêu lên ai oán. Hắn nhìn lên
chửi rủa rồi lại đi trở vào.
Mặt
trời đã lên cao, không chậm trễ được nữa, hắn hối hả
tiến vào rừng mặc cho gõ kiến buông những lời oán trách
tội ác trước mặt hắn, hắn đi nhanh như chạy, hắn nghĩ
đến cách hả hê khi vật ngã con thú đã kiệt sức, đến
những ly rượu hòa với máu tươi, đến đĩa thịt phay ưng
ửng hồng màu máu. Hắn gần đến nơi rồi, con linh dương
đang đứng ở đằng kia kìa. Ðích là nó đã mắc bẫy rồi.
Tên thợ săn có cả sự thật để tự hà là xưa nay nó chưa
lần nào đặt bẫy mà không bắt được một con mồi. Hắn
thỏa thích không gì bằng.
Dây
vẫn chưa chịu đứt, không lẽ công trình cả một đêm chỉ
đưa đến kết quả thảm hại thế này ư? Trên cây gõ kiến
giục quyết liệt. Rùa gom góp cả toàn lực cắn phát cuối
cùng trong lúc linh dương giựt thật mạnh. Dây thừng đứt
ngang. Một đoạn còn lại nằm cong queo trên mặt đất. Rùa
ngã lăn ra ngất lịm đi. Linh dương không thể nỡ rời bạn.
Nhưng không còn có thể trì hoãn nữa, nó vội vã lánh vào
đám rậm lánh sang rừng bên cạnh. Tên thợ săn chạy như
bay đến nhưng không còn đuổi kịp linh dương nữa. Hắn dậm
chân tức tối. Hắn lượm hòn đá quăng vào bụi rậm để
xua đuổi chim gõ kiến mà nó ghét cay ghét đắng. Hắn định
dậm nát thân rùa cho hả dạ, nhưng suy nghĩ lại, hắn bắt
rùa bỏ ngay vào cái giỏ nó đang mang sau lưng. Hắn thâu các
bẫy lại và buồn bực trở về.
Người
thợ săn đi được một quãng đường thì thấy phía trước
mặt mình con linh dương đang đi thấp thỏm. Hắn mừng quýnh
hắn đi nhanh hơn định bắt lại con vật mới sổ ra khỏi
tay hắn. Hắn đến gần hơn, gần hơn. Hắn chạy nhanh lại,
nhưng linh dương nhanh nhẹn lánh sang lối khác. Phía sau xa này
rõ ràng tên đi săn nom thấy con linh dương đi thấp thỏm một
cách đau đớn. Chân sau vẫn còn mang theo một đoạn thừng.
Hắn lại rượt đuổi theo mà có cái gì nặng cứ đập thình
thịch sau lưng hắn như muốn trì hắn lại. Thì ra, hắn nhớ
lại là con rùa đáng đánh chết này đang bò ngom ngóp trong
chiếc giỏ mang sau lưng hắn. Nếu không có cái giỏ này chắc
chắn hắn đã bắt kịp con linh dương từ buổi đầu, hắn
nghĩ như thế.
Ðàng
xa, linh dương đi chậm lại, có lẽ linh dương đã mệt đừ
rồi. Phải rồi! Vùng vẫy suốt một đêm, còn gì sức đâu
mà chạy thi với hắn nữa. Tên thợ săn tin ở tài chạy của
hắn lắm. Nhưng phải trừ bỏ cái giỏ bất tài vô tướng
này. Hắn vội gấp tay, rút ra khỏi quai giỏ. Hắn quăng giỏ
sang một bên và đuổi theo linh dương. Hắn tin rằng chỉ
trong dây lát, con thú sẽ thuộc về hắn.
Nhưng
khi hắn tới gần thì linh dương vụt lao nhanh sang đường
khác và chạy như biến. “Ừ có giỏi thì cho mày gắng giỏi
một lần cuối cùng này nữa”. Nghĩ thế rồi, tên thợ săn
quên mệt đuổi theo.
Trong
lúc này chim gõ kiến vẫn theo dõi cuộc đuổi của người
thợ săn. Cho đến lúc người thợ săn mệt nhoài chạy theo
linh dương mà tiến sâu vào rừng, thì gõ kiến dẫn linh dương
đi ngõ tắt trở lại chỗ rùa. Ðến nơi linh dương thấy
rùa lung túng trong giỏ mà thương lắm. Thật là may mà nó
còn gặp lại bạn, ân nhân của nó ở đây. Không thì còn
cách nào để đền đáp ơn cứu thoát. Linh dương chân đạp
một quai giỏ, miệng cắn chặt vành giỏ. Nó giật một cái
mạnh, xé rách một mảnh lớn. Rùa mừng rỡ bò ra khỏi
ngục tù, gật đầu cám ơn bạn và đi luôn không thèm ngó
lại cái giỏ xấu xí. Trên cành cây chim gõ kiến reo từng
tràng dài vui vẻ.
Chiều
hôm ấy, trong bầu trời yên tĩnh và mát mẻ bên bờ hồ quen
thuộc, linh dương một tiền thân của Ðức Phật và hai bạn
thân thiết cùng yên lặng để tưởng nghĩ đến tai nạn khủng
khiếp vừa qua, giữa lúc mối tình thân hữu đang rạo rực
bừng dậy từ mọi cõi lòng.
QUẢNG
HUỆ
Khi
tai nạn gấp rút mới biết được lòng bạn, có đánh nhau
mới biết kẻ yếu người mạnh, có luận nghị mới biết
được người trí, lúc cơm thua gạo kém mới biết người
có lòng nhân.
Dắt
nhau xuống giếng
Xưa kia ở trong một khu rừng, có đàn khỉ tới khoảng 500
con, chúng rủ nhau tới một cây cổ thụ, trên bờ giếng.
Gặp ngay kỳ trăng, đến tối chúng trông thấy ở dưới đáy
giếng nước rất trong và có bóng trăng. Chúng đều kêu rộ
lên rằng: “Ôi! Chết rồi các anh em ơi! Nguy to rồi! Hôm
nay mặt trăng rơi xuống giếng này rồi. Chúng ta phải tìm
cách mò lên, không thể để thiên hạ bị tối tăm khổ sở
được”.
Xôn xao nhảy nhót, cuống quít với nhau chưa biết làm cách
nào, thì con khỉ chúa bảo các con kia rằng:
- Tất cả các anh em hãy yên lòng, tôi đã có cách. Việc này
cũng không khó khăn chi, miễn là làm theo lời tôi.
Vậy tôi bíu lấy cành cây, rồi một anh bám lấy đuôi tôi,
rồi cứ thế lần lượt bám đuôi nhau hết tất cả đàn,
thế là chúng ta xuống được tới ngay đáy giếng.
Chúng
đều cho là diệu kế, làm đúng như lời khỉ chúa. Khi gần
xuống đến nơi bị nặng quá nên cành kia gãy, cả lũ đều
rơi xuống giếng lúng túng không có lối lên, không người
cứu vớt, kết cuộc cả lũ đều bị chết.
Bấy
giờ ông Thần ở trên cây trông thấy, nói bài kệ rằng:
“Một
con ngu dại đã xong,
Thương
thay cả lũ cũng không biết gì.
Trăng
tròn vằng vặc trên kia,
Dắt
nhau xuống giếng làm chi cực lòng”
TRÍ
HẢI
Biết
rõ ràng, nhưng sự thật là không, nên gọi là không, chớ
không phải không biết.
Ôi
nhân sanh mê muội,
Nhận
khổ cho là vui,
Chấp
ngã cho là thường
Mà
lặn lội nơi non sầu bể hận.
Bồ
Tát và mãng xà vương
Có
một hôm, Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát cỡi mây chu du tay cầm
bình Dương Chi, mình mặc áo bào trắng nhìn xuống và quan
sát thế gian thấy người trần nào kêu cầu danh hiệu cứu
khổ cứu nạn thì Ngài cứu độ.
Khi
Ngài đến núi Phổ Ðà ở địa phận Triết Giang quận Nam
Hải, thấy núi non tráng lệ, cây cỏ xanh tươi, chung quanh
có bể bao bọc, thì Ngài lấy làm mãn ý và nghĩ rằng:
“Tại
chốn này nên lập một đạo tràng trang nghiêm để mở mang
Phật Pháp, khiến cho chúng sinh có nơi cầu phước cầu tuệ.
Tuy nhiên, núi này lại thuộc La Môn Xà Vương, vậy ta thử
xuống hỏi mượn điạ điểm của y xem sao?”
Nghĩ
như thế, rồi Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát liền từ từ hạ
mây giáng xuống núi Phổ Ðà.
Ðây
nói về La Môn Xà Vương vốn là một con rắn tu hành đã hàng
nghìn năm và đã có phép thần thông. Hôm đó rắn biết Ðức
Quan Thế Âm Bồ Tát đến mượn đất Phổ Ðà Sơn để mở
ngôi đạo tràng, hắn muốn lánh mặt Bồ Tát, liền chui xuống
đất để lộ cái đuôi ngoe nguẩy chọc lên trời, trong chẳng
khác chi một cây cổ thụ cao chót vót mà không có cành có
lá chi cả. Nhưng cái thủ đoạn thần thông nho nhỏ của y
làm sao mà che mắt được vị Quán Thế Âm Bồ Tát là bậc
đại trí tuệ, đại thần thông? Khi Ðức Quán Thế Âm
xuống bên cạnh cây Xà Vương, liền vịn tay vào thân cây,
mỉm cười và tự nói:
- Cây
đại thụ này không cành không lá, chắc là đã chết khô
rồi, ta há nên chặt đem về làm đồ dùng.
La
Môn Xà Vương nghe thấy nói vậy thì hoảng hồn. Còn đang
bối rối, lại nghe Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát nói:
- Xà
Vương! Nhà ngươi không cần giả vờ ẩn dấu để trốn tránh
ta. Ta có câu chuyện hay muốn nói với nhà ngươi đây!
La
Môn Xà Vương nghe Bồ Tát nói thế, tự biết là trốn tránh
không khỏi, liền rút đầu ra khỏi đất hỏi Bồ Tát muốn
nói chuyện gì? Ðức Quan Thế Âm Bồ Tát liền bày tỏ ý
kiến muợn núi Phổ Ðà làm nơi thiết lập đạo tràng. La
Môn Xà Vương nghe xong cự tuyệt ngay:
- Không
được, đây là chỗ con con cháu cháu đời đời kiếp kiếp
của rắn tôi dùng làm chỗ căn cứ để ở. Người có uy
đức gì mà dám nghĩ đến chuyện mượn núi Phổ Ðà này
của tôi.
Bồ
Tát trả lời:
- Ta
đây không có đại oai thần lực như Ðức Phật Tổ, nhưng
vì ta thay người tế độ chúng sanh nên không thể không xin
nhà ngươi bố thí cho chút phương tiện là mượn dãy núi
này.
La
Môn Xà Vương nghe rồi tỏ vẻ bất phục vì hắn nghĩ rằng:
“Ta tu hành ít ra cũng có hàng ngàn năm nay và có phép thần
thông quảng đại, liệu Quán Thế Âm Bồ Tát có thể đấu
phép với ta được chăng?”. Nghĩ như thế rồi hắn liền
nói với Bồ Tát:
- Nếu
Bồ Tát chỉ biết đến Phật Tổ mà không cần đếm xỉa
gì đến Xà Vương ta đây, thì đây không ngại gì mà không
đấu phép với Bồ Tát một phen. Nếu Bồ Tát không thắng
thì xin tự tiện rút lui đi nơi khác chớ đừng hy vọng gì
mượn núi này.
Bồ
Tát nói:
- Tốt
lắm, nếu nhà ngươi không thắng nổi ta, thì núi này ta được
tùy ý được dùng mà nhà ngươi không được hối hận ảo
não chứ gì? Vậy nhà ngươi định đấu thứ phép gì đây?
La
Môn Xà Vương gật đầu và mỉm cười:
- Ta
đây không hối hận cũng không ảo não chi hết, miễn là Bồ
Tát chịu thừa nhận rằng: Phàm đất đai trong núi này ta
sẽ vươn mình bao bọc được đến đâu là ở trong khoảng
đó, Bồ Tát không được mượn. Bồ Tát gật đầu, La Môn
Xà Vương liền vận dụng thần công đại lực vươn mình
dài ra khoanh lấy núi Ðà Sơn. Nhưng kỳ lạ thay! Bình thường
hắn dùng phép vươn mình ít ra cũng quấn được tới ba lần,
nhưng hôm nay trước mặt Bồ Tát phép thần thông của hắn
tan mất, hắn cố hết sức vươn mình cho dài tưởng chừng
như đứt cả đầu đuôi ra làm hai đoạn, thế mà mình vẫn
không dài ra được chút nào. Lúc đó La Môn Xà Vương mới
thấy sức thần thông của mình không bằng Bồ Tát nên có
ý duyệt phục mà giải hòa rằng:
- Thưa
Bồ Tát! Tôi thực có mắt mà không nhìn thấy núi Thái Sơn,
đức thần thông của tôi quả không địch nổi Bồ Tát. Nhưng
có một điều khó xử là: Con con cháu cháu gia đình, nhà tôi
tôi biết ở chốn nào?
Bồ
Tát vui vẻ trả lời:
- Nếu
nhà ngươi phát tân hoan hỷ cho ta mượn núi này thiết lập
đạo tràng thì nhà ngươi sẽ được công đức vô biên, còn
con cháu nhà ngươi vẫn ở nguyên đây như cũ.
Xà
Vương có ý ngần ngại không quyết?
- Thưa
Bồ Tát làm sao để người và rắn ở chung cùng nhau. Bởi
vì người sợ rắn, rắn sợ người, đôi bên nhất định
phải tàn sát lẫn nhau mất. Nay Bồ Tát bảo con cháu tôi cứ
ở nguyên núi này, thì tối thiểu tôi và Bồ Tát phải lập
một điều ước: “Nếu giống rắn tôi con nào xâm phạm
đến tín đồ phật giáo thì rắn đó sẽ do Bồ Tát xử phạt,
nhược bằng tín đồ nào sát hại đến loài rắn chúng tôi
thì tín đồ đó sẽ bị tôi bắt thường mạng, chẳng hai
tôn ý nghĩ biện pháp đó như thế nào?”.
Ðức
Quán Thế Âm Bồ Tát nhận rằng Xà Vương nói đúng bè lập
đính ước với Xà Vương. Từ đấy Phổ Ðà Sơn trở thành
đạo tràng Quán Thế Âm Bồ Tát, chùa chiền được dựng
lên rất nhiều, Tăng Ni cũng lại ở rất đông, những khách
du lịch thập phương thấy núi này non xanh nước biếc hùng
vĩ vô cùng, đều rủ nhau đến hành hương nghe giảng kinh
Phật. Chỉ hiềm một nỗi chỗ nào chỗ nấy đều nhan nhản
có rắn nhỏ rắn to ẩn nấp làm cho phải kinh hoảng hãi hùng.
Tuy nhiên các rắn này đã nghe lời giáo thị của Xà Vương,
cho nên kể hàng bao nhiêu năm chưa từng thấy rắn cắn một
người nào. Trên núi cũng đã có cắm bảng cáo thị thông
tri của nhà Chùa: “Các tín đồ và du khách không được
làm hại rắn”. Cho nên đôi bên người và rắn bình an vô
sự, không xảy ra chuyện gì đáng tiếc. Trên núi này có một
số rắn nhân thường ngày nghe mõ sớm chuông chiều, cùng
tiếng tụng kinh niệm Phật mà phát tâm tu hành rồi thoát
khỏi kiếp rắn cũng không phải là ít.
*
Có
một em nhỏ tên là Tiểu Ðinh thường quen tính chơi nghịch
tinh quái, hay đi quấy phá tổ chim, bắt di, bắt sẻ về chơi,
nghe nói phong cảnh trên núi Phổ Ðà rất đẹp, có nhiều
chim muông thì có ý muốn lên đó sục sạo lung tung một phen
cho hả dạ, đã mấy lần nó năn nỉ cha mẹ cho theo lên núi,
nhưng vì thấy bản tính nghịch ngợm của nó nên lần nào
cũng bị từ chối khiến cho Tiểu Ðinh trong lòng buồn rầu
sinh oán cha mẹ. Một ngày kia Tiểu Ðinh quyết trốn cha mẹ
một mình lên Phổ Ðà Sơn.
Khi
đến chân núi thấy người đi lễ Phật rất đông lũ lượt
qua lại như mắc cửi. Thiện nam, tín nữ cũng không quản
đường xa trời nắng, không ngại đói khát mỏi mệt, đều
theo nhau trèo lên núi với vẻ mặt cực kỳ thành khẩn niệm
cầu. Tiểu Ðinh vội vã bước theo tới khi miệng khát, chân
mỏi nó liền ngồi lên một cái ghế dài đặt trước cửa
điện Tam Bảo. Lạ thay! Khi ngồi xuống, toàn thân cảm thấy
mát mẻ lạ lùng nó nở một nụ cười mãn nguyện và lên
tiếng khen chiếc ghế:
- Cha
chả phiến đá đại lý thạch quý hóa làm sao, trên mặt có
bao nhiêu là điểm điểm, chấm chấm coi thật sướng mắt
và lại lạnh như băng sương, mát đến gan ruột khiến cho
những người mỏi mệt ngả lưng lên trên thì tiêu hết được
khí nóng nực và quên cả sự mỏi mệt đi đường, Tiểu
Ðinh đang lẩm bẩm một mình khen chiếc ghế, bỗng có một
người hành khất ở bên đường nghe thấy phì cười bảo
Tiểu Ðinh:
- Hỡi
người bạn nhỏ ngây thơ của tôi ơi! Thử nhìn lại chiếc
ghế xem, nó không phải chiếc ghế làm bằng đá đại lý
đâu. Ðó là lưng con mãng xà đấy, con mãng xà này đã tu
hành hơn ba trăm năm nay rồi, nó phát nguyện lấy thân làm
ghế để mọi người ngồi nghỉ chân, tiêu sự nóng nực
trong khi leo núi mỏi mệt.
Tiểu
Ðinh nghe xong nhảy phắt dậy, mặt trắng phệt cắt không
còn một tí máu, nổi gai khắp người nó gương to đôi mắt
rồi hỏi người ăn mày:
- Thế
đầu rắn và đuôi rắn đâu sao không thấy?
Người
ăn mày thấy Tiểu Ðinh vẫn còn run rẫy bất giác cười và
nói rằng:
- Không
những chiếc ghế này là con đại xà mà cả chiếc ghế đối
nhiện cũng là đại xà nốt, vì hai con rắn này sợ thiện
nam tín nữ trông thấy hình rắn mà sợ nên đầu nó chui vào
trong cung Tam Bảo mà không ai nhìn rõ được; còn đuôi nó
thì cắm sâu dưới đất. Tuy nhiên bạn đừng sợ, ở trên
núi Phổ Ðà này rắn chưa từng hại một ai cả! Miễn là
chúng ta đừng nghịch phá và ghết hại dòng họ rắn.
Tiểu
Ðinh vẫn kinh hoảng ngắm đi ngắm lại một lần nữa thấy
hai khúc rắn này dài ước mười trượng chẳng khác gì hai
chiếc ghế dài đặt trước cửa điện Tam Bảo. Nhưng cái
văn hoa bóng loáng đẹp như đá Ðại Lý đều là vẩy rắn
có màu sắc như vân đá. Tiểu Ðinh sợ quá không dám ngồi
nữa và kiếm đường lánh đi nơi khác. Tiểu Ðinh trốn nhà
ra đi lẽ tất nhiên không mang theo đồ ăn, lại nhân chạy
nhanh nhiều nên miệng khát dạ đói nôn nao chưa biết tính
sao, thì may thay trên núi Phổ Ðà, trong Chùa thường vẫn sẵn
có cơm chay nước vối, thiện nam tín nữ vào đó đói cứ
việc ăn uống tự nhiên. Tiểu Ðinh mừng quá nhảy vào ăn
uống cho đến thỏa thích, ăn rồi lại đi ngao du khắp núi.
Chiều hôm đó nó vào ngủ trong chùa, nằm bên một cụ già.
Hôm sau nó dậy sớm, nghe thấy cụ già ấy đang hỏi một
vị sư phó:
- Xin
Sư phó chỉ giáo cho câu chuyện này. Nguyên đêm qua vào khoảng
nửa đêm tôi sực tỉnh dậy thấy bóng trăng le lói bên giường
như tăng thêm cảnh mỷ lệ êm đềm của Phổ Ðà Sơn. Tôi
liền bước ra khỏi phòng bồi hồi ngắm cảnh núi dưới
trăng trong, bỗng nhiên tôi thấy xuất hiện một cây khổng
lồ không cành không lá, cao vút ở giữa trời, chung quanh có
rất nhiều các cây khác, tôi lại gần rờ vào cây khổng
lồ thì thấy mát lạnh, tôi có trăm lạng vàng kim muốn mua
cây đó của quý tự đem về chơi, vậy dám hỏi cây đó là
cây gì và hiện giờ ở đâu?
Vị
Sư phó nghe xong kinh ngạc bảo rằng:
- Làm
gì có thứ cây đó, lão Tăng ở đây đã trọn ba mươi năm
nay, nội các thứ cây thứ hoa ở trên núi này lão tăng đều
biết hết không có cây nào như thế cả.
Cụ
già nhất định cãi lại:
- Có
mà, đêm qua tôi trông thấy rõ ràng và chính tôi rờ lên trên
thân cây vừa nhẵn vừa mát thì làm sao Sư phó bảo là không
có cây đó. Chẳng tin thì xin người cùng tôi đi tìm xem!
Giữa
lúc hai người rủ nhau định đi thì Sư phó trụ trì khác
nghe thấy liền vào xua tay ngăn lại:
- Các
vị không cần phải đi xem, cây khổng lồ đó thật không
có đâu. Ðêm qua, chắc rằng ông thấy La Môn Xà Vương hiện
thân đấy. Ai thấy được Xà Vương thì ít lâu cũng gặp
điềm hay, vậy tôi mừng cho ông đấy.
Cụ
già nghe xong rất lấy làm vui mừng nhưng hãy còn bán tín bán
nghi liền hỏi lại:
- Có
thật như thế không? Nếu quả tôi sẽ gặp chuyện hay thì
tôi nhất định thành tâm xây một tòa bảo pháp bảy từng
để cúng dường.
Vị
Sư phó trụ trì gật đầu đáp:
- Thật
như thế đấy! Xà ở đây thì nhiều nhưng Xà Vương thì ít
người trông thấy ông ạ. Chỉ ai có phúc mới được gặp
mà thôi. Tiểu Ðinh ngồi bên cạnh nghe rõ đầu đuôi, bất
giác trong lòng rất là thắc mắc về câu chuyện Xà Vương
ở núi Phổ Ðà Sơn, cho là một chuyện thần kỳ quá sức.
Tiểu
Ðinh lại bắt đầu đi theo thiện nam tính nữ vãn cảnh như
hôm qua, mặc dầu nó đã được nghe chuyện thần bí của
Xà Vương, nhưng vì trong lòng nó vẫn có bản tính sát sanh,
cho nên khi đường đôi mắt trợn trừng, nhìn sau nhìn trước
nhìn tả nhìn hữu, xem có con chim nào ở trên cành, hoặc chuồn
chuồn, bươm bướm bay qua thì tìm cách bắt ném cho chết hoặc
bắt về làm trò chơi cấu chân, bẻ cánh cho hả thích.
Ðến
một đoạn đường nọ, có thấy một con bọ cạp đuổi theo
một con rắn, nó dừng chân lại ngắm thấy rắn nhỏ sợ
quá đang lao đầu cố chạy mà bò cạp thì hết sức đuổi
theo. Tới một khe nước nhỏ, rắn nhanh như chớp bơi sang
bờ bên kia, còn bò cạp vì không biết nên đành phải dừng
lại nhìn theo rắn ta với vẻ thất vọng. Tiểu Ðinh thấy
thế vụt nghĩ: “ Chuyện này hay quá ta! Ðể ta lấy cây bắc
cầu cho con bò cạp qua khe sang đánh nhau với rắn coi chơi”.
Nghĩ
rồi nó làm ngay, bò cạp qua sang được khe rồi thừa lúc
rắn không để ý, sấn lại cắn luôn làm cho rắn đau đớn,
quằn quại một lúc lâu, rắn lăn quay ra chết. Tiểu Ðinh
nhìn sướng mắt reo lên rồi vừa đi vừa nhảy vừa ca hát,
tỏ ra khoái ý.
Khi
mặt trời gần lặn những ánh vàng rớt lại trên Phổ Ðà
Sơn, phủ lên mọi vật tạo nên một màu vàng quắc thật
đẹp mắt, Tiểu Ðinh tìm một ngôi chùa vào ngủ qua đêm,
khi vào tới cửa, Tri khách lão Sư nhìn Tiểu Ðinh lắc đầu
ra vẻ thương hại nói rằng:
- Em
nhỏ ơi! Ta xem sắc mặt em có ám khí che phủ, ta e rằng tối
nay em lại nghỉ ở đây, nhưng sáng mai em sẽ không còn sống
để ra về nữa.
Tiểu
Ðinh không hiểu câu nói trố mắt ra nhìn và hỏi lại:
- Thế
là nghĩa làm sao, con không hiểu ý Thầy định nói gì?
Tri
khách lão Sư nhìn Tiểu Ðinh chăm chú một hồi lâu rồi căn
vặn hỏi:
- Em
thử nghĩ gần đây em có làm một việc gì tổn đức không?
Tiểu
Ðinh quả quyết trả lời:
- Thưa
Thầy, con không hề làm một sự gì tổn đức cả.
Sư
phó lắc đầu lần nữa:
- Em
thử nghĩ lại một lần nữa coi, hoặc giả trên núi Phổ
Ðà này trong khi đi đường em có sát hại một sinh vật nào
không?
Tiểu
Ðinh ngẫm nghĩ hồi lâu:
- Thưa
Thầy! Hôm nay giữa đường con thấy một con bò cạp đuổi
một con rắn nhỏ. Rắn nhỏ chạy đến bên khe nước bơi
sang hồ bên kia. Bò cạp không lội được nước nên dừng,
con liền nhặt một cành cây bắt qua bên kia làm cầu. Bò cạp
nhờ đó qua được khe và đuổi rắn cắn, nhân thế mà rắn
chết.
Tri
khách lão Sư cau mày:
- Chao
ôi! Nhân vì tội nghiệp đó thế nào mà em chẳng biết sắc
mặt, việc này khó khăn lắm đấy. Không thể trốn thoát
tay Xà Vương được. Nhân vì trên núi này, khi xưa Ðức Quán
Thế Âm Bồ Tát đã lập qui ước với Xà Vương đòi thường
mạng”. Vậy tối nay em sẽ chết về tay Xà Vương mất.
Tiểu
Ðinh sợ quá cố van cầu:
- Xin
Thầy cứu con với. Ba má con ở nhà chắc là đang trông đợi
con lắm.
Tri
khách lão Sư lắc đầu than thở:
- Ðó
là tội nghiệp do con gây ra, Thầy không có cách nào cứu được.
Tiểu
Ðinh rỏ hai hàng lệ ròng ròng, túm chặt lấy vạt áo vị
Sư mà van lơn không chịu bỏ ra một phút.
- Nhất
định Thầy cứu được con và từ nay con nguyện sẽ vâng
lời cha mẹ, không bỏ nhà đi chơi và con nguyện xin làm người
hiền lành không dám giết hại sinh linh nữa. Con không bắt
chim, bắt bươm bướm chuồn chuồn nữa.
Tri
khách lão Sư cúi đầu nghĩ ngợi hồi lâu rồi từ từ nói:
- Em
ơi, giờ đây Thầy chỉ biết hết sức vì em mà tụng kinh
trước Chư Phật Bồ Tát, để nhờ công đức tụng kinh may
ra cứu thoát oan nghiệp này không, ngoài ra cũng còn phải nhờ
phúc đức của nhà em cứu thêm. Ngoài cách đó ra, Thầy không
còn phương pháp nào cả.
Tiểu
Ðinh gật đầu lia lịa tỏ vẻ hết lòng cảm khích và nhất
thiết y theo lời tri khách Sư phó xếp đặt cho. Tri khách Sư
phó liền thả dây cho cái chuông lớn treo ở trước cửa Tam
Bảo hạ thấp xuống và bảo Tiểu Ðinh núp vào trong niệm
Phật luôn mồm, còn Sư phó thì khêu đèn đốt hương mở
kinh rồi quỳ trước bàn Phật tụng kinh.
Quái
lạ thay! Khi trông vào kinh điển tri khách rất lấy làm ngạc
nhiên vì cả quyển kinh không nhìn thấy một chữ nào cả,
khi cầm dùi gõ mõ thì mõ cũng chẳng kêu. Tri khách Sư phó,
ba lần gõ, ba lần xem vào kinh mà trước sau vẫn nguyên tình
trạng như thế thì trong lòng lấy làm sợ hãi muôn phần,
thật là định nghiệp của đứa nhỏ không thể trốn thoát
được.
La
Môn Xà Vương lúc đó ở ngoài tiến vào phía quả chuông quẩn
ba vòng chung quanh quả chuông và từ từ buông ra và lặng lẽ
ra khỏi cửa Tam Bảo biến mất.
Tri
khách lão Sư thấy Xà Vương đi rồi, liền chạy mau đến
kéo chuông lên thì trong quả chuông chẳng thấy Tiểu Ðinh
đâu, mà chỉ thấy còn sót lại một vũng máu và một mớ
tóc. Vị Sư nhắm nghiền hai mắt lại miệng niệm:
- A
Di Ðà Phật và tự lẩm bẩm một mình:
- Ðịnh
nghiệp không thể chuyển được. Ðịnh nghiệp không có cách
nào chuyển được, làm ra thời phải chịu lấy, nhân quả
tơ hào không sai! Há chẳng đáng cẩn thận lắm ru?
Tri
khách lão Sư vì việc Tiểu Ðịnh hiếu sát nên tụng kinh
niệm Phật luôn trong ba ngày để cầu cho vong hồn Tiểu Ðinh
được sớm giải thoát về nơi Cực Lạc.
PHẠM
NGỌC KHUÊ