Phần
12
56/
Lòng kiên nhẫn
57/
Phóng rộng tình thương
58/
Mèo dạy con
59/
Ấm trà phúc đức
60/
Ngày gặp phụ vương
Lòng
kiên nhẫn
Thuở
xưa, Ðức Bồ Tát đầu thai là con một vị thương gia rất
giàu có tại nước Ka Ci. Khi lớn lên Ngài dọn 500 cỗ xe đi
buôn.
Một
ngày kia đến ranh giới một bãi sa mạc rộng lớn, cát nơi
đó nhỏ li ti và hầm nóng như lửa đốt. Ðức Bồ Tát thuê
một người dẫn đường và sắm sửa lương thực, nước
uống chờ trời tối mới tiếp tục cuộc hành trình. Ðêm
đi ngày nghỉ vì sự nóng bức vô cùng khó chịu.
Khi
đi được 58 dặm, Ðức Bồ Tát nghĩ rằng: “Chỉ còn nốt
một đêm mình sẽ ra khỏi sa mạc”. Nhưng chẳng may người
hướng đạo ngồi cỗ xe đầu, vì mệt mỏi ngủ quên đi
và để mấy con bò quay trở lại đường cũ. Tới hừng đông,
người hướng đạo thức giấc cả sợ hô to ra lệnh cho đoàn
xe ngừng lại. Khi mọi người bước xuống mới nhận ra mình
đã trở về chốn hôm qua khởi hành. Tất cả ai nấy đều
kinh hãi vì củi đốt và nước uống đã hết sạch. Lòng
buồn rầu họ lên xe nằm với bộ mặt thoái chí, thất vọng.
Ðức Bồ Tát thầm nghĩ: “Nếu ta không bền chí, kiên nhẫn
thì sẽ chết cả đám”. Nghĩ rồi, Ngài gọi vài ba người
cùng lần mà đi tìm xem có ao giếng hoặc lạch nước nào
gần đó chăng? Ði được khoảng xa, Ngài gặp một đám cỏ,
Ngài bèn nói: “Ðám cỏ này nhờ nước mới sống, vậy các
ngươi hãy mang cuốc xuống lại đào chắc sẽ có nước uống”.
Khi
đào xuống 60 thước, một thì đụng một cục đá rất lớn,
mọi người đều ngã lòng bỏ đi. Nhưng Ðức Bồ Tát vẫn
tin tưởng dưới cục đá này là lạch nước. Ngài bước
xuống giúp đào và kề tai trên cục đá lắng nghe tiếng róc
rách chảy. Ngài trở về kêu người đầy tớ tâm phúc tới
và nói:
- Này
em, em hãy xách cái búa lớn ráng đập cho bể cục đá đừng
ngã lòng. Nếu em không kiên nhẫn thì mọi người chúng ta
đều chết khát cả.
Người
đầy tớ vâng lời cố sức đập tan mảnh đá rồi trở lên.
Một lát sau, bỗng nước ở dưới trào lên tới miệng giếng.
Cả thảy đều mừng rỡ tắm rửa, múc nước nấu ăn và
tích trữ đổ vào lu, bình để chờ tối qua sa mạc.
Nhờ
ở sự bền chí đó mà cả đoàn người đã thoát nạn qua
biển cát khô khan, nóng bức.
Y HÀ
Người
tu hành cũng giống như người ra chiến trường sau khi mặc
áo giáp ra trận, có thể vì hèn nhát mà bỏ trốn đi, có
thể chết tại chiến địa, có thể thắng trận trở về
rất vinh quang.
Kẻ
sa môn học đạo hãy cố gắng bền tâm, hăng hái chống với
hoàn cảnh xấu xa, mới mong thành đạo được.
Phóng
rộng tình thương
Thời xưa…
Ở
kinh thành Xá Vệ, có gia đình một người phú trưởng giả
thừa hưởng cái gia tài lớn của ông cha, nên hai vợ chồng
sống cuộc đời sang trọng. Bao nhiêu vật quý mà người
đời có thể có, ông đều đã sắm được để trang hoàng
nhà cửa của mình. Những chậu sứ nước Tàu, những
tấm gương thủy tinh Ai Cập… Duy chỉ có một điều mà ông
phú trưởng giả đã lâu mơ ước chưa thành. Ðó là sự ao
ước về con cái. Và mãi mười năm sau khi lấy nhau, vợ chồng
ông mới sinh được một người con gái. Ông cũng khuây khỏa
đôi chút về sự muộn màng này, vì người con gái càng lớn
lên, càng xinh đẹp. Tất cả sự lo lắng của gia đình ông
đều hướng về nàng. Nàng thích hoa, thế là bốn con nữ
tỳ sáng ngày chia bốn hướng đề tìm những chiếc hoa hồng
tươi đẹp, những chùm hoa huệ, hoa lan thơm ngát nhất. Nàng
thích áo đẹp, thế là ngày hôm sau, những tay thợ khéo được
mời đến để cắt cho nàng chiếc áo xinh xắn bằng thứ
hàng đắt tiền. Và mặc dầu sau này vợ chồng có thêm một
rồi hai con trai, không khi nào ông để con gái ông chạm tay
đến cái thùng vắt sữa bò buổi sáng, nắm lấy đầu kim
mũi chỉ, sợ sắc đẹp của nàng vì những công việc nặng
nhọc mà suy suyển đi.
Trong
hoàn cảnh ấy, người con gái lớn lên xinh đẹp, ông phú
trưởng giả chọn mặt gởi vàng, kén chọn một nơi giàu
sang quyền quý. Trong số nhiều người đến hỏi, có một
thanh niên thế phiệt được ông chú ý. Chàng là cháu họ
nhà vua. Cha chàng trước là một quan lớn trong triều,
danh vọng lớn lao và tiền của bộn bề. Cách đây một năm
cha chàng chết và cũng trong năm đó mẹ chàng đau khổ, héo
hắt đi rồi vĩnh biệt chàng. Ngưuời thanh biên bây giờ làm
chủ cái gia tài và tha hồ ăn chơi phóng túng. Ðó là những
chi tiết quan trọng được nơi vừa lòng. Con gái ông sẽ được
nuông chiều, không một người nào khác có thể sai bảo, làm
nhọc nhằn thân con ông. Vào cửa giàu sang, con ông không phải
lo vất vả lo miếng cơm manh áo như bao nhiêu người đàn bà
khác. Còn việc ăn chơi phóng túng thì không lo ngại mấy,
vì ông cho đó là do sự buồn bực của hai lần tang chế,
với lại chuyện ăn chơi của đàn ông còn do ở người đàn
bà trong gia đình. Ông tin rằng con gái ông duyên dáng,
xinh đẹp, nhất định sẽ giữ được chàng ở mãi trong nhà.
Lễ
cưới được cử hành rất trọng thể. Người thanh niên đã
bỏ ra một số tiền khá lớn để làm tiệc thiết đãi thân
thuộc bạn bè. Ông phú trưởng giả cũng linh đình tổ chức
ăn uống để tỏ ra ông không sút kém gì nhà trai và để
vui lòng con gái.
Hai
vợ chồng son trẻ rất thương yêu nhau từ sau ngày cưới,
đúng theo dự đoán của ông trưởng giả, chàng quanh
quẩn ở nhà. Chàng thuê thêm nhiều nữ tỳ để lo việc cơm
nước, hầu hạ người yêu. Chàng bảo trồng thêm nhiều thứ
hoa lạ trong vườn, đóng lại cỗ xe ngựa mới để dạo chơi
buổi chiều.
Ngày
tháng trôi đi, những thú vui say sưa ban đầu đã bắt đầu
nhạt dần. Con người đi tìm cái ham thích vật chất không
bao giờ thỏa mãn, và không thể nào thỏa mãn được, rồi
người thanh niên đi lại đường mòn cũ. Bạn bè trở đến
đông đảo như xưa. Những cuộc ăn uống say sưa đến dần,
những câu chuyện ly kỳ, khoe khoang tang bốc nhau tuôn ra càng
nhiều, khi hơi rượu càng phừng phừng trong những khối óc.
Cứ như thế mà tiền của trôi dần. Ðã nhiều lần chàng
vắng nhà hai ba hôm, rồi hằng tuần. Lúc trở về, tiền túi
hết sạch. Vợ chàng ở nhà tìm cách khuyên can, nhưng nàng
lại thiếu lời lẽ không ngoan. Nàng được tấm lòng chân
thành yêu mến chồng, nên chàng những lúc ở nhà, vẫn tỏ
ra thương vợ nhiều lắm.
Ngồi
không mà ăn thì núi cũng phải vỡ, huống hồ đây chàng phung
phí không kể. Sự sa sút đến rất gấp. Và hết thóc, bồ
câu bay đi chỗ khác.
Lúc
này người chồng bắt đầu thấy rõ cuộc đời thì đã muộn.
Không nỡ để cho gia đình chịu khổ nhục kém sút thiên hạ,
nên hai vợ chồng vẫn giữ nguyên những người giúp việc
trong nhà, cũng có nữ tỳ mang nước buổi sáng, cũng có người
làm cơm sẵn sàng. Và như thế vợ chồng sẽ xoay tiền của
cha mình, lần đầu nàng xin với cha để mua ruộng đất. Mừng
cho con, ông phú trưởng giả cho một số tiền lớn. Nhưng
với cái cốt cách rậm đám của một gia đình thế phiệt,
tiền ấy chẳng thấm vào đâu. Rồi nàng lại về xin cha,
một lần rằng để thêm vốn cho chồng đi bán một chuyến
xa, một lần để sắm sửa nữ trang và một lần nữa thì…
không còn cách nào dối quanh nữa, nàng đã khóc lóc thú thật
với cha cái tình cảnh sa sút của gia đình do chồng nàng ăn
chơi phóng túng gây nên. Thì ra tiền ông giúp đỡ bấy lâu
nay là thằng ăn hại ấy phá hết cả. Càng nghĩ bau nhiêu,
ông càng giận rể bấy nhiêu. Nhưng thương con gái ông không
biết cách nào khác là cho con lần nữa để mong xoay sở mà
lo liệu. Và số tiền lần này, cố nhiên là không bì được
các lần khác. Trước khi nàng ra về, ông không quên nhắc
rằng ông không muốn thấy con ông trở về với mục đích
như thế này nữa. Vả lại ông còn đâu nghĩ tới con gái
ông nhiều bằng hai con trai ông.
Ðối
với anh chàng thế phiệt, cái hành động xin tiền cha mẹ
vợ thật khó xem quá. Nhưng anh chàng lại cho dễ chịu hơn
cái cảnh bán đồ đạc trong nhà, tự bỏ cái xe ngựa để
đi chân. Trời ơi! Như thế thì còn ai coi mình ra gì nữa.
Cho nên người vợ lại phải sang nhà xin tiền cha lần nữa.
Lần
này, cha nàng giận dữ chàng rể ông lắm. Ông không muốn
thấy con gái ông làm một việc như thế, ông không muốn thấy
con gái ông thong thả từ nhỏ chí lớn, bây giờ phải sống
lo lắng chật vật. Ông thầm tính với vợ đem con gả cho
một người khác. Chuyện ấy lọt vào tai nàng.
Lúc
trở về, sau bữa cơm chiều, nàng thuật lại cho chàng về
điều khá quan trọng đã nghe được, để hỏi chồng
cách đối phó. Chồng nàng nheo mày lại, một cách ghê gớm
không nói một lời, anh chàng cảm thấy đau xót, hơn cả những
phút lâm chung của cha mẹ anh ta. Không có một cái gì tồn
tại nữa chung quanh anh ta. Anh ta ghiến chặt hàm răng.
Nàng
ngồi yên lặng. Sau một lúc lâu, chàng ta tươi tỉnh lại.
Chàng đến bên vợ âu yếm và khuyên vợ cứ yên lòng.
Sáng
hôm sau, chàng sai bảo đầy tớ quét dọn nhà cửa sạch sẽ,
sắm sửa bữa ăn thật ngon như để thiết đãi một vị khách
quí nào sắp đến. Vợ chàng cũng ngạc nhiên, vì từ lâu
nay ít khách khứa ra vào đây nữa. Rồi đến trưa, nàng chờ
mãi cũng không thấy ai đến. Bữa cơm hôm ấy, chàng vui vẻ
gắp đồ ăn bỏ vào chén vợ và nói chuyện say sưa như bữa
cơm riêng đầu tiên giữa hai vợ chồng.
Sau
đó anh chàng gọi vợ vào buồng đóng chặt cửa lại, người
ta nghe tiếng một người đàn bà hét lên kinh hãi rồi tiếng
thây người ngã xuống, và tiếng giẫy giụa, tiếp theo là
một tiếng đổ ngã khác.
Khi
bọn gia nhân phá cửa chạy vào thì một cảnh tượng ghê
rợn diễn ra: hai xác thân nằm sóng sượt, thân người đàn
bà dồn vào góc phòng, thân người đàn ông nằm giữa phòng
trong tay nắm chặt con dao sáng bén vấy máu. Máu thấm từng
vệt sậm trên áo, máu lai láng trên sàn nhà, đôi vũng đã
đen lại, chỉ trong chốc lát, hai sinh mạng đã kết thúc,
sau một kiếp đời ngắn ngủi chạy đi tìm thú vui.
Người
ta báo cho ông phú trưởng giả biết tin sét đánh ấy, và
theo phép nước thì ông phú trưởng phải tù tội. Hai tin dữ
ấy đến một lúc làm ông chết ngất đi. Ông đau đớn lắm,
tù tội cũng không đau đớn cho ông bằng mất đứa con gái
thân mến, vợ ông khuyện giải nhiều lần nhưng không làm
cho ông khuây khỏa chút nào. Ông chửi rủa rể ông, chửi
rủa bọn giai nhân bất tài không ngăn cản được tai họa,
ông trách trời đất, trách số mạng khắt khe đối với ông.
Rồi nhiều lần ông rối loạn, ông lang thang đi tìm người
hỏi duyên cớ. Tình cờ một hôm ông gặp được Ðức Phật.
Lâu nay ông cũng nghe nói đến nhiều lấn đến sự hiểu biết
vô lượng của Ðức Phật. Nhưng ông không để ý tới. Bây
giờ, thấy Phật vừng trán cao, đôi mắt nhìn xa xăm và huyền
diệu lòng ông tự nhiên trở lại yên tỉnh.
Ðức
Phật bảo ông bình tĩnh thuật lại đầu đuôi. Sự việc
lần lần hiện ra trở lại trong trí ông. Ông nhớ lại từ
lúc cằn nhằn con gái ông đến lúc ông dự định gả con
gái ông cho người khác. Kể xong ông lặng thinh và cúi mặt
xuống đất. Ðức Phật giảng giải cho ông rõ nguyên do sự
việc và kết luận. Ngài nhấn mạnh từ tiếng trong lúc những
vết nhăn trên mặt ông phú trưởng giả dãn lần, dãn lần
ra.
“Ðời
khổ chỉ vì người ta hướng lòng mình vào một chỗ. Phóng
rộng tình thương yêu tất cả mọi người thì cuộc đời
làm chỉ có cảnh tự sát và sát hại lẫn nhau”.
QUẢNG
HUỆ
Người
ta khổ vì cho không phải cách
yêu
sai duyên và mến chẳng nhằm người.
Mèo
dạy con
Xưa
có một con mèo, sinh ra các con mèo con, ngày đêm chăm lo nuôi
nấng, dần dần mèo con lớn lên, nó hỏi mẹ nó rằng:
- Mẹ
ơi! Sau khi thôi bú sữa mẹ, thì con ăn bằng thức ăn gì?
Xin Mẹ bảo con.
Mèo
mẹ đáp:
- Ðã có người ta sẽ bảo con.
Một hôm, mèo con lân la sang nhà hàng xóm, lẻn vào sau cái
chum trong góc nhà chợt có người trông thấy, người ấy bảo
cho tất cả mọi người khác rằng:
- Trong nhà có mèo đấy, vậy có những niêu thịt cá gì phải
đậy cho kỹ, còn gà con thì phải cất cho cao, cẩn thận kẻo
mèo nó ăn đấy!
Mèo
con nấp ở trong nghe rõ mồn một trong bụng biết là các thức
ăn ấy là món ăn chính của mình.
Ðây
là một tỷ dụ cũng như Phật hết lòng thương chúng sanh,
dạy bảo cho chúng sanh, biết rõ nhân quả tội phước, báo
ứng phân minh không sai một chút.
Nhưng
có khi chúng sanh vì mê chấp những lý sai lầm khác, nên không
chịu tin giáo lý của Phật dạy, thì khi nào gặp phải những
trường hợp, những cơ hội được báo ứng rõ ràng mới
biết lời Phật dạy là đúng. Ðại khái như không tin làm
ác là phải tội, sanh ra phóng túng làm càn, tới khi tội mới
biết rõ, làm thiện cũng thế.
Lại
như cha mẹ dạy con, muốn cho con tránh những điều độc ác
tội lỗi, nhưng dù hết lòng nói kỹ đến đâu, người con
vẫn không hiểu hết, nên phải tuỳ tiện đến đâu dạy
lần đến đấy. Tức là phải dạy bằng cách thực hành,
chứ không căn cứ cả vào lý thuyết mà đã đủ.
Trí
Hải
Nuôi
con chả dạy chả răn.
Thà
rằng nuôi lợn cho ăn lấy tiền.
Ấm
trà phúc đức
Tương
truyền 500 năm về trước, tại huyện Mỹ Nùng có một vị
tu hành đức hạnh tên là Chánh Thông pháp sư, nhân muốn lập
một tòa tùng lâm tại nơi này, đã đặt chân khắp nơi để
tìm địa điểm mà vẫn chưa tìm thấy.
Có
một đêm, pháp sư ra suối tắm, khi trở về qua khu rừng,
dưới ánh trăng trong vằng vặc, bỗng nghe có tiếng nho nhỏ
gọi:
- Lão
Pháp sư! Lão Pháp sư!
Người
dừng bước trông chung quanh không thấy một bóng ai cả, trong
lòng lấy làm kỳ quái tưởng là mình nghe lầm nên cứ thản
nhiên tiến về thảo am. Nhưng vừa đi được vài bước, lại
nghe có tiếng gọi:
- Pháp
sư! Lão Pháp sư!
Chánh
Thông pháp sư liền theo hướng tiếng gọi phát lên mà tìm
đến coi thử thì thấy trong đám cỏ dại um tùm trước hoang
viện, hiện ra một người giống hệt dáng hồ ly, chắp tay
vái pháp sư.
Pháp
sư hoan hỷ hỏi:
- Thế
ra nhà ngươi gọi ta?
- Dạ
đúng! Người đó trả lời.
- Vậy
ngươi có chuyện gì muốn nói cùng ta Pháp sư hỏi. Người
đó chớp chớp đôi mắt nói :
- Có
phải lão Pháp sư định tìm một địa điểm để xây dựng
tu viện?
- Làm
sao ngươi lại biết?
- Dạ,
con là người ở xứ này, có biết một chỗ rất thích hợp
cho việc kiến trúc tu viện. Nếu Pháp sư bằng lòng con xin
đưa Pháp sư đi coi.
Pháp
sư nở một nụ cười sung sướng:
- Nguyên
lai như thế. Vậy địa điểm ở nơi nào, xin ngươi đưa ta
coi một phen!
Thế
là hai bóng đen, ngay trong đêm đó, một trước một sau, thoăn
thoắt băng rừng lội về nẻo Châu Quán Lâm, ở đây có một
khu rừng rộng lớn, cây cối u nhàn, cảnh sắc tuyệt đẹp.
Chánh Thông pháp sư rất lấy làm mãn ý quyết định lập
một tòa Tùng Lâm tại chốn rừng này, lấy tên là Mậu Lâm
Tự.
Sau
khi thành lập ngôi chùa Mậu Lâm rồi, người khách chỉ đường
ấy lại đến nói với Chánh Thông pháp sư:
- Con
hy vọng được ở chốn này với Pháp sư để tu học Phật,
vậy xin lão Pháp sư mở lòng từ bi thu làm đệ tử, phỏng
có được không?
Lẽ
dĩ nhiên là Chánh Thông pháp sư gật đầu ưng ngay và đặt
tên người đó là Thủ Hạc. Từ đó, Thủ Hạc ngày ngày
quét chùa, lên hương, tụng kinh, thổi cơm, sớm hôm chăm chỉ
thật là tinh tiến.
Quang
âm thấm thoát trôi mau. Chánh Thông pháp sư cũng viên tịch,
kế đến vị Hoà Thượng thứ hai, thứ ba… vị nào cũng
là bậc cao tăng đại đức kế tiếp trụ trì chùa này, tới
vị thứ sáu lên Niết bàn thì Nguyệt Chu pháp sư thay thế
là vị thứ bảy mà Thủ Hạc vẫn thường thọ và mạnh khỏe
như xưa tưởng chừng sống mãi không chết. Thủ Hạc đối
với bảy vị Hòa Thượng, thủy chung vẫn tỏ rất trung thực,
thành kính một lòng, không hề xao lãng một phút những việc
quét tước chùa, lên hương, tụng kinh, thổi nấu ăn, nhất
là đối với khách thập phương cùng dân làng chung quanh, Thủ
Hạc thường thường hết lòng giúp đỡ những việc khốn
khó.
Năm
đó vào năm Phật lịch 2113 pháp sư Nguyệt Chu sửa soạn cử
hành một đại quy mô pháp hội tại Mậu Lâm Tự, dự ước
tín đồ thập phương lại nghe giảng có tới ba, bốn ngàn
người, và lúc này tiết trời về tháng hạ, tất nhiên phải
lo vấn đề về nước uống cho chu toàn. Pháp sư bù đầu
suy nghĩ chưa tìm đâu ra được chiếc ấm trà nào to, dung
lượng có thể thỏa mãn nước uống cho bấy nhiêu người.
Thủ
Hạc nhìn thấu tình hình ấy liền nói với Nguyệt Chu pháp
sư:
- Thưa
Pháp sư! Ấm đựng trà trong chùa chỉ có thể đủ 50 người
uống thôi. Ngày mai có thể tới mấy ngàn người thì
làm thế nào?
- Ðúng,
đúng! Ngày mai nhất định có nhiều người mà ta chưa chuẩn
bị được đủ số ấm đựng nước… (Pháp sư thở dài
tiếp) không biết tính sao đây???
- Nếu
vậy con xin đến xứ Giang Hộ, mượn một chiếc ấm trà thật
lớn về đây, sư phụ tính sao?
- Ðến
xứ Giang Hộ, cha chả! Ðường xa mấy ngàn dặm, làm sao mà
tới được trong một đêm? Vả chăng, dù có đi tới xứ Giang
Hộ đi nữa, chắc gì đã mang được ấm trà về?
- Xin
pháp sư phóng tâm! Nhất định con mang về được. Bây giờ
còn sớm con xin đi ngay, kẻo muộn không kịp.
Thủ
Hạc nói xong, mặc giầy cỏ vào chân, thoắt một cái đã
bước ra khỏi chùa. Còn pháp sư trong lòng vẩn vơ nghĩ, nếu
Thủ Hạc có mượn được ấm cũng chẳng thể đem về kịp
ngày mai…
Sớm
hơm sau, Nguyệt Chu pháp sư còn đang tọa thiền trong phòng
bỗng cánh cửa phòng hé mở, thấy Thủ Hạc đã chắp tay
bạch:
- Bạch
Pháp sư, con đã về.
Pháp
sư trông qua song cửa ra ngoài hiên thấy chiếc ấm to lớn
để thù lù ngăn cả lối đi thì kinh ngạc chưa kịp hỏi,
bỗng Thủ Hạc đã trỏ ấm trà cười bảo:
- Có
chiếc ấm này rồi, tất không còn sợ nhiều khách hay ít
khách nữa.
Nguyệt
Chu pháp sư tấm tắc khen ngợi Thủ Hạc:
- Thật
là chiếc ấm khổng lồ, to quá! to quá!
- Chắc
vác về vất vả lắm đấy!
Thủ
Hạc đem ấm trà xuống phòng, đổ nước vào đun sôi thì
lạ thay trong ấm bốc ra một hương thơm lạ lùng, ai uống
vào cũng thấy nhẹ nhàng, dễ chịu, mà chẳng còn nóng nực
chút nào. Nhân thế, người người xúm lại xin nước uống
lấy uống để:
- Cho
tôi một chén!
- Tôi…
tôi… một chén nữa!
Thực
ra, Thủ Hạc đem chiếc ấm trà này về chẳng khác gì đem
về một ngọn suối, cứ việc đậy chặt nắp lại là nước
tuôn ra bất tuyệt, dùng bao nhiêu cũng không hết và uống
xong là hết khát liền. Các người thấy lạ, thì cho là chuyện
hết sức huyền bí liền hỏi Thủ Hạc:
- Thủ
Hạc sư phó! Ấm trà này thật là kỳ diệu, tại sao lại
được như thế, hử sư phó?
Thủ
Hạc nở nụ cười vui sướng nói với quần chúng:
- Ấm
trà này gọi là Phúc Ðức Hồ, trong có tám món công đức
nên khi uống vào thấy:
1/
Không sanh bệnh.
2/
Thêm sức
3/
Không sợ sệt.
4/
Sanh trí tuệ.
5/
Có nhân duyên.
6/
Ðược người tôn kính.
7/
Trừ tai nạn; và sau hết.
8/
Ðược trường thọ. Nhân có công đức như vậy Phật tử
nên uống nữa đi! Uống nhiều càng tốt.
Sau
khi pháp hội viên mãn, chiếc ấm trà này trở nên một vật
trân bảo của chùa Mậu Lâm.
Thủ
Hạc với một tuổi thọ phi thường dài lâu, ông còn sống
tới vị trụ trì thứ 10, là pháp sư Thiên Nam, mà thân thể
vẫn tráng kiện như còn trẻ. Tất cả người trong vùng ai
cũng tỏ vẻ cung kính ông. Nhất là bàn đến chiếc ấm Phúc
Ðức Lồ, tức ấm trà không ai là không ngớt tán tưởng
và nổi lên nghị luận xôn xao.
- Thủ
Hạc sư phó chẳng phải là người tầm thường phổ thông
như ai!
- Ðúng,
đúng! Nếu không giỏi thì sao một mình mang nổi chiếc ấm
to như thế?
- Theo
ý tôi, sống tới hơn 100 năm không chết mà còn mạnh khỏe
như thế, tất nhiên là hồ ly…
*
Tới
năm Phật lịch thứ 2130, ngày 28 tháng 2, một buổi nọ trời
xuân ấm áp, trăm hoa đua nở, con hoàng oanh trong bụi cất
tiếng hót líu lo làm thức tỉnh cảnh u tĩnh của chùa Mậu
Lâm. Thủ Hạc ngồi tắm ánh dương quang ở hành lang chùa,
trong lòng cảm thấy khoan khoái êm đềm, bất giác ngủ đi
lúc nào không biết. Vừa lúc đó, có một vị Sa di đi tới,
bỗng hoảng nhiên trông thấy một chú cáo già đang ngon giấc,
phát lên tiếng ngái khò khò, thì thất kinh tán đảm kêu lên:
- Hồ
ly! Hồ ly!...
Thủ
Hạc bị Sa di làm kinh động liền tỉnh dậy chưa kịp thu
hình thì tứ phía đã xúm lại đông nghịt cùng xỉa xói xỉ
vả:
- Bây
giờ mới rơi mặt nạ nhé! Thì ra mi là một con hồ ly! Cứ
tưởng mi lại đây nương nhờ Chánh Thông pháp sư giáo huấn
tu hành học Phật để thoát cái nghiệp chướng súc sinh nào
ngờ ngày nay hồ lại hoàn hồ!!! Thôi nhé! Từ nay trở đi
biết đường biết nẻo thì cút, nghe chưa!
Tiếng
lao xao vang đến tai Pháp sư trụ trì. Người liền ra
tận nơi, Thủ Hạc thấy Pháp sư liền cung kính bạch:
- Bạch
Pháp sư cùng chư đồng đạo! Ðã từ lâu, tôi được ơn
dày chiếu cố, thật cảm kích bội phần. Nay vì báo đáp
từ ân đem lực thần thông ra diễn một đoạn việc xưa,
vậy toàn thể hãy nhìn vào phía rừng rậm kia.
Mọi
người nghe xong liền trông thẳng vào rừng, thấy hiện ra
một cảnh giới trang nghiêm không đâu sánh kịp, trong đó
có hình ảnh Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni trên núi Linh Thứu
đang thuyết pháp, tại tọa có tới 1250 cao cấp đệ tử và
mấy nghìn vạn Thiên Long Bát Bộ, ai cũng tâm niệm niệm nghe
Phật thuyết pháp. Mọi người thấy thế đều kinh lạ phép
Phật thì cùng thụp lạy.
Thủ
Hạc đợi mọi người ngẩng đầu lên, liền cất tiếng từ
biệt:
- Giờ
đây, tôi xin từ biệt quý vị. Chiếc ấm trà Phúc Ðức Lồ
lưu lại chùa này để làm kỷ niệm, dám xin quí vị bảo
vệ cho! Thôi, xin chào quí vị ở lại!
Nói
xong, Thủ Hạc lao thân như chớp vào rừng biến mất.
PHẠM
NGỌC KHU
Tuy
mang xác thân cầm thú mà tư tưởng đầy lòng từ bi, vị
tha… Ðó tức là người… Trái lại, hình hài là người
mà tâm địa đầy dẫy lòng ích kỷ, tham lam độc ác, dã
man vô nhân đạo, kẻ ấy đã là thú.
Ngày
gặp phụ vương
Sau
khi gặp Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo, Ngài thuyết
pháp ở vườn Lộc Uyển xong, lần lần đi truyền giáo các
nơi, rồi thuận đường hành hóa Ðức Phật đến nước Ca
Tỳ La Vệ.
Ðược
tin trước, vua Tịnh Phạn cảm mừng vô hạn, rồi tất cả
Hoàng gia cũng như toàn dân Ấn Ðộ đều sửa soạn rước
Phật trong niềm hân hoan đặc biệt.
Từ
khi vượt thành xuất gia, cho đến ngày thành đạo, thấm thoát
hơn hai mươi năm, hôm nay Ngài trở về, với một tấm cà
sa, một bình bát đất, Ðức Phật khoan thai để chân lên
đất nước thân yêu. Ðức độ từ bi của Phật cảm thông
cả ngọn cỏ ngàn cây, nên Ngài đặt chân đến đâu thì
hoa lá tươi thêm cây cối xanh tốt. Còn từng rừng người,
từng loạt sóng người đã nấc lên vì cảm động trong lúc
người đi ngang qua.
Thế
là chiều hôm đó, vua Tịnh Phạn thỉnh Phật thuyết pháp
tại Hoàng cung. Ngài ngự trên pháp tọa cao, dung nghi đĩnh
đạc, hào quang của Phật chiếu tỏa một màu sáng dịu.
Khi
ấy vua Tịnh Phạn liền đứng dậy đến trước Phật đảnh
lễ rồi bạch:
- Kính
cẩn bạch đấng Vô Thượng Sư! Tôi nay già cả xin Ngài chỉ
cho một phương pháp tu hành để được giải thoát các khổ
lão, bệnh, tử.
Ðức
Phật bùi ngùi khi thấy Phụ Hoàng đầu bạc da nhăn, chân
bước run run. Than ôi, tất cả khí tượng hiên ngang của vị
Ðế vương oanh liệt lúc thiếu thời, nay còn đâu nữa. Thế
Tôn thương xót, Ngài đứng dậy đỡ Phụ hoàng ngồi xuống
và ôn tồn bảo:
- Kính
tâu Phụ hoàng, từ khi Tất Ðạt Ða xuất gia cho tới ngày
thành đạo, trên đường truyền giáo Pháp đệ A Nan thường
bị ngoại đạo phỉ báng: “Thầy ngươi bất hiếu,
bạc tình, chúng ta không phục”.
- Kính
tâu Phụ hoàng, ngoại đạo vô tri chỉ thấy cái hiếu tầm
thường cạn cợt, không biết Như Lai quyết đi tìm một món
quà vô giá để dâng Phụ hoàng và ban khắp chúng sanh, mà
Da Du cũng có một phần trong đó. Món quà vô giá chính là
câu Phụ hoàng hỏi đấy.
- Kính
tâu Phụ hoàng! Tất cả các pháp đều vô thường, công danh
như bọt, tình ái như mây, tuổi trẻ qua mau như làn điện
chớp, thế mà chúng sanh chỉ bám víu theo các pháp vô thường,
mà quên cái thường còn của mình là “Phật tánh”.
Tâu Phụ hoàng, chúng sanh đều có Phật tánh, nên ai cũng có
thể phát triển khả năng thành Phật cả. Nhưng những phương
pháp để phát triển khả năng thành Phật có nhiều lối,
song chỉ có Pháp môn niệm Phật là thuận tiện và dễ dàng
hơn hết. Như Lai khi thành Chánh giác đã dùng Phật nhãn
xem khắp thế giới trong mười phương, thì chỉ có thế giới
“Cực Lạc” là an vui hơn cả. Ðấng Chánh biến tri ở nước
Cực Lạc hiệu là A Di Ðà từ kiếp xa xưa, trong lúc tu nhân
Ngài đả phát 48 lời nguyện, trong ấy có lời nguyện: “Nếu
chúng sanh trong tất cả mười phương, người nào phát tâm
tin tưởng, phát chí tâm niệm danh hiệu ta, người ấy khi
lâm chung chắc chắn được vãng sanh, nếu không như nguyện
ta thề không thành Chánh giác”.
Tâu
Phụ hoàng! “Cực Lạc” là một thế giới an vui, chúng sanh
về bên ấy chẳng những không còn bị khổ: già, bệnh, chết,
oán tắng hội, ái biệt ly, cầu bất đắc… mà cũng không
bao giờ thấy khổ, nghe khổ. Cõi nước thanh tịnh đầy đủ
trợ duyên để chúng sanh tu hành chóng được thành tựu đạo
quả.
Kính
tâu Phụ hoàng! Thập phương Như Lai tu hạnh thành Phật, nói
lời đúng đắn lợi ích chúng sanh. Vậy Phụ hoàng và tất
cả Thích chủng nên tin tưởng, thật hành Pháp môn niệm Phật,
thì chắc chắn sẽ được thoát các khổ: sanh, lão, bệnh,
tử…
Khi
vua Tịnh Phạn, Di mẫu và Da Du Ðà La cùng tất cả Thích chủng
được nghe pháp âm của Phật đều phát tín tâm mạnh mẽ,
liền chứng “Vô sanh pháp nhẫn”.
Thế
Tôn mỉm cười thuyết bài kệ:
“Thích
chủng có trí tuệ, nghe pháp của Như Lai phát tâm chuyên niệm
Phật, người ấy khi mạng chung, quyết sanh về Cực Lạc,
được thấy Phật A Di Ðà, Quan Âm cùng Thế Chí, chắc chắn
thành Bồ Ðề”.
Thích
nữ CÁT TƯỜNG
Cung
phụng cha mẹ sung sướng một đời chưa gọi là hiếu, làm
cho cha mẹ đời đời an vui mới là chí hiếu.