Phần
08:
Thử
lòng
Hai
con cọp tinh ở Hoành Sơn
Thọ
trì 3 giới
Món
nợ truyền kiếp
Cứu
người bị giặc cướp
Thử
lòng
Vui
thay sáng lạng cả trời,
Hoa
đàm đã nở rạng ngời khắp nơi.
Ðại
từ ÐứcPhật ra đời,
Ðem
thuyền Bát nhã độ người trầm luân.
Thiều
quang chói lọi cõi trần.
Hỡi
ai có biết Hồng Ân gần kề
Ca
di - Ánh sáng đã về…
Tiếng
hát trong thanh ấy, gần như ở tận cõi trời xa đưa lại,
bay lạc trong gió thoảng lanh lảnh dội từ rừng này sang rừng
khác, từ non cao đến động thẳm, từ biển cả đến đồng
bằng, chẳng chỗ nào mà không nghe đến nhạc điệu thần
tiên ấy.
Từng
đàn bướm cánh vàng, xanh đỏ tím bay liệng nhởn nhơ, rập
rờn trên cành hoa thắm, từng đàn chim non ríu rít ở trên
cành cây, từng đàn sóc xinh đẹp ranh mãnh rượt bắt nhau
lẹ làng trên cổ thụ, cả thảy đều chuyền nhau cái tin
mừng qua khẽ lá.
Những
điệu nhạc du dương, những âm thanh đều đặn như dìu dặt
ở mấy từng không vang động những làn sóng điện của
bể trần.
Chúng
sanh ơi! Ðấng giải thoát đã đến rồi. Ði! Ta hãy đi cùng
về phía Nam dãy núi Hy Mã Lạp Sơn để nhờ Ngài giác ngộ.
Tạo vật tưng bừng vừa mới tái sinh. Trên trời sương mù
đã tan hẳn. Vừng thái dương ẩn hiện sau đám mây thưa chiếu
ánh sáng huy hoàng trong khoảng không gian trong tạnh. Lòng người
như cảm thấy một điềm lành, một ánh sáng thiêng liêng
để phá tan bóng tối của cõi đời.
Những
cành hoa sắp héo bỗng chuyển sang màu xanh biếc, nhưng cái
ảnh hưởng huyền diệu nhất của ánh sáng này là nó biến
đổi lòng người trong nháy mắt: Con người cảm thấy mình
tốt đẹp hơn và cao thượng hơn. Kẻ sát nhân bỗng ghê rợn
bàn tay đẫm máu của mình, bèn ăn năn hối tiếc. Chị bán
hàng đang cân thiếu bỗng giựt mình không dám gian lận nữa.
Người đau yếu mỉm cười trên giường bệnh, cách hẳn tiếng
rên than và nghe lòng mình ấm dịu, reo nhảy một nguồn vui.
Kẻ sắp lìa trần không còn sợ hãi mà được an tĩnh và
đầy hi vọng. Người giàu sang vương giả không còn thiết
tha cảnh vào đài ra các, đâm ra chán nản mùi phú quí hồng
trần, muốn tìm đường thiêng liêng giải thoát để độ
rỗi linh hồn.
*
Ngày
hôm ấy, khi vầng ô vừa gác non đoài, bóng hoàng hôn hiện
giữa rừng sâu rung động chập chờn trong làn gió lạnh. Rải
rác ở cánh đồng cỏ lục, vài ba chú nông phu với cặp bò
vàng đi về phía chân đồi xanh biếc. Giữa cảnh rừng hoang
tĩnh mịch, thỉnh thoảng chìm những tiếng rủ nhau về tổ.
Trên núi Tuyết, gió lạnh từ xa thổi đến ngạt ngào hương
thơm của trăm thứ hoa rừng, xen lẫn mùi ngọt dịu của trái
chín muồi.
Dưới
cội Bồ Ðề hùng vĩ, Ðức Phật Thích Ca đang ngồi kiết
già, trầm tư mặc tưởng, chân xếp bằng, tay để trên gối,
đầu ngay thẳng, Ngài ngồi tham thiền yên lặng như pho tượng
đá. Trong cõi âm u tĩnh mịch, hào quang Ðức Phật tỏa sáng,
rực rỡ cõi trời, và ân huệ của Ngài cũng ban ra khắp chốn,
thỉnh thoảng vài con sóc vàng nhảy lên vế Ngài, vài con bạch
điểu xinh tươi nghiêng đầu vào cánh tay Ngài như mong chờ
mơn trớn. Cái không khí thiêng liêng tràn đầy bác ái, khiến
cho kẻ nào thiếu đức tin đi ngang qua đó cũng phải cúi đầu
quỳ gối kính phục, như những thú rừng hung dữ kia, mà khi
đến gần Ngài cũng hóa ra hiền lành và kính sợ!
Nhưng
kìa con nai cái đang nằm úm con dưới áo Ngài, lại ngước
mõm lên ngửi trên không một cách lạ thường, dường như
có linh tính đoán trước sẽ xảy ra chuyện gì. Một tiếng
động rập rềnh ở tận phương xa đưa lại. Rồi kế tiếp
tiếng nện gót giày một cách vội vàng trên mặt đất rất
rêu xanh. Làm xào xạc cây cỏ phá tan sự tĩnh mịch của cảnh
rừng im lặng. Ði đầu là một vị thiếu niên anh tuấn, ăn
mặc xênh xoang diễm lệ, đeo ngọc ngà châu báu khắp mình,
xăm xăm đi lại chỗ Ðức Phật. Trước vẻ uy nghiêm, an tịnh
và hiền lành của Ðức Phật, chàng bỗng khiếp sợ, vội
vàng quỳ mọp xuống chân Ngài một hồi lâu. Khi đứng dậy
hết sức cung kính. Trong khi đó Ðức Phật vẫn ngồi điềm
nhiên như không có gì xảy ra. Nhưng trong cặp mắt Ngài cũng
nẩy ra một tia sáng dịu dàng chứa chan vẻ từ bi bác ái.
Chàng
thiếu niên ấy nói:
“Bạch
Ðức Thế Tôn, con xin kính lạy Ngài. Con ở tận xứ xa, từ
nước Cam Sa Ba, trải qua ngàn dặm xuyên sơn mới tới đây.
Con là Ðông cung Thái tử Djêta đến xin Ngài một chút an lành.
Ðức Thế Tôn ơi! Từ khi con nghe đặng thanh danh Ngài, con
không còn an nghỉ đặng nữa. Cung điện nhà vua, kho vàng lẫm
bạc, hoàng thân quốc thích cho đến mỹ nữ cung phi nhan sắc
tuyệt trần cũng không làm con phi dạ. Cái bã đỉnh chung mùi
phú quý hết làm cho con say đắm nữa. Con muốn tìm cái gì
cao thượng hơn, trường cửu hơn và thiêng liêng hơn. Lạy
Ðức Thế Tôn, con xin Ngài chỉ giáo cho con và thâu con làm
đệ tử. Ơn đức ấy ngàn năm con nguyền khắc cốt
ghi tâm”.
Ðức
Phật vẫn điềm nhiên trầm tĩnh, không thốt một lời nào,
Ngài nhìn Thái tử một cách dịu dàng hiền lành và thương
xót.
Thái
tử nói tiếp:
- Ðức
Thế Tôn ơi! Xin Ngài huệ cố chỉ dạy cho con rõ, xin Ngài
hỷ xả cho con biết, con có xứng đáng cái đặc ân này chăng?
Bạch
Ðức Thế Tôn! Từ khi còn bé, con đã giữ mình tinh khiết,
con tập làm lành lánh dữ thuận với luật trời. Con giữ
vẹn cang thường đạo lý, sớm công phu chiều bái sám, hằng
xem kinh sách trau mình. Những hành vi của con như thế
Ngài cũng đã rõ lắm rồi. Vậy Ngài cho con biết: Con có đủ
tư cách làm người đệ tử chăng?.
Ðức
Phật chỉ đáp vỏn vẹn rằng: “Không”.
Thái
tử Djêta làm thất vọng, buồn rầu bạch rằng:
- Lạy
Ðức Thế Tôn, vậy con phải làm sao mới đặng? Con cúi xin
Ngài phán cho con rõ, con nguyện sẽ đem tất cả bình sanh chí
lực tuân theo, hầu được Ngài hạ cố thâu con làm đệ tử.
- Con
tự tìm thấy… rồi con sẽ rõ.
- Ôi!
Con biết tầm cái gì bây giờ?
Hoàng
tử nói với giọng đau thương rung cảnh vô cảm vô ngần,
nhưng Ðức Phật vẫn giữ vẽ mặt điềm nhiên lặng lẽ…
Hoàng
tử mới tiếp rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn cao cả! Vậy thì để con tự tìm lấy. Có lẽ
Ngài muốn thử lòng con?
Ðức
Phật nói: “Phải”.
- Bạch
Ðức Thế Tôn, bao giờ Ngài cho phép con trở lại hầu Ngài
nữa?
- Bảy
trăng sau mùa mưa này.
Thái
tử Djêta lặng lẽ mọp xuống một lần nữa, hồi lâu rồi
mới từ từ đứng dậy, chậm rãi ra đi. Ðoàn quân hộ tống
khuất dạng trong đêm khuya. Thanh khí nhẹ nhàng trở lại dần
tứ phía. Mảnh trăng rằm treo lơ lửng trên những chóp núi
cao đầy tuyết phủ. Những dòng ánh sáng trăng màu sữa chảy
láng dài trên không gian tĩnh mịch. Muôn sao nhấp nhánh kết
thành ngàn chuỗi hạt kim cương… Rừng đêm khuya lặng lẽ
như tờ. Dưới cội Bồ Ðề Ðức Phật cứ mãi tham thiền,
đưa tâm linh lên tận cõi Niết Bàn Cực Lạc. Con nai cái hiền
lành tựa đầu lên gối Ngài lim dim đôi mắt.
Bảy
trăng vừa qua, ngày kỳ hạn đã đến, cũng dưới vội Bồ
Ðề, cũng tại mé rừng hoang ấy, Ðức Phật đang đợi chờ…
Mặt
trời đã chen lặng ửng đỏ một vùng phía tây rồi dần
dần biến màu xám sậm.
Từ
phương Ðông mây đen kịt nặng trĩu đủ các hành hình kỳ
quái kéo đến. Bỗng chớp nhoáng, sấm sét vang động, gió
thổi mỗi lúc mỗi mạnh, cành cây oằn oại lá cuốn bụi
bay, cả thảy đều báo tin trận bão to sắp đến. Thú rừng
xôn xao rạo rực, tìm nơi ẩn trú. Chim từng đàn bay
núp dưới cội Bồ Ðề, kêu líu lo ríu rít ra dáng hãi hùng.
Một con beo cái chui vào chân Phật, điểm nhiên an tĩnh như
không biết cảnh giông tố bên ngoài.
Mưa
bắt đầu tuôn xuống, nước chảy ào ào như lở núi, lở
non gió thổi mạnh kêu vi vút xô ngã nhiều cây đại thụ.
Thật là đáng khiếp. Nhưng cảnh bão bùng sấm sét hiểm nguy
như thế không cưỡng chế được lực bên trong. Ðúng giờ
kỳ hẹn, Thái tử Djêta đã quỳ dưới chân Phật. Rồi vì
rét mướt, vì cảm động Thái tử lẳng lặng giây lâu mới
bạch rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, con đếm từng ngày đợi cái buổi hạnh phúc
hôm nay. Ðối với lòng con mong mõi thấy thời gian qua rất
chậm và hôm nay. Ôi! Giờ phút thiêng liêng đã đến sung sướng
cho con biết dường nào! Bạch Ðức Thế Tôn! Từ khi con vâng
lệnh Ngài về nước, con ráng dồi mài đạo đức, con giữ
mình khiết bạch, chịu khổ hạnh nhiều bề: Ăn không dám
no, ngủ không dám ngủ kỹ, để kiềm thân xác thân.
Con buộc mình thức khuya dậy sớm, tham thiền, sửa tánh để
ăn năn sám hối. Vậy hôm nay Ngài có bằng lòng thâu con làm
đệ tử chăng?
Ðức
Phật trả lời: “Không”.
Vừa
nghe lời vắn tắt này Djêta rất đỗi kinh hoàng, nghẹn ngào
rưng rưng giọt lệ vén áo lên chùi với bao nỗi thất vọng.
Hoàng tử lẳng lặng một hồi lâu, mới lập cập bạch rằng:
- Kính
lạy Ðức Thế Tôn! Xin Ngài mở lòng từ bi bác ái thương
xót con, cho con hiểu làm sao con không được Ngài thâu làm
đệ tử. Ðức Thế Tôn ơi! Xin Ngài giải rõ cho con nhờ.
Trong
lúc ấy, con beo cái ngẩng đầu lên ngó Hoàng tử mà hầm
hừ, Ðức Phật đưa tay vuốt ve nó. Lúc bấy giờ sấm
sét đã dứt, mây tan mưa tạnh, cảnh vật trở lại êm đềm
như cũ, tựa hồ như để lắng nghe lời Phật dạy:
- Này
Hoàng tử cao quí ơi! Những sự thử lòng mà ta mong chờ ở
con chẳng phải thuộc bên ngoài, mà chính về cõi tâm tình
của con. Vậy ta chẳng biểu con bỏ vợ và cung phi mỹ nữ
đâu. Ta chẳng biểu con ly gia đình, cắt ái để hủy bỏ
cuộc đời xuân xanh lạc thú của con đâu. Ta nào bắt con
chịu khổ hạnh để ép mình trì giới.
- Không,
không đâu. Ta không muốn con dứt bỏ những gì bên ngoài trong
khi tâm con còn vương vấn những cái không hay.
Bởi
kiếp xưa con vụng đường tu, gây ra nghiệp chướng nặng
nề, kiếp này tự nhiên con phải trả… Nhưng khi con đứng
trước sự thử lòng khó khăn kia, thì con không có đủ nghị
lực để thắng nó! Con đã sa ngã một cách sỉ nhục, ương
hèn mà con không hay. Vậy con hãy trở lại đền vua làm
người đạo đời suông, chớ những cách hành thiện của
con có đủ điều kiện để làm người đệ tử.
Nghe
dứt mấy lời Phật nói, Hoàng tử Djêta như sét đánh vào
tai, vừa thảm đạm vừa hổ thẹn mà bạch rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, xin Ngài từ bi chỉ cho con rõ: Con sa ngã ở
chỗ nào? Nói ra càng thêm thẹn cho con. Nhưng con muốn biết
để ăn năn sửa mình.
Ðức
Phật dạy: Ðược, con hãy lắng tai nghe! -Ðiều thứ nhất:
Con phẫn nộ khi người ta vu cáo con.
Này,
Hoàng tử cao quí ơi ! Con hãy nhớ lại một khi kia, tại trào
đình của phụ vương con có người vu cáo con một chuyện
để mưu đồ đoạt ngôi vị của con. Ðó là một thử
lòng đến cho con, đối phó cách nào cho xứng đáng là người
đệ tử Phật. Mà rồi con không bình tĩnh đợi chờ cái ánh
sáng chân lý đến chứng tỏ kẻ ngay người gian, hoặc giả
con chịu ô nhục chuốc lấy sự vu oan một cách nhẫn nại
và từ tâm, để trả lại cho rồi cái quả báo kiếp xưa
mà con đã gây ra. Trái lại con lại thối thoát, con nhứt quyết
minh oan cho bằng được và con lại còn phẫn nộ lôi đình
nữa. Ðó là sự sa ngã thứ nhất của con.
Hoàng
tử Djêta xanh mặt đáp rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn! Nếu con biết đó là nghiệp chướng tiền
khiên thì ắt con đã vui lòng cam chịu sự nhục ấy rồi.
Nhưng vì con còn vô minh, phải có bổn phận minh oan, trước
cứu danh giá cho mình, sau cho Hoàng tộc mình.
- Này
Hoàng tử! Người thiện nhân ở đời bao giờ cũng có quyền
phản kháng và minh oan cho mình khi mình bị vu cáo. Nhưng kẻ
tu hành muốn bước chân vào đường Ðạo và muốn làm môn
đồ nhà Phật thì phải làm thinh cam chịu nỗi bất công xảy
đến riêng mình. Bởi vì kẻ nào sống với tinh thần rồi
thì những sự vật bên ngoài như danh giá, giàu sang, thế lực…
không còn trọng đãi nữa. Chúng nó chỉ có giá trị tương
đối với đời sống tạm mà thôi. Con hãy tin chắc rằng:
Trên đời này chẳng có sự ngẫu nhiên đâu, ta sướng hay
cực, ta được người thương hay bị người ghét, ta giàu
sang hay hèn hạ đều do duyên lành hay quả xấu của ta đã
gây ra nghiệp báo. Bởi vì thiên hạ chí công và không bao
giờ hữu nhân mà vô quả đặng. Người học đạo nên
đợi một cách lãnh đạm cái mão vinh hoa hay ô nhục, và luôn
luôn bình tĩnh, tâm không xáo động: Chẳng khinh bên nào mà
chẳng trọng bên nào. Khi con bước chân vào nền vương giả
tâm con cũng phải giữ mực quân bình như con đến chốn lều
tranh vách đất. Con chớ vì ngoại cảnh mà khinh hay trọng.
Hoàng
tử Djêta cúi đầu bái phục.
Ðức
Phật dạy tiếp:
- Ðiều
thứ hai: Con sa ngã vì cái ích kỷ. Con ích kỷ trong tình thương.
Con rất yêu mến một người bạn tên là Da Sa (Jachas)
chẳng khác gì con. Tình thương ấy là do nhân duyên kiếp trước
mà tạo thành.
Rồi
có một ngày kia, có một người lạ mặt tên là Ba Ti Ca (Batica)
đến tại triều của phụ vương con cậy Da Sa làm một việc
ý con không muốn. Và khi người xin kết nghĩa kim bắng với
bạn con, con lại ghen tức. Ðó là cơn giông tố đã xảy ra
ở trong lòng con. Ðáng lẽ con phải ôm lòng chịu lẻ loi và
ráng nhổ tận gốc những cỏ xấu đang xâm chiếm lòng con.
Ðáng lẽ con phải thương Da Sa chớ chẳng phải thương để
chiếm lấy một mình, nhưng con lại đâm ra uất ức buồn
rầu, con tìm cách ngăn cản không cho bạn con thân thiện với
kẻ khác. Và từ đấy trong lòng con đã nhen nhúm lửa phiền
ghen hận! Ðó là điều con sa ngã lần thứ hai vậy.
- Bạch
Ðức Thế Tôn, sở dĩ con không muốn Ba Ti Ca kết bạn với
Da Sa vì con biết y lợi dụng bạn con, y vì tư lợi, chứ chẳng
phải vì tình thương. Con thầm nghĩ con có bổn phận bảo
hộ bạn con, khỏi lâm vào cạm bẫy đó thôi.
Ðức
Phật trả lời:
- Này
Hoàng tử cao quí ơi! Với tai phàm mắt thịt, với thất tình
lục dục của con, con làm sao đoán người trúng đặng? Làm
sao con dám quả quyết rằng: Ba Ti vì tư lợi?
Con
phải đề phòng sắc tướng bên ngoài nó gạt gẫm ngũ quan
con, làm cho con đã vô minh càng thêm vô minh hơn nữa. Vả lại
người học đạo nên biết người mà không tìm thấy tật
xấu của người, chỉ lưu ý đến tánh nết mà thôi. Ví dầu
con có đoán trúng đi nữa thì cái tính tư lợi sẽ không vì
thời gian mà để lại tính chân chánh hay sao?
Hoàng
tử ơi! Người thiện nhân ngoài xã hội có quyền bảo vệ
tình yêu của họ để cho họ thưởng thức đến mãn đời,
chớ người đã xả thân cầu đạo và muốn làm đệ tử
Phật Tiên thì phải dứt bỏ cả mọi điều, cho chí tình
yêu độc nhất cũng vậy, và phải nhớ trong lòng mình những
rễ nhuộm máu của sự ghen ghét và ích kỷ. Hơn nữa, người
ấy phải ôm chân, không than van phiền muộn, sự phản bội
và bất trung của người thân yêu nhất đời. Con ơi! Chẳng
phải người học đạo nên đặt chữ thương như nhiều người
lầm tưởng mà trái lại nên rộng lòng bác ái, yêu thương
một cách vị tha không mảy gì ích kỷ. Tình thương chân chính
là nấc thang đưa con đến đài minh triết muôn đời.
Hỡi
Hoàng tử, những của tiền phụ vương con, những sự vui sướng
về nhục dục không làm cho con ưa thích nữa vì lẽ con đã
hưởng rồi, con đâm ra chán ngán, chớ chẳng phải công trạng
gì mà con kể.
Hoặc
giả con muốn dứt bỏ cảnh phú quí để tôn mình hơn người
chớ có giá trị gì. Còn trước các công đức vĩ đại này,
mà duyên may đã đưa đến cho con. Con lại thiếu can đảm,
thiếu nghị lực để khoác lên thân chiếc áo hy sinh thật
sự, một mảnh chiến bào bác ái, cứ cho ra mãi không trông
mong hồi đáp.
Hoàng
tử Djêta bèn bạch rằng:
- Lạy
Ðức Thế Tôn, xin Ngài mở lòng từ bi, giảng thêm cho con
nghe nữa! Xin Ngài hãy làm cho con thêm thẹn nhục để con được
thức tỉnh mà ăn năn những sự lầm lạc, chiếc màn vô minh
tợ đám mây đang phủ kín phần hồn con, làm cho con ở trong
cảnh đêm tối hơn giữa đêm khuya.
Ðức
Phật dạy tiếp:
- Hỡi
Hoàng tử cao quí! Ðiều con sa ngã thứ ba là vì con thiếu
lòng nhân ái: Nan Ðà (NanÐa) một vị thứ phi của con đã
làm nên tội trạng: Vì tánh lăng loạn, con không cảm xót
sự ngây thơ khờ dại của nàng, con đành nhẫn tâm mạt sát
rồi xô đuổi ra khỏi hoàng cung. Vô cùng tủi nhục, nàng
van lơn khóc lóc, lạy lục xin tha thứ nhưng con cũng đành
nhắm mắt trừng trị thẳng tay. Tại sao không mở rộng chút
lòng nhân, để khoan dung tội lỗi. Biết đâu chừng trước
sự cao thượng của con, trước dạ từ bi bác ái của con,
con sẽ cảm hóa đặng nàng, và sẽ đem nàng lại con đường
ngay chánh?
Thái
tử bạch rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn! Con biết làm cách nào hơn bây giờ?
Nàng
Nan Ðà đã dơ danh xú tiết, nếu con còn giữ nàng lại ngôi
vị xưa, thì tự nhiên con bôi lọ danh giá của Hoàng gia và
của con nữa. Nếu con cứ điềm nhiên trước sự lố lăng
ấy, có phải con làm bại hoại luân thường đạo lý của
xứ con chăng?
Ðức
Phật nói:
- Hỡi
Hoàng tử Djêta! Ta phải cần lập lại với con nữa sao?
Người
thiện nhân ở đời có thể nghĩ đến quyền lợi mình và
tự do thưởng phạt cùng phán đoán theo lý trí mình. Nhưng
người đã bước chân vào đạo rồi, thì không được xét
xử ai phải tìm hiểu để mà tha thứ, chớ chẳng phải để
kết án. Con cứ tưởng con là riêng biệt với kẻ điên cuồng
tội lỗi. Họ chính là con đó, mặc dầu còn ở hạng thấp
kém hơn con.
Nhưng
nếu con nghĩ rằng: Con không liên đới một người hoặc một
vật khác, tức là con đã tạo ra một nghiệp quả, nó sẽ
buộc con với vật đó, hoặc người đó cho tới chừng mà
con cảm thấy sự duy nhất của vạn vật mới thôi. Con nên
nhớ rằng: Tội lỗi và nhục nhã của thế gian là tội lỗi
và nhục nhã của con, bởi vì con vốn là một phần tử của
thế gian. Nghiệp quả của con, vốn dệt chặt với nghiệp
chung của nhân loại. Và trước khi con được giác ngộ, con
phải trải qua mọi chỗ dơ, cũng như mọi chỗ sạch. Cái
áo dơ mà bây giờ con gớm, có thể là cái áo của con hôm
qua hoặc ngày mai. Và nếu con tỏ vẻ nhờm gớm thì khi đặt
lên vai con, nó sẽ siết chặt lấy con hơn nữa.
Vậy
người đạo đức thật sự bao giờ cũng để ý tìm những
lý do để châm chế và tha thứ, hơn là để vạch lỗi người.
Cái tâm họ chứa chan nguồn bác ái, từ bi đối với nhân
loại nhiều hơn là những hạt cát trên đồng sa mạc.
Sự
thanh bạch là gì? Chẳng qua là một cái đức đó thôi.
Người
tu hành không nên lấy sự thanh bạch làm nền đạo riêng của
mình, lắm khi sự thanh bạch trở ngại bước đường tinh
thần của mình, nếu nó không đi đôi với tình bác ái từ
bi, và nó sẽ dẫn ta đến chỗ kiêu căn và tự phụ,
đến chỗ lãnh đạm trước sự đau khổ của người đời.
Như thế sự thanh bạch chỉ là một cái bóng không hồn đó
thôi. Này Hoàng tử Djêta ơi! Trong khi nhàn hạ, con có bao giờ
nhìn lên chót núi Hy Mã Lạp Sơn lúc mặt trời sắp lặn chăng?
Con có thấy đỉnh núi đầy tuyết phủ sừng sững giữa bầu
trời xanh biếc chăng? Núi thật oai nghiêm, hùng vĩ, nhưng bốn
mùa lạnh như đồng.
Ôi!
Cái cảnh ấy quá tiêu sơ, lạnh lùng ảm đạm. Không
ngày nào khi có ánh sáng chiều ấm áp vừa dịu dàng, chiếu
ngày vào, thì cái cảnh buồn tênh, não ruột kia, lại bỗng
hóa ra linh động, rực rỡ và đẹp đẽ phi phàm. Tạo vật
trở nên mỹ tú kỳ quan làm cho ta ngoạn mục và phơi phới
tấm lòng.
Sự
thanh bạch mà thiếu lòng nhân ái, thì có khác gì chót núi
đầy tuyết phủ, lạnh lùng lãnh đạm, trông tẻ ngắt như
xác không hồn. Còn sự thanh bạch mà đi đôi với lòng nhân
ái thì có khác gì suối thần hễ chảy tới đâu là vạn
vật hớn hở vui mừng tới đó.
Thái
tử Djêta đem hết tinh thần nghe Phật giảng không sót một
lời nào. Trong lòng rất hổ thẹn, ăn năn, cứ quỳ gối mà
bạch rằng:
Lạy
Ðức Chí Tôn! Con xin Ngài cho con cái đặc ân gặp Ngài một
lần nữa, để con ráng sửa mình cho hợp với lý đạo. Bây
giờ con đã biết làm cách nào cho Ngài vui lòng rồi.
Ðức
Phật từ bi dịu dàng đáp:
- Ta
bằng lòng.
Ðoạn
Ngài nhìn thái tử Djêta với nụ cười tươi dịu, chứa chan
tình thương…
Cặp
mắt hiền lành của Ngài bỗng chói lên như ngôi tinh đẩu,
lóng lánh rạng ngời, sáng khắp cả rừng, làm cỏ hoa hớn
hở chim chóc líu lo giữa đêm khuya như buổi bình minh vậy.
Trời
đất tối đen như mực, xa xa đoàn quân hộ giá đốt đuốc
dẫn đường, theo sau là Hoàng tử Djêta lê chân chậm rãi,
trong trí còn văng vẳng lời vàng tiếng ngọc của Ðức Phật
từ bi. Ra khỏi rừng thì trời đã sáng. Hoàng tử cùng đoàn
tùy tùng lên đường trở về nước Cam Sa Ba. Làm sương mờ
đục đêm hôm đã tan dần trong không khí nhẹ. Nơi phương
Ðông một dãy mây hồng nhạt nằm ngang chân trời xanh, phút
chốc lại lan rộng ra và đổi màu đỏ ra màu da cam.
Rồi bỗng vụt biến sau những tia sáng rực rỡ thành hình
vẽ quạt. Vầng ô đã mọc, cảnh vật trở nên trong sáng
tưng bừng với những màu tươi thắm, vang động những tiếng
chim nuông đón chào buổi bình minh ngoạn mục.
Lúc
bấy giờ trong chốn rừng xanh tĩnh mịch, dưới cội Bồ Ðề,
Ðức Phật Thích Ca vẫn ngồi yên như pho tượng.
*
Khi
Hoàng tử Djêta hồi trào gặp lúc vua cha lâm bệnh nặng, Ngài
lên cầm quyền thống trị, lấy sự công bằng và nhân ái
làm căn bản.
Trước
nhất Ngài ban tước lộc cho Da Sa và Ba Ti Ca.
Ngài
truyền cất cho hai người hai cái cung điện đẹp đẽ khít
nhau cho đôi bạn được ở gần. Ngài lại cho người tìm
vị thứ phi Nam Ðà rước về hoàng cung ở với Ngài.
Khi
tất cả triều đình và các vị cựu thần hay tin thái tử
Djêta phục chức nàng Nan Ðà thì như bị sét đánh ngang tai
họ hết sức kinh ngạc, họ mới si tiếu dèm pha và khiển
trách Ngài thậm tệ.
Thái
tử Djêta còn giảm thuế cho dân và thả tội nhân. Ngài bãi
bỏ những sự dị đoan mê tín. Tuy những sự cải cách sửa
sang việc nước được công bình và nhân ái. Nhưng vì quá
đột ngột nên Hoàng tử không tránh khỏi lời dèm siểm của
triều đình và dân chúng. Họ nói Ngài quá lạm quyền bỏ
chế độ quốc gia, phá hoại phong tục nước nhà, khuyến
khích sự loạn luân…
Hoàng
tử giả mắt ngơ, tai điếc, trầm tĩnh và yên lặng trước
sự sỉ tiếu cũng như trước sự khen ngợi. Ngài thấy
mình đang trải qua của sự thử lòng để tiến tới, bằng
phải đọng lại thì sẽ thất bại như mấy lần kia.
Ngài nhớ rằng: Nếu muốn đến chỗ toàn thắng lợi, trước
nhất phải chịu lao khổ. Mỗi mũi gai đâm vào chân làm rướm
máu là mỗi lần bước kề ngôi thiêng liêng. Người muốn
đi xa trên con đường đạo thì phải làm chủ lòng mình và
phải tìm trong thâm tâm cái gốc rễ của sự quấy, đặng
diệt tân gốc nó đi. Sự quấy cũng sống và đâm chồi mọc
rễ trong tâm của các bậc thượng nhân, nếu ta không cương
quyết thì làm sao thắng nó đặng. Nó là một thứ cây cứ
sống và cứ lớn mà kiếp này sang kiếp khác. Và nó chỉ
đơm bông khi nào con người đã thu thập nhiều sự kinh nghiệm
của muôn kiếp luân hồi. Vả lại trong kinh cỗ điển đã
có nói như vầy: “Gốc rễ của tật xấu mọc tận thâm
tâm con người, nếu ta nhổ nó đi, thì tâm ta phải rướm
máu và đời sống của ta dường như ta rã! Nhưng đó là một
cuộc thử lòng ta phải trải qua. Nó có thể xảy ra ở nấc
đầu hay cuối thang Minh Triết để đưa ta đến con đường
sống thật, ta phải tập trung tất cả lực lượng của tâm
hồn vào đó mới đặng”.
Trong
khi thái tử Djêta thấy đặng cái chân lý vĩ đại nầy, thì
có một phái bí mật lập ra để đánh đổ Ngài do em ruột
Ngài chủ mưu. Họ họp nhau để tìm mưu thần chước quỷ
lật Ngài đặng đem em Ngài lên thay thế. Họ phủ dụ quần
chúng: “Hoàng tử Djêta độc tài. Những sự cải cách
của Ngài sẽ làm cho nước Cam Sa Ba mắc phải vòng nước
lửa binh đao và sẽ đi đến chỗ diệt vong”. Họ lại
còn phao rằng: “Thái tử mê tín dị đoan nghe lời một vị
ác Tăng khét tiếng tại thành phố Cam Sa Ba làm cho nước nhà
rối loạn và đã bãi bỏ nhiều quốc luận lưu truyền từ
cổ chí kim, cốt ý để lập ra một cái tôn giáo phù thủy!”
Người
ta cứ tuyên truyền như thế để gây ác cảm trong lòng dân
chúng. Rồi một ngày kia, Hoàng tử Djêta nghe kẻ tâm phúc
mách rằng: “Có một nhóm người định thích khách Ngài”.
Cái tin sét đánh ấy không làm cho Ngài lo sợ và xao xuyến,
vẫn an tĩnh như thường trong lòng cứ tưởng niệm đến đấng
từ bi. Nhưng tốp quân hầu trung tín của Ngài sốt sắng
hộ giá cho Ngài, ngày đêm không ngớt.
Một
ngày kia, Hoàng tử Djêta vừa bước chân ra khỏi Hoàng cung,
thì có người cầm dao nhảy tới toan thích khách Ngài. Người
ấy là A La Da thuộc dòng Kshattryas. Ngài hô lên, thị thần
nhào tới bắt trói đặng thủ phạm. Hoàng tử Djêta mới
bảo dẫn tên sát nhân đến trước mặt Ngài. Hoàng tử bình
tĩnh hỏi rằng:
- Này
A La Da! Tại sao nhà ngươi muốn giết ta?
- Bởi
vì tôi thấy Ngài là một mối hại cho đất nước. Ngài phá
hoại luân thường đạo lý. Ngài muốn hủy bỏ phong tục
thiêng liêng của nước nhà và đem lại cho chúng tôi một
cải cách nguy hiểm, có thể đưa xứ sở đến chỗ diệt
vong, tôi phải giết Ngài để trừ hậu họa mai sau.
Hoàng
tử Djêta nhìn kẻ sát nhân với cặp mắt chứa chan tình thương
xét nghĩ: “A La Da phạm tội chỉ vì mê tín mà thôi”.
Ðoạn
Ngài day qua đám quân hộ giá mà nói rằng:
- Ờ
các khanh! Các khanh có nhận thấy kẻ sát nhân này còn chút
điểm lương tâm không? Vậy các khanh hãy mở trói thả nó
ra!
Các
quan chưng hửng, nhưng không dám cãi lệnh. Rồi Thái tử nói
tiếp với một giọng oai nghiêm như vầy:
- Bây
giờ đây các khanh hãy lui ra, để một mình ta với người
này nói chuyện mà thôi!
Trước
sự cương quyết ấy đoàn hộ giá rất kinh ngạc, nhưng bất
đắc dĩ phải ríu ríu lui ra xa, không dám ngó ngoái lại, cả
thẩy đều phập phồng lo sợ cho tính mạng của Hoàng tử
không cùng.
A La
Da ngạc nhiên và không còn hoảng sợ nữa. Y khoanh tay ưỡn
ngực nhìn vào mặt thái tử như muốn khiêu khích, không để
ý đến cử chỉ khinh thị ấy, Djêta bước lại gần nhẹ
nhàng để tay lên vai y lẳng lặng nhìn y trân trối. Trong mắt
Ngài chứa biết bao là từ bi bác ái và sẵn sàng tha thứ
các tội lỗi. Ngài càng nhìn càng thầm nghĩ: “Người đời
cũng vì sự tư kỷ mà gây ra lắm điều tội lỗi. Bậc chân
tu hay để mắt tìm cái nguyên nhân của sự tội lỗi để
tha thứ chớ không chịu tìm cái tội lỗi để mà trách phạt.
Mọi việc xảy ra trước ta chẳng hung dữ, muốn tận sát
người? Trời đất chí ư công bình, lưới trời tuy thưa mà
mũi kim dễ lọt được nào! Tội nghiệp thay cho kẻ tàn ác!
Vì vô minh mà kiếp sau phải chịu muôn vàn đau đớn”.
Rồi
một tình thương không bờ bến chiếm cả tâm hồn của Thái
tử và lan cùng vạn vật một sự ước muốn được cứu
độ chúng sanh đến đỗi tâm tư Ngài đã thoát ra ngoài bản
thể. Thình lình Thái tử Djêta tiếp xúc một cái cảm giác
mới lạ và phi thường dường như Ðức Phật mà Ngài đã
tôn sùng là Ðấng Tôn Sư, trong âm thầm đã ban ân bố hóa
Ngài được minh tâm kiến tánh, biết rõ điều quá khứ vị
lai…
Nhãn
quan bậc tỏ chốc thời, Ngài thấy được kiếp trước của
A La Da vốn là một Tướng sĩ hung tàn bạo ngược, tạo ra
biết bao nghiệp quả nặng nề. Rồi ngày nay cũng vì sự vô
minh mà nó phải lầm lạc như thế này! Nếu ta lấy oán mà
báo oán thì biết bao giờ oán nọ mới tiêu! Ta phải lấy
ân mà đáp oán thì oán mới dứt.
Ôi!
Tội nghiệp thay cho A La Da! Chớp mắt, Hoàng tử Djêta không
còn thấy A La Da nữa, Ngài thấy hiện ra chỗ A La Da đứng
một cõi hồng trần với vô số sanh linh đang mê man lăn lóc
trong cảnh lầm than đau khổ! Chúng sanh vì vô minh mà mắc
vào bánh xe luân hồi, mãi sanh rồi tử, tử rồi sanh, chịu
biết bao lần khổ não đau đớn. Khi vào các ra đài, lúc lên
xe xuống ngựa, khi làm kẻ cùng đinh tàn tật… mà mỗi
kiếp luân hồi đều đem sự đau khổ, nhưng con người luôn
luôn muốn đầu thai, chịu sự đao đớn, mà sự đau khổ
là cái kết quả của sự ham muốn vậy! Than ôi! Ðời là
bể hoạn. Nghĩ đến thân phù thế mà đâu có khác gì bọt
trong bể khổ. Tội nghiệp thay cho nhân loại, đang oằn oại
dưới màn vô minh, mãi đắm chìm theo mùi trụy lạc, chớ
nào dè: “Phú quý tợ môn tiền tuyết, công danh như thảo
thượng sương!”
Hỡi
thế giới đau khổ! Hỡi nhân loại đang dẫy dụa trong lưới
đau thương của cuộc đời. Ta đã thấy và đã nghe hơi thở
hấp hối của trần gian. Ôi! Ðời vẫn là thế sao chính ta
đây cũng đã say đắm với những khoái lạc huyền hoặc của
cuộc đời.
Người
hiểu rõ cơ trời, thì cho cõi trần chẳng khác giấc mộng
huỳnh lương, nên không tranh giành cấu xé vì bã vinh quang
phú quý. Phải chi mọi người đều biết thương yêu lẫn
nhau như tình huynh đệ, thì đâu có sự thống khổ này? Nếu
biết chắc chúng sanh vốn một gốc mà ra và huynh đệ với
nhau, thì đâu có cảnh nồi da xáo thịt?
Suy
nghĩ đến đây, Thái tử Djêta cảm thấy trong lòng tràn ngập
một mối yêu thương tha thiết!... Ngài muốn dang tay xiết
chặt loài người vào lòng đang thổn thức của Ngài, mong
đem tánh mạng, và tinh thần với một tình thương vô tận
mà ấp ủ vuốt ve, những kẻ tội lỗi, rầu đau!... Ngài
muốn hy sinh cái gì cao quý của lòng mình để đưa người
trần tục lên một nấc thang tiến hóa…
Ðến
đây Thái tử Djêta bỗng trở lại thực tế, dường như chợt
tỉnh sau một giấc mộng phi thường. Rồi nhìn lại thấy
A La Da gục đầu kinh khủng. Ngài bèn nói với một cách tha
thiết rằng: “Anh ơi! Tôi không biết gì hơn là anh và tôi
vốn thật là anh em với nhau cùng chung một đấng Cha lành.
Tôi thương anh lắm. Vậy anh hãy ngã vào lòng tôi, cũng như
muốn chia sự vinh quang của tôi, cũng như tôi muốn chia điều
đê nhục của anh.”
Từ
đàng xa quân hầu đợi đã lâu, ánh thái dương rọi xuống
giữa rừng sâu, vạn vật tưng bừng cây cỏ tươi xanh, muôn
hoa đua nở hương sắc thanh kỳ phô vẻ ngàn hồng muôn tía
như mỉm cười duyên dáng trước ngọn gió mai. Xa xa, mấy
gốc thùy dương dịu dàng nghiêng mình soi bóng bên dòng suối
nhỏ trong veo. Dưới cội Bồ Ðề hùng vĩ Ðức Phật đang
ngồi kiết già thiền định, Ngài đang đợi Thái tử từ
đêm hôm, bởi vì Ngài đinh ninh Thái tử không bao giờ thất
hẹn. Cảnh vật lúc bấy giờ như đang đón một niềm
hạnh phúc thiêng liêng gì. Ðóa hoa hàm tiếu trong kẹt đá
bỗng ngửng lên và khoe nhụy. Những con sóc vàng mắt sáng
đang uốn mình dưới ánh thái dương, bỗng nhảy nhót lên
như mừng rỡ, đợi chờ. Gió hôm nay, lại rào thổi ngạt
ngào hương rừng từ cõi xa xăm đưa lại. Trên cành hoa sứ
trắng tinh, bầy chim non ríu rít mà Ðức Phật thường nói
là bầy con dại đang uốn lưỡi tung ra tràng nhạc thiêng liêng
nghe thánh thót, xa trông những giọt sương nặng trĩu trên
cành tơ liễu buông mình xanh mướt lóng lánh dưới ánh mặt
trời buổi sáng như những hạt kim cương vô giá. Bởi vì,
trong cảnh tĩnh mịch của núi rừng sự hoan khởi của tạo
vật tức là hoan khởi của tinh sương trong sạch…
Bỗng
đâu có tiếng động từ xa đưa lại và Ðức Thế Tôn bèn
mỉm cười mở mắt. Thái tử Djêta đã đứng trước mặt
Ngài, không một tên quân hầu, không ăn mặt xôm xuê, chỉ
khoát trên mình một manh áo vàng của người hành khuất với
dáng điệu mệt nhọc vì đã trải qua bao dậm xuyên sơn. Thái
tử bèn quỳ mọp xuống chân Ðức Từ Bi vô cùng cảm động,
chẳng thốt một lời nào! Ðức Thế Tôn xòe bàn tay mặt
đưa lên khỏi đầu Thái tử để ban ân huệ rồi nói với
một giọng hết sức dịu dàng:
- Ðệ
tử Djêta con ơi! Ta vui mừng và hoan nghênh con vậy.
Rồi
từ đấy trên con đường giải thoát rộng lớn thênh thang
của Ðức Từ Bi, bên cạnh Ngài hình bóng Djêta sớm hôm luyện
đạo để một ngày kia thay mặt cho Tôn Sư mà phổ độ thế
gian…
Trên
đường đạo nhiều khi ta khổ sở
Một
lòng hăng hái tiến không thôi
Dù
cho non nước có đổi dời
Ta
cũng nguyện muôn đời tinh tiến mãi.
Hai
con cọp tinh ở Hoành Sơn
Ðời
đường bên Trung Hoa, ở vùng Mân Trung có một xử sĩ tên
là Mã Thừa. Mã Sinh tánh thanh thoát nhàn tĩnh, ưa ngao du ở
nơi danh lam thắng cảnh, dù trèo non vượt suối cũng không
nài sự gian lao. Trong niên hiệu Trường Khánh, Mã sắm sửa
hành trang đem theo một đứa tớ, đến du ngoạn các cảnh
đẹp ở Hoành Sơn. Nghe nói nơi ngọn Chúc Dung có một ngôi
chùa cỗ, khi xưa vốn là Ðạo Tràng của Phục Hổ Thiền
sư, cảnh trí bốn bề rất nên u nhã, Mã liền lần hỏi sơn
dân tìm đường đến thăm viếng.
Một
buổi xế ngọ, Mã cùng đứa tớ đã để bước đến đạo
tràng ngọn Chúc Dung, tuy lộ trình khó nhọc, nhưng nhờ gió
non phất phơ, thanh khí mát mẻ, xung quanh cổ thụ xum xuê,
nhìn xa xa núi đồi thấp cao trùng điệp, chim hót véo von dường
chào hỏi, hoa tươi muôn sắc tợ đón cười, thầy tớ cơ
hồ như quên cả mệt mỏi. Ði lần vào trong, thấy ngôi chùa
xưa đã hư đổ gần phân nửa, một vị lão Tăng tướng mạo
khôi vĩ, tóc mày đều bạc, mừng rỡ bước ra đón chào lên
viếng Ðại Hùng Bảo điện, Mã sinh thấy nơi bàn Phật có
ba chiếc hốt bằng bạc. Hành lễ xong, thầy trò được lão
Tăng đưa xuống nhà hậu uống trà. Giải lao giây lát,
vị Tăng bảo: “Ở đây duy có một mình tôi đơn chiếc,
xin ông tạm nghỉ nơi liêu sau và cho tôi nhờ đứa tớ xuống
chỗ quán gần Huyện đây mua chút ít tương muối”. Mã Sinh
vui lòng chấp thuận, đứa tớ cầm tiền ra đi, vị lão Tăng
cũng có việc bên ngoài vắng mặt. Nằm nghỉ độ nửa giờ,
Mã Thừa bước ra ngoài định đi dạo quanh, thì vừa gặp
sơn dân tên Mã Chiểu cũng một mình lên non viếng cảnh. Cả
hai cùng mừng rỡ hỏi han. Chiểu bảo Thừa rằng: “Tôi lên
đến lưng chừng núi bỗng thấy con cọp đi rồi mới
vội vã lên đây”. Thừa gạn hỏi cách phục sức của người
đó, nghe Chiểu tả lại hình dạng, biết là đứa tớ của
mình, trong lòng bỗng nhiên thê thảm. Chiểu lại nói: “Từ
xa tôi thấy cọp trắng sau khi ăn thịt người, liền trút
bỏ lớp da ngoài, hoàn lại hình người mặc chiếc áo nhà
Thiền, nghiễm nhiên là một vị lão Tăng”. Mã Thừa nghe
nói lại càng kinh khủng.
Ðang
khi nhỏ to trò chuyện, vị lão Tăng ở bên ngoài về đến
Mã Chiểu cả sợ bảo: “Thôi đúng là lão này rồi!”. Mã
Thừa bấm tay bạn, ngầm bảo nên trấn tĩnh. Ðợi lúc vị
lão Tăng đến gần, Thừa liền lựa lời dò hỏi rằng: “Anh
bạn tôi vừa thuật lại có người ở lưng chừng núi bị
cọp ăn thịt, việc ấy Sư có biết chăng?”. Vị Tăng lộ
nét giận bảo: “Ở cảnh của bần đạo đây, núi chẳng
cọp beo thú dữ, cỏ không rắn rết trùng độc, cho đến
rừng cũng vắng bóng ác điểu như loài chim cú, chim mèo.
Ðó là lời đồn đãi của những kẻ nông nổi mà thôi!”.
Thừa lặng lẽ quan sát, thấy nơi khoé miệng vị lão Tăng
còn ứa máu tươi, lòng đã tin chắc, liền thác cớ nói rằng:
“Bây giờ trời đã hoàng hôn, chúng tôi đi đường xa mệt
mỏi, xin phép vào nhà sau an nghỉ, rạng ngày sẽ hầu chuyện”.
Ðoạn
hai người đem hành trang vào hậu trường, nhìn quanh thấy
đây là nhà trai. Nơi bàn giữa có thờ cốt tượng một vị
Tăng mày trắng rủ dài, nơi vách trên đề câu: “Nam mô Giám
Trai sứ giả Tân Ðầu Lô Phả La Ðọa Xà Tôn Giả”. Cả
hai liền gài đóng cửa chắc chắn, khiêng bàn tấn chặt thêm
cửa sau trước, đốt ngọn nến sáng để ở chỗ thờ Tân
Ðầu Lô A La Hán. Xong, mới lấy lương khô ra ăn, rồi
cùng thì thầm bàn luận: “Ðây tất con cọp bạch lâu năm
đã thành tinh. Chắc mấy vị Tăng khi trước ở chùa
này đều bị nó ăn thịt cả, sau nó mới hóa thành hình sa
môn để gạt người. Những du khách lên viếng cảnh, có thể
đã nhiều kẻ bị mất mạng vì nó. Cái chết đã đến gần,
chúng ta chớ nên ngủ, phải cùng nhau bàn định để thoát
qua tai nạn này”.
Lẩn
bẩn đã gần nửa đêm, cả hai tính chưa ra kế, bỗng nghe
từ phía trước rồi đến sau, có tiếng va vào cửa rầm rầm.
Biết là cọp tinh muốn phá cửa vào ăn thịt, hai người kinh
hoảng vội chạy đến đốt hương nơi bàn thờ, cùng quỳ
xuống chắp tay niệm danh hiệu Ðức Tân Ðầu Lô Tôn Giả
cầu xin cứu độ. Chí thành niệm được một lúc lâu bỗng
nghe từ pho tượng có tiếng ngâm chậm rãi nho nhỏ rằng:
“Người
Dần sẽ đắm trong thành nước
Gã
Ngọ nên chia hướng cấn Kim
Nếu
như đặc Tiến thêm giương ná
Tướng
dữ đi sau bị tổn tim”.
Vì
cửa rất chắc cọp tinh không vào được, nên tạm thối lui.
Trong khi đó hai người duy để hết tâm cầu nguyện, quên
cả ngoại duyên. Ðến chừng nghe rõ bài kệ, dò lắng bên
ngoài thấy yên, mới cùng nhau bàn giải rằng: “Người Dần
- Dần thuộc về hành chi Hổ, tức chỉ cọp tinh hoá thành
người. Thành nước - nước có thành quách xung quanh, đó là
nước giếng. Gã Ngọ - Ngọ là ngựa, tức chỉ cho chúng
ta vì đều là họ Mã. Hướng Cấn Kim - chữ Cấn đứng bên
chữ Kim, thành chữ Ngân. Ðó là ý bảo chúng ta phải chia
thứ gì bằng bạc. Còn hai câu sau, hai người không thể giải
thích được.
Sáng
ra gần đến trưa, có tiếng vị lão Tăng gọi đi ăn cháo.
Không còn lòng dạ nào để ăn uống, mà ở mãi trong nhà khách
cũng bị chết đói, bất đắc dĩ cả hai phải mở cửa ra
ngoài. Mã Chiểu than thở: “Tình thế này chúng ta không thể
liều lĩnh xuống núi, vì sợ nó hoàn hình đón đường vật
chết!”. Mã Thừa nhìn quanh thấy cái giếng bên nhà trai,
chợt động tâm cơ bảo: “Thôi đúng rồi, Tôn Giả mách
bảo chúng ta như vầy…”.
Liền
đó hai người tới giếng, gọi to lên rằng: “Sư lại đây
xem dưới giếng có cái chi lạ lắm”. Lão Tăng đến nơi
nhìn xuống, bất ngờ bị hai người xô xuống giếng, rồi
cả hai cùng khuân tảng đá lớn liệng bồi thêm. Kết cuộc
lão Tăng chết đắm dưới giếng hoàn thành hình con cọp bạch
nổi lên. Hai người rảnh mối bận tâm, vào chùa tìm thức
ăn thấy ba cái hốt bằng bạc nơi bàn Phật, nhớ lại lời
kệ, liều thâu lấy rồi cùng xuống núi.
Ði
đến nửa đường, trời đã sẩm tối. Cả hai gặp một người
thợ săn đón lại bảo: “Ðêm đã đến, đường xuống núi
e có nhiều thú dữ. Phía trước tôi đã đặt bẫy, xin hai
ông tạm lên chòi gác ở với tôi cho qua đêm nay”. Hai người
kinh sợ, vội theo thợ săn leo lên cây, ngủ trên chòi gác.
Giây lát trăng non mọc lên. Trong sáng ánh sáng mơ màng,
bỗng có một đoàn độ năm mươi người, Tăng, Ni, Ðạo sĩ,
đàn ông, đàn bà từ trên núi đi xuống. Ðoàng người có
kẻ trầm lặng, có người ca ngâm hoặc nhẩy múa. Khi đến
chỗ đặt bẫy, cả bọn nổi giận bảo: “Hồi trưa có hai
tên giặc giết chết vị sư già của chúng ta. Nay bọn ta theo
dấu mà tìm bắt, lại có kẻ cả gan dám đặt bẫy muốn
giết tướng quân của chúng ta nữa”. Nói xong gỡ tháo chốt
ná rồi bỏ đi. Mã Chiểu gạn hỏi: “Bọn đó là chi, Tướng
quân là ai”. Thợ săn đáp: “Ðó là những người bị cọp
giết chết thành ma tràng, gọi là hổ trành. Bọn ma này tiền
đạo đi trước dọn đường. Tướng quân, có lẽ là
chỉ cho con cọp đi sau”. Mã Thừa nhớ lại lời kệ liền
hỏi thợ săn: “Anh tên họ là chi?”. Thợ săn đáp: “Tôi
họ Ngưu tên Tiến”.Hai người cả mừng bảo: “Nếu thế,
lời kệ có ứng nghiệm rồi. Hai câu “Nếu như Ðặc Tiến
thêm gương ná, tướng dữ đi sau bị tổm tim”. Chữ Ðặc
có chữ Ngưu ở một bên, Ðặc Tiến tức là ám chỉ cho Ngưu
Tiến. Còn tướng dữ đi sau chỉ cho tướng quân mà họ nói.
Ðây chắc là một con cọp thành tinh nữa, nên mới gọi là
“dữ”. Có lẽ cọp kia là chánh tướng, cọp này là phó
tướng”.
Không
kịp giải thích câu chuyện hai người vội thôi thúc nên giương
ná lại. Anh thợ săn y lời, xuống giương bẫy ná rồi leo
trở lên. Vừa ngồi yên, bỗng thấy từ xa có con cọp xám
rất to lần lần tiến đến. Vì thờ ơ, chân trước cọp
đạp nhằm chốt nỏ, mũi tên phát ra xuyên trúng vào tim, nó
gào rống một lúc rồi tắt thở. Bọn ma trành nghe tiếng
chạy trở lại, phục xuống bên xác hổ than khóc rằng: “Ai
lại nỡ giết hại tướng quân của chúng ta như thế này?”.
Ở
trên cây Mã Chiểu nghe khóc bỗng tức giận quát lớn: “Chúng
bay thật là lũ ma khờ dại! Lúc sống đã bị cọp giết một
cách thê thảm nay ta vì chúng bay báo thù, sao không cảm tạ
lại còn than khóc? Ma quỷ gì mà không linh hiển chi cả vậy!”.
Tiếng quát vừa dứt bốn bề yên lặng, bỗng có con ma đáp
rằng: “Chúng tôi bị thế lực của nó ám, nên không biết
tướng quân là cọp tinh. Nay nghe ông nói mới bàng hoàng tỉnh
ngộ!”. Nói xong cả bọn đạp xác cọp rủa mắng, tạ ơn
ba người rồi tản đi mất. Mã Thừa lần lượt thuật lại
trước sau câu chuyện cho anh thợ săn nghe. Ðoạn lấy ra ba
chiếc hốt bạc, chia nhau ba người mỗi người một cái. Thợ
săn than thở bảo: “Những con cọp tinh đều có tánh linh
thông, nếu không nhờ sức ám trợ của Tôn Giả Tân Ðầu
Lô, tất chẳng dễ gì giết hại được chúng nó!”.
Sáng
lại, hai họ Mã từ biệt người thợ săn, xuống núi trở
về…
Liên
Du
Việc
làm hư thật tự mình hay
Họa
phước do ta chớ hỏi Thầy
Thiện
ác chung qui đều báo ứng
Nếu
không sớm đến ắt là chầy.
Thọ
trì ba giới
Tương
truyền, khi Phật còn tại thế, nơi thành Xá Vệ có một thanh
niên, con một gia đình trưởng giả lương thiện, thường
nghe Phật thuyết pháp, phát tâm quy y Tam Bảo và xin xuất gia
học đạo.
Bấy
giờ, trong hàng Tăng chúng có một vị Tôn Giả được giao
cho trách nhiệm giảng về thế giới luật cho thanh niên học
hỏi. Tôn Giả dạy rằng: “Này là pháp hữu, đây là loại
giới thứ nhất, đây là giới thứ hai, giới thứ ba, thứ
tư…thứ chín, thứ mười v.v…Ðây là tiểu giới của người
xuất gia, đây là trung giới, đây là đại giới, đây là
Ba La Ðề Mộc Xoa, đây là giới căn bản, đây là Tịnh giới
về hành vi, đây là những thường giới để dùng hàng ngày…”.
Vị Tôn Giả còn giảng nhiều hơn nữa.
Nghe
xong, vị tân Tỳ kheo nghĩ rằng: “Số mục, danh từ
của giới quá nhiều, một lượt mà phải thọ giữ bao nhiêu
giới luật như vậy, e rằng khó bảo toàn! Ðã không giữ
giới được hoàn toàn, thì sự xuất gia không lợi ích gì.
Chi bằng trở về làm một trưởng giả (như cha mình trước
kia) làm ít việc thiện như: Bố thí, phóng sanh… rồi nuôi
dưỡng vợ con là đủ rồi”. Nghĩ vậy, vị tân Tỳ kheo
mới thưa với Tôn Giả rằng: “Thưa Tôn Giả, tôi không thể
giữ một lúc nhiều giới luật như vậy được! Không giữ
được thì xuất gia có ích gì? Tôi sẽ hoàn tục để sinh
sống, xin dâng y bát lại cho Ngài!”.
Tôn
Giả đáp: “Ðành rằng ông có thể hoàn tục nếu thấy mình
không kham lãnh, nhưng ông cũng phải đến đảnh lễ Ðức
Phật một lần cuối đã”. Nói đoạn, Tôn Giả dẫn vị
tân Tỳ kheo đến lễ Ðức Phật. Ðức Phật vừa trông
thấy hai người đã hỏi rằng:
- Các
ông hôm nay đến đây có việc gì?
- Bạch
Thế Tôn, vị Tỳ kheo nầy nói là không thể chấp trì giới
luật, giao trả y bát, và hoàn tục vì vậy chúng con hướng
dẫn người đến đảnh lễ lần cuối, từ biệt Ðức Thế
Tôn.
Hiểu
được nguyên cớ, Ðức Phật mới dạy rằng:
- Nầy
Tôn Giả, sao Tôn Giả lại giảng cho vị tân Tỳ kheo nầy
nghe nhiều giới luật như thế? Ông ấy chỉ nên tùy theo sức
mình mà tuân giữ chớ! Về sau Tôn Giả không nên giảng giới
nhiều như vậy nữa. Bây giờ hãy để ông ấy ở lại đây
với tôi…
Rồi
Ðức Phật bảo vị tân Tỳ kheo kia rằng:
- Ông
hãy nghe đây, ông không còn phải giữ nhiều giới như vậy
chỉ có 3 giới thôi. Chừng ấy ông có nhứt định giữ được
không?
Vị
Tỳ kheo muốn hoàn tục kia thưa rằng:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, chỉ có 3 giới thôi, thì con có thể giữ được.
Ðức
Phật mỉm cười:
- Tốt
lắm! Từ nay về sau ông chỉ giữ 3 giới là ngăn ngừa 3 nghiệp
Thân, Khẩu, Ý không để chúng phạm vào các điều ác.
Tôi nhắc lại là ông chỉ cần giữ 3 giới ấy mà thôi, chớ
nên hoàn tục làm gì.
Nghe
Ðức Phật dạy như thế, vị Tỳ kheo kia hết sức vui mừng,
hướng về Ðức Phật đảnh lễ và phát nguyện trọn đời
giữ 3 giới mà Ðức Phật vừa trao, rồi đảnh lễ Ðức
Phật theo chúng trở về tịnh xá. Ông nghĩ rằng: “Các vị
Tôn Giả không được như Ðức Phật, giảng dạy giới luật
cho mình mà dùng nhiều loại danh số quá, khiến cho mình trong
một lúc không thể lãnh ngộ, nhưng khi đến Ðức Phật Ngài
tóm thâu các danh số phiền phức của giới, chỉ còn có 3
môn để trao dạy cho mình, thì mới vỡ lẽ thấu rõ.
Ðức Phật quả là một vị Pháp Vương trong thế gian không
còn ai hơn nữa”.
Từ
đó trí tuệ ông tăng trưởng rất mau. Sau mấy hôm, ông chứng
được quả vị A La Hán.
Khi
rõ được sự kiện trên, các vị Tỳ kheo mới họp nhau bàn
luận: Các pháp hữu, đối với vị Tỳ kheo sắp sửa hoàn
tục kia, Ðức Thế Tôn đã khéo léo phương tiện đem tất
cả giới luật gồm thâu làm 3 môn học mà trao cho ông ta,
làm cho ông ta sớm chứng được quả vị, Ngài thật là một
người vĩ đại! Trong khi mọi người đang bàn luận về công
đức của Ðức Phật, thì ngay lúc ấy Ðức Phật cũng vừa
đi đến, Ngài hỏi:
- Các
ông nhóm họp bàn luận việc gì?
Một
vị Tôn Giả thay mặt đại chúng thưa rõ mọi việc điều
vừa bàn luận, Ðức Phật nghe xong liền dạy:
- Này
các Tỳ kheo, một bao to thì nặng quá nhưng khi chia thành mấy
bao nhỏ, vác lên vai mà đi thì sẽ nhẹ nhàng. Xưa có
một Trưởng giả được một khối vàng rất lớn không thể
nhắc lên, ông bèn phân làm mấy khối nhỏ, sau đó ông lần
lượt đem về nhà, không có gì gọi là nhọc sức cả.
Tiếp
theo Ðức Phật thuật lại một mẫu đời như sau:
“Thuở
xưa, trong thành Ba La Nại, có một nông phu một hôm ra đồng
cày ruộng. Ðó là một khoảnh ruộng được di tặng bởi
một phú ông trong thôn. Phú ông trước khi qua đời có đem
chôn giấu một khối vàng lớn trong đám ruộng ấy. Người
nông phu đang cày ruộng, thì bỗng dưng lưỡi cày chạm phải
khối vàng trượt lên. Ông tưởng là cái rễ của một đại
thọ, bèn moi đất lấy lên, mới biết là một khối vàng
vĩ đại! Ông vui mừng trong lòng, rồi lấp đất phủ lại
như cũ, đánh trâu tiếp tục cày những nơi khác. Ðến chiều,
khi mặt trời vừa lặn, ông cho trâu nghỉ ngơi và đến moi
lấy khối vàng. Nhưng khối vàng quá nặng, ông mới suy nghĩ:
“Chỉ có cách chẻ khối vàng nầy ra làm bốn, một phần
để sinh kế, một phần để dành làm vốn buôn bán về sau,
và một phần đem ra bố thí làm các việc thiện”. Nghĩ như
vậy ông liền chẻ khối vàng ra làm bốn, rồi lần lượt
đem về nhà ba phần một cách dễ dàng không mệt sức. Ông
giữ lời nguyện đem một phần ra làm việc phước thiện.
Nhờ đó, đời đời kiếp kiếp được sanh vào các cảnh
thiện…”.
Rồi
Ðức Phật kết luận:
- Người
nông phu được khối vàng lúc bấy giờ chính là tôi ngày
nay đây!
Tâm
Hiện
Nầy
các ngươi, không có công đức gì lớn hơn cung kính và cúng
dường Xá Lợi, nhưng công đức ấy hãy để lại cho các
vị Quốc Vương Trưởng giả làm; nhiệm vụ cần thiết của
người tu hành chúng ta là phải kết tập Pháp tạng và thanh
tịnh tu hành, làm sao cho Phật pháp ở thế gian thường còn
không tiêu diệt.
Món
nợ truyền kiếp
Ngày
xưa hồi mới khai thiên lập điạ, có một con chim họa mi,
làm ổ trên cành cây đào, ngày nào nó cũng hót để ca tụng
vẻ đẹp của muôn loài. Dưới gốc cây, có một con
rắn rất hiền lành, bây giờ thuộc loại rắn mù, nhưng hồi
đó nó có một mắt. Con rắn rất mê giọng hót lảnh lót
của chim họa mi. Nó thường nằm khoanh dưới gốc cây hay
nằm dài phơi nắng để thưởng thức tiếng hót thần tiên
của họa mi. Thuở ấy, chim họa mi cũng chỉ có một con mắt
ngay giữa trán.
Một
hôm, con bướm có đôi cánh ngũ sắc rất đẹp, ở gần đấy
đến mời chim họa mi đi ăn cưới. Bướm biết mình đẹp
đẽ, uyển chuyển, nhẹ nhàng, thường được ca tụng nên
bướm rất kiêu hãnh. Không bao giờ bướm chịu nhìn xuống,
nên bướm không biết sự có mặt của rắn trên mặt đất.
Tiếng hót của họa mi đã nhiều lần giúp đôi cánh bướm
dịu dàng thanh thoát nên bướm nhất định mời chim họa mi,
để tiếng hót làm tăng thêm phần long trọng cho bữa tiệc
tân hôn.
Ðược
bướm mời mọc ân cần, chim họa mi rất hãnh diện, nhưng
sau đó chim cảm thấy lo sợ, khi nhìn lại thấy bộ lông của
mình quá tầm thường, chim sợ mình sẽ không được ai để
ý trong tiệc cưới của anh bướm rực rỡ màu sắc. Chim liền
than thở với con rắn hiền lành. Nghe xong rắn nói:
- Có
được tiếng hót như anh, lo gì không được người để ý.
Tôi tin chắc, lúc anh cất tiếng hót, không ai còn để ý đến
đôi cánh rực rỡ của anh bướm hay bộ lông trắng của muốt
của chị thiên nga. Tất cả đều sẽ mê tiếng hót của anh,
không ai để ý đến bộ lông tầm thường của anh đâu. Anh
bướm mời anh dự tiệc, cũng vì tiếng hót của anh hay. Anh
hãy yên tâm đi đi, đừng lo sợ gì cả.
Tuy
nghe rắn nói thế, nhưng chim vẫn không hết lo sợ, sau cùng
chim nói:
- Phải
tôi có được hai con mắt, có lẽ tôi sẽ đẹp hơn. Một
con mắt giữa trán làm cho tôi có vẽ dữ tợn và nghèo nàn
làm sao ấy.
- Có
được giọng hót như anh, ai dám bảo anh nghèo?
- Nhưng
bề ngoài tôi có gì có thể làm cho mọi người chú ý. Phải
chi anh chịu giúp tôi…
- Tôi
mê tiếng hót của anh lắm, anh cần tôi giúp việc gì, tôi
cũng sẵn sàng cả.
- Tôi
chỉ cần anh cho tôi mượn con mắt của anh một hôm để đi
ăn cưới. Anh nằm phơi nắng không có mắt cũng đâu có sao…
Rắn
lắc đầu nói:
- Không
được đâu, tôi cũng chỉ có một mắt như anh, nếu tôi cho
anh mượn thì làm sao tôi thấy đường?
- Nhưng
tôi chỉ mượn có một hôm thôi, buổi chiều mãn tiệc, tôi
đem trả anh ngay lập tức. Trong lúc chờ đợi, anh cứ nằm
ngủ ở đây. Nếu anh thật tình mê giọng hót của tôi thì
anh cố giúp lần này…
Chim
họa mi cứ van xin, nài nỉ, giọng chim càng lúc càng êm đềm,
gợi cảm, làm rắn cảm động xiêu lòng nên bằng lòng cho
mượn mắt trong ngày cưới của bướm.
Vào
một ngày nắng ấm, lúc màn sương mỏng còn phủ cánh rừng,
chim họa mi đã vội vã sửa soạn bộ lông cho thật mướt
để đi ăn cưới. Thêm được một mắt, chim thấy cuộc đời
đẹp đẽ thêm lên. Trong lúc chim ra đi, sung sướng hài lòng
hơn bao giờ hết, thì ở gốc cây đào, con rắn trở nên mù
nhút nhát, sợ hãi, ẩn mình trong đám lá khô, chờ đợi chim
trở về, trả lại ánh sáng cho mình.
Chim
đến nhà bướm nghe người ta chào mừng chúc tụng nhau, không
ai để ý đến chim họa mi bé bỏng không bóng sắc cả.
Ðến
lúc bướm mời chim ra hát, những loài thú có mặt mới để
ý đến chim. Tiếng chim hót thanh tao, lảnh lót, làm cả thảy
đều im lặng, lắng nghe. Chim hót say mê lột hết tinh thần
làm cả thảy đều mê mẩn như say. Tiếng hót trong trẻo vang
đến tai rắn, rắn mỉm cười tự nhủ mình cũng có góp phần
tham dự cuộc vui đó.
Ðến
khi dứt bản, tất cả đều bị chim chinh phục và bắt đầu
từ đó trở đi, mọi loài đều bao vây khen ngợi bộ lông,
giọng hót của chim. Tất cả cũng không quên ca ngợi mắt
đẹp của chim.
Bây
giờ tiếng tăm lừng lẫy, chẳng những chim không thú nhận
mình chỉ có một mắt, còn con mắt kia là của rắn, mà chim
thì đặt điều nói thêm:
- Ở
dưới gốc cây chỗ tôi ở, có một con rắn mù từ thuở
mới lọt lòng mẹ, nó buồn bã chán đời, nhiều lần nó
có ý định quyên sinh, nhưng nhờ tiếng hót tuyệt vời của
tôi đã an ủi được nó. Tội nghiệp, hàng ngày tôi phải
đem thức ăn về và ca hát vỗ về nó. Tất cả đều cảm
phục tính rộng rãi và lòng bác ái của chim.
Mãi
đến khuya, chim mới trở về, bên tai còn vẳng nghe tiếng
vỗ tay vang dội và những lời ca ngợi nồng nàn.
Về
đến gốc cây đào, chim thấy rắn nằm ngủ, phơi mình dưới
ánh nắng thanh dịu mát. Thấy thế, chim không gọi rắn dậy
và tự nói, mai mình sẽ trả mắt lại cũng không muộn. Chim
về ổ định ngủ một giấc thật ngon lành nhưng nằm mãi
mà giấc ngủ vẫn không đến. Muôn vàn ý nghĩ bao vây tâm
trí của chim: bây giờ chim đã nổi tiếng nổi danh với đời
rồi, nếu chim trả mắt lại, tức là tự thú cho mọi loài
biết chim chỉ có một mắt, còn con mắt kia là của mượn,
thì còn gì là tiếng tăm chim đã tạo ra với bao khó nhọc.
Hơn nữa, với hai con mắt chim nhìn đời thấy rộng rãi, đẹp
đẽ hơn khi chỉ có một mắt. Bỏ tất cả danh vọng để
trở thành tầm thường như trước, chim thấy mình không có
đủ can đảm. Hay là xin rắn cho mắt luôn, nhưng chim kịp
nghĩ là không đời nào rắn chịu cho mắt để lại thành
mù lòa vĩnh viễn. Nhưng rắn thường ở một chỗ mà nếu
bò đi cũng không cần thấy đường gì cho lắm. Một ý nghĩ
xấu từ từ xâm nhập vào đầu óc chim.
Nếu
mình không trả thì rắn cũng không làm sao đòi được, bây
giờ rắn mù rồi.
Nghĩ
thế nên chim nhất định giựt luôn con mắt của bạn. Ðêm
đó, chim lén dọn đi ở nơi khác và tìm đủ mọi cách tránh
rắn luôn.
Tội
nghiệp, con rắn cứ bòn lần mò, dò dẫm đi tìm chim họa
mi để đòi mắt lại. Nghe chim họa mi hót ở đâu, rắn cũng
cố gắng tìm đến, mặc dù rắn bò đi khó khăn và gặp nhiều
trở ngại trên bước đường phiêu lưu đi tìm người bạn
phản phúc, bội ân. Thế mà buồn thay, mỗi khi chim họa mi
thoáng thấy rắn thì chim vội bay đi, để rắn lại ngơ ngác
trong sự mù lòa đáng thương.
Một
đêm, chim họa mi đang ngủ mê trong tổ ấm, bỗng chim giựt
mình tỉnh giấc vì một tiếng động thật nhỏ. Chim thấy
rợn cả người khi nhìn thấy một cái đầu rắn mù sờ soạng
bò đến. Chim la lên một tiếng kinh hoảng bay tìm nơi khác
ẩn náu.
- Từ
đó, sự yên tĩnh trong giấc ngủ cũng như sự yên tĩnh trong
tâm hồn không còn nữa – Con rắn mù cứ không ngớt tìm
chim để đòi con mắt đã cho mượn với tất cả lòng tin,
mà lại bị cướp mất một cách quá tàn nhẫn.
Chim
họa mi không muốn trả mắt nên phải luôn luôn canh chừng.
Ban ngày thì chim được yên thân, vì rắn biết ánh sáng mặt
trời làm chim thấy rõ tất cả, nên rắn đợi đêm xuống
để tìm cách đến gần chim trong lúc ngủ say, để bất ngờ
buộc chim phải trả mắt lại cho mình.
Chim
họa mi biết được ý định của rắn, nên nhất định không
ngủ những đêm trong mùa đẹp trời. Mùa lạnh và mùa mưa
thì chim có thể ngủ yên, vì những mùa ấy rắn sợ lạnh
không dám bò ra ngoài.
Ðến
mùa xuân, chim bay hót suốt đêm, để không buồn ngủ có thể
canh chừng rắn mù tìm đến.
Vì
thế, những đêm xuân, chúng ta thường nghe tiếng chim họa
mi hót vang lên ru hồn vào mộng ảo, chúng ta mỉm cười thấy
lòng rung động vì tiếng hót thanh tao trong suốt, nhưng chúng
ta có biết đâu tiếng hót đó ca tụng một niềm vui không
vững chắc luôn luôn bị đe dọa, một hạnh phúc mong manh
pha trộn đôi chút hối hận làm ray rứt cả tâm hồn.
Bảo
Liên
Người
nào cầu hạnh phúc cho mình mà lại phá hoại hạnh phúc kẻ
khác, người ấy sẽ không được hạnh phúc.
Cứu
người bị giặc cướp
Khi
chưa thành Ðạo, đức Phật Thích Ca có một kiếp làm một
người lái buôn, tên là Ðại Bi, đức hạnh hoàn toàn, tài
trí hơn người.
Một
hôm, Ðại Bi cùng năm trăm người khác đi thuyền ra biển
tìm châu báu. Thuyền đang đi giữa biển thì gặp một bọn
cướp bể đuổi theo, định giết hết cả những người trong
các thuyền để cướp giật của cải. Quân cướp đuổi theo
một lúc một gần, và reo hò vang dậy một góc biển. Những
người lái buôn sợ hãi quá, kêu la rất thảm thiết. Phen
này họ chắc chết mà thôi, không còn được thấy mặt vợ
con nữa.
Ðại
Bi thấy thế mới nghĩ rằng: “Nếu ta giết bọn cướp này,
thì ta sẽ mang tội sát nhân, nhưng nếu ta để cho chúng giết
hết năm trăm người thì lòng ta không nỡ. Thôi thà ta chịu
tội sát nhân một mình mà cứu được năm trăm người khỏi
chết, vừa cản ngăn được những việc làm tàn ác của quân
cướp để gỡ tội cho chúng nó sau này”.
Tuy
nghĩ thế, nhưng Ðại Bi chưa ra tay liền. Người đứng
lên trên mũi thuyền to, lấy lời ôn hòa mà khuyên lơn bọn
cướp, nhưng bọn này quen thói hung tàn, không nghe lời Ðại
Bi nói cứ hầm hồ hung hăng xông tới quyết giết hết cả
con buôn. Ðại Bi liền nhảy qua thuyền quân cướp, một mình
địch với cả bọn, vũng vẫy nhanh lẹ và oai phong như một
người tướng tài ra trận. Quân cướp biết thế không địch
nổi, liền hè nhau quay thuyền chạy trốn.
Năm
trăm người thoát chết, vui mừng khôn xiết, liền quỳ xuống
tạ ơn Ðại Bi, rồi cùng trương buồm cho thuyền trở lại
quê nhà.
Lược
sử PHẬT TỔ
Hạnh
từ bi của Phật giáo phải đi đôi với trí tuệ dũng cảm.