Phần
11
51/
Phận đẹp duyên may
52/
Câu chuyện Phật nhận con
53/
Một chồng hai vợ
54/
Lắt thịt để cứu con bồ câu khỏi chết
55/
Liên Hoa tiểu thơ
Phận
đẹp duyên may
Ngày
xưa, tại một địa phương nọ bên nước Ấn Ðộ có một
ngọn núi tên gọi Ảm Sơn. Trên núi cây cối um tùm,
cỏ hoa tươi tốt, quanh năm ít có người qua lại, thực là
một cảnh thích nghi cho những ai muốn lên đây tu hành.
Về sau, ngọn núi tĩnh mịch này được nhiều vị tu hành
để ý mỗi ngày một nhiều, nên dần dà thành ra chốn đạo
tràng của các vị thánh Tăng, được hàng vạn người kính
mộ và lên núi cầu phúc, cúng dường, thiết trai luôn luôn
không ngớt.
Một
hôm có một vị Trưởng giả đem người nhà lên núi chuẩn
bị một bữa cơm chay rất tinh khiết để cúng dường chúng
Tăng. Mọi người lũ lượt lên núi, dự buổi tập phước
này, trong số đó có một cô gái nghèo, tuổi 17, 18 nghĩ rằng:
“Hôm nay nhà Phú ông cúng dường Chư Tăng trên núi, nếu
ta lên theo chắc thế nào cũng được một bữa no nê, nhất
là đã mấy hôm nay, ta chưa hề được bữa ăn nào gọi là
lưng lững dạ”. Nghĩ xong, với một vẻ mặt hớn hở,
người con gái đó rảo bước chân đi.
Khi
cô gái nghèo ấy lên đỉnh núi thấy cỗ chay của Trưởng
giả bày ra đủ thứ mỹ vị thơm tho tinh khiết thì trong
bụng nghĩ : “Kiếp trước vị Trưởng giả này chắc là
dày công tu thân tích phước, nên ngày nay mới thành người
giàu có, đó là quả báo đền bù. Ðến ngày nay Phú ông lại
có Thiện tâm thiết trai cúng dường Chư Tăng, sửa tạo những
công đức lớn, chắc rằng phước quả kiếp sau còn nhiều,
có lẽ còn nhiều hơn cả đời hiện tại này nữa.
Ngẫm
lại thân ta – cô gái nghèo nghĩ tiếp - thực là đáng thương!
Chỉ vì kiếp trước không biết tu tạo phước quả, cho nên
bây giờ mới chịu cảnh cùng khốn như thế này. Nếu giờ
đây ta không lo tu phước thì kiếp sau chắc còn nghèo khó
gấp mấy! Vậy, hiện tại trong lưng còn hai đồng tiền đồng
mà ta đã dành dụm được, sao ta chẳng đem ra cúng dâng các
vị Hòa Thượng có được không? Mặc dù hai đồng tiền này
cũng có thể mua được hai chiếc bánh ăn tạm cho đỡ đói
lòng, xét ra: Nếu ta đem cúng dâng các vị tu hành xuất gia
thì ta không đến nỗi chết kia mà”.
Nghĩ
rồi, cô gái nghèo lẳng lặng đợi các vị Tăng Ni dùng trai
xong, liền móc trong bị ra hai đồng tiền đồng cung kính dâng
lên Hòa Thượng.
Theo
qui tắc đã định trên núi Nà, nếu có ai bố thí cúng dường
thì chỉ có vị sư tri khách đứng lên thay mặt cho Chư Tăng
hướng thí chủ mà chúc phước. Nhưng lần này cô gái nghèo
lại được chính vị Hòa Thượng trụ trì thân hành ra trước
mặt cô gái mà chúc phước rằng:
“Tất
cả bảo vật trên trái đất đều ở cả trong người đồng
nữ này đã đem bố thí cho kẻ xuất gia, vật bố thí đây
nguyên là việc tu phước. Vậy bần Tăng chúc cho thí chủ
vĩnh viễn lìa khỏi nghèo khổ”.
Cô
gái nghèo nghe xong, trong lòng không thể kể xiết nỗi niềm
hân hoan. Rồi đại chúng ai ai cũng cấp thức ăn cho cô, thật
là một sự vui về đạo pháp không còn gì sánh kịp.
Sau
khi cô gái đã no nê liền đủng đỉnh ra khỏi cửa chùa tới
dưới một gốc cây cổ thụ nằm nghỉ và chợp mắt đi lúc
nào không biết. Lúc đó vầng Thái dương đã xế chiều, thế
mà bóng cây vẫn y nguyên không thay đổi. Nhìn lên xem thấy
trên đỉnh cây cao bỗng có đám mây năm sắc như chiếc tàn
che cho cô gái. Ðó là một chuyện hiếm thấy từ trước đến
nay.
Giữa
lúc ấy, Ðức Quốc Vương nước đó vừa vặn đi qua, nhân
vì Hoàng Hậu mới từ trần, nên trong lòng ngài u uất buồn
rầu mới ruổi xe đi du sơn ngoạn thủy để cho tiêu sầu
giải muộn, bỗng nhiên gặp thiếu nữ nghèo nằm ngủ dưới
gốc cây mà trên đỉnh ngọn cây có đám mây ngũ sắc che
cho như chiếc tàn vàng thì Quốc Vương lấy làm kinh ngạc,
khác nào được thiên nữ hiện xuống dưới trần. Nhà vua
tự tán thán:
“Thiếu
nữ này ở đâu mà dám nghỉ nơi đây? Sắc đẹp của nàng
chẳng kém gì hằng nga! Với cái thân hình yểu điệu,
với vẻ mặt xinh tươi, nàng đã khiến cho nhiều người để
ý”. Nói rồi, sai cung nữ ẵm nàng lên xe.
Cô
gái trong cơn mộng chợt tỉnh, mở choàng mắt ra, thấy mấy
người khiêng mình bỏ lên xe thì kinh hãi kêu lên:
- Ôi
Phật ơi! Các người là ai? Ðịnh mang tôi đi đâu?
- Xin
cô đừng sợ, chúng tôi không phải là quân gian phi đâu, chúng
tôi vâng mệnh Quốc Vương đón cô về cung đây!
- Cô
gái nghèo sau khi đã được đặt nơi sau xe Quốc Vương ngồi
rồi, Quốc Vương liền dịu dàng hỏi:
- Năm
nay cô nương bao nhiêu tuổi?
- 18
tuổi.
- Cô
nương đẹp quá, rất đáng yêu, trẫm muốn đem cô nương
về cung lập làm đệ nhất phu nhân. Vậy cô nương có bằng
lòng không?
Cô
gái nghèo liếc nhìn vị Quốc Vương thấy Ngài xin đẹp trẻ
trung thì nở một nụ cười. Nhưng trong lòng vẫn nghi hoặc
không tin, cô nghĩ: “Có lẽ nào ta lại được mạng vận
quá tốt, đến nỗi đương từ một đứa con gái nghèo đi
ăn xin mà bỗng trở nên một vị phu nhân số một”. Cô càng
nghĩ càng ngây người ra, không nói được câu gì.
- Thế
nào cô nương không vui lòng hay sao mà làm thinh không trả lời?
- Tâu
Ðại Vương! Tôi hoài nghi rằng: Tôi đương ở cõi thực hay
là cõi mộng đây?
- Không
phải mộng mị gì đâu. Ðây là cõi thực đấy! Ðoàn xe Quốc
Vương đã về tới cung. Ngài liền tuyên bố với toàn quốc
lập cô làm đệ nhất phu nhân.
Sau
khi đã trở thành người đàn bà cao sang nhất nước, nào
ăn ngon, nào mặc đẹp lại được mọi người kính nể nhưng
trong lòng cô vẫn không đoạn tuyệt với ý nghĩ:
“Sở
dĩ ta có hạnh phúc ngày nay chỉ vì đã có nhân duyên bố
thí hai đồng tiền! Vậy thì vị sư phụ chúc phước
cho ta hôm trước đã là một vị ân nhân tuyệt đối cao quý
của ta”.
Nghĩ
rồi, liền bẩm với Quốc Vương:
- Tâu
Ðại Vương, tiện thiếp vốn là cô gái hèn mọn, ngày nay
được đội ơn Ðại Vương yêu mến, lập làm đệ nhất
phu nhân, lẽ tất nhiên phải cảm tạ hồng ân của Vua.
Nhưng nghĩ đến cái ân của vị xuất gia mà tiện thiếp đã
bố thí hai đồng tiền đồng, tiện thiếp muốn được đem
chút gì lại chùa bố thí cúng dường để tỏ lòng báo ân.
Vậy chẳng hay ý Ðại Vương thế nào?
- Tốt
lắm, tùy khanh định liệu, khanh muốn như thế nào trẫm cũng
vui lòng cho phép.
Rồi
đó, Quốc Vương và Hoàng Hậu sắm sửa thật nhiều cỗ chay
long trọng và tinh khiết, chất đầy hàng mấy chục xe đem
lại núi Ẩm Sơn bố thí.
Sau
khi các vị Tăng chứng thọ trai rồi đến lúc ra chúc phúc
cho thí chủ, thì không thấy vị Hòa Thượng trụ trì thân
ra trúc phúc như lần trước mà chỉ là vị sư tri khách thay
mặt người chúc phúc thí chủ mà thôi. Việc này khiến cho
cả Quốc Vương lẫn Hoàng Hậu đều lấy làm kỳ quái mà
nói rằng:
- Ngày
trước, tôi đem bố thí hai đồng tiền đồng được vị
sư phụ trụ trì ra chúc phước. Ngày nay, tôi bố thí biết
bao nhiêu là phẩm vật trân quí, thế mà không thấy sư phụ
ra chúc phước là tại làm sao?
Ðại
chúng đều nhận xét như thế là ai ai cũng thắc mắc như
nhau.
Vị
sư phụ trụ trì thấy mọi người cùng xôn xao, liền vân
tập quần chúng lại mở lời khai thị rằng:
“Ngày
trước, tuy Hoàng Hậu bố thí chỉ có hai đồng tiền đồng
là vật nhỏ mọn, nhưng là cả một tấm tâm thành phát ra,
đấy là điều chí cao và khả quí. Ngày nay Quốc Vương và
Hoàng Hậu tuy bố thí rất nhiều, nhưng trong lòng có hàm chứa
nhiều “ngã mạn” không giống như lần trước.
Nên
biết rằng Phật pháp không trọng “vật chất” mà trọng
ở điều “phát tâm” sở dĩ vì đó mà lần này ta không
thân ra chúc phúc. Vậy mọi người nên hiểu rõ Phật pháp
độ kẻ nghèo cùng bố thí là như thế nào!”.
Quốc
Vương và Hoàng Hậu nghe lời Hoà Thượng giảng giải thì
trong lòng vừa thẹn vừa vui mừng: Bây giờ mới hiểu rõ
nghĩa thực và giá trị của hai chữ bố thí.
PHẠM
NGỌC KHUÊ
Nếu
người được tiền của, tham tiếc không bố thí, nên biết
rằng người ấy đang tạo hột giống bần cùng đời sau vậy.
Câu
chuyện Phật nhận con
Khi
Phật trở về nước Xá Vệ, vào trong Vương cung thì bà Cung
phi Da Du Ðà La đến nép xuống mà lạy chào. Vua cha Tịnh Phạn
bèn thuật lại cho Ngày rõ rằng:
“Từ
khi Thái tử bỏ cha, lìa vợ, dứt con mà đi tìm đạo, thì
nàng ở trong cung rất niềm hiếu thuận, nết hạnh và giữ
nghĩa cùng chồng, việc nhà trọn vẹn. Khi nghe tin Thái Tử
tu khổ hạnh thì nàng ở trong cung cũng làm như vậy, bỏ những
việc hầu hạ và sự cung phụng, lìa bỏ giường ngả, chiếu
ngọc, lại cũng không trang điểm như trước nữa”.
Khi
đó bà Da Du Ðà La bèn dắt con là La Hầu La ra cho cha thấy
mặt. Lúc ấy trong hàng quyến thuộc của Phật thấy vậy,
thì ai cũng nghĩ rằng: “Ngài đã bỏ cha mẹ vợ con, bỏ
nước đi tu lâu rồi, mà bà cung phi của Ngài làm sao lại
có thai sinh ra người con như vậy?” (Bà có thai 6 năm mới
sinh La Hầu La).
Phật
hiểu ý những người quen thuộc nghĩ như vậy bèn nói rằng:
- Nàng
Da Du Ðà La vốn thiệt là người chân chính, thanh tịnh chẳng
có nhiễm một chút chi mà phải ngại, làm cho tội nghiệp
thân nàng, nếu chẳng tin, thì ta làm phép mới rõ chân giả.
Phật
nói rồi, liền dùng phép thần thông làm cho mấy vị Tỳ Kheo
theo hầu, ai nấy cũng đều biến thân hình ra như Phật, không
khác chút nào cả. Bà Da Du Ðà La bèn lấy chiếc nhẫn ấn
tín đương đeo nơi thân mình mà trao cho con là La Hầu La và
bảo rằng:
- Con
nhìn người nào là cha của con, thì con đem chiếc nhẫn này
trao cho người ấy.
La
Hầu La liền lấy chiếc nhẫn trao đúng cho Phật. Rồi Phật
dùng thần thông làm cho các vị Tỳ Kheo kia hiện lại nguyên
hình. Vua cha và những người trong hàng quyến thuộc thấy
vậy rất vui mừng và khen rằng:
- La
Hầu La thiệt là con của Phật.
Phật
ở lại Vương cung ít lâu thì Vua và bá quan nghe pháp đều
phát tâm tu hành, còn tất cả trong hàng cung phi mỹ nữ cũng
đều thọ Pháp Tam qui, Ngũ giới, chăm tu phạm hạnh, càng
ngày càng tấn tới, cho nên cảm được khí hậu điều hòa,
mưa hòa gió thuận, lúa đậu được mùa, nhân dân no ấm,
và các nước lân bang đều kính phục.
TÂM
MINH
-
Trời tối, nhân gian mờ mịt quá!
Giờ
này Thái Tử định đi đâu?
- Chính
đời mờ mịt nên ta phải,
Ði
để tìm ra ánh nhiệm màu!
- Ngày
mai, bao kẻ trong tan khóc,
Ly
biệt, thưa Ngài, nỗi khổ đau!
- Ta
sẽ trở về khi thấy đạo,
Giải
thoát nhân gian vạn thảm sầu!
Một
chồng hai vợ
Thuở
quá khứ, có chàng thanh niên rất mực hiếu thảo, mặc dù
là con trong một gia đình và đã đúng tuổi trưởng thành,
nhưng y vẫn không chịu lập gia đình, nhứt định sống độc
thân để phụng dưỡng mẹ già, vì người cha đã mất sớm.
Thấy
con lo trong lo ngoài vất vả, người mẹ khuyên chàng cưới
vợ. Nhưng chàng cương quyết từ chối. Vì quá thương con
người mẹ tự động hỏi vợ cho con. Cực chẳng đã, chàng
đành phải làm vừa lòng mẹ.
Ðứa
con dâu rất nết hạnh, lại thêm quán xuyến công việc gia
đình và tỏ ra đảm đang cả việc nặng nhọc, nhưng rủi
cho nàng không thể sanh con.
Ðã
buồn cho số kiếp bất hạnh của mình, nàng lại càng khổ
sở hơn, khi thấy chồng thường tỏ ra nghĩ ngợi xa xôi, nét
mặt đăm chiêu tư lự.
Ðọc
rõ tâm trạng chồng, nàng tự động cưới vợ lẽ cho chồng.
Người vợ sau này chẳng bao lâu đã thọ thai. Bấy giờ người
vợ lớn cảm thấy như mình bị bỏ rơi vì trông người chồng
ra tuồng nưng nui vợ lẽ rất mực. Lòng ganh tỵ của người
đàn bà đùng đùng nổi lên như trời giông biển động. Không
tự chủ và kềm hãm được lòng ghen tức, người vợ lớn
tự nghĩ, nếu không sớm chận đứng thì hậu quả cô đơn
sẽ đến với đời mình trong một sớm một chiều. Thế là,
một trương trình hiểm độc mọc lên trong óc nàng và nàng
nhất định ra tay thực hiện dù phải trả với bất cứ giá
nào.
Ðể
cho vợ lẽ tin lòng, người vợ lớn tỏ ra săn sóc và dùng
nhiều thì giờ trong việc giúp đỡ người vợ lẽ từ việc
nhỏ đến lớn. Thỉnh thoảng nàng hỏi thăm sức khoẻ và
ngày sinh nở của người vợ lẽ.
Tưởng
vợ lớn thật lòng, người vợ nhỏ không giấu nhiếm chi
cả. Ðược cơ hội người vợ lớn làm thuốc phá thai bỏ
vào thức ăn. Thế là người vợ lẽ bị sảy thai. Tuy thế,
người vợ lẽ vẫn còn tin tưởng người vợ lớn như thường.
Ðến
lần thứ hai, người vợ lớn cũng dùng thủ đoạn phá thai
người vợ lẽ như trước.
Hai
lần bị hư thai, người vợ lẽ đã học được một bài
học giá trị. Bắt đầu từ ấy, nàng biết ra sức đề phòng
kín đáo.
Khi
thấy cái thai của người vợ nhỏ ngày càng to, người vợ
lớn mới tìm cách phá thai, nhưng vì cái thai đã già tháng,
nên người vợ nhỏ phải chết cả mẹ lẫn con.
Trước
khi nhắm mắt, nỗi đau khổ và căm thù đã dâng tràn lên
khoé mắt. Cắn răng, rớt nước mắt người vợ nhỏ quyết
trí rửa thù trong những kiếp lai sinh.
Người
nào gây gió người đó phải gặp bão. Sau khi người vợ nhỏ
chết đi, người chồng điều tra biết rõ sự thật, bèn đánh
đập hành hạ người vợ lớn, không bao lâu người này cũng
chết.
- Luật
luân hồi vay trả, trả vay. Sau khi chết người vợ nhỏ sanh
làm con mèo cái, còn người vợ lớn sanh làm con gà mái ở
chung một nhà. Mỗi lần gà mái có con là mỗi lần mèo ta
bắt ăn thịt và lần sau cùng giết luôn cả gà mẹ.
Kiếp
thứ ba, sau khi chết, gà sanh làm con beo cái, còn mèo thì sinh
làm nai cái. Mỗi khi nai sinh con thì beo ta tìm đến ăn
thịt nai con, và cuối cùng giết luôn cả nai mẹ.
Kiếp
thứ tư, sau khi chết nai cái sanh làm hung thần, còn beo sanh
làm con gái của một gia đình giàu có.
Ðến
tuổi trưởng thành cô gái về nhà chồng. Cứ mỗi lần cô
này sinh nở là hung thần hóa làm người bạn đến thăm chơi
để rồi thừa cơ chụp lấy hài nhi ăn thịt, lần thứ hai,
tấn tuồng quái gở của hung thần và cảnh nát lòng của
người mẹ cũng diễn ra như trước.
Người
đàn bà đau khổ ấy đã gần như mất trí, khi biết mình
thọ thai lần thứ ba. Gần ngày sinh nở người chồng
đề nghị đưa vợ về sinh nở bên quê ngoại. Nói về hung
thần vì đến phiên hầu nước cho Ðức Vessa Vanna là vị
chúa tể cai quản tất cả hung thần. Sau khi hết phiên,
hung thần lập tức đến nhà tìm người thù truyền kiếp
của nó. Khi biết người thù của mình đã về quê ngoại,
nó liền bay vọt lên mây nương mình theo gió để tìm cho bằng
được người thù không đội trời chung.
Nhắc
lại người đàn bà nạn nhân của hung thần, sau khi cùng chồng
về quê sinh nở và dưỡng sức một thời gian, bèn đem nhau
lên đường trở lại quê chồng. Vợ chồng đi bộ gần đến
Kỳ Viên Tịnh Xá, thấy có ao nước trong mát, bèn rủ nhau
tắm rửa và nghỉ mệt. Người vợ tắm trước lên ẫm
con cho chồng tắm. Trong khi đang cho con bú, nàng bỗng nghe tiếng
gió từ xa đưa đến như cuồng phong bão tố. Nhìn lên trời
nàng thất kinh hồn vía, vì vừa nhận ra hung thần. Không kịp
chờ chồng tắm xong nàng la thất thanh: “Nó đến kìa! Nó
đến kìa!”. Rồi cắm đầu ôm con chạy thẳng vào Kỳ Viên
Tịnh Xá, đem con để nằm dưới chân Ðức Phật và yêu cầu
Ngài cứu mạng con mình.
Ngay
lúc ấy, hung thần cũng vừa đến cửa Tịnh xá, nhưng Chư
Thiên gác cửa không cho vào. Ðức Phật dạy Ngài A Nan Ðà
ra gọi hung thần vào. Nhờ oai lực của Ðức Phật nên hung
thần tỏ ra hiền lành dễ dạy.
Trước
sự gặp mặt của hai nạn nhân, Ðức Phật từ tốn khuyên
bảo:
“Này
hai người, tại sao hai người làm khổ nhau như thế. Nếu
hai người không may mắn gặp được Như Lai thì mối thù truyền
kiếp này đến bao giờ mới chấm dứt được và hai người
sẽ như quạ với chim mèo, như rắn với chồn, cứ gặp nhau
là tìm cách giết hại nhau, để rồi oán thù chồng chất
thêm mãi”.
Tiếp
theo Ðức Phật kể lại mối thù truyền kiếp giữa hai người,
đồng thời nói bài kệ:
“Trên
thế gian này,
bất
cứ thời đại nào
nếu
lấy oán báo oán
thì
oán chập chồng
lấy
ân báo oán
thì
oán tiêu mất
đó
là chân lý của bậc hiền xưa”
Nhờ
nghe bài kệ và lời khuyên của Ðức Phật mà mối thù truyền
kiếp giữa hai người từ đây chấm dứt, oan khiên không còn
vay trả…
H.G.
Luân
hồi nhân quả không sai,
Không
tu ắt phải đọa đày khổ thân
Lắt
thịt để cứu con bồ câu khỏi chết
Thuở
đời quá khứ, tại Diêm Phù Ðề này có một vị Quốc Vương
tên Tát Bá Ðạt, thống lãnh trọn một quốc độ lớn mà
cai trị, tiếng nhân hiền đồn dậy bốn phương chỗ bố
thí khắp trùm trăm họ. Ðến đỗi tất cả mọi người ai
muốn thọ dụng món chi, cứ đi ngay vào đền mà trình bày,
thì thảy đều tùy tiện theo chỗ khuyết điểm của cá nhân
mà chu cấp, chứ Vua không lẫn tiếc chút nào, bởi vậy lúc
bấy giờ những người cô bần đều nhờ dư phước mà đặng
phần tự tại.
Khi
ấy, thiên thần quan sát thấy vậy bèn vào tâu với Ðế Thích
rằng: “Tại cõi Diêm Phù Ðề có vị Quốc Vương tên là
Tát Bá Ðạt, ngôi cao phước lớn, đức hạnh hoàn toàn, ơn
nhuần rộng khắp. Tôi sợ vị Quốc Vương ấy nhờ công đức
đó, đến khi mạng chung chắc sanh về cõi trời mà làm chức
lớn”.
Ðế
Thích nghe tâu, thì có ý sợ ngày sau mất ngôi, nên kiếm cớ
thử lòng Vua Tát Bá Ðạt.
Ðoạn
rồi Ngài mới bảo Biên Vương rằng:
- Nay
tại cõi Diêm Phù Ðề, có một vị Quốc Vương tên là Tát
Bá Ðạt, chỗ phổ tế đượm nhuận lê thứ và lòng ví hoài
vời vợi vô cùng, ta sợ nhờ phước quả to tát đó mà đoạt
ngôi Thiên Vị của ta.
Vậy
nhà ngươi biến hóa làm một con bồ câu, bay xán xả đến
bên mình Vua, rồi giả đò bị nạn mà yêu cầu khẩn thiết
xin cứu mạng. Nếu Vua có lòngtừ bi thì thế nào cũng che
chở cho nhà ngươi. Còn phần ta thì hóa làm con ó bay theo sau,
cứ nằng nặc quyết một lòng đòi Vua trả bồ câu lại mà
ăn thịt. Thoảng như ý Vua là bậc chân chánh, chịu lắt thịt
của mình cân cho bằng thịt con bồ câu mà đổi, thì ta mới
bằng lòng. Khi cân thịt đó thì ngươi dùng thần biến làm
con bồ câu nặng trĩu, dẫu có lắt hết thịt người thì
cũng không đủ. Hễ thịt hết thì phải đau nhức, phải hối
hận, nếu y có hối hận, thì chỗ chí hướng không thành
tựu. Chừng đó ta sẽ an hưởng nơi cõi trời này đời đời,
không ai tranh giành nữa.
Ðế
Thích bàn tính kế hoạch xong, bèn hóa ra một con ó, còn Biên
Vương thì hóa con bồ câu mà bay đi.
Ðây
nói về Vua Bá Ðạt đang đứng nơi chốn hoa viên với người
tôi thị thần mà hóng mát, bỗng đâu con bồ câu bay xán xả
rớt ngay bên chân, rồi ra bộ sợ sệt mà nói hớt hải rằng:
- Ðại
Vương ơi! Xin thương đến mạng tôi đương lúc nguy biến
này, vì con ó rượt bắt tôi mà ăn thịt. Xin Ngài mở lượng
từ bi ra tay tế độ, ơn ấy nguyện ngậm vành về sau mà
đền đáp.
Vua
Tát Bá Ðạt thấy tình cảnh của loài phi điểu như vậy
thì động mối từ tâm liền nói rằng:
- Không
sao đâu! Không sao đâu! Có ta cứu ngươi được bảo toàn
tính mạng.
Vua
nói vừa dứt lời, kế con ó bay đến mà kêu nài rằng:
- Xin
Ðại Vương thả con bồ câu ra, vì nó là miếng mồi của
tôi ăn thịt.
Vua
Tát Bá Ðạt nghe con ó năn nỉ hoài thì trả lời lại rằng:
- Số
là con bồ câu đến đây yêu cầu ta cứu mạng mà ta đã hứa
rồi, nên phải thủ tín, như nhà ngươi có nói vậy, thì ta
đem thịt khác mà thường lại hơn gấp bội nữa.
Con
ó liền đáp lại rằng:
- Tôi
chỉ muốn ăn thịt con bồ câu đó mà thôi, chớ không chịu
dùng thịt nào khác đâu! Ðại Vương là bậc sang cả,
nỡ nào đoạt món ăn của tôi cho đành.
Vua
Tát Bá Ðạt nghe con ó nói một cách khẳng khái như vậy,
thì lật đật an ủi:
- Bởi
vì ta đã hứa cứu mạng con bồ câu, thì ta phải nhớ lời.
Vậy bây giờ ngươi muốn dùng thịt chi cho ta biết, thì ta
y theo cho vừa lòng ngươi chớ không có chút gì chấp nệ,
miễn là để con bồ câu được toàn tánh mạng mà thôi.
Con
ó nghe Vua đáp lại như vậy thì chi xiết nỗi vui mừng liền
trả lời:
- Nếu
Ðại Vương có lòng từ huệ muốn cứu giúp tất cả chúng
sanh thì xin lắt thịt nơi mình của Ðại Vương đó đem ra
cân cho bằng con bồ câu thì thôi, trước là cứu tôi khỏi
sự đói khát, sau cứu con bồ câu kia đặng toàn tánh mạng.
Như vậy cả hai đều tiện lợi cả.
Vua
Tát Bá Ðạt nghe con ó kêu nài như vậy, thì trúng cái bản
nguyện của mình bèn đáp:
- Hay
lắm! Hay lắm! Ta không có lẫn tiếc khối huyết nhục này
đâu.
Vua
liền bảo thị thần đem gươm và cân ra hoa viên bè bắt con
bồ câu để đứng trên giá cân này, rồi cầm gươm thẻo
thịt của mình để lên giá cân kia, song thẻo bao nhiêu thịt
thì cũng vẫn không cân bằng.
Vua
thấy vậy lắt hết thịt cả mình mà cũng thấy thiếu mãi,
đến nỗi mình mẩy lòi xương mà cứ tự nhiên không có gì
nhút nhát.
Vua
Tát Bá Ðạt bèn dạy bảo thị thần rằng:
- Mau
giết ta đặng lấy cốt tủy cân cho đủ tịt con bồ câu
kia, bởi vì ta thuận theo trong giới luật chân chính của Chư
Phật, nguyện phổ tế sự nguy ách cho chúng sanh.
Chừng
đó Ðế Thích và Biên Vuơng thấy sự xả thí của Vua chẳng
có chút nào dời đổi, nên cảm phục lòng tử tế không ai
sánh bằng, và hườn lại bổn thân rồi đến trước mặt
Vua cúi đầu bạch rằng:
- Chẳng
biết Ðại Vương muốn hy cầu sự chi mà chí hướng rất
cao thượng, đến đỗi thân hình khổ não như thế mà không
có chút nào thối chuyển xin nói cho anh em tôi biết.
Vua
Tát Bá Ðạt đáp lại rằng:
- Tôi
sở dĩ bố thí đầy bổn ý chẳng phải hy cầu những điều
phước báu nơi cõi nhân thiên hay là các ngôi Hoàng Ðế phi
hành! Vì tôi thấy chúng sanh cứ lặn hụp nơi ô trược chẳng
nghĩ đến ngôi Tam Bảo và chẳng tưởng giáo lý của Phật,
mãi buông lung làm các việc bạo ngược, thường bị gieo mình
trong ngục hỏa trạch mà không thức tỉnh hồi đầu chút
nào, nên tôi thương xót vô cùng, thề nguyện cầu được
đến chỗ chứng ngộ mà cứu vớt chúng sanh đem lên cảnh
an vui tịch tịnh. Bởi thế, nên dầu chỗ sở hành của tôi
rủi có vong thân tánh mạng đi nữa thì cũng cương quyết
cho đến cùng chớ không bao giờ thối chuyển.
Ðế
Thích và Biên Vương nghe nói cả kinh và tự hối rằng:
- Theo
ngụ ý của chúng tôi tưởng Ðại Vương muốn đoạt ngôi
thiên vị, cho nên mới lập kế mà nhiễu hại ra nông nỗi
này. Bây giờ chúng tôi mới rõ bản nguyện cao cả của Ngài
thì biết phương pháp gì mà sám hối cái tội ác này cho đặng!
Vua
Tát Bá Ðạt nói:
- Các
Ngài biết mình làm việc sai quấy, nay muốn sám hối tội
lỗi, vậy thì làm sao cho mấy chỗ dấu cắt trong thân thể
tôi lành lại như cũ.
Ðế
Thích nghe nói vui mừng, tức thời khiếc các vị Thiên Y và
Thần Y đồng đến điều trị cho Vua.
Linh
nghiệm thay! Ban đầu thoa thuốc vào, thì thấy mấy chỗ vết
thương đều phát động, phút chốc thoạt nhiên bình phục
lại như cũ, thân thể hình dáng có vẻ càng tốt đẹp hơn
xưa.
Lúc
ấy, Ðế Thích và Biên Vương đồng cúi đầu từ tạ và
đi giáp vòng ba lần rồi bái biệt trở về bổn vị.
Sau
đó Vua Tát Bá Ðạt về triều thuật chuyện ly kỳ đó cho
bá quan và phu nhân nghe, thì tất cả đều tán thán xưng tụng.
Từ
đó sắp sau, Vua càng bố thí hơn trước đến bội phần,
thành thử cả quốc độ gió thuận mưa hòa, ruộng nương
thạnh mậu, thật là một thời kỳ nước trị dân an.
Nguyên
vị Quốc Vương Tát Bá Ðạt lắt thịt cứu con bồ câu nói
trên đây, chính là tiền thân của Phật Thích Ca vậy
Trích
chuyện TIỀN THÂN PHẬT TỔ
Người
bố thí nên nhớ người đến xin như khi đói suy nghĩ món
ăn, khi thấy người đến xin, tâm sanh hoan hỷ như nhà bị
cháy đem được của quý ra.
Liên
Hoa tiểu thư
Khi
Ðức Phật Thích Ca còn tại thế, ở một nước nhỏ Ấn
Ðộ, có một phú ông rất lương thiện, thích chơi Hoa Sen.
Chung quanh biệt thự của ông là ao sen vây quanh. Cứ mỗi năm
về mùa hạ thì Hoa Sen đua nở. Những người phụ cận đều
gọi nơi biệt thự của ông là “Liên Hoa công quán”. Nguyên
Lai, nhà phú ông đó có một người con gái, dung mạo mỹ lệ,
tánh tình ôn hòa, giống như hóa thân của Hoa Sen, nên người
ta gọi cô là “Liên Hoa tiểu thư”. Phú ông rất thương
con gái của mình nhưng có một việc mà phú ông không vừa
ý, đó là âm thanh của con mình không thích nghi với vẻ đẹp
và tánh ôn hòa. Bởi vì tiếng nói của Tiểu Thư vang
như sấm động, mỗi khi nói chuyện, làm cho người nghe phải
long óc mà bịt tai lại. Ðã thế, Tiểu Thư lại thích ca hát.
Có
một năm về tiết mùa hạ, Vua nước Ma Kiệt Ðà (Magadha)
phái khiển một sứ thần tới, được phú ông tiếp đãi
rất ân cần. Sứ thần nói:
- Quốc
Vương có ý định tới đây xem hoa trong mùa hạ năm nay. Ông
phải gấp rút chuẩn bị để cung nghinh xa giá!
Vì
xa giá của Quốc Vương ngự lãm, không phải là một việc
dễ dàng, nên phú ông không khỏi sợ hãi kinh ngạc. Sứ thần
lại nói:
- Vậy
phú ông chuẩn bị nghên giá được chăng?
- Thưa
được! Ðó là một việc rất hân hạnh cho tôi.
Sau
khi sứ thần ra về, phú ông cao hứng tự nói:”Mừng thay,
đó thực là một vinh dự lớn cho nhà ta”.
Lúc
đó, Liên Hoa tiểu thư từ hoa viên đi tới thấy phụ thân
có vẻ hân hoan liền hỏi:
- Phụ
thân có việc chi mà vui mừng?
- Tại
sao âm thanh của con lại thô kệch đến thế?
Phú
ông mắng con như vậy.
Liên
Hoa tiểu thư vừa tủi vừa hổ thẹn, nhưng cũng biết tiếng
nói của mình quá lớn, hạ giọng nói:
- Phụ
thân! Con xin lỗi! Con đã quên mất.
Tuy
Tiểu thư đã hạ thấp giọng nói, nhưng âm thanh vẫn còn
vang lớn, phú ông phải bịt tai mình lại và nói:
- Không
cần phải nói ra tiếng nữa. Im lặng đi! Im lặng đi!
Tiểu
Thư bực mình quá, bất giác oà lên khóc. Phú ông đứng dậy
an ủi Tiểu Thư và nói:
- Thôi
đi con! Cha đã lầm và đã quên mất âm thanh quá lớn của
con, con đừng khóc nữa.
Tiểu
thư lau nước mắt trở về phòng riêng, phú ông thở dài nói:
- Ôi!
Thực là điều không hay. Âm thanh của con mình giả sử làm
Quốc Vương phải phẫn nộ thì đó là tội lớn của ta. Ðó
là sự bất hạnh cho gia đình ta.
Trải
qua một ngày, hai ngày, rồi đến năm ngày, phú ông cứ ngày
ngày lo buồn. Tiểu thư thấy thế tự nghĩ: “Ðó
chẳng phải là nguyên nhân vì âm thanh của mình để cho phụ
thân phải nhọc lòng lo nghĩ?”. Thế rồi hai cha con đều
xin buồn rầu.
Tiểu
thư ngẫm nghĩ mãi, chợt nảy ra một biện pháp mắt sáng
ngời hẳn lên rồi nói với cha:
- Phụ
thân! Con đã nghĩ được một phương pháp rất hay.
- Phương
pháp chi thế?
- Giản
dị lắm! Tới khi hoa nở, nếu cha muốn con không phải nói
chuyện tốt hơn hết là để con im lặng, cho đến lúc vua
xem hoa xong trở ra về.
Ðó
cũng là một phương pháp hay, nhưng đó cũng không phải là
lối thoát khổ của Tiểu Thư. Tiểu Thư lại nói:
- Phụ
thân cho phép con đi. Con nhất định sẽ thực hành như thế.
Sau
khi nghe lời yêu cầu cần thiết đó, phú ông bất đắc dĩ
phải ưng thuận cho.
Qua
xuân sang hạ, chung quanh biệt thự của phú ông được bao
quanh bởi những đóa hoa sen hương thơm ngào ngạt vẻ đẹp
lạ thường, nào Bạch Liên Hoa, nào Thanh Liên Hoa và Hồng
Liên Hoa đua nhau phô diễn màu sắc.
- Ðẹp
thay hoa sen xanh, khả ái thay hoa sen trắng.
Tiểu
Thư thốt ra những tiếng như vậy, chợt lại nghĩ chỉ 3,
4 ngày sau nữa, Quốc Vương sẽ xa giá tới!
- Ôi!
Thời gian trôi nhanh quá! Còn chi hơn ta cất giọng hát cuối
cùng cho ngày hôm nay:
Hoa
sen nở ngát đầy ao,
Từ
trong bùn nọ mà nào gợn chi.
Hoa
tươi lá biếc xanh rì,
Ba
ba má má cùng đi xem nào!
Tiết
trời xơ hạ gió hiu hiu thổi hương thơm tỏa ngát bốn bề.
Từng đóa hoa sen đưa đi đưa lại theo chiều gió. “À!
Hình như chúng cũng lộ vẻ vui mừng cho lời ca tiếng hát
của ta chăng? Thôi ta không thể ca hát đựơc nữa vì
Quốc Vương sắp tới nơi đây. Hoa sen ơi! Mi cũng hiểu
được ý ta chăng, nếu vậy hãy nhất tề nở đều để ta
xem!”.
Hoa
sen tuy là loài thực vật nhưng chúng cũng cảm động với
ý niệm thành khẩn của Tiểu Thư mà nhất tề mãn khai làm
cho cảnh đẹp mỹ lệ phi thường. Phú ông thấy thế vui mừng
khôn xiết, liền gấp rút chuẩn bị để hoan nghên Quốc Vương.
Hôm đó Quốc Vương đem rất nhiều bộ hạ theo hầu. Nhà
Vua ngồi trên xe ngựa trắng ngự giá tới. Phú ông rất hoan
nghên và nói:
- Thưa
Ðại Vương tôn quý! Thần dân được gội hồng ân, hân hạnh
hôm nay được Thánh gia quan tâm.
Tiểu
Thư và tất cả nhà đều ra cửa xa mã của Vua tiến vào trong
biệt thự. Phú ông ứng tiếp chu đáo phi thường. Ngày hôm
đó, Quốc Vương rất cao hứng dạo gót quanh hoa viên rồi
tới nghỉ mát ở Liên Hoa đình. Phú ông chuẩn bị các thứ
đồ ăn cổ bàn lại dâng Quốc Vương. Tiểu Thư cũng tới
ứng tiếp.
- Ồ!
Tiểu Thư, quả thực người con gái có dáng đẹp phi thường.
Lúc
đó trống ngực của Phú ông dồn dập quá độ không giấu
nổi niềm vui.
- Tiểu
Thư đây chính là lịnh ái của Phú ông?
- Thưa
vâng! Ðó chính là người con gái độc nhất của tôi
năm nay vừa 15 tuổi.
- Hừ!
Thực có vẻ khả ái. Cô nương tên cô nương là gì?
Tiểu
Thư muốn trả lời ngay nhưng lại sợ làm súc não đến Quốc
Vương, sẽ sảy ra việc không hay, nên Tiểu Thư im lặng không
đáp.
- Cô
nương! Không nên khắc khí cứ tự do nói đi.
Tiểu
Thư đang lúc e thẹn luốn cuốn, Phú ông vội vã trả lời
thay:
- Kính
tâu Ðại Vương! Vì âm thanh của con gái nhỏ tôi, bản lai
vẫn lớn, nên không dám cất tiếng nói, sợ làm náo động
Quốc Vương và các quan. Xin lượng trên khoan thứ.
- Không
hề chi! Ðã là bản lai như vậy thì có quan hệ gì. Vậy
cô nương tên là gì?
Tiểu
Thư tuy đã được nghe lời Vua phán, nhưng vẫn không dám cất
tiếng. Phú ông nói tiếp.
- Xin
lượng cả tha thứ, quả thực là vì âm thanh con gái tôi quá
lớn…
- Biết
rồi! Không cần nói, chính ta cũng thích tiếng nói lớn…
Quốc
Vương phát gắt, Tiểu Thư bất đắc dĩ phải tới trước
mặt Vua nói:
- Tôi
tên là Liên Hoa.
Âm
thanh của Tiểu Thư vang động quá lớn, gần như phá vỡ màng
tai của người nghe. Quả là thứ âm thanh đáng sợ và vô
nghĩa.
Do
thế Quốc Vương, sứ thần và các quan bỏ ra về.
Phú
ông là người nhát đảm, bất luận việc lớn hay việc nhỏ
xảy ra đều làm cho ông buồn rần phiền não. Lần này, nhân
vì Tiểu Thư xúc phạm đến oai nghi của Quốc Vương, nên
luôn luôn sợ hãi không yên, thở dài rồi nói:
- Tội
lỗi đều vì cơ duyên này, chắc đó là tiền nghiệp đã
định. Con gái ta nhất định sẽ bị Quốc Vương quở phạt.
Phú
ông cứ như thế nghĩ tưởng liên miên không lúc nào nguôi,
nên phát bệnh nặng đã đón nhiều danh y tới chạy chữa.
Nhưng đều vô hiệu. Trong đó có một ông thầy thuốc nói:
- Kỳ
lạ quá! Tôi không thể chữa khỏi bệnh này, phải đi
tới thỉnh lời giáo huấn của Ðức Phật.
Không
may lúc đó Ðức Phật đi giáo hóa chưa về, duy có Ngài Tân
Ðầu Lư Tôn Giả còn ở lại tịnh xá. Vì lòng hiếu thảo
nên Liên Hoa tiểu thư tới tận đỉnh núi thỉnh Tôn Giả
và nói:
- Kính
xin Tôn Giả thương tình cứu bệnh hoạn cho phụ thân của
con…
Tôn
Giả đương lúc ngồi thiền định, im lặng, Tiểu Thư lại
thỉnh một lần nữa.
- Tôn
Giả y nguyên không động, chợt có một cơn gió thổi mạnh
làm rung động những chiếc lông mày trắng của Tôn Giả và
liên tiếp hai, ba chiếc lá rơi xuống. Tôn Giả mới dõng dạc
nói:
- Tiếng
nói của con sao lớn thế! Căn cứ vào lời nói tha thiết mà
ta thấu rõ được lòng hiếu thảo của con. Ðức Phật rất
trọng người con có hiếu. Ðể đáp lại lời khẩn cầu của
con và để giúp con làm tròn đầy đạo hiếu, nghĩa là con
phải vâng theo lời giáo huấn của Ðức Phật, để tạo cho
cuộc đời chân hạnh phúc ở hiện nay và ngày mai, con hiểu
ý ta nói chăng?
Tiểu
Thư cúi đầu chăm chú nghe, Tôn Giả lại nói tiếp:
- Ta
bảo cho con hay. Cách đây về phương tây chừng ba trăm dặm,
có một ngọn núi cao gọi là Long Sơn. Trên núi có một cái
hồ, trong hồ có cung điện. Trong cung điện thường thường
có một thứ nước trong suốt chảy ra, con nên tới đấy múc
thứ nước đó về cho cha con uống, thì bệnh của cha con tự
nhiên khỏi ngay, và âm thanh của con cũng trở nên êm dịu.
Tiểu
Thư nghe xong vui mừng khôn xiết cúi đầu bái tạ và tiếp
nói:
- Ða
tạ! Con hiểu ý Tôn Giả nói. Con xin đi ngay.
Tôn
Giả nói:
- Ðừng
lo ngại! Uống thứ thuốc đó mà cha con sẽ được khỏi
bệnh, đó là từ ở lòng hiếu thảo của con mà ứng nghiệm.
Tiểu
Thư thưa tiếp:
- Nếu
vậy sau khi cha con khỏi bệnh con sẽ lại tới đây xin thỉnh
giáo Ðức Phật.
Tôn
Giả gật đầu.
Tiểu
Thư hạ sơn hướng về phương Tây mà đi đột nhiên mê mất
đường. Trong khi đó, Tiểu Thư thấy một người tiên đầu
tóc bạc phơ xuất hiện, Tiểu Thư vội tới hỏi thăm đường,
người tiên chỉ đáp một câu: “Cách đây ba trăm dặm phương
Tây”. Nói xong biến mất. Tiểu Thư nghĩ tại sao đến ba
trăm dặm? Bất đắc dĩ lại tiếp tục cuộc hành trình, đi
rẽ qua bờ sông, lại thấy người tiên xuất hiện ở dưới
cây Bồ Ðề. Tiểu Thư lại hỏi. Người tiên lại đáp: “Cách
đây ba trăm dặm về phương Tây”. Trả lời xong rồi lại
biến mất. Tiểu Thư buồn rầu quá liền oà lên khóc:
“Thôi không còn hy vọng gì nữa, ta lại phải trở về chăng?”.
Lúc đó chợt nhớ lời Tôn Giả dặn nên Tiểu Thư lại tiếp
tục cuộc hành trình vừa đi vừa khóc.
Bỗng
người tiên lại xuất hiện liền tới an ủi Tiều Thư:
- Cô
nương! Người con hiếu thảo, đằng kia là ngọn núi Long Sơn,
con hãy cỡi con hươu của ta mà đi.
Người
tiên nói xong liền bỏ đi. Tiểu Thư vâng lời cưỡi hươu
lên thẳng đỉnh núi, thì thấy quả thực trên núi có cái
hồ rất đẹp, trong hồ có cái đảo nhỏ. Trời đã xế chiều,
ánh trăng bắt đầu chiếu. Tiểu Thư đi thẳng vào trong hồ
chợt gặp một Tiểu Ðồng ở cửa một cung điện đón tiếp
và nói với Tiểu Thư:
- Thưa
Tiểu Thư, Tiên ông đang đợi Tiểu Thư.
Tiểu
Thư bước theo Tiểu Ðồng đi lên trên thềm đá của cung
điện, trong cung quả có một cái suối, nước cuồn cuộn
từ đất ra trong trắng như tuyết. Người Tiên mà Tiểu Thư
đã gặp trước kia đang thảnh thơi mỉm cười, Tiểu Thư
liền quỳ xuống nói:
-Xin
Tiên ông cho con ít nước!
Người
tiên đáp:
- Ðược
lắm, cho con múc đem về cứu bệnh cho cha con.
Trong
khi chờ đợi Tiểu Ðồng mang đồ đựng nước tới, Tiểu
Thư liền tay vốc nước lên uống thử. Ồ! Vị nước
thơm ngọt quá! Bất giác Tiểu Thư cảm than như vậy, tiếng
nói Tiểu Thư cũng biến thành êm dịu không thô kệch như
trước. Tiểu Thư rất vui mừng vái tạ người tiên rồi múc
nước mang về nhà cho cha. Khi về tới nhà, Tiểu Thư thấy
bệnh tình của phụ thân rất trầm trọng, vội đem thứ nước
ấy cho cha uống. Mầu nhiệm thay! Chỉ trong giây lát, bệnh
của phú ông tự nhiên thuyên giảm.
Sau
khi khỏi bệnh, Tiểu Thư đưa phụ thân đến tịnh xá của
Tân Ðầu Lư Tôn Giả tạ lễ và qui y Ðức Phật. Nhờ sự
chỉ giáo của Tôn Giả mà gia đình của Tiểu Thư hưởng
được chân hạnh phúc.
Vị
Quốc Vương xưa kia, nghe biết tin đó, cũng lại xa giá đến
nhà phú ông xem hoa, nhận thấy tiếng nói của Tiểu Thư trở
nên êm dịu khác thường. Vua khen: “Ðó thực là lòng hiếu
thảo của người con mà cảm ứng đến thế”.
Vua
liền đem của cải ban thưởng cho Tiểu Thư và bố cáo cho
khắp trong nước để nhân dân đều biết. Từ nay trở về
sau mọi người nên tin theo Phật Giáo, và Phật giáo sau này
sẽ trở thành tôn giáo lớn trên thế giới.
CHÂN
TỪ
Lấy
món ăn vật mặc phụng dưỡng cha mẹ là hiếu thế gian, khuyến
hóa cha mẹ tu học chánh pháp là hiếu xuất thế gian.