Phần
07:
31/
Nên kính trọng người già cả đức hạnh
32/
Mê hoặc bị tai nạn
33/
Bố thí vật thực
34/
Lời thệ nguyện
35/
Cái đuôi chó xoắn ruột gà
Nên
kính trọng người già cả đức hạnh
Thuở Ðức Phật còn tại thế, một hôm chư Tăng hội lại
rất đông để hầu Phật. Nhiều Thầy Tỳ kheo choán chỗ
rộng lớn, có vị một mình chiếm hai hoặc ba chỗ. Ðại
Ðức Xá Lợi Phất đến sau, không có chỗ ở, đành phải
ở ngoài trời. Khuya lại đi kinh hành gặp Ðức Thế Tôn,
Ðức Thế Tôn đã biết chuyện ấy, nhưng để đến khi gặp
đức Xá Lợi Phất, Ngài hỏi tại sao ở ngoài đồng. Ðại
Ðức Xá Phất mới bạch rằng: “Bạch Ðức Thế Tôn! Vì
con đến trễ nên không có chỗ nghỉ”.
Nhân
chuyện ấy, sáng ngày Ðức Thế Tôn mới cho họp chúng và
nhắc một tích như vầy :
-Về
thời quá khứ, tại rừng Tuyết Lãnh có một cây vừng to,
nơi cây vừng ấy là nơi tụ họp của ba con thú và cũng là
ba người bạn thân: Chim đa đa, khỉ và tượng. Ba con thú
ấy chơi với nhau rất thân nhưng không biết ai lớn ai nhỏ.
Ba con mới nói với nhau rằng: “Chúng ta chơi với nhau như
vầy chưa đủ vì chúng ta thiếu phép cung kính nhau, vì không
biết kẻ lớn người nhỏ để chỉ dạy nhau, vâng lời nhau.
Vậy trong chúng ta biết cây vừng này từ bao giờ?”.
Tượng
đáp: “Này các bạn, trong khi tôi còn là tượng con, mẹ tôi
dẫn đi ăn thì cây vừng này còn ở dưới bụng tôi. Tôi
biết cây vừng từ khi ấy.
Khỉ
đáp: “Này các bạn, khi tôi còn bú, tôi ngồi trên đất,
không cần phải ngước đầu lên, cũng có thể dùng miệng
cắn ngọn cây vừng này được. Vậy tôi biết cây vừng này
từ khi ấy”.
Chim
đa đa đáp: “Còn tôi, khi trước ở bên kia có cây vừng
to, tôi ăn trái vừng về đại tiện nơi đây nên mới có
cây vừng này”.
Từ
ấy về sau, khỉ, tượng tôn chim đa đa lên làm anh cả, cả
hai kính trọng vâng lời chỉ bảo. Khỉ và tượng vâng lời
chim đa đa lánh ác làm lành, nên sau khi chết đều được
sanh về cõi trời.
Sau
khi nhắc tích này Ðức Thế Tôn mới dạy các Tỳ Kheo:
“Này
các Thầy Tỳ kheo! Loài thú mà nó còn biết kính trọng nhau
thay huống chi các Thầy, xuất gia hành theo giáp pháp chân chánh
của Như Lai sao không biết kính trọng nhau?...”.
Thông
Kham
Sự vui mừng của người xuất gia, chỉ khi nào chánh pháp
được thường trú lan rộng, đau buồn khi chánh pháp bị xyên
tạc suy vong.
Mê
hoặc bị tai nạn
Thưở
xưa, có một vị tỳ kheo bị tẩn xuất, ảo não buồn rầu,
than khóc mà đi. Dọc đường gặp một con quỷ. Con quỷ này
phạm pháp cũng bị Tỳ Sa môn thiên vương tẩn xuất. Con quỷ
hỏi vị Tỳ Kheo:
- vì
sao ngài buồn rầu than khóc?
- Tôi
phạm việc trong Chúng Tăng, bị Chúng Tăng tẩn xuất mất
hết sự cúng dường của tất cả đàn việt. Tiếng xấu
bị đồn khắp gần xa, nên tôi buồn rầu than khóc!
Con
quỷ bảo vị Tỳ kheo:
- Tôi
có thể làm cho Ngài được cúng dường nhiều, và tiếng xấu
tiêu tan. Ngài có thể đứng trên vai tả của tôi. Tôi sẽ
đội Ngài đi trên hư không. Người ta chỉ thấy ngài mà không
thấy hình tôi. nếu Ngài được cúng dường nhiều, trước
phải chia cho tôi!
Con
quỷ kia tức thời mang vị Tỳ kheo đi trên không đến nơi
địa phương mà Thầy Tỳ kheo đã bị tẩn xuất. Bấy giờ
mọi người trong địa phương ấy trông thấy, đều lấy làm
kinh ngạc, cho là người đắc đạo có thần thông, lại cùng
nhau truyền tụng: “Chúng Tăng vô cớ, lại tẩn xuất
oan uổng một vị Ðạo nhân chân chính”.
Ðồng
thời cùng nhau đến ngôi chùa này trách mắng Chúng Tăng, và
đưa vị Tỳ kheo ấy trở lại ở trong ngôi già lam, lại cúng
dường hơn xưa rất nhiều vị Tỳ kheo này lãnh thọ cúng
dường áo cơm, tài vật được bao nhiêu, đều phải chia sớt
cho con quỷ, không làm trái với lời cam kết khi trước.
Thế
rồi, một ngày khác, con quỷ này lại cõng vị Tỳ kheo du
hành trên hư không. Hôm ấy, lại rủi ro gặp người quen thuộc
của Tỳ Sa môn Thiên Vương, quỷ rất kinh hoảng ném bỏ vị
Tỳ kheo, chạy trốn thục mạng. Vị Tỳ kheo bị quăng xuống
đất, thân hình tan nát phải mạng chung tức khắc…
Ðạo
Lược
Nên
tạm lánh trong chốc lát người nóng giận và xa lánh vĩnh
viễn kẻ giả dối.
Bố
thí vật thực
Thuở
xưa, bên cõi Thiên Trúc, có năm anh em phú thương kia cử hành
một cuộc lễ tế long trọng, và nhằm cơ hội này mới tổ
chức một cuộc bố thí vỉ đại giúp mọi người nghèo khổ.
Ai
ai đều hoan hỷ và đồng thinh tán dương cuộc bố thí hy
hữu, số tài vật thí ra thật nhiều, quá sức tưởng tượng.
Cuộc
lễ vừa chấm dứt thì từ đâu một con chồn đèn lại chạy
đến. Nửa thân của chồn đã trổ màu vàng lóng lánh và
nửa thân thì lông còn giữ màu xám như thường. Chạy đến
dưới đàn hành lễ, chồn lăn tròn dưới mặt đất mấy
vòng, rồi đứng dậy nói cùng mấy người dự lễ như
vầy:
- Các
anh chị đều phạm tội vọng ngữ cả! Nào có hiến tế chi
đâu?
- Sao
ngươi dám quyết là chẳng có? Gia chủ đã thí cho kẻ nghèo
vô số tài vật ai lại còn chẳng biết! Này ngươi phải nhớ
rằng đây là cuộc bố thí hy hữu trên cả thế gian.
Nghe
nói như vậy, chồn đứng nhóng hai chân, rồi chậm rãi nói
rằng:
- Các
anh hãy lắng tai nghe, tôi thuật lại chuyện này! Trước đây,
trong một làng hẻo lánh, có hai vợ chồng cư sĩ kia rất nghèo
mà phải nuôi cả con và dâu. Họ nghèo đến nước túng
thiếu trọn năm và nhờ láng giềng thương xót mà giúp đỡ
không biết bao nhiêu lần.
Vận
rủi dập dồn. Từ đâu không ai rõ, hạn hán thoạt xảy đến,
thiêu hủy hết cỏ cây. Nạn đói lan tràn khắp thôn quê và
thành thị trong ba năm liên tiếp. Thật là vận khứ lôi vang
tiến phước bia! Gia đình của cư sĩ đã lâm vào cảnh khốn
cùng không bút nào tả được. Cả nhà đã nhịn đói trọn
ba ngày.
Buổi
sáng kia vì đói quá, cư sĩ mới vét khạp gom nhóp được
một nắm bột lúa mạch. Cư sĩ bèn đem hòa với nước lã,
nấu chín thành bánh, chia ra bốn phần: cho mình, cho vợ, cho
con và con dâu. Khi cả nhà xúm lại để ăn phần bánh tí ti
cho đỡ đói, thình lình có ai gõ cửa. Cư sĩ vội bước ra
mở và trông thấy một người khách lạ.
Nên
biết rằng, theo cổ tục của xứ Thiên Trúc, thì bổn phận
của gia chủ phải tôn trọng bất cứ khách nào đến nhà.
Khách là hóa thân của Thượng đế thì phải kính nhường
cho xứng địa vị cao quí ấy.
Vì
bổn phận, cư sĩ cúi mình chào khách thưa rằng:
- Xin
mời Ngài bước vào và chúc Ngài được vạn phúc.
Sau
lúc khách đã an tọa, cư sĩ bèn đem dâng phần của mình.
Khách dùng trong phút chốc là hết miếng bánh rồi nói rằng:
“Thí chủ hại ta đó! Nhịn đói mười hôm, nay ăn một miếng
bánh thì đói lại càng đói thêm”.
Nghe
vậy, bà chủ nhà xin phép chồng đem luôn phần bánh của mình
dâng cho khách. Nhưng cư sĩ biết vợ đã đói quá nên lòng
chẳng nỡ… Bà vợ cố van lơn: “Tội nghiệp! Thấy ông
đói quá, tôi thật cầm lòng không được! Ta hữu phúc có
nhà có cửa, vậy ta có phận sự giúp kẻ lỡ đàng. Tôi là
vợ, ông không còn chi thì tôi phải giúp thêm”. Bà liền
dâng phần bánh của mình. Khách dùng luôn, rồi cũng than rằng
chưa hết đói. Người con trai của gia chủ bèn thưa rằng:
“Xin cha hãy dâng phần bánh của con đi! Ðó là con phải giúp
cha thi hành nhiệm vụ”. Rồi khách lại dùng miếng bánh thứ
ba mà cũng còn than đói. Người dâu của cư sĩ đem dâng luôn
phần bánh của mình. Xong việc, khách mời vừa lòng, chúc
phúc cho gia chủ rồi từ tạ ra đi…
Trong
đêm ấy, cả gia đình bị đói cả nên kiệt lực. Bốn
người đều qua đời.
Qua
ngày sau, có dịp tạt qua làng đó, chính ta đây đã ghé vào
cái nhà bất hạnh ấy. Thấy còn rơi rớt một chút bột trên
mặt đất ta vội lăn mình trên bột, và bột ít quá nên sắc
lông của ta mới trở màu vàng được có nửa phần thôi.
Than
ôi! Từ đó đến nay ta bôn tẩu khắp bốn phương trời xa
lạ, lòng thầm ước dự một cuộc hiến tế vĩ đại thứ
nhì, nhưng mà ngày tháng trôi đi, đã biết mấy thu mà ta chưa
mãn nguyện. Thứ bột vàng quí ấy dường như đã tuyệt trên
cảnh sắc Ta bà… Hiện thời, màu vàng lóng lánh chỉ nhuộm
được nửa thân ta. Vì cớ đó ta quyết rằng đây chẳng
phải là một cuộc hiến tế thích đáng.
Trích
chính bản Thanh Nguyên
Bố
thí là vị dõng tướng điều phục giặc xan tham.
Lời
thề nguyện
Ðã
hơn một tuần nhật rồi, vị Thánh nữ buồn rầu ủ ê, ăn
không ngon miệng, ngủ không yên giấc, vì mẹ nàng vừa từ
biệt cõi đời.
Gọi
nàng là Thánh nữ, bởi vì nàng là một người tu hành đoan
chánh, rất hiếu thảo với cha mẹ và tử tế với mọi người.
Tuy nàng thuộc dòng dõi quí tộc Bà La Môn, song lại tu theo
Phật giáo, ăn ở rất phúc hậu nên được nhân dân địa
phương kính nể và mến phục mà tôn xưng là Thánh nữ.
Vị
Thánh nữ thương mẹ lắm, song không phải là nàng thương
vì mẹ nàng không còn ở cõi đời. Vốn là bậc tu hành chân
chánh, nàng đã hiểu rõ lẽ sống chết như thế nào rồi.
Ðối với nàng, sự sống chết thật ra không làm cho nàng
bi lụy xót xa cho lắm, nhưng nàng thương mẹ vì một lẽ khác.
Lúc
còn sinh thời, mẹ nàng vốn theo ngoại đạo, tà giáo, không
tin Phật pháp, không kính Tam bảo, không tin lẽ nhân quả,
luân hồi, thường sát sanh hại vật, ăn ở tàn ác với mọi
người, nói lời không chân thật… Ðã nhiều lần, nàng cố
sức khuyên can, mong phát huy chánh kiến cho mẹ nhưng mẹ nàng
không chịu tin theo.
Vì
hiểu rõ lý luân hồi, nghiệp báo, nên nàng càng cảm thấy
thương xót mẹ vô cùng. Nàng tin thế nào sau khi thác, mẹ
nàng cũng bị đọa vào các đường ác như: Ðịa ngục, ngạ
quỷ và súc sanh chứ chẳng không.
Nghĩ
như vậy, rồi hai hàng nước mắt chan hòa, lòng đau như cắt.
Bỗng nhiên đôi mắt vị Thánh nữ sáng ngời, trước mắt
nàng hình ảnh Ðức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như
Lai hiện ra.
- Chỉ
có Ðức Phật mới có thể cứu được mẹ ta. Ta hãy
cầu nguyện nơi Ngài.
Sáng
hôm sau, khi vầng thái dương vừa ló dạn, muôn chim ca hát
vui mừng chào đón ánh bình minh, vị Thánh nữ Ba Là Môn thức
dậy, nàng thu xếp hành trang và lễ vật, rồi khoan thai đi
về phía chùa làng.
Sau
khi dâng hương và lễ vật Thánh nữ ngước nhìn pho tượng
Ðức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai oai nghi rực
rỡ. Bất giác, nàng phục xuống chân Ngài, trong lòng thổn
thức.
Nàng
tự nghĩ: “Phật là bậc Ðại giác, đầy đủ trí tuệ.
Song là bạc phước cho ta, nên không được gặp Ngài lúc Ngài
còn trụ thế. Nếu lúc này Ngài còn tại thế, tất ta có
thể hỏi được, mẹ ta bị đọa nơi nào?”
Còn
đang suy nghĩ chưa dứt, bỗng một làn khói thổi mạnh, ngọn
nến lung linh. Văng vẳng bên tai Thánh nữ, như có ai nói tiếng
rất ngọt ngào:
- Hỡi
Thánh nữ đang khóc lóc kia, hãy nín đi và nghe đây, ta sẽ
chỉ bảo cho nơi mẹ con bị đọa.
Bàng
hoàng như vừa tỉnh giấc mộng, Thánh nữ ngạc nhiên và hướng
lên không trung và bạch rằng:
- Chẳng
hay vị thần linh nào ứng hiện, xong rủ lòng thương xót mà
giải cho con tấm lòng lo âu. Từ khi mẹ con mất đến nay,
ngày đêm thương xót, không biết mẹ con bị đọa vào ngã
ác nào?
Ở
trên không lại có tiếng nói vang lên văng vẳng như tiếng
chuông chiều:
- Hỡi
Thánh nữ! Ta đây chính là Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương
Như Lai mà con đang cúng dường và chiêm ngưỡng đó. Vì tấm
lòng hiếu thảo gấp mấy thường tình của con, nên ta mới
bảo cho con biết.
Thánh
nữ nghe nói khôn xiết vui mừng, liền chắp tay quì lạy. Ðức
Phật lại phán:
- Hỡi
Thánh nữ Bà La Môn kia, sau khi cúng dường, hãy trở về tọa
thiền nghiêm chỉnh mà niệm danh hiệu ta, thì sẽ thấy nơi
mẹ con bị đọa.
Vì
nóng lòng thương mẹ, Thánh nữ Bà La Môn vội vã làm lễ
tạ Phật rồi ra về. Y theo lời phật dạy, Thánh nữ trang
hoàng bàn thờ Phật và đối trước tượng Phật, nàng ngồi
kiết già nghiêm chỉnh, miệng và tâm đều kính cẩn niệm
danh hiệu Ðức Phật Giác Hoa Ðịnh Tự Tại Vương Như Lai
luôn luôn không dứt.
Một
bầu không khí mơ màng và trong ánh sáng bỗng hiện ra Thánh
nữ Bà La Môn ung dung tiến bước đến một bờ biển mênh
mông bát ngát. Nhưng lạ thay, nước biển lại sôi lên sùng
sục. Trên mặt biển, làn sóng cuồn cuộn nhấp nhô rất nhiều
thú dữ, hình dáng quái dị, hung ác, bay nhảy, bơi lặn tung
tăng, tranh nhau xé xác hàng ngàn, hàng vạn người trôi nổi
trong đó, đàn ông có, đàn bà có, tiếng rên la khóc lóc vô
cùng thảm thiết: Những cảnh tưỡng diễn ra vô cùng tàn
ác, dã man, rùng rợn, không nỡ nhìn lâu. Tuy vậy Thánh
nữ chỉ thấy thương xót cho những kẻ bị thú dữ ăn thịt
đó thôi, chứ lòng nàng không cảm thấy sợ hãi chút nào.
Lòng Thánh nữ rất phân vân về cái cảnh tàn sát ghê rợn
ấy, nàng định tâm nếu gặp người nào sẽ hỏi cho rõ nguyên
do!
Bỗng
từ đằng xa đi lại một người hình dáng kì dị, cổ quái.
Tới gần Thánh nữ, người kia vội vã chắp tay vái chào mà
rằng:
- Mô
Phật! Bạch Bồ Tát, chẳng hay vì duyên gì mà Ngài lại tới
đây?
- Thánh
nữ vô cùng ngạc nhiên về cách xưng hô của người kì dị
kia. Nàng bèn hỏi lại:
- Mô
Phật! Chẳng hay Người là ai mà kêu tôi là Bồ Tát?
Người
kia mỉm cười đáp lại:
- Mô
Phật! Ðệ tử là Quỷ Vương Vô Ðộ, cai quản nơi này nên
được biết rõ: Vào được cõi này, chỉ có các bậc Bồ
Tát hoặc các tội nhân mà thôi. Cứ nhìn cốt cách ung dung
của Ngài thì biết ngay Ngài là bậc Bồ Tát mới đủ thần
thông để chứng kiến những cảnh ghê gớm ở chốn này mà
chẳng chút sợ hãi.
Thánh
nữ suy nghĩ giấy lát, rồi hỏi Quỷ Vương Vô Ðộc:
- Vậy
đây là chốn nào?
- Bạch
Bồ Tát! Ðây là từng bể thứ nhất vế phía Tây núi Ðại
Thiết Vi.
- Phải
chăng, trong núi Ðại Thiết Vi là địa ngục?
- Thưa
vâng, trong núi Ðại Thiết Vi quả có địa ngục! - Tôi có
việc muốn vào địa ngục có được chăng? Thánh nữ hỏi.
- Bạch
Bồ Tát! Muốn vào địa ngục chỉ có hai cách: Uy thần và
nghiệp lực. Ngoài hai cách ấy thì chẳng bao giờ vào được.
Hiện nay Bồ Tát đang nhờ sức niệm Phật nên có uy thần,
có thể vào được, song tôi muốn hỏi Bồ Tát muốn vào địa
ngục có duyên cớ chứ?
Thánh
nữ nghe Quỷ Vương Vô Ðộc hỏi, ngậm ngùi nhớ đến mẹ
và liên tưởng đến những cực hình ghê gớm trong địa ngục.
Nàng đáp:
- Tôi
muốn đi tìm nơi mẹ tôi bị đọa. Mẹ tôi mới thác, không
biết người bị đọa đến ngã nào?
Quỷ
Vương Vô Ðộc phân vân giây lát, rồi hải Thánh nữ:
- Bạch
Bồ Tát! Dám hỏi mẹ Ngài khi còn trên dương thế, hạnh nghiệp
thế nào?
Thánh
nữ gạt lệ đáp:
- Mẹ
tôi vốn tin theo tà đạo, thường chê bai Tam bảo và tạo
nhiều nghiệp dữ.
- Chẳng
hay mẹ của Bồ Tát thuộc dòng dõi nào và tên họ là chi?
- Cha
mẹ tôi đều thuộc dòng dõi Bà La Môn. Cha tôi tên là
Thi La Thiện Kiến, mẹ tôi là Duyệt Ðế Lợi.
Thánh
nữ vừa dứt lời, Quỷ Vương Vô Ðộc vội vã chắp tay đảnh
lễ Thánh nữ mà rằng:
- Mô
Phật! Bạch Bồ Tát! Xin Bồ Tát chớ bi lụy nữa và hãy hoan
hỉ trở về cho. Bà Duyệt Ðế Lợi rất may mắn. Tuy bà có
phạm nhiều tội ác bị đọa vào địa ngục Vô Gián, song
nhờ lòng hiếu thảo của Bồ Tát, hết lòng tu phước, bố
thí, cúng dường, nên được sanh lên cõi trời từ ba hôm
nay rồi. Chẳng những một mình bà, mà tất cả những tội
nhân trong địa ngục Vô Gián hôm ấy đều hưởng chung sự
vui sướng ấy cả.
Quỷ
Vương Vô Ðộc vừa dứt lời. Thánh nữ vui sướng quá, bất
giác ra khỏi cõi tiền định. Nàng bừng tỉnh đứng dậy,
chạy trước bàn thờ Phật làm lễ và phát lời thề nguyện
rất to tát và chân thành:
- Con
xin thề nguyện rằng mãi mãi về đời sau này, nếu còn chúng
sanh nào còn có tội khổ, con sẽ mở rộng phép phương tiện
mà giải thoát cho họ và con cũng thề nguyện đời đời kiếp
kiếp sẽ tu theo pháp của Phật, làm hạnh của Bồ Tát để
độ hết chúng sanh và chỉ thành Phật khi nào hết thảy các
chúng sanh đều thành Phật.
Lời
thề nguyện vang lên như tiếng sắt chạm vào nhau, cương quyết
và hùng mạnh, ghi sâu vào tâm khảm vị Thánh nữ chí hiếu
và dư âm còn vang dội vào tâm tư muôn triệu tín đồ của
Ðức Phật trong muôn triệu thế hệ sau này.
Vị
Thánh nữ nói trên là tiền thân ngài Ðịa Tạng Vương Bồ
Tát.
Y Chu
Nguyễn Long Tiếp
Đôi
đường nhân hiếu vẹn hóa đôi,
Vằng
vặc gương soi ức vạn đời.
Tích
trượng phá tan bao cửa ngục,
Minh
châu chiếu sáng mọi chân trời.
Ðộ
sanh nhiều kiếp không sờn dạ,
Cứu
mẹ hai phen thật hiếm người.
Bể
khổ vì còn chưa tát cạn,
Con
thuyền tế độ vẫn còn bơi.
Cái
đuôi chó xoắn ruột gà
Ngày
xưa, có một anh rất nghèo, cùng quẫn đến mức không tiền
mua vật thực để sống lây lất với vợ con dưới mái tranh
xơ xác.
Ngày
kia, đang lúc than van số phận hẩm hiu cùng vợ, anh ta sực
nhớ có nghe ông bà thuật rằng: “Ai có phước nhờ thần
linh phò trợ thì được cấp vô số bạc tiền”. Do đó,
anh bèn thành tâm cầu Trời khấn Phật ban cho cái phúc hy hữu.
Khấn vái xong, anh bèn cất bước ra đi khỏi làng, lang thang
cùng rừng khắp núi.
Rồi
một buổi sáng nọ, bước chân đưa anh ta đến gần một
động đá cheo leo dựa triền non, kề bên một vực thẳm.
Một dị nhân đang ngồi luyện phép. Anh ta sụp lạy lia lịa.
xin ban cho mình một vị Thần linh. Thấy lạ, dị nhân mới
hỏi cớ sự.
- Bạch
Thầy! con xin thỉnh một vị Thần linh, mong thầy thương xót
mà ban cho ân huệ đó.
- Người
chớ khá nghĩ đến chuyện ấy! Trở về đi! Bữa sau anh nghèo
lại tìm đến than van, quỳ lạy dị nhân, cố sức nài nỷ
cho được một vị thần linh. Chung cuộc bị khấy rầy quá,
tham thiền không được, dị nhân buộc lòng phải nhận lời
thỉnh cầu và nói rằng:
- Thôi,
ta cho ngươi phép này! Hễ đọc câu thần chú của ta truyền
thì Thần linh hiển hiện và thi hành mọi việc ngươi xin.
Nhưng ngươi phải nhớ kỹ lời ta dặn mới được! Là các
Thần linh thì hung tợn lắm. Phải cắt việc cho Thần linh
mãi mãi thì người mới yên thân, nhược bằng không có việc
để cho Thần ở không, thì Thần vật ngươi lập tức.
- Bạch
Thầy, việc đó không sao cả. Tôi sẽ cậy Thần làm việc
suốt đời không hết.
Xong
đâu đó, anh ta quay trở xuống núi, băng vô rừng sâu, lập
đi lập lại câu thần chú cho thuộc lòng. Nào ngờ thình lình
một vị Thần hiển hiện trước mắt. Thần khổng lồ, hình
thù dữ tợn, quát lớn rằng:
- Ta
là Thần linh! Phải cắt việc lập tức! Ðể ta rỗi, ta nuốt
sống ăn tươi một tòa cung điện!
- Xong
cả!
- Ðem
vàng bạc đây!
- Ðủ
hết rồi đó!
- Phá
rừng này dựng lên một đô thị!
- Ðã
hoàn thành!
Ðến
đây chàng ta phát sợ, run cầm cập, nghĩ thầm: “Biết cắt
việc chi bây giờ? Làm như nháy mắt, ai xây trở lại cho kịp”.
- Cắt
việc cho mau! Không thì ta nuốt sống!
Chàng
ta hoảng hốt, không việc chi mà cắt, tức tốc chạy nhào
lên động đá,quỳ lạy dị nhân, cầu xin cứu mạng.
- Chuyện
chi vậy?
- Bạch
Thầy, thần lẹ quá. Không còn việc đòi nuốt tôi.
Chàng
ta vừa dứt lời thì Thần hiện đến ngay, toan nuốt sống,
làm gã kinh hồn, chạy núp sau lưng dị nhân.
- Thôi,
ta chỉ cho một cách. Con chó này có cái đuôi xoắn ruột gà.
Ngươi lấy dao chặt đuôi nó, giao cho Thần uốn thẳng, mau
đi!
Hắn
lật đật chặt đuôi chó trao liền cho Thần.-“Kéo ra ngay”.
Thần lảnh lấy đuôi chó, rán vuốt cho ngay, rồi buông ra
thì xoắn lại như cũ. Thần lại vuốt đuôi chó lần thứ
nhì rồi buông ra thì đuôi chó cũng xoắn lại in như lần
trước. Làm lại, làm lại mãi, làm như thế ấy trong bao nhiêu
lần không kể xiết… sau cùng, Thần bị kiệt sức chịu
thua, nói lên rằng:” Bình sinh ta chưa gặp việc nào khó khăn
như vầy! ta chẳng phải bất tài, nhưng cậy việc này thì
ta chịu thua!”
Trích
chính bản Thanh Nguyên
Cuộc
đời nào khác chi cái đuôi chó xoắn rột gà! Ðã bao thế
kỷ lần trôi, con người vẫn rán sức uốn cái đuôi chó
xoắn lại cho ngay, mà nó không thể nào ngay được cả. Buông
ra, nó lại xoắn lại. Trò đời vẫn éo le, tình người vẫn
đen bạc, kẻ đi trước phải học lấy bài học kinh nghiệm
ấy, rồi người đi sau cũng khinh suất mà sa ngã vào cạm
bẫy của dục tình.