Phần
14
66/
Dứt bỏ ảo tình
67/
Chuyện bảy cái lọ vàng
68/
Lễ cúng dường cuối cùng của Thuần Ðà
69/
Chiến công oanh liệt nhất
70/
Sự tích bánh cốm
Dứt
bỏ ảo tình
Từ
khi Phật Thích Ca Mâu Ni lại thành Xá Vệ thuyết pháp, giáo
hóa đại chúng thì nhân dân toàn thành này trở nên có đạo
đức có lễ độ lại biết thương yêu giúp đỡ lẫn nhau,
khiến cho nước Xá Vệ biến thành một cực lạc quốc.
Tin
này truyền đi gần xa, có một số người khác đạo ở nước
La Kiệt Kỳ rất khâm phục uy tín Ðức Phật, liền không
quản đường xá xa xôi, cố tìm đến nước Xá Vệ để cầu
Phật dạy bảo. Nhưng trong khi chưa gặp được Ðức Phật
thì bỗng xảy ra một chuyện rất trái ý ở giữa đường.
Số
là nước Xá Vệ ở vào xứ nóng, thường có nhiều rắn độc,
một khi rắn đã cắn phải người thì người ấy tức khắc
chết liền, không có cách nào cứu sống được.
Hôm
đó, người viễn khách vừa tới ngoài thành, ngồi nghỉ dưới
bóng cổ thụ, nhìn xuống bên đường, thấy hai người, một
già một trẻ, đang cuốc đất. Bỗng đâu có con rắn độc
núp trong cỏ nhảy ra mổ chết người ít tuổi, người nhiều
tuổi bỏ cuốc chạy lại thấy người ít tuổi đã tắt thở
thì hơi lộ nét buồn rồi thản nhiên quay lại chỗ cũ cuốc
đất.
Viễn
khách thấy thái độ ấy làm lạ, liền tiến lại bên cạnh
ông già mà hỏi rằng:
- Này
cụ! Thanh niên vừa chết kia có là con cháu hay là gia nhân
cụ?
Ông
già đáp cách tự nhiên:
- Hắn
là con tôi.
- Ủa,
lệnh lang bị rắn cắn chết sao cụ lại không kêu gào khóc
lóc thảm thiết như người xứ chúng tôi thường làm?
- Nó
là con trai tôi đó, nhưng bây giờ đã chết rồi, thiết tưởng
dù có khóc than chỉ là thêm phiền não mà cũng chẳng cứu
sống lại được. Vậy khóc than có ích lợi gì?... Trầm ngâm
một lúc, ông lão nói tiếp:
- Ông
ạ! Con người ở đời trước sau thế nào cũng chết, khác
nào như mọi sự vật, có thành tựu thời phải có hoại không,
đó là hiện tượng tự nhiên của tuần hoàn, nếu mà lúc
sống gây nhiều nhân thiện thì sau có báo ứng tốt, nhược
bằng gây nhiều nhân ác thì có ác báo không sai. Nay đã chết
rồi, thì dầu gì chăng nữa cũng là thừa.
Ông
già nói xong thấy khách suy nghĩ đờ đẫn người ra liền
hỏi:
- Phải
chăng ông định tiến vào thành? Tôi muốn cảm phiền ông
giúp cho một việc, phỏng có được không?
- Có
việc gì xin cụ cứ nói!
- Thế
thì hay lắm! Ðây: nhà tôi ở ngay cổng thành đi vào, quẹo
sang bên phải bỏ gian đầu đến gian thứ hai ấy chính là
nhà tôi. Vậy xin ông, khi đi qua, ghé vào nói giúp với bà
nhà tôi rằng: Ðứa con đã chết, vậy trưa nay chỉ đem
một xuất cơm cho tôi ăn mà thôi.
Viễn
khách nghe ông già dặn thì điếng người, vừa đi vừa tự
nghĩ: Ông già này keo quá, con đã chết mà còn đếm xỉa đến
cả bữa cơm… Thật cả thế gian này cũng không đâu có người
cha đến như thế! Kịp khi qua cửa thành, quẹo sang bên phải,
cách hai nhà, quả nhiên thấy bà cụ vừa vặn đứng ở ngoài
cửa. Viễn khách liền thi lễ và nói:
- Thưa
bà, con trai bà bị rắn cắn chết, ông có nhắn tôi về bảo
bà chỉ cần đem một suất cơm cho ông thôi.
Bà
nghe khách nói xong thì tỏ vẻ buồn rầu thoáng qua nét mặt
rồi trân trọng cảm tạ khách, viễn khách lấy làm lạ lùng
hết sức và tự hỏi: “Tại sao bà nghe tin con chết mà không
kinh hoảng hoặc té xỉu người đi???”. Liền hỏi luôn:
- Này
bà, xin thứ lỗi cho tôi hỏi câu đường đột: Bà không thương
xót lệnh lang hai sao?
Bà
lão thong thả đáp:
- Thưa
ông! Cái đạo con cái với cha mẹ là tự túc nhân nghiệp
báo nên mới có sự thác sinh vào nhà chớ không phải là do
cha mẹ mời vào mà được, đến khi họ chết, cũng là do
mãn nhân, mãn nghiệp mà họ đi, nên cũng không thể lưu họ
lại. Cha mẹ khác nào như người chủ quán trọ chiều nay
có khách lại ngủ đỡ, sáng mai hay ngày kia khách lại ra đi,
chủ quán không thể lưu lại. Ấy sự liên quan giữa cha mẹ
và con cái cũng thế đó. Vậy thì: Có thương tiếc hay kêu
gào khóc lóc liệu có thể cứu sống lại được người đã
chết không? Hay chỉ là gây thêm phiền não mà chẳng có ích
gì?
Nghe
câu trả lời của bà cụ, khách rất hoang mang cho rằng vợ
chồng ông già này quả thật là xứng đôi vừa lứa. Cả
hai đều có một tấm lòng sắt đá giống nhau. Giữa
lúc này, từ phía trong nhà, một người con gái đi ra, bà lão
giới thiệu là chị gái người vừa chết. Khách liền hỏi
ngay:
- Em
trai cô vừa bị rắn cắn chết, chắc cô thương xót lắm
nhỉ?
- Thương
xót là lẽ thường, nhưng thương xót có thể cứu người
em sống lại được chăng? Tôi tưởng: Chị em một nhà, khác
nào như các cây gỗ ở rừng hạ xuống đóng thành cái bè
rồi thả vào nước cho trôi. Nếu sông hồ phẳng lặng thì
bè trôi mãi, bằng có cơn phong ba bão táp nổi lên đánh tan
chiếc bè thì mỗi cây trôi đi mỗi ngả, có bao giờ còn hy
vọng lắp lại liền với nhau? Tình chị em cũng thế. Ðó
là nhân duyên kiếp trước hợp rồi sinh vào một cửa. Tuổi
thọ cũng tùy nghiệp báo, có người ngắn có người dài,
và ngày chết cũng là vô thường, không sao biết trước được.
Nay em tôi chết, mặc dầu tôi là chị hắn, nhưng tôi có làm
gì được đâu? Huống chi là khóc với lóc, có phải
không ông?
Người
này đang nói, bỗng ở đằng sau, thấy một người đàn bà
nữa tiến ra, khi nghe cô chị nói xong thì kêu lên:
- Thế
ra chồng tôi đã chết rồi?
- Ðúng
đấy! Chồng bà đã bị rắn cắn chết ở ngoài đồng. Vậy
bà đau buồn lắm thì phải?
- Thưa
ông! Chồng chết ai không đau buồn, nhưng cái đạo vợ chồng
ở đời khác nào như đôi chim trong rừng, tối đến cùng
ngủ một cành, sáng ngày lại bay đi kiếm ăn, nếu có duyên
thì trở về cùng nhau, nhược bằng gặp tai họa thì mỗi
con bay đi một ngả. Ấy nghĩa vợ chồng ở đời là thế,
mỗi người có một số mạng riêng, không làm sao mà nói được
rằng: Chồng chết thay cho vợ, hay vợ chết thay cho chồng.
Như thế khóc lóc phỏng có ích gì?
Viễn
khách nghe lời mọi người trong gia đình này nói ra thì lòng
sanh hoài nghi cho thế tục nhân tâm ở xứ này, liền hối
hận đã mất công tìm đến xứ này để học cái hay cái
tốt của Ðức Phật giáo hóa dân chúng; nào ngờ dân chúng
như thế hỏi còn học được cái gì ở đây? Chi bằng lui
gót trở về quê hương xứ sở là hơn. Nhưng hồi lâu lại
nghĩ: Mình chưa được gặp Ðức Phật đã nóng nảy phê bình
một vài thái độ của dân, rồi vội vã quay về, như thế
là hành động nông nổi chưa chín chắn, chắc sau này có điều
phải ân hận… Vậy ta phải đến thẳng tịnh xá tại vườn
Kỳ Viên, để được gặp Ðức Phật đã rồi sẽ hay. Nghĩ
rồi, khách đi thẳng một hơi tới Tịnh xá và được ra mắt
Phật.
Khi
thấy Phật, khách khoan tay cúi đầu thi lễ, đoạn lui sang
ngồi một bên, không nói không rằng: Ðức Phật đọc rõ
ý kiến trong lòng khách, nhưng cũng cất tiếng từ bi hỏi:
- Tại
sao viễn khách có bộ dạng buồn rầu?
- Bạch
Thế Tôn, nhân vì con hy vọng một việc mà chưa được như
ý nên trong lòng con không được vui vẻ.
- Có
việc gì trái với bản tâm, tưởng cứ nói ra không nên để
trong lòng phải ưu sầu không thể giải quyết được việc
gì hết!
Lúc
đó người khách mới thuật hết đầu đuôi câu chuyện đã
gặp ở ngoài thành, cuối cùng khách phê bình thái độ của
gia đình nông dân ấy là trái với tình đời.
Phật
nghe xong tủm tỉm cười dạy rằng:
- Ðiều
mà viễn khách cho rằng trái với tình đời là thuộc về
“nhân tính”. Còn chân lý thì không những không được
thể hiện theo “nhân tính” mà còn phải tước bỏ nhân
tính cho đến hết. Ðó mới thực là điều khẩn yếu của
kẻ tu hành xuất gia.
Nghĩ
một chút, Ngài nói tiếp:
- Viễn
khách đây vì chưa hiểu chân lý, nên thấy gia đình nhà nông
kia hành động như thế thì vội cho là “phản tình đời”.
Nhưng đứng về mặt chân lý mà xét, thì những người ấy
quả nhiên là không có hành động lỗi lầm, vì họ biết
rõ thế nào là “cuộc đời vô thường”, nghĩa là con người
đời không thể nào nắm giữ vĩnh viễn được cái “sắc
thân” làm sinh mệnh bấy hủy bất diệt của mình. Kìa xem
từ xưa tới nay, dù là phàm hay Thánh, cũng không ai có thể
tránh được cái chết.
Nếu
vì một cái chết mà cả nhà theo nhau khóc lóc đến phát đau,
phát ốm thì sự khóc lóc ấy hỏi có ích lợi gì cho cả
người sống lẫn người chết? Vả chăng, con người ngay từ
lúc sơ sinh, đã nắm chắc lấy cái chết trong tay rồi. Nay
thấy sự chết mà gây phiền não trong lòng quá đỗi thì ta
“mê hoặc” chưa hiểu cái lẽ sống chết. Nên biết
rằng “sống” và “chết” là hai đầu mối luôn luôn tiếp
diễn và luân chuyển không lúc nào ngừng. Hễ đã biết rõ
được như thế là đã giải thoát rồi.
Viễn
khách nghe Ðức Phật giảng giải cho nghe một hồi thì lòng
thoát nhiên tỉnh ngộ. Liền nguyện xin ở lại làm đệ tử
của Phật và qui y Phật pháp tức thì. Viễn khách này sau
trở nên một vị Tỳ kheo rất tinh tiến.
PHẠM
NGỌC KHUÊ
Thân
như bóng chớp chiều tà,
Cỏ
xuân tươi tốt, thu qua rụng rời
Sá
chi suy thịnh việc đời,
Thịnh
suy, suy thịnh, sương rơi đầu cành.
Chuyện
bảy cái lọ vàng
Ðời
quá khứ cách đây vô số kiếp, ở cõi Diêm Phù Ðề có một
nước lớn tên là Ba La Nại. Thuở đó có một người ham
làm giàu đến nỗi không dám ăn no mặc đủ hoặc bố thí
giúp đỡ ai. Làm được bao nhiêu người đó mua vàng dần
tích trữ, dần dà đóng thành 7 lọ đem chôn giấu kỹ.
Chẳng
may một thời gian sau khi bệnh chết, vì tiếc của nên phải
đọa làm rắn độc, ngày ngày quanh quẩn ở xó nhà giữ vàng.
Năm,
tháng trôi qua, căn nhà mục nát sụp đổ, rắn ấy bị chết.
Bởi tâm quá tham tiếc nên lại đọa làm thân rắn một lần
nữa để coi giữ trên đống đất chôn vàng.
Cuối
cùng, quá chán ngán mệt mỏi rắn thầm nghĩ: “Thân thể
ta xấu ác bởi vì tham tiếc của, nay phải đem số vàng này
cúng dường bố thí để cầu phước báo”. Nghĩ xong,
rắn bò men tới bên vệ đường, chợt thấy một người đi
qua liền gọi:
- Này
bác kia, lại gần đây tôi bảo!
Khách
qua đường thấy rắn liền đáp:
- Ngươi
độc ác như vậy gọi ta làm chi, có phải định hại ta chăng?
- Ừ,
ta ác đấy, nếu bác không nghe lời ta sẽ tác hại.
Nghe
rắn đe dọa, người đó sợ hãi vội lại gần. Rắn nói
tiếp:
- Nhà
tôi có 7 lọ vàng, nay muốn nhờ bác đem đi cúng dường bố
thí hộ cho.
Người
đó ưng thuận. Rắn dẫn ông ta về nhà chỉ chỗ chôn vàng
và bảo ông ta bới lên một lọ rồi dặn:
- Bác
đem vàng này về cúng Trai Tăng và định ngày nào thiết trai
cúng dường thì mang một cái gậy lại đây khiêng tôi đến.
Người
ấy mang vàng về chùa giao cho một vị Tăng, chức vụ Duy Na
và kể rõ sự tình.
Ðến
ngày thiết trai, người đó trở lại chỗ rắn ở với một
chiếc gậy. Rắn gặp ông ta, vui vẻ hỏi han và quấn mình
tròn vào chiếc gậy. Ông ta lấy cái khăn chiên phủ lên trên
và khiêng tới chùa. Ði nửa đường gặp một người khách
lạ hỏi:
- Ông
khiêng cái gì đẹp thế?
Khách
trịnh trọng nhắc tới ba lần câu hỏi đó. Ông ta vẫn cứ
yên lặng rảo bước. Rắn độc tức giận, ác tâm bộc phát
muốn cắn chết ông nhưng lại thầm nghĩ: “Người này vì
ta làm phúc, ơn đã chưa trả thì ta nên nhẫn”.
Một
lát đi tới khu đồng vắng vẻ, rắn đòi đặt xuống đất
và cực lực trách ông ta về thái độ lạnh lùng lúc nãy
đối với người khách. Ông ta hối hận và xin hứa không
bao giờ xử sự như thế nữa.
Khi
đến chùa, rắn độc được nằm trước mặt Tăng chúng.
Rắn nhờ ông dâng hương. Rắn tự lấy tín tâm cung kính quan
sát không rời mắt. Chư Tăng chú nguyện và thuyết pháp cho
rắn nghe, rắn rất hoan hỷ nói:
- Bạch
Ðại Ðức! Xin mời Ngài tới chỗ tôi ở, còn 6 lọ vàng
nữa xin dâng cúng dường bố thí để cầu phước. Vị Tăng
Duy Na theo rắn và người khiêng tới chỗ lấy vàng. Cúng dường
xong, rắn chết.
Cũng
do phước đức ấy rắn được sanh lên cõi trời Ðao
Lợi.
Ở
câu chuyện trên, một hôm Ðức Phật nói với Ngài A Nan rằng:
- A
Nan! Ông có biết người khiêng rắn lúc bấy giờ là ai không?
Chính là ta đó! Còn rắn độc thuở đó là ông Xá Lợi Phất.
Ngày ấy bị rắn trách mắng ta hổ thẹn và tự thề sanh
tâm khiêm hạ đối với mọi loài, mọi vật đều xem bình
đẳng mãi mãi không thối chuyển…
Y HÀ
Tài
thí trừ khổ về thân, pháp thí trừ khổ về tâm.
Tài
thí cho tiền vô tận, pháp thí cho trí vô tận
Tài
thí làm thân sung sướng, pháp thí làm tâm sung sướng.
Tài
thí người ngu ham muốn, pháp thí người trí ham muốn
Tài
thí đem vui hiện tiền, pháp thí đem vui Niết bàn.
Lễ
cúng dường cuối cùng của Thuần Ðà
Ở
nước Câu Di Na Kiệt có vị trưởng giả tên là Thuần Ðà,
cùng 5000 vị trưởng giả nghe tin Phật sắp nhập Niết bàn,
liền đến đảnh lễ khóc lóc mà bạch Phật rằng:
- Xin
Ngài từ bi thương xót chúng con. Xin Ngài ở lại lâu
thế gian, đừng vội nhập Niết bàn. Xin Ngài thọ lãnh lễ
cúng dường này để chúng con được công đức và sớm giải
thoát.
Ðức
Thế Tôn bảo Thuần Ðà:
- Ta
nay vui lòng thọ lãnh lễ cúng dường cuối cùng của ông.
Các ông chớ có sanh lòng ưu não chính nên phải sung sướng
hoan hỷ, đừng có thỉnh cầu Như Lai ở lại lâu làm gì.
Các
ông thử quan sát mà xem, ở đời mọi vật đều vô thường,
hết thảy chúng sanh cũng lại vô thường. Dầu ở lâu trên
đời rồi cũng có ngày diệt tận. Tuy sanh trưởng thọ yểu,
mạng sống cũng có lúc bị tổn hoại. Mạnh rồi sẽ bị
bệnh bức khổn, người sống rồi phải chết, đâu có thể
thường tại lâu ngày, cho đến vợ con, vàng bạc, voi ngựa
cũng chịu luật vô thường chi phối. Những kẻ thân thích
nhất ở trên đời cũng phải chịu biệt ly, duy có bốn món
họa lớn chi phối con người là sanh, lão, bệnh, tử.
Thuần
Ðà nghe nói lại càng khóc lóc thảm thiết, khẩn cầu Như
Lai ở lại. Ðức Phật lại bảo:
- Ông
chớ nên khóc lóc làm loạn động tâm niệm. Hãy bình tĩnh
suy xét. Nên biết rằng tất cả pháp hữu vi đều không kiên
cố chân thực.
Thuần
Ðà lại bạch Phật:
- Ðức
Như Lai không thương xót chúng con nên không ở lại trên đời.
Thế giới này mà không có Như Lai thời vắng vẻ trống rỗng
như hư không, làm sao chúng con lại không than khóc được.
Ðức
Phật lại phải dạy rằng:
- Ðức
Thế Tôn thật vì có lòng thương tưởng chúng sanh và các
ông nên mới nhập Niết bàn. Hết thảy Phật pháp đều vô
thường, hết thảy pháp hữu vi cũng đều vô thường…
MINH
CHÂU
Nếu
không có cái sanh, cái già, cái bệnh, cái chết thì Ðấng
Như Lai cũng chẳng giáng trần làm gì và Phật pháp cũng chẵng
có cơ hội để rải tủa ánh sáng siêu việt khắp trong thế
gian.
Chiến
công oanh liệt nhất
“Trẫm
đang say danh lợi, sợ nghe pháp Phật lỡ tin thì bỏ giang sơn,
sự nghiệp cho ai”. Ðây là câu nói của Hoàng đế Vô Trách
Niệm trả lời với đạo thần Bảo Hải.
Vua
Vô Trách Niệm là một vị Hoàng đế danh tiếng lẫy lừng
nhất trong thời xưa ấy. Vua có tài dẹp giặc nên trăm trận
trăm thắng, đi đến đâu thì các nước đều qui phục, và
người ta dâng vua rất nhiều mỹ nữ. Trong số tám ngàn cung
nữ, người được vua sủng ái nhất là Mai Phi và Lan Phi của
hai nước đem dâng trong khi làm lễ đầu hàng.
Nhưng
có lẽ “chiến công oanh liệt nhất” của vị Hoàng đế
thanh danh ấy là một hôm mải say sưa với phép dụng binh,
để sửa soạn chinh phục thêm mấy nước, lại đương triền
miên trong dục lạc, thì vị cận thần của vua là Ngài Bảo
Hải đến mời vua đi nghe Ðức Bảo Tạng thuyết pháp. Vua
cười: Trẫm đương say danh lợi sợ nghe pháp Phật lỡ tin
thì giang sơn sự nghiệp bỏ cho ai? Ðại thần Bảo Hải làm
thinh. Nhưng vua ngoảnh lại tìm người sắp sẵn xe giá để
vua đi hành lễ.
Thế
rồi tất cả đình thần, tám nghìn cung nữ chánh cung Hoàng
hậu và Mai Phi, Lan Phi cùng theo vua đi yết kiến Ðức Bảo
Tạng Như Lai. Sau khi được nghe pháp Phật xong, vua và Hoàng
hậu phát tâm cúng dường Phật cùng Chúng Tăng đầy đủ
tứ sự trong 3 tháng.
Sau
thời gian 3 tháng cúng dường xong, Ðại thần Bảo Hải tâu
vua: Trong tất cả các pháp cúng dường Chư Phật, thì chỉ
có pháp Bồ Ðề Tâm - Chỉ có phát triển cái tâm trên
cầu thành tựu quả Phật dưới nguyện độ tất cả chúng
sanh mới là hơn hết.
Trong
một tuần suy nghĩ kỹ, vua Vô Tránh Niệm quyết trường từ
bảo vị trước Phật Bảo Tạng Ngài xin xuất gia làm Sa môn.
Trong một đời vua Vô Tránh Niệm đánh đông dẹp bắc, trăm
trận trăm thắng. Nhưng chỉ có trận giặc lòng này mà ngài
đã thắng mới là chiến công oanh liệt nhất.
Ngài
Pháp Tạng Tỳ Kheo (vua Vô Tránh Niệm) đối trước Ðức Phật
Bảo Tạng mạnh mẽ phát bốn mươi tám nguyện. Khi Ngài phát
nguyện xong thì cả đại địa đều rúng động, vì nguyện
nào cũng chứa chan tha thiết một ý niệm cầu cho tất cả
chúng sanh thoát khổ được vui, vì thế Ðức Bảo Tạng thọ
ký cho ngài, sau này sẽ thành Phật hiệu A Di Ðà làm giáo
chủ cõi nước Cực Lạc.
Phát
nguyện rồi Ngài tinh tấn lo tu phước đức. Trong thời gian
tu phước, Ngài đã làm tất cả những việc khó làm, nhẫn
tất cả những việc khó nhẫn. Giữ gìn thân khẩu ý thanh
tịnh, thường hòa thân vào trong các loài, thọ dụng như chúng
để tiện bề giáo hóa. Cứ như thế trải vô lượng kiếp
cần khổ, tích lũy công đức, đến khi thành Phật thì được
phước báo sống lâu vô lượng, nên hiệu Ngài là: “VÔ LƯỢNG
THỌ PHẬT”.
Ngài
lại giữ gìn phạm hạnh, siêng tu thiền định nên trí tuệ
càng ngày càng sáng suốt, cho đến khi huệ tánh bao trùm cả
thái hư thì ngài thành Phật niên hiệu là “VÔ LƯỢNG QUANG”.
Từ
khi phát tâm ban đầu cho đến khi thành Phật, tất cả việc
làm, lời nói, ý nghĩ gì Ngài cũng hồi hướng về chúng sanh
cả. Vì thế nên chúng sanh ở cõi Ta Bà có rất nhiều duyên
với Ngài, nếu nhất tâm chuyên niệm danh hiệu Ngài dù tối
thiểu trong một ngày mười niệm, mà tha thiết cầu sanh về
nước Ngài thì hiện đời này sự sống sẽ yên ổn, khi lâm
chung chắc chắn được vãng sanh. Khi đã sanh về Cực Lạc
thì sẽ được thần thông tự tại, có thể đi khắp tam giới,
thấy suốt mười phương và biết được trong ba đời, không
còn bị khổ, không có chướng duyên, nên ai đã được may
mắn sanh về Cực Lạc thì dễ tu chứng không còn sợ phải
trở lại lăn lóc trong cõi Ta Bà này nữa.
Vua
Vô Tránh Niệm đầu tiên chứng được thiên nhãn thông, Ngài
mới biết đại thần Bảo Hải là thiện tri thức, nhờ thiện
tri thức kích phát bồ đề tâm vua Vô Trách Niệm mới thành
Chánh Giác.
Ðại
thần Bảo Hải chính là tiền nhân của Ðức Thích Ca, Ðức
Thích Ca là thiện tri thức của Ðức Di Ðà, mà hiện nay Ngài
là Minh Sư của chúng ta…
THỀ
QUÁN
Ái
ái hà là ngàn thước nước xao,
Muôn
trùng biễn khổ sóng nhào thương ôi!
Muốn
cho khỏi kiếp luân hồi,
Phải
mau sớm niệm Nam Mô Di Ðà.
Sự
tích bánh cốm
Ngày
xửa ngày xưa, không biết từ đời nào, tương truyền ở
tỉnh Hà Ðông, có một nhà Phú ông nọ hay tu nhân tích đức
đã nổi tiếng khắp vùng. Những người nghèo khổ thường
đến xin ông bố thí đồng tiền bát gạo, những người có
cha mẹ từ trần, mà túng bẫn quá, thường đến xin ông cấp
cho quan tài, những người có cha mẹ vợ con đau yếu, không
tiền chạy chữa, thường đến xin ông cấp cho đôi chút để
cân thuốc thang. Cả những đứa trẻ mất cha, mất mẹ từ
lúc nhỏ cũng được ông đón về nuôi nấng cùng cho đi học.
Nghĩa là cả vùng đó ai có sự cần cấp là không quên đến
gõ cửa nhà ông, mà chưa ai từng bị ra tay không bao giờ.
Do đó, mà thời bấy giờ hễ nói đến hai chữ “Tích Ðức”
thì không ai không trỏ vào nhà ông. Cho nên hai chữ này sau
trở thành tên riêng, khác nào cả dân chúng toàn vùng đã
đặt cho ông vậy.
Một
hôm, ông Tích Ðức sau khi đi bố thí ở vùng lụt về, mệt
quá ông ngồi xuống chiếc tràng kỷ đặt bên cạnh lối ra
vào để nghĩ ngơi, bỗng chốc có 6 vật lạ, người chẳng
ra người, ma chẳng phải ma, thấp thoáng đi lại chỗ ông
ngồi, và cất tiếng rụt rè có ý cầu khẩn ông.
- Thưa
ông, chúng tôi muốn lại nhờ ông dung nạp…
Ông
liền hỏi một cách bâng quơ:
- Các
bạn là ai? Có cần tôi việc gì xin cứ nói!
Lập
tức trong hư vô có tiếng trả lời:
- Chúng
tôi là Lục Tặc: Nhãn, nhĩ, tỳ, thiệt, thân, ý của Quốc
vương hiện tại. Nhân vì giả thân tứ đại của Ngài
sắp tan rã, nên chúng tôi phải tìm chỗ đầu thai để báo
hiện thân Ngài. Bởi Ngài tuy có nghiệp căn tốt, nhưng hiện
mắc 6 điều tham:
1.
Mắt Ngài tham sắc, không lúc nào chán, cho nên bây giờ linh
tính đó phải thác vào địa ngục Noãn sanh (do trứng nở
ra) biến làm loài chim có lông đẹp khoác luôn vào mình để
được thỏa mãn sự ngắm nghía.
2.
Tai Ngài tham nghe đàn ca du dương, lời nói uyển chuyển nên
bây giờ linh tính đó phải đọa vào địa ngục Thai sinh (do
bào thai sinh ra) biến làm giống lừa, ngựa, chó, mèo có nhạc
đeo ở cổ để thỏa mãn sự nghe.
3.
Mũi Ngài tham ngửi mùi thơm cá thịt chiên xào, nên bây giờ
linh tính đó phải đọa vào địa ngục thấp sinh (sinh dưới
nước) biến làm cua, cá, lươn, tôm ở nơi đầy bùn dơ dáy
hôi hám để thỏa mãn sự ngửi.
4.
Lưỡi Ngài tham ăn các vị ngũ tân (hành, hẹ, tỏi, nén, hương
cừ) nên bây giờ linh tính đó phải đọa vào địa ngục
hóa sinh (thay lột nhiều lần mà sinh) biến làm muỗi rệp,
gián, ve, rận, chí để được thỏa mãn sự hút máu tanh hôi.
5.
Thân Ngài tham dâm dục, nên bây giờ linh tính đó phải đọa
vào kiếp gà, vịt, ngỗng, ngang để được thỏa mãn sự
giao cấu thư hùng.
6.
Tâm Ngài châu báu, tiền của nên bây giờ linh tính đó phải
đọa vào kiếp lạc đà, la, lừa cả ngày chỉ chuyên chở
đồ vật vàng bạc trên lưng để thỏa mãn sự giàu có.
Nay
chúng tôi thấy nhà ông đây có đức, thường đối xử tốt
với các loài người lẫn loài vật, vả lại nhà ông có đủ
mọi loài ở cạn cũng như ở dưới nước, dễ bề đầu
thai cho cả 6 đức chúng tôi, nên chúng tôi đến cả đây
nhờ ông dung nạp cho. Chúng tôi xin báo trước đêm mai,
con lừa nhà ông đẻ, mà đứa con nó là linh tính tham tài
cuả nhà Vua thác sinh vào. Vậy sinh ông lưu tâm. Bọn lục
tặc nói đến đây, bỗng một cơn gió mạnh đập vào mành
mành khiến ông tỉnh dậy, hóa ra giấc mơ.
Suốt
ngày hôm sau, ông Tích Ðức thắc mắc cửa tin, nửa ngờ về
chuyện báo mộng, nên cứ trằn trọc tới nửa đêm vẫn chưa
ngủ. Sịch có tên gia nhân thấy ông còn thức thì hối hả
vào báo: “Lừa nái vừa sanh lừa con” lúc đó ông mới yên
tâm tin là mộng đã báo đúng như sự thật. Tiếp luôn đến
chiều hôm sau, có tin: Quốc Vương thăng hà vào khoảng nửa
đêm hôm trước, đúng là lúc con lừa nhà ông đẻ, làm cho
ông càng tin rằng quả có Lục Tặc đầu thai.
Từ
đó trở đi, mỗi lần linh tính nào của nhà Vua đầu thai
làm vật gì trong nhà ông, ông đều được báo trước cho
biết. Ðến khi nhà Vua đầu thai hết 6 lần: Làm lừa, làm
cá, làm chim, làm muỗi v.v… thì ông cũng vừa 80 tuổi.
Cách
3 năm sau, một hôm tại nhà cụ Tích Ðức có thiết tiệc
cơm chay long trọng cúng dường Chư Vị Hòa Thượng và Chư
Tăng. Hôm đó, trên bàn thờ Phật đủ cả các lễ vật, hương
hoa, lại có thêm một thứ bánh dẹp, hình vuông, gói trong
lá chuối xanh, có buộc lạt đỏ mà xưa nay chưa từng thấy.
Khi
cúng Phật xong, Chư Hòa Thượng và Chư Tăng vào thọ trai với
tuần dâng hoa quả bánh trái, bỗng mọi người ngạc nhiên
thấy thí chủ đem lên những đĩa bánh màu xanh như ngọc,
chất mượt như tơ, khi bỏ vào miệng thấy có hương vị
xông lên như hương lúa đồng mà chất bánh thì dẻo quánh
càng nhai càng ngọt càng bùi. Thật là một thứ bánh đặc
biệt.
Trong
khi mọi người đang ca ngợi thưởng thức, thì Hòa Thượng
cao tuổi nhất từ từ đứng lên hỏi thí chủ:
- Xin
cho bần đạo và Chư Tăng biết thứ bánh quý nầy, thí chủ
đã mua ở đâu và gọi tên là gì?
Thí
Chủ - Cụ Tích Ðức - trịnh trọng đứng lên, với giọng
nói phào phào, cụ bạch rõ câu chuyện đã thuật ở trên,
từ chỗ Lục Tặc đầu thai cho đến chỗ Quốc Vương thác
sinh hết 6 kiếp, cụ nghỉ lấy hơi nói tiếp: Lần báo mộng
cuối cùng Lục Tặc có nói cho biết rằng:
- Thể
theo lời Quốc Vương lúc sắp thăng hà, có tỏ ý hối hận
về lúc sống đã quá mắc phải 6 điều tham xúi bẩy nên
phải trụy lạc luân hồi. Nay quyết sám hối tội lỗi và
mong được biến hóa làm một vật gì vừa được giúp ích
cho đời, vừa được gần Phật, nên chỉ anh em chúng tôi
đã hóa làm giống nếp hương, hiện mọc tại cánh ruộng
lúa nhà cụ. Vậy mong cụ cố gây giống lúa cho nhiều thêm
rồi lưu tâm sáng chế thành thứ bánh dâng cúng Phật và Chư
Tăng để cho Quốc vương sớm đoạn kiếp mà siêu sanh tịnh
độ.
Do
đó, cụ Tích Ðức nói tiếp: “Già này không dám ngại công
khó nhọc đã hết sức gây giống lúa ấy cùng chế ra thứ
bánh này, lấy tên là bánh Cốm. Nghĩa là lúa còn non, để
dâng Phật và cúng dường Chư Hòa Thượng và Chư Tăng ngày
hôm nay, không ngờ lại được từ âm quá khen, thật là sung
sướng cho già này không sao tả xiết! Mới hay tâm thành cũng
thấu đến trời Phật”.
Cụ
Tích Ðức trình bày xong, các vị Hòa Thượng cùng Chư Tăng
thảy đều hoan hỷ và cùng công nhận bánh cốm là sản phẩm
quý báu của nước nhà đang đứng vào hàng trai phẩm cúng
Phật.
Bắt
đầu từ đó nước ta có bánh cốm ra đời. Sau nhân sự phổ
biến ngày một rộng lớn, và nổi danh khắp nơi, nên đời
mới đem bánh cốm dùng vào các lễ trọng của nhân dân như
lễ ăn hỏi, lễ sêu tết, lễ cưới và cả đến lễ táng
cũng dùng bánh cốm thay cho bánh dầy, bánh chưng.
PHẠM
NGỌC KHUÊ
Ðến
khi ta mãn phần, linh hồn ta nó tách đi một mình, chừng đó,
chỉ có những điều lành của ta đã tạo phò trợ cho ta mà
thôi