Phần
13
61/
Phật dạy vua Thắng Quang làm chính trị
62/
Ðại bi trì nguyện
63/
Ðức Phật với người nghèo khổ
64/
Cò và cua
65/
Nàng dâu gìỏi
Phật
dạy vua Thắng Quang làm chính trị
Bấy
giờ vua Thắng Quang ở nước Kiều Tát La đi đến chỗ Phật,
đầu mặt lễ dưới chân Phật, chắp tay hướng lên Phật
mà bạch rằng:
- Bạch
Ðức Thế tôn! Xin Ngài từ bi dạy các pháp làm chính trị
cho tôi hiểu biết mà cai trị nước nhà.
Phật
dạy rằng:
- Phàm
là một vị Thiên Tử, chủ quyền một nước, thống lãnh
muôn dân, phải rộng lòng nhân đức, đầy đủ các đức
tính từ bi, thương yêu dân như cha thương yêu con vậy, hằng
cầu nguyện cho được yên lành. Nếu họ có điều gì độc
ác, thì nên dạy bảo khiến họ biết chừa bỏ, còn làm điều
gì hiền lành ích lợi thì nên khuyến khích cho họ tin tiến
thêm lên.
Nếu
Ðại vương thương yêu dân như cha thương yêu con, thì tất
cả dân đều trung thành hiếu thuận như con thảo thờ cha
mẹ.
Còn
cách chính trị phải đủ: Nhân, tình, ân, thứ, khoan hậu,
nhu, hòa. Thuế má chớ nên bắt họ đóng nặng, công việc
chớ nên sai khiến nhọc nhằn nhiều, chọn kẻ hiền tài mà
phong làm quan, mỗi người coi một việc, phải tùy cơ tùy
thời, không cần phải dùng nhiều người mà sinh sự phiền
phí. Nếu có kẻ nào tàn ác, thì phải trừ khử, còn người
nào hiền lành thì phải khuyến thưởng, vả lại kẻ nào
sinh điều ác nghịch, không lòng trung lương, tức thì phải
phạt trị, chớ nên để lạm dụng mà sinh di họa về sau!
Cần
nhất phải tuân theo chế độ chân chánh của các vị Thánh
Vương đời trước, chớ nên hà khắc tàn hại những kẻ
dân đen, mà mắc phải khổ báo luân hồi, đền trả thân
mạng về sau.
Thường
phải dốc lòng tôn kính Tam Bảo, chớ sinh lòng tà kiến.
Sau khi ta nhập diệt rồi, thì phó thác lại cho các vị Thánh
Vương. Ðại thần cùng nhau dương ngọn đèn tuệ cho
thường quang minh, bánh xe pháp luân thường chạy, phải gắng
sức giữ gìn cho lâu dài, chớ nên để tiêu diệt.
Nếu
các Ðại Vương y theo pháp tu hành mà giữ đúng như lời ta
dạy dỗ, thì Chư Thiên cũng thấy hoan hỷ, các bộ Long Vương
cũng đều vui lòng, trong nước được hưởng mọi sự tốt:
mưa thuận gió hòa, lúa đậu được mùa, nhân dân no ấm,
tai nạn tiêu trừ, nước nhà an lạc, thiên hạ thái bình,
ngôi rồng của nhà vua được bền vững, phúc duyên tăng tấn,
tuổi thọ được thêm cao.
Nếu
được như vậy, thì tiếng đồn vang khắp gần xa, các nước
lân bang đều khâm mộ, đem lễ vật đến mà cống hiến.
Nếu Ðại Vương tuyên truyền Chánh Pháp được như thế,
thì chẳng những nước trị dân yên mà thôi, và lại sau khi
thăng hà, còn được sinh về cõi trời, mà hưởng phần tiêu
dao khoái lạc nữa.
Tuân
lời Phật dạy vua làm lễ ra về.
TÂM
MINH
Ðại
Bi trì nghiệm
Xưa
ở nước Ma Dà Ðà xứ Tây Thiên Trúc có một người Phật
tử tại gia, tánh ưa sắc đẹp. Một hôm nhân xem kinh thấy
nói làng A Tu La người nam tuy xấu, song người nữ lại xinh
đẹp tuyệt trần, trong lòng sanh niệm mến thích, ước làm
sao được cùng kết mối lương duyên.
Không
bao lâu, lại nghe nhiều vị bảo trong núi nọ có cung điện
A tu La rất nguy nga tráng lệ, báu lạ như Thiên cung, liền
quyết tâm trì chú Ðại Bi ba năm, cầu mong được viếng cảnh
mầu để thỏa lòng ước nguyện khi trước.
Ba
năm đã mãn, người ấy đến từ tạ thân hữu và gọi một
tên đệ tử cùng đi theo. Khi thầy trò đi đến trước núi,
chí tâm tụng chú cầu nguyện bỗng cửa đá vụt mở, trong
ấy lộ ra cung điện có quỷ thần canh giữ cực nghiêm, vị
Phật tử liền bước tới nói rõ bổn nguyện mình trì chú
muốn kết duyên cùng thần nữ A Tu La xin nhờ thông báo và
thỉnh ý giùm. Kẻ giữ cửa vào thưa lại. A Tu La nữ nghe
nói tỏ dáng vui đẹp, hỏi: “Ði đến có mấy người?”.
Ðáp: “Thưa hai người”. Thần nữ bảo: “Ngươi ra
thuật lại ý ta đã hứa thuận, thỉnh người trì chú mau
vào, còn đồng bạn hãy tạm đứng ngoài cửa”. Kẻ giữ
cửa ra thưa lại, vị Phật tử liền đi vào trong.
Nhìn
theo thầy mình đi rồi, người đệ tử còn bàng hoàng, bất
giác bỗng tự thấy đã trở về đứng ở phía Nam của nhà
mình hồi nào không hay.
Từ
ấy về sau, ông nầy đã mấy lần đến chỗ cũ, song chỉ
thấy vách đá đứng sững, mây khói mịt mù, không còn được
nghe biết tin tức gì bên trong nữa. Nhân đó, người đệ
tử phát tâm lìa nhà tu hành, nguyện tròn đời ở nơi Già
Lam cúng dường ngôi Tam Bảo.
Khi
ngài Huyền Trang sang Ấn Ðộ tu học, trụ ở chùa Na Lan nghe
chính người đệ tử này thuật chuyện lại…
LIÊN
DU
Ở
đâu có nhiều dục vọng, ở đấy có nhiều khổ đau.
Ðức
Phật với người nghèo khổ
Một
hôm Phật ứng thỉnh ông Cấp Cô Ðộc, đến Tịnh xá ông
lập an cư 3 tháng. Phật thuyết pháp giáo hóa nhân dân thành
Xá Vệ vô số, ai cũng cảm mến Ngài và được ánh đạo
soi sáng đời sống. Nên sau 3 tháng an cư, khi Ngài ra đi, từ
quan quân cho đến dân chúng ai cũng khóc thỉnh Ðức Phật
ở lại ít nhất là một tuần nữa. Nhưng Ngài không hứa
nhận, bấy giờ trong nhà ông Cấp cô Ðộc có người tớ
gái tên là Phước Lê, nàng rất nghèo khổ nhưng giàu lòng
hướng thượng: Nghe Phật ra đi, nàng cũng như mọi người,
lòng buồn tủi vô hạn, nhưng nàng nghĩ Ðức Phật không phân
biệt nghèo khổ như ai, nên đánh bạo đến trước Phật đảnh
lễ và thỉnh Phật ở lại. Phật liền nhận lời và ôn tồn
bảo mọi người:
- Lòng
ta không phân biệt, song chỉ muốn làm cho mọi người nghèo
khổ mà nàng Phước Lê là một người được tắm gội ánh
đạo từ bi. Ta nhận lời để mọi người thấy rằng người
nghèo khổ không phải đáng khinh. Trí giác chỉ có ở nơi
họ cũng như lửa chỉ có ở nơi cây khô.
Ðược
Phật nhận lời và nghe Ngài dạy như vậy, mọi người đổi
cái nhìn khinh thị ra cái nhìn biết ơn, nhìn nàng Phước Lê
và nói với nhau:
- Người
nghèo khổ nhất lại có thể gần đấng Trí Giác nhất.
MINH
CHÂU
Không
nên căn cứ vào địa vị xã hội hay là gốc tích cha mẹ
bà con mà phán đoán một con người nào. Con người sinh ra
là tuân theo cái nghiệp của mình. Nó khiến mình vào lòng
người đàn bà sau mà đáp sự thừa thiếu ở đời trước
vậy.
Cò
và cua
Một
ngày kia, ở vườn Trúc Lâm, trước một số đông đệ tử,
trong đó có vua (Vimbasana) Bình Sa Vương và Hoàng tử A Xà Thế
(Ajâtacatrou) Ðức Phật bố thí Pháp, Ngài nói:
- Hỡi
các đệ tử, nghe và suy ngẫm ta nói:
“Dùng
mưu mô xảo trá để mưu đồ một việc gì, không bao giờ
thành công. Ác nghiệt, bạo tàn, chỉ đem lại kết quả thảm
khốc”.
Ðể
chứng minh câu hỏi đó, ta kể cho các đệ tử nghe một câu
chuyện sau này ta đã chứng kiến.
Trong
một tiền thân ta xưa kia, ta là một vị thần ở một cổ
đại thụ. Cổ đại thụ mọc trên một khoảng đất, hai
bên có 2 cái đầm: một cái nhỏ xấu, một cái lớn nom rất
ngoạn mục. Trong cái đầm nhỏ có rất nhiều cá, cái lớn
sen mọc che kín mặt nước.
Gặp
một năm, trời làm tiêu khô, hạn hán, cái đầm nhỏ nước
cạn gần hết, trái lại cái đầm lớn có sen phủ, không
bị cạn, nước lúc nào cũng mát rượi.
Tình
cờ một con cò đi ngang qua đó, nom thấy trong đầm nhỏ nhiều
cá vô kể. Nó đứng lại, co một chân lên suy nghĩ:
“Cá
nhiều thế này, tuyệt quá, nhưng giống này lanh lắm, đụng
vào, chúng sẽ lủi bằng hết, vị tất đã bắt được con
nào. Ta không nên kinh động, phải lập mưu mà tỉa dần”.
Nhưng
nghĩ cũng ái ngại cho chúng, chen chúc nhau trong bùn nóng, nếu
chúng được sang bên đầm bên kia, chúng được vẫy vùng,
sung sướng lắm.
Trong
đàn cá, có một con thấy Cò có một dáng điệu kỳ khôi,
co một giò, đứng hàng giờ không nhúc nhích, như một tu sĩ
quán thiền nhập định bèn hỏi:
- Tôn
ông chắc có điều gì thắc mắc mà trầm tư mặc tưởng
lâu thế?
- Ðúng
thế em ạ, nom thấy các em, anh không khỏi mủi lòng, nghĩ
thân phận của các em anh rất lo và ái ngại.
- Tại
sao Tôn ông nói lo và ái ngại cho chúng em?
Cò
nói:
- Các
em không thấy ư? Nước cạn gần hết, nếu trời cứ nắng
như thế này, chẳng mấy lúc nước cạn hết, lúc đó các
em sẽ ra sao, các em không nghĩ đến điều đó à? Các em sẽ
chết khô hết. Nghĩ thế nên ta không cầm nổi nước mắt.
Ðàn
cá nghe cò nói, hoảng cả lên, đứng khấu đầu trước vị
cứu tinh, năn nỉ:
- Tôn
ông ơi, Tôn ông có mưu chước gì tế độ, giúp chúng em thoát
khỏi cảnh hiểm nghèo này không?
Cò
làm bộ nét mặt rầu rầu, vờ đứng suy nghĩ một lúc rồi
chậm rãi nói:
- Anh
suy nghĩ đã nhiều, chỉ có một kế này có thể cứu các
em trong tình trạng nguy ngập này.
Ðàn
cá chen lấn nhau, lắng tai, cố nghe cho rõ, Cò nói:
- Ở
gần đây có một cái đầm tuyệt đẹp, rộng lớn hơn cái
này nhiều, sen mọc phủ đầy đầm, nước vì thế không cạn.
Các em di cư sang ở bên đó, anh lấy mỏ cắp từng em một
chuyển sang, chỉ có cách đó mới có thể thoát được cảnh
hiểm nghèo thập phần nguy ngập này.
Ðàn
cá nhiệt liệt hoan hô tán thưởng. Bỗng có một con Cua la
lớn:
- Thật
từ thuở lọt lòng mẹ tôi ra đến bây giờ, chưa bao giờ
thấy có chuyện kỳ khôi như thế này!
Ðàn
cá nhao nhao lên chất vấn con Cua:
- Chú
mày lạ cái gì? Lạ làm sao?
Cua
trả lời:
- Từ
khai thiên lập địa đến giờ, có thuở nào Cò thương hại
bọn Cá, Cua chúng mình. Chỉ khi nào nó đói, nó mới mò mẫm
hỏi thăm anh em mình.
Cò
làm ra bộ nhân đức, nghĩa hiệp xen vào:
- Chú
Cua ơi! Lời nói của chú thất đức, tội quá, chú gieo rắc
sự nghi kỵ, để cả bọn này chết thảm, chết nhục hay
sao? Anh chỉ tâm tâm niệm, cố làm sao cứu được các
em trong lúc này là anh sung sướng, anh không có tà tâm, ác
ý nào.
Quay
về đàn cá, Cò nói:
- Lòng
anh trong trắng, các em không nên nghi kỵ, phụ lòng. Muốn rõ
hư thực, hãy cứ chỉ định một em, anh quắp sang bên kia
đi chơi ít lâu rồi anh lại quắp về. Em đó sẽ tường thuật
lại, các em sẽ rõ, lời anh nói, việc anh làm có đúng không.
Ðàn
cá tán thưởng ý kiến đó, đề cử một chú cá già mắt
kèm nhèm, cho là chú này khôn ngoan, cho đi công cán để thăm
dò đường đất.
Cò
lấy mỏ quắp chú cá già sang đầm bên kia, thả xuống. Chú
cá già tha hồ tung tăng, vùng vẫy thỏa thuê.
Khi
ủy viên công cán trở về với đồng bọn ca ngợi cò hết
lời, nó tường thuật đầm bên kia thật là bồng lai tiên
cảnh.
Tất
cả đàn cá nghe nói thích quá, suy tôn Cò là vị cứu tinh,
nhao nhao xin Cò hoan hỷ chuyển vận di cư sang ngay bên đó,
Cò nói:
- Anh
xin hết lòng phục vụ các em, anh sẽ chuyển các em sang dần.
Chú cá già được Cò quắp mỏ đi tiên phong. Lần này Cò
có đem chú cá già sang đầm sen đâu, Cò quăng chú xuống đất,
rỉa hết thịt, còn xương vứt ở dưới gốc cây cổ thụ.
Ăn thịt cá già. Cò quay về đầm bảo đàn cá:
- Nào
em nào muốn đi với anh bây giờ?
Tất
cả đàn cá nóng lòng muốn biết cảnh non bồng tranh nhau đi,
Cò tha hồ lựa chọn, con nào vừa mắt đem đi ăn thỏa thích.
Dần
dần cả đàn cá, con lớn, con nhỏ, con già, con trẻ được
định cư vào bụng Cò.
Tất
cả đầm chỉ còn xót lại một con Cua. Cua vẫn thắc mắc
nghi sự man trá, thủ đoạn của Cò. Nó nghĩ:
- Ta
nghi quá, đàn cá được sang bên đầm sen thật là vô lý,
không khéo cả đàn, cả lũ chui hết vào bụng Cò gian hùng.
Ở
đây đất hẹp nước cạn, ta cũng cần phải di chuyển đi
nơi khác, nhưng có đi ta cũng phải tính toán kỹ càng, phòng
Cò có manh tâm phản phúc, ta phải có cách đối phó kịp thời.
Mình mà có chết nó cũng khó bảo toàn được tính mạng nó.
Cò
lại gần Cua, vồn vã, mơn trớn:
- Bây
giờ đến lượt chú mày, anh đưa chú mày sang bên đó?
Cua
hỏi:
- Thế
anh đưa em sang bằng cách nào?
Cò
nói:
- Ô
hay! Thì cũng như các em cá, anh quắp vào mỏ, chứ còn bằng
cách nào?
Cua
nói:
- Em
nghĩ như thế không được anh ạ. Cái áo (vỏ) của em
nó cứng ngắc mà trơn lắm, anh quắp em sẽ bị tuột mất.
Nếu anh cho em bám vào cổ anh em cố lựa không để anh đau
đâu, như thế có lẽ bảo đảm hơn, chắc chắn hơn.
Cò
nghe gật đầu ưng thuận.
Cò
đem Cua đi, đến gần gốc cây nó đứng lại. Cua hỏi:
- Sao
anh lại đứng lại chỗ này, anh Cò? Anh mỏi chân rồi à?
Hai cái đầm cũng chẳng cách xa nhau mấy.
Cò
lặng thinh không biết đằng nào trả lời.
Thấy
khác ý Cua bè bắt đầu dùng hai cái càng siết chặt cổ Cò:
- À
này! Cái đống xương cá ở dưới gốc cây đã tỏ lòng thâm
độc, xảo quyệt của mày. Cò ơi! Mày không lừa nổi tao
đâu như mày đã bịp tụi cá.
Cò
bị đau quá, nước mắt dàn dụa thổn thức:
- Em
Cua ơi! Anh đau quá! Anh không hại em đâu, anh sẽ đưa em sang
đầm sen.
Cua
nói như truyền lệnh:
- Ði,
mau!
Cò
lủi thủi sang bên đầm sen, vươn cổ đặt ngang mặt nước,
để Cua xuống. Nhưng Cua dùng hết sức hai càng siết
chặt cức cổ Cò đứt làm đôi.
Vị
thần ở cổ đại thụ, được mục kích nói:
- Cua
làm thế phải lắm. Ác giả, ác báo! Ðừng mưu mô xảo
trá để mưu đồ vị kỷ không bao giờ thành công.
Ác
nghiệt bạo tàn chỉ đem lại kết quả thảm khốc.
Con
cò gian manh lại gặp phải con Cua mưu trí.
Ðức
Phật kết thúc thời pháp, Ngài nói:
- Hỡi
các đệ tử, nhất là Hoàng tử A Xà Thế có mặt ở đây,
chớ có quên chuyện ta vừa kể.
Vua
Bình Sa Vương khấu đầu trước Phật, cám ơn Ngài đã bố
thí cho một thời Pháp rất hữu ích, những ai có tánh mang
tâm, sâu độc lấy đó làm gương mà sửa mình.
NGUYỄN
THẾ VINH
Hại
người sẽ bị người hại,
Oán
người sẽ bị người oán,
Mắng
người sẽ bị người mắng,
Ðánh
người sẽ bị người đánh.
Nàng
dâu giỏi
Có
một thời Ðức Phật ở trong vườn của ông Cấp Cô Ðộc
và cây của ông Kỳ Ðà thái tử tại nước Xá Vệ, vua Ba
Tư Nặc chủ nước ấy, có một quan đại thần tên là Lê
Kỳ Di ông là người rất hiền hậu và giàu có lắm, ông
sinh hạ được bảy người con trai, sáu người con lớn ông
đã gây dựng cho thành gia thất cả rồi.
Bấy
giờ ông tự nghĩ rằng hiện nay mình già sức yếu, sống
chẳng bao lâu nữa, mà xem tất cả mấy nàng dâu lớn, không
ai là người đủ tài đảm đang giữ gìn được cơ nghiệp
này. Nay còn một người con út, cần phải kén chọn một nàng
dâu sao cho đủ tài năng đức hạnh để giao phó thì mới
an tâm.
Ông
nghĩ xong liền cho mời một ông bạn thân tới để bàn về
việc đó. Khi ông bạn kia tới ông tiếp đãi rất trọng hậu
rồi nói với ông bạn rằng:
- Tôi
còn một cháu út, nay muốn gây dựng cho cháu, nhưng chưa tìm
được nơi nào xứng đáng, vì cháu là người thông minh đĩnh
độ, nên tất cả cơ nghiệp sau này của tôi, tôi định giao
cho cháu út chủ trương.
Xưa
nay ông là người hay đi lại khắp nước, tôi muốn phiền
ông làm ơn giúp cháu việc này, xin ông để ý cho, xem đâu
có người con gái hiền hậu tài năng tương đương với cháu
xin ông cố làm mối giúp cho.
Ông
bạn nhận lời, đi thăm dò khắp cả, khi đến nước Ðặc
Xoa Thi Ly thất một tốp con gái rủ nhau đi hái hoa để trang
điểm chơi với nhau. Ông liền theo dõi để ý xem xét, một
lúc đi tới quãng đường lội thì các cô đều trút guốc
và vén áo lội qua. Trong số đó chỉ có một cô người rất
xinh xắn, và coi có vẻ thông minh hiền hậu lắm, lúc lội
xuống cô để yên cả áo và đi cả guốc lội qua. Lúc đến
rừng, các cô kia đều tranh nhau trèo lên cây hái hoa, riêng
cô ấy cứ đi xin mỗi người một vài hoa và không bao lâu
mà đã được đủ các thứ hoa.
Bấy
giờ ông kia liền đến tận nơi hỏi cô ấy rằng:
- Thưa
cô, tôi có chút việc hơi thắc mắc cô có thể làm ơn chỉ
giúp cho?
- Thưa
cụ, cụ cần có điều chi hỏi đến cháu, cụ cứ nói, nếu
cháu biết cháu xin trả lời.
- Vì
sao lúc nãy lội qua nước, tất cả mọi người đều bỏ
guốc mà chỉ một mình cô đi cả guốc là sao?
- Thưa
cụ, sở dĩ người ta chế ra guốc cốt để hộ vệ cho bàn
chân. Ði trên khô, nếu có chông gai đá sỏi còn có thể thấy
được để tránh, chứ ở dưới nước đáy nước là chỗ
khuất mắt không trong thấy, thì những thứ chông gai ngói
sỏi rắn độc, rất dễ làm hại chân người, vì thế mà
cháu không bỏ guốc chứ có chi lạ.
- Mọi
người đi qua chỗ lội đều vén áo, riêng cô không vén áo
là sao?
- Thưa
cụ, thân thể người ta có tốt có xấu, nhất là đàn bà
con gái nếu đi chỗ lội mà vén áo lên rất là khó coi, bị
người ta chê cười, vì thế cháu cứ để yên.
- Thế
sao chỉ có mình cô không lên hái hoa?
- Thưa
cụ! Vì sợ gãy cành nên cháu không dám lên.
Người
con gái ấy chính là con ông Ðàm Ma Ha Tiện, ở nước vua Ba
Tư Nặc, trước vì bị tội trốn sang đất nước này, lấy
vợ sanh ra người con gái đặt tên là Tỳ Xá Ly. Ông nghe những
lời lẽ trên biết là người hiền lành, liền hỏi lại rằng:
- Cha
mẹ cô còn không?
- Thưa
cụ, hãy còn cả.
- Nay
tôi muốn vào thăm ông bà nhà có được không?
- Xin
mời cụ quá bộ lại, cháu xin về thưa ngay với thầy mẹ
cháu.
Khi
tới nơi người con báo tin cho cha mẹ biết, liền cùng ra đón
tiếp thân mật, ông liền hỏi rằng:
- Có
phải người con ấy là con của ông bà không?
- Thưa
phải!
-
Xin lỗi, đã gả cho ai chưa?
- Thưa
cháu hãy còn nhỏ chưa dám cho ai.
- Ông
bà có biết ở nước Xá Vệ có quan Ðại thần tên là Lê
Kỳ Di không?
- Trước
tôi đã quen biết.
- Thưa
ông bà, hiện nay ông ấy còn một người con út rất thông
minh ngay thẳng và cực kỳ khôi ngô, ông muốn nhờ tôi đến
thưa chuyện với ông bà để cho cậu út ông ấy được kết
duyên cùng cô em nhà, việc đó nên chăng thế nào xin ông bà
cho biết ý kiến tôi xin cám ơn.
- Ông
ấy cũng là một nhà hào kiệt xứng đáng nếu quả có lòng
thương cháu thì chúng tôi cũng vui lòng.
Khi
được rồi, may sao lại có người về nước Xá Vệ, ông
liền viết thơ gởi cho ông Lê Kỳ Di bảo cho ông biết các
việc đã xong xuôi, đúng như ý muốn của ông, vậy sắm sửa
sang đón dâu về.
Ông
Lê Kỳ được tin mừng, lập tức sắm sửa đủ các lễ vật,
xe ngựa, đi sang gần tới nơi, cho người báo tin cho ông Ðàm
Ma Ha Tiện biết. Ông liền sắp đặt đón rước rất là long
trọng, mời cả họ hàng bạn bè yến tiệc ròng rã suốt
bảy ngày. Lúc trở về Xá Vệ cô con gái vào bái biệt cha
mẹ, bấy giờ bà mẹ đứng trước mặt mọi người dặn
con rằng:
“Từ
này về sau lúc nào con cũng mặc áo thật đẹp, thường phải
ăn các thứ thật ngon, ngày nào cũng phải soi gương luôn”.
Người
con gái quỳ xuống xin vâng lệnh.
Ông
Lê Kỳ Di nghe thấy thế, nghĩ thầm trong bụng lấy làm giận
lắm, cho người ta sinh ra ở đời những sự khổ sự vui làm
thế nào mà ấn định được. Sự ăn ngon, mặc đẹp làm
thế nào mà có mãi được, huống chi là soi gương suốt ngày
thì lại càng vô lý lắm.
Tuy
ông nghĩ như thế, nhưng dù sao ông cũng phải giữ lễ chủ
khách cho qua, và đã trót tin ở ông bạn rồi, bây giờ cũng
đành cố nhẫn xem sao.
Công
việc xong, đôi bên từ giã, cùng nhau thẳng đường về trước.
Khi đến giữa đường vào nghỉ nhờ một nhà trọ, rất lịch
sự mát mẻ, ai nấy đều lấy làm vui thích, mọi người đến
trước đều đã nghỉ ngơi cả. Khi cô dâu đến sau, cô nói
với bố chồng rằng: “Xin dời nhà khác, chớ ở đây”.
Ông
cũng không trái ý, thu xếp ngay chỗ thoáng đãng rộng rãi
nghỉ ngơi, còn mấy người cố ý không nghe ở lại, đến
đêm những voi ngựa buộc chung quanh nhà bị ngứa ngáy chúng
nó cọ xát đổ nhà cột gãy, đè phải người ở trong, người
thì chết người thì bị thương, không người nào thoát cả.
Bấy
giờ ông nghĩ rằng: Hôm nay ông thoát chết là nhờ ở con
dâu, nên từ đấy ông đem lòng kính nể tin cậy.
Hôm
sau lại lên xe ngựa đi đến bên một bờ sông con, mọi người
thấy cây cối um tùm mát mẻ liền dừng lại nghỉ, khi cô
dâu đến sau, cô cũng lại nói là đi chỗ ngay chỗ khác, không
ở đây, phải lên trên chỗ cao ráo mới có thể yên được.
Mọi
người nghe lời vừa đi lên trên ngọn đồi nghỉ được
một lúc thì bỗng dưng đùng đùng nổi lên cơn dông tố,
ầm ầm gió táp, mây kéo nghịt trời, sấm vang chớp giật,
mưa xuống như trút, trong khoảnh giây phút mà nước ngập
hết cả đường đi lối lại những chỗ vừa qua.
Bấy
giờ ông Lê Kỳ lại nghĩ rằng: “Hôm nay lại nhờ con dâu
nên tất cả mọi người được thoát chết”. Từ đấy
nàng dâu nói câu gì ai ai cũng lấy làm tin cẩn.
Khi
về đến nhà, ông cho mời tất cả họ hàng, bạn bè thân
thích đến mở tiệc ăn mừng rất là vui vẻ.
Mấy
hôm xong công việc, ông liền cho hội họp tất cả các con
dâu lại mà bảo rằng:
- Bây
giờ cha già tuổi yếu, tất cả công việc và của cải trong
nhà, nay cha muốn giao lại cho các con trông coi gìn giữ giúp
đỡ cha. Vậy ai có thể đảm đương được thì nhận lấy
công việc và cầm lấy chìa khóa các kho tàng.
Sáu
người đều từ chối, chỉ có nàng dâu út nhận lời. Khi
nhận công việc rồi thì nàng hết sức chăm chỉ, sáng dậy
sớm, sai bảo các người ở sửa sang quét dọn nhà cửa, đi
chợ nấu ăn, sắp đặt việc dâng cơm lên cha mẹ và dọn
cho cả nhà ăn, rồi thu xếp cho các người tôi tớ ăn xong,
phân công người nào việc ấy, xong xuôi tất cả công việc
rồi nàng mới ăn.
Ngày
nào cũng như thế, ông bố chồng thấy nàng khác hẳn người
phàm, lấy làm lạ nhất là không thấy nàng làm theo những
lời mẹ dặn khi bước chân về làm dâu. Ông liền hỏi:
- Trước
khi con về nhà chồng thì mẹ con có dặn là: “Phải ăn ngon,
mặc đẹp, ngày ngày soi gương”, việc đó có ý nghĩ như
thế nào?
Nàng
liền thưa:
- Theo
chỗ mẹ con dặn phải mặc áo đẹp, nghĩa là ở trong thân
thể phải luôn luôn giữ gìn cho sạch sẽ, còn áo mặc thường
chỉ cốt sao cho bền chắc sạch sẽ là đủ. Những lúc
hội họp tiếp xúc với tân khách mới cần phải ăn mặc
cho xứng đáng.
Còn
ăn ngon, không phải là ăn các thứ cao lương mỹ vị béo bổ,
mà ý mẹ con dặn nên ăn muộn lại cốt để cho đói thì
ăn mới ngon, bấy giờ dù thức ăn thế nào cũng vẫn thấy
ngon.
Còn
ngày ngày soi gương, không phải các thứ gương soi thường
dùng. Mà ý mẹ con dặn phải dậy sớm, chăm chỉ quét dọn,
rửa ráy trong ngoài mọi nơi cho sạch sẽ, sửa sang kê lại
bàn ghế thẳng tề chỉnh gọn gàng, không được để chỗ
nào xiên xẹo bẩn thỉu. Nhất là mỗi ngày phải kiểm điểm
trong ngày ấy mình có phạm lỗi lầm gì không để mà sửa
chữa… Ðó chính là ý nghĩa những điều mẹ con đã dặn.
Nghe
xong, trong lòng ông rất kính phục là bà mẹ có biệt tài
dạy con, mà con cũng là người khác hẳn phàm tục, ông liền
giao phó tất cả cơ nghiệp cho trông coi, và từ đấy vui vẻ
không còn lo ngại gì nữa.
Có
một hôm, đàn chim nhạn bay qua sân nhà vua, nó đánh rơi một
bông lúa “tám cánh” là một thứ lúa rất quí ở mãi ngoài
bể khơi, mọc ở các gò rất xa, khi nó ăn tha về qua đánh
rơi. Có người nhặt được đem dâng vua, vua cho là thứ lúa
ấy có thể làm thuốc được, vậy không nên bỏ đi, liền
chia cho các quan mỗi ông mấy hạt về làm giống cấy để
dành.
Ông
Lê Kỳ Di được phần đem về cho cô dâu út, nàng liền sai
người làm ruộng rất kỹ càng và ở trong thửa ruộng tốt
nhất gieo mạ chăm chỉ cấy. Ðến mùa sau, được bao nhiêu
lại để giống gieo nàng cho là giống lúa quí nhất mà xưa
nay ít thấy, kế tiếp mãi mùa nọ sang mùa kia, số thóc đó
trong nhà ông có rất nhiều.
Bấy
giờ Hoàng hậu bị bệnh rất nguy kịch, các thầy thuốc đều
bảo làm thế nào lấy được thứ lúa tám cánh ở ngoài bể
để chế thuốc thì mới chữa được, không thì đành phải
chịu.
Vua
liền nhớ lại ngày trước có được thứ lúa ấy đã giao
cho các quan đem về làm giống cấy. Vua liền triệu các quan
vào hỏi việc đó. Ông thì nói nó không nở, ông thì bảo
bị chuột ăn, ông thì nói sâu cắn, mỗi ông có mỗi cách,
không ông nào còn lại hạt nào.
Ông
Lê Kỳ Di về hỏi lại con dâu, thứ lúa ngày xưa cho đem cấy
bây giờ thế nào, nay nhà vua cần một ít để làm thuốc
cho Hoàng hậu, cần lắm.
Người
dâu đáp: “Thứ lúa ấy hiện nay ở nhà có rất nhiều, nếu
chỉ làm thuốc thì có thể chữa cho cả nước cũng không
hết, chứ chữa cho một người thì có là bao”.
Ông
Lê Kỳ Di đưa lúa vào, vua cho thầy thuốc dùng chữa được
Hoàng hậu khỏi ngay. Vua rất mừng rỡ, ban thưởng các phẩm
vật và vàng ngọc cho ông rất nhiều.
*
Bấy
giờ giữa nước Ðặc Xoa Thi Lý và nước Xá Vệ hai bên hiềm
khích nhau, thường thường xảy ra những sự xung đột trở
nên rối loạn.
Vua
nước Ðặc Xoa Thi Lý muốn thử xem nước Xá Vệ có những
bậc hiền tài trí tuệ không, liền sai sứ giả mang sang hai
con ngựa thật giống nhau như một. Hỏi xem con nào là con,
con nào là mẹ.
Vua
cho hội họp cả các quan lại bàn, tuyệt không ai biết làm
thế nào mà biết được.
Ông
Lê Kỳ Di cũng đi họp về, tỏ vẻ buồn rầu lắm, vì nếu
không hiểu được thì cả nước sẽ bị khinh.
Ông
về tới nhà, người dâu thấy ông có vẻ khác, liền hỏi
ngay thì ông nói lại việc trong triều cho nghe.
Nàng
nói:
- Việc
đó có khó gì phải lo ngại, nghĩa là đem ít cỏ rất ngon
bỏ cho cả hai con, thì thế nào mẹ nó cũng nhường cho nó
ăn trước, phân biệt rõ ngay.
Hôm
sau ông vô vào tâu làm đúng như thế, thử xong gọi sứ giả
vào bảo, người kia nhận là đúng. Vua lấy làm mừng lắm,
lại ban thưởng cho ông được thăng phâm tước và bổng lộc.
Khi
sứ giả về tâu vua nước kia, thì vua nước ấy lại sai mang
sang hai con rắn dài bằng nhau, hỏi xem con nào đực con nào
cái?
Vua
quan bên này lại hội họp cùng bàn, cũng lại không giải
quyết được, ông Lê Kỳ Di lại về hỏi con dâu xem như thế
nào thì biết được? Nàng bảo:
- Lấy
lụa giải xuống đất, rồi đặt hai con rắn lên trên, hễ
thấy con cái thì nó nằm yên, còn con đực thì nó cựa quậy
luôn. Bởi vì tánh con cái thích trơn nhẵn êm dịu không
thích động, còn tánh con đực thì mạnh mẽ hay bạo động,
suy đó có thể biết được.
Ông
lại vào tâu vua làm đúng như thế rồi bảo sứ giả, cũng
chịu nhận là đúng. Vua lại ban thưởng tước lộc cho ông.
- Sứ
giả về tâu lại, vua nước kia lại cho mang sang một cây gỗ
dài 10 thước, bào nhẵn hai đầu giống nhau, lại cho sơn kín.
Hỏi đầu nào là gốc, đầu nào là ngọn?
Tất
cả vua quan bàn nhau mãi cũng không ai nghĩ ra, ông Lê Kỳ Di
lại về hỏi con dâu: Nàng bảo:
- Ðem
thả xuống nước, đầu nào chìm tức là gốc, còn đầu nào
nổi là ngọn.
Hôm
sau sứ cũng làm cho đúng như thế, rồi lại trả lời cho
sứ giả. Sứ giả chịu nhận là đúng. Vua lại ban thưởng
tước lộc cho ông.
Còn
vị sứ giả về trình tấu với vua nước ấy mọi sự việc.
Vua nước ấy nghe xong rất lấy làm hoan hỷ, cho là ở trong
nước bạn có bực hiền tài thực phải tôn kính.
Vua
liền cho sắm sửa lễ vật và các thứ châu báu, sai sứ giả
mang sang cống hiến và đề nghị từ nay hai nước nên tu chỉnh
lễ nghĩa, giữ tình giao hảo tốt đẹp với nhau, vì nước
bạn thực đã có bực hiền tài phước đức.
Vua
Ba Tư Nặc bấy giờ lại càng mừng rỡ sung sướng, liền
cho triệu ông Lê Kỳ Di vào, đồng thời hỏi ông làm thế
nào mà trước đây ông quyết đoán được mọi sự thử đố
của nước láng giềng.
Ông
thành thực tâu với vua, không phải chính ông có những sáng
kiến đó, mà chính là do tài trí của người dâu út của
ông.
Vua
nghe xong hết sức cảm phục, cho triệu nàng vào cung và ban
đặc ân nhận nàng là em thứ ba của vua.
*
Nàng
dâu Tỳ Xá Ly này sau sanh ra một bọc 32 cái trứng, nở ra
32 người con trai, người nào cũng thông minh anh dũng, văn võ
toàn tài, sức một người địch nổi muôn người, cha mẹ
rất yêu mến mọi người đều kính sợ. Những người con
kia khi khôn lớn lên lấy toàn con gái các nhà hào phú trong
nước, thuần là những con nhà phúc đức hiền hậu.
Cả
nhà này đều ngưỡng mộ Phật pháp, thường thỉnh Phật
và Chư Tăng tới cúng dường và được nghe thuyết pháp, nên
người nào cũng đã đắc đạo chứng được bậc sơ quả,
duy còn một người con út chưa chứng đạo.
Có
một hôm cưỡi ngựa đi chơi ở ngoài thành, lúc đi qua một
cái cầu, gặp một chàng thiếu niên con quan Phụ tướng đi
tới cầu. Chàng thiếu niên kia đi xe, hai bên gặp nhau, đều
cậy vào con nhà hào phú quyền thế không ai chịu nhường
bước ai. Lúc đó con bà Tỳ Xá Ly nổi giận, lập tức xuống
dùng sức mạnh lôi xe của chàng kia vứt xuống vệ cầu, làm
cho thân thể chàng bị thương nặng.
Chàng
bị đau bưng đầu khóc, về mách với cha: “Con của Tỳ Xá
Ly nó làm nhục nên con bị đau đớn như thế này.
Quan
Phụ tướng thấy con bị thương rất lấy làm tức tối và
thương con, song ông lại nghĩ: “Lũ con nhà kia có sức khỏe,
hiện nay cả nước không ai dám địch với chúng”, nên ông
nghĩ kế để báo thù.
Ông
liền thuê thợ làm 32 cái roi toàn bằng thép ở trong có lưỡi
rất sắc, ngoài bọc kín chỉ nhìn như bao kiếm, đem tặng
cho mỗi người một chiếc. Lúc đem tặng nói là các cậu
trẻ tuổi nên dùng thứ này để thường cầm tay cho tiện,
tất cả đều nhận để chơi, vì thấy nó rất nhỏ rất
xinh.
Luật
trong nước lúc bấy giờ cấm không ai được mang dao trong
mình, sau khi tặng ông thấy các người con của bà Tỳ Xá
Ly thường mang roi đi chơi, ông mới vào dèm tâu với vua: 32
người con của bà Tỳ Xá Ly mỗi người sức địch được
hàng nghìn người, nay xem như là có ý ám hại vua.
Vua
nghe không lấy gì làm tin, ông liền tâu tiếp: Nếu vua không
tin cho nghiệm xét sẽ thấy. Hiện nay thường nào cũng mang
dao giấu trong roi ngựa, cứ lấy đó suy ra là đúng.
Vua
liền đòi vào xem thử quả đúng.
Lập
tức vua cho triệu các người lực sĩ vào mai phục ở trong
cung rồi cho gọi tất cả 32 người con của bà Tỳ Xá Ly vào,
giết chết xong cắt tất cả đầu đóng vào một cái hòm
đậy kín, cho mang lại nhà em vua là bà Tỳ Xá Ly.
Ðúng
ngày hôm ấy lại là ngày bà thỉnh Phật và Chư Tăng về
nhà thọ trai, khi có người mang hòm đến bà tưởng nhà vua
giúp thêm thứ gì cho bà, định mở ra, Phật liền ngăn lại,
bảo để ăn cơm xong đã.
Khi
ăn xong, Phật cho tất cả mọi người cùng ngồi, Phật thuyết
pháp cho nghe. Phật nói:
- Tất
cả cái thân của người ta đây, đều là vô thường không
có chi là bền chắc cả. Phàm đã có thân đều phải chịu
những sự đau khổ, không thể kêu ai được. Tất cả muôn
sự muôn vật ở đời đều là giả dối, như chiêm bao, như
bọt nước, không có chi là có thực. Cái thân này cũng là
giả hợp, mượn nhiều nhân duyên họp lại mà thành, đến
khi nhân duyên hết lại tan rã, như cây chuối kia khi bóc hết
bẹ ra là không thấy cây đâu nữa. Nói tóm lại, phàm đã
có sinh ra thân này đều phải chịu những sự lo buồn khổ
não nó ràng buộc, những sự lo buồn khổ não nó ràng buộc,
những sự đắng cay chua xót nó vẫn ở luôn bên mình, những
sự yêu mến nhau tới lúc ly biệt nhau làm cho nhau thương xót
ảo não, uổng chịu những nỗi khổ đau làm cho thân tâm nhọc
mệt mà không ích lợi gì cho đạo cả, không có gì đứng
mãi không đổi thay tàn hoại. Chỉ có những người có trí
tuệ mới hiểu các lẽ đó.
Lúc
đó bà Tỳ Xá Ly nghe xong liền tỉnh ngộ, chứng được quả
A Na Hàm, vui mừng chắp tay bạch Phật:
-
Xin Phật thương xót cho con được làm theo bốn điều nguyện
như sau:
1.
Xin cung cấp thuốc thang cơm nước cho các vị Tỳ kheo bị
đau ốm.
2.
Cung cấp cho những người trông nom các vị Tỳ kheo bị bệnh.
3.
Cúng dường các vị Tỳ kheo ở xa mới tới.
4.
Cúng dường lương thực thuốc thang cho các vị Tỳ kheo đi
xa.
Bởi
vì những vị bị bệnh nếu không có đủ thuốc thang ăn uống,
có thể nguy mất tánh mạng.
Những
người săn sóc cho các vị bị bệnh, nếu thiếu các sự ăn
uống và cần dùng, thì người ấy sẽ bỏ vị bị bệnh,
người bệnh khó khỏi.
Những
vị ở các phương xa mới tới, còn lạ lùng bỡ ngỡ, đi
xin rất khó, hoặc gặp chó dữ hoặc gặp người không tốt,
có khi họ làm cho khó chịu sanh lòng căm giận nên con phải
cúng dường các vị ấy trước.
Các
vị Tỳ kheo đi xa cần nên có bạn, nếu không có bạn hoặc
thiếu lương thực, hay không đi kịp bạn, đường lối hiểm
trở gặp nhiều thú dữ, có khi xảy ra tai nạn, vì thế nên
phải cúng dường cung cấp cho các vị ấy trước.
Khi
Phật nghe bà Tỳ Xá Ly phát nguyện như thế, Phật liền khen
ngợi: “Hay lắm, hay lắm! Ngươi phát nguyện như thế cũng
như cúng dường Chư Phật”. Công việc xong, Phật và Chư
Tăng cùng về Kỳ Hoàn Tịnh Xá.
Sau
khi Ðức Phật về rồi, bà Tỳ Xá Ly mới mở hòm ra, trông
thấy 32 cái đầu, nhưng nhờ bà đã hiểu đạo, dứt bỏ
được mối ái dục, nên không đến nỗi áo não lắm.
Về
phía họ hàng bên vợ của 32 người con kia, khi được tin
đều lấy làm đau khổ vô cùng và căm giận lắm. Cho vua là
người vô đạo, giết hại những người lương thiện, nên
cùng nhau chiêu tập binh mã kéo tới vây kín cả chung quanh
nhà vua định để báo thù.
Vua
lấy làm sợ hãi quá, vội vàng chạy tới chốn Phật ở,
các người kia lại kéo quân tới, vây kín chung quanh Tịnh
Xá Kỳ Hoàn.
Lúc
ấy, Ngài A Nan nghe tin vua Ba Tư Nặc giết chết 32 người con
của bà Tỳ Xà Ly, nay có người họ hàng bên ngoại đem quân
tới báo thù, liền bạch Phật rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn! Vì cớ gì mà 32 người con kia bị giết một
cách đau đớn đến thế?
Phật
nói:
- Ai
muốn nghe nhân duyên 32 người con Tỳ Xá Ly bị chết thì lặng
yên mà nghe rồi ghi nớ lấy:
Ngài
A Nan và mọi người đều bạch với Phật:
- Chúng
con đều muốn nghe, xin Phật dạy bảo cho.
Ðức
Phật bảo Ngài A Nan và tất cả đại chúng:
- Về
đời trước kia, cách đây đã lâu lắm, có một bọn 32 người
kết bạn với nhau, đi ăn trộm một con bò. Bấy giờ tại
địa phương ấy có một bà già, con cái không có, bị nghèo
túng, ở trong một cái nhà ở vùng hẻo lánh. Khi bọn kia bắt
được bò thì dẫn tới nhà bà lão ấy làm thịt, bà lấy
làm mừng rỡ lắm, bà liền đi sắm sửa củi nước, chuẩn
bị các thứ thổi nấu.
Lúc
sắp giết thì con bò quỳ xuống tỏ ý cầu cứu xin tha mạng.
Nhưng các người kia đã quyết định giết, nên đồng bảo:
“Không thể nào mà tha cho mi được!”.
Khi
con bò bị giết, trong bụng phát lời thề: “Nay chúng mi giết
ta, sau này ta sẽ không tha cho chúng mi, dù chúng mi có đắc
đạo ta cũng không tha”. Phát lời thề xong thì bị giết,
mọi người xúm lại cắt xẻo đem nấu nướng ăn uống cùng
nhau, cả bà lão kia cũng ăn, vừa ăn vừa khen vừa cám ơn
các người kia là quý hóa.
Ðấy,
chính con bò kia ngày nay là Vua Ba Tư Nặc. Lũ ăn trộm bò ấy
bây giờ là 32 người con bà Tỳ Xá Ly. Bà lão thưở trước
nay là bà Tỳ Xá Ly. Vì quả báo ấy, mà đã 500 đời nay thường
bị giết như thế. Cho tới ngày nay cũng vậy, bà lão kia vì
trong 500 đời cũng lại thường làm mẹ để đồng chịu những
sự khổ não. Nay được gặp ta mới chứng được đạo quả,
nên mới đỡ đau khổ một phần nào, vì đã hiểu đạo.
Ngài
A Nan lại hỏi ví cớ gì những người này lại được hưởng
phúc giàu sang mạnh khỏe? Phật nói:
- Cũng
về đời đã qua, trong thời Ðức Phật Ca Diếp có một bà
lão tin kính Tam Bảo nhà bà rất giàu có, bà mua đủ thứ
hương hoa để cúng dường và bà rất chăm việc làm phúc
đức cứu giúp những người cùng khổ. Có một hôm, bà làm
các việc phước thiện, đi gặp một lủ 32 người bà khuyên
các người kia giúp vào để hưởng phước cùng nhau. Chúng
ta sẽ nguyện cùng nhau sanh vào nhà giàu, mà thường được
làm mẹ con với nhau, và được gặp Phật nghe pháp tu để
tu thành Ðạo quả. Vì thế nên trong 500 đời nay vẫn được
sanh làm người giàu sang khỏe mạnh.
Bà
lão lúc bấy giờ nay là Tỳ Xá Ly, còn 32 người kia, ngày
nay là lũ con của bà bây giờ đấy.
Khi
tất cả mọi người nghe Phật nói như thế rồi, những người
có lòng phẫn uất đều nguôi hết giận, mà nói với nhau
rằng:
- Không
phải là vua cố ý giết, đấy là vì kiếp trước những người
kia đã tạo ra tội, nên nay phải chịu quả báo. Giết một
con bò mà còn bị quả báo như thế. Vậy Vua Ba Tư Nặc là
chủ của chúng ta, sao ta nỡ giết hại để gây thành tội
báo. Lập tức thu khí giới nộp cho vua và xin lỗi, vua hoan
hỷ không chấp những lỗi ấy.
Tất
cả đại chúng được nghe Phật nói các Pháp dạy tu nhân
tích đức, xa lìa các sự tàn ác. Phật lại nói rõ các pháp
Tứ Ðế cho mọi người nghe, ai nấy đều đắc đạo, vui
mừng theo lời Phật dạy mà tu hành.
TRÍ
HẢI
Tạo
một nghiệp nhân gì, dù lâu đến trăm ngàn kiếp cũng không
mất, hễ đủ nhân duyên rồi, thì mình phải chịu quả báo.