Phần
06:
26/
Bốn con rối
27/
Hoàng tử A Xà Thế
28/
Thầy nhường đệ tử đi trước
29/
Bố thí thân mạng
30/
Chuyện Dũng Mãnh
Bốn
Con rối
Ngày
xưa có hai vợ chồng người thợ chuyên làm các con rối có
được một cậu con trai đặt tên là Aung. Ðến ngày
trưởng thành, Aung quyết định lên đường đi làm ăn xa.
Ðể
giúp đỡ con, ông bố mới làm cho con 4 con rối đặc biệt:
Con thứ nhất mang hình dáng một thiên thần, con thứ hai thì
lại bộ dạng của một con yêu tinh, con thứ ba là một ông
thiên lôi, riêng con thứ tư thì làm theo kiểu một thầy Tăng,
một tay cầm thiền trượng và một tay cầm bát đi khất thực.
Trên
đường đi phiêu lưu, lần lượt cả ba con rối đầu tiên
đều hóa thành người thật theo mẫu của người sẵn có
để giúp đỡ Aung. Con rối thiên thần giúp Aung thoát khỏi
nanh vuốt của loài thú dữ gặp phải trên đường đi. Con
rối yêu tinh giúp chàng chiếm đoạt của cải một đoàn thương
nhân và con rối thiên lôi thì giúp biến những của cải đó
sanh sôi nảy nở thêm. Thế là cả mấy thầy trò trở nên
giàu có, mua một lâu đài lớn để cư ngụ.
Nhưng
dù đã thành công trên đường đời, Aung lại vướng một
món nợ tình không nguôi. Nguyên do là: Trong vụ chiếm
đoạt của cải của đoàn thương nhân nọ chàng đã bắt
được cô con gái của chủ đoàn thương nhân. Aung đem lòng
yêu thương cô ta nhưng cô gái thì căm thù, nhất quyết cự
tuyệt. Cuối cùng cô gái bỏ ra đi.
Thất
tình, Aung trở nên vô cùng buồn khổ dù đang sống trong cảnh
giàu sang tột độ. Lúc đó, con rối thầy Tăng mới cho Aung
một lời khuyên là:
- Hãy
thử sống như tôi: Tôi không có ham muốn xấu nên tôi không
biết đến đau khổ, tôi ăn ở hoàn thuận với mọi người
nên lúc nào tâm hồn cảm thấy bình yên.
Thế
là Aung quyết định bắt đầu sống cuộc sống như con rối
thầy Tăng là rời bỏ lâu đài và cuộc sống giàu sang, một
mình đi khất thực trên khắp các nẻo đường. Tuy chưa hẳn
trở thành một tu sĩ xuất gia nhưng kì lạ thay từ cách sống
đó, tự nhiên lần hồi chàng cảm thấy tâm hồn yên ổn,
thanh thản hơn.
Thế
rồi, một ngày nọ trên đường đi khất thực, Aung đã tình
cờ gặp lại hai cha con cô gái chàng từng yêu dấu. Nhìn thấy
Aung phải chịu đựng và nghe Aung thuật lại đầu đuôi sự
tình, bấy giờ cô gái mới động lòng, hiểu là Aung đã thực
sự hối lỗi. Tha thứ cho Aung, cô gái và cha nàng bằng lòng
cùng chàng trở về ngôi lâu đài cũ để làm lễ cưới.
Tại
lễ cưới có mặt đông đủ 4 con rối bạn thân của Aung,
con rối thầy Tăng một lần nữa đã giảng giải cho Aung nghe
về lẽ đời và lẽ đạo:
- Trước
kia, cậu đã giàu sang, được quyền lực nhưng như cậu đã
thấy, của cải và quyền lực nào có mang lại hạnh phúc
đâu. Nay cậu đã có hạnh phúc, lại tiếp tục sống trong
giàu sang và quyền lực, nhưng nên nhớ cái hạnh phúc này
không phải do của cải và quyền lực mà là do phải biết
bất chấp với thứ đó. Của cải và quyền lực tự nó không
làm nên điều thiện hoặc điều ác. Cái đó chỉ tùy
thuộc vào việc cậu dùng nó như thế nào mà thôi…
Thắm
thía bài học do con rối thầy Tăng gợi nên, hai vợ chồng
Aung cho xây một ngôi chùa thờ Phật cạnh lâu đài, để đón
tiếp thiện nam tín nữ khắp nơi đến cùng mình chứng ngộ
chân lý Phật pháp như những điều con rối thầy Tăng đã
giảng dạy…
C.T.N
Thắng
lợi thì bị oán thù, thất bại thì bị đau khổ, kẻ nào
không màng đến thắng bại, kẻ ấy sẽ sống một cuộc đời
hòa hiếu an vui.
Hoàng
tử A Xà Thế
Hoàng
tử A Xà Thế, bị Ðề Bà Ðạt Ða xúi dục, âm mưu sát hại
vua cha là Tần Bà Ta La để chiếm ngôi. Nhưng công việc bị
bại lộ, A Xà Thế bị bắt quả tang, và người cha đầy
lòng từ bi không đành sử phạt xứng đáng như quần
thần xin, mà nhường ngôi vàng cho Hoàng tử vì thấy con thèm
muốn làm vua.
Ðể
trả ơn, vị Hoàng tử bất hiếu vừa lên ngôi liền hạ ngục
cha và ra lệnh bỏ đói cho chết dần. Chỉ một mình
Hoàng thái hậu được phép vào thăm. Mỗi khi đi bà giấu
đồ ăn trong túi áo đem cho chồng, A Xà Thế hay được quở
trách mẹ. Sau lại bà giấu trong đầu tóc, A Xà Thế
cũng biết được. Cùng đường bà tắm rửa sạch sẽ rồi
thoa vào mình một thứ đồ ăn làm bằng mật ong, đường
và sữa. Vua gọt lấy món ăn này để nuôi sống. Nhưng A Xà
Thế cũng bắt được và cấm hẳn mẹ không cho vào thăm vua
cha nữa.
Lúc
ấy vua Tần Bà Ta La cam chịu đói, nhưng lòng vẫn không oán
trách con. Ngài đã đắc quả Tư Ðà Hoàn nên thản nhiên,
cố gắng đi lên xuống kinh hành, thọ hưởng hạnh phúc tinh
thần. Thấy cha vẫn vui tươi A Xà Thế nhất định giết cho
khuất mắt nên hạ lịnh cho người thợ vào khám, lấy dao
bén gọt gót chân vua cha, xát dầu và muối vào rồi hơ trên
lửa nóng.
Khi
người cha bất hạnh thấy người thợ cạo đến thì mừng
thầm ngờ rằng con mình đã ăn năn hối cải, cho người đến
cạo râu tóc để rước về. Trái với sự mong ước của
Ngài, anh thợ cạo đến chỉ đem lại cho Ngài cái chết vô
cùng thê thảm.
Cùng
ngày ấy, vợ A Xà Thế hạ sanh một hoàng nam. Tin lành đến
vua một lượt với tin vua Tần Bà Ta La chết trong ngục.
Tin
chánh hậu hạ sanh hoàng nam được đọc trước. Nỗi vui mừng
của A Xà Thế không sao kể xiết. Cả người nghe nhẹ nhàng
vui sướng. Tình thương của một người cha lần đầu tiên
chớm nở trong lòng, mặn nồng sâu sắc, thấm vô từng khớp
xương ống tủy. Ðứa con đầu lòng là một nguồn yêu thương,
là cơ hội để cha mẹ thưởng thức một tình thương mới
mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Cảm giác đầu tiên
của người mới được đứa con đầu lòng dường như đưa
họ vào cảnh giới kỳ lạ, khiến họ có cảm tưởng rằng
máu huyết mình đã đổ giọt ra để nối tiếp mình.
Tức
khắc A Xà Thế vội vã chạy đi tìm người mẹ yêu dấu và
hỏi:
- Thưa
mẫu hậu, khi con còn nhỏ Phụ hoàng có thương con không?
- Tại
sao con hỏi lạ vậy? Mẹ tưởng trên thế gian này không tìm
đâu ra một người cha lành như cha con. Ðể mẹ thuật lại
cho con nghe. Lúc mẹ còn mang con trong lòng, ngày nọ mẹ nghe
thèm lạ lùng mọt món kỳ quái. Mẹ thèm nút vài giọt máu
trong bàn tay mặt của cha con. Mà nào mẹ dám nói ra. Rồi càng
ngày mẹ càng xanh xao, và sau cùng phải thú nhận với cha con.
Khi nghe vậy, cha con vui vẻ lấy dao rạch tay cho mẹ nút máu.
Lúc ấy các nhà chiêm tinh trong triều tiên tri rằng con
sẽ là người thù của cha con. Do đó tên con là A Xà Thế
(Ajatasattu kẻ thù chưa sanh). Mẹ có ý định giết con ngay
trong lòng nhưng cha con lại cản mẹ. Một hôm con có cái nhọt
trên đầu ngón tay, nhức nhối vô cùng, khóc suốt ngày đêm,
không ai dỗ được. Cha con đang cùng bá quan phân xử
việc triều đình, nghe vậy cầm lòng không đặng, bế con
trong lòng và không ngần ngại ngậm ngón tay của con trong miệng
nhẹ nhẹ nút cho con đỡ đau. Gớm thay! Cái mụt nhọt bể,
máu mủ tuôn ra trong miệng cha con vào sợ lấy ra con sẽ nghe
đau nên cha con nuốt luôn vào bụng cả mủ lẫn máu. Phải,
người cha hết lòng thương yêu con, vì tình phụ tử đậm
đà, nhẹ nhẹ nuốt hết vừa máu vừa mủ.
Nghe
đến đó bỗng vua A Xà Thế đứng phắt dậy, kêu lên như
điên: Hãy chạy mau, thả ra lập tức người cha yêu quý của
trẫm.
Than
ôi! Người cha yêu quý đã ra người thiên cổ.
Tin
thứ nhì được trao tận tay vua A Xà Thế, vua xúc động rơi
lụy đầm đề. Bây giờ ông mới nhận định rằng chỉ khi
bắt đầu làm cha mới biết được tình cha thương con như
thế nào.
Vua
Tần Bà Ta La băng hà và tức khắc tái sinh vào cảnh trời
Tứ Ðại Thiên Vương tên là Janavasabha.
Về
sau vua A Xà Thế được gặp Ðức Phật, trở nên một thiện
tín lỗi lạc và tạo được nhiều công đức trong một kết
tập Tam Tạng đầu tiên.
Narada
Còn
cha gót đỏ như son,
Một
mai cha thác, gót con đen sì!
Còn
cha nhiều kẻ yêu vì,
Một
mai cha chết ai thì yêu con!
Thầy
nhường đệ tử đi trước
Thuở
xưa, ở chùa Tước Lý có một vị Trưởng lão Tỳ kheo đắc
quả A La Hán. Một hôm, vị Tỳ kheo dẫn ông Sa di vào thành
hóa đạo. Ông Sa di gánh y bát rất nặng theo sau Thầy.
Dọc
đường ông Sa di suy nghĩ: “Người ta sanh ra ở trần gian,
không ai chẳng bị khổ. Muốn thoát khỏi khổ này, phải
phát tâm tu những pháp gì?” Rồi lại suy nghĩ: “Phật thường
khen ngợi hạnh Bồ Tát là thù thắng. Nay ta phải phát tâm
Bồ Tát”. Vừa khởi ý niệm đó, thì vị La Hán dùng tha
tâm thông soi suốt tâm suy nghĩ kia, liền bảo ông Sa di:
- Ðem
y bát đưa đây! Ông Sa di bèn theo y bát trao cho thầy mình.
Nhận xong y bát vị La Hán liền bảo:
- Ngươi
đi trước đi!
Ông
Sa di đi trước, lại vừa suy nghĩ:
- Ðạo
Bồ Tát rất cần khổ, xin đầu cho đầu, xin mắt cho mắt.
Việc này rất khó, ta không thể trọn vẹn chẳng bằng sớm
cầu quả La hán, mau được xa lìa khổ nạn thì hơn.
Vị
La Hán biết rõ tâm niệm ấy lại bảo ông Sa di:
- Ngươi
hãy gánh y bát trở lại đi theo sau ta!
Ba
lần như thế. Ông Sa di rất lấy làm lạ, không biết ý gì.
Ðợi đến khi dừng nghỉ, ông Sa di chấp tay bạch Thầy, thỉnh
vấn ý ấy.
Vị
bổn sư đáp:
- Ngươi
đối với đạo Bồ Tát ba phen tinh tấn tâm Ðại thừa, nên
ta cũng ba phen nhường cho ngươi đi trước. Nhưng vì tâm
ngươi ba phen thối chuyển, nên ta ba phen để ngươi đi sau.
Vi
Sa đi hiểu được ý thầy dạy. Từ đó phát tâm
tinh tấn tu hạnh đại thừa …
Ðạo
Lược
Người
tu hạnh Bồ Tát phải lấy từ bi làm gốc. Cây bồ đề lớn
mạnh nhờ bám sâu gốc rễ trong đất, kẻ tu hành lấy từ
bi lợi lạc hữu tình làm lẽ sống.
Bố
thí thân mạng
Về
thời kỳ quá khứ xa xăm, trên một đại thọ có ổ chim năm
con. Một chim trống, một chim
mái
và ba chim con.
Ngày
kia, chim trống thấy ba lữ khách thoạt đến nghỉ chân dưới
gốc cây, bèn nói với chim mái rằng:
- Này,
chúng ta phải làm sao bây giờ? Khách lạ đến nhà, nhằm mùa
đông lạnh lẽo mà ta lại không có chút lửa!
Dứt
lời, chim trống cất cánh bay đi, rồi tha về một miếng củi
cháy, nhả ngay xuống trước chỗ ba người. Lữ khách mới
lượm cành khô nhúm thành một đống lưởi để sưởi.
Thấy
vậy, chim trống cũng chưa thỏa lòng, bèn nói cùng chim mái:
- Này,
chúng ta phải làm sao bây giờ? Khách đã đói lòng, nhằm
tiết đông thiên mà chẳng có chi đãi khách! Ðây là nhà của
ta, vậy ta có trách nhiệm phải nuôi mấy kẻ xa lạ đến
tá túc. Cái chi có thể làm thì phải làm ngay! Vậy để tôi
hiến thân cho khách đỡ lòng.
Vừa
dứt lời, chim trống bay nhào xuống đống lửa hồng.
Ba
lữ khách ngồi dưới gốc cây, thấy vậy lật đật lại
cứu chim, nhưng đã muộn.
Chim
mái bùi ngùi, than rằng:
- Dưới
gốc cây, có ba người mà một thân của chồng ta thì sao cho
đủ! Bổn phận của ta là vợ, phải tỏ rằng chồng đã
cư xử đúng theo lẽ đạo. Vậy ta cũng phải hiến thân cho
khách qua đường! Dứt lời, chim mái liền nhào xuống ngay
đống lửa…
Ba
chim con chứng kiến cử của cha mẹ, và biết rằng bấy nhiêu
cũng chưa đủ cho ba khách no lòng, nên bàn tính với nhau:
- Cha
mẹ đã tùy theo sức mà tròn bổn phận, nhưng việc cũng chưa
xong! Vậy thì chúng ta lại phải hiến thân cho khách lạ!
Dứt
lời, cả ba nhào xuống đống lửa một lượt…
Trích
chính bản Thanh Nguyên
Người
thọ thí là ân nhân của người bố thí. Vì người kia
có đến xin, người này mới thực hành được hạnh bố thí.
Chuyện
Dũng Mãnh
Phóng
hạ đồ đạo
Lập
địa thành Phật
Xưa
kia có một vị Thiền sư tên là Diệu Pháp ở chùa Dư Sơn,
tuổi đã ngoài bảy mươi. Một hôm, Thiền sư đang ngồi niệm
Phật trên bàn thạch, bỗng thấy một người nhảy xuống
suối tắm, cách Thầy độ mười thước. Thầy trừng mắt
nhìn một hồi lâu rồi than rằng:
- Bản
tính chúng sanh chẳng phải là dữ, chỉ vì mê mà đến nỗi
gây nên tội ác như kia, đời nay mắc lưới pháp luật, đời
sau phải đọa vào tam đồ. Biết mấy kiếp mới ra khỏi.
Người
đi tắm kia độ ba mươi tuổi, mí to mày rậm, vai rộng lưng
dài, nghe tiếng được tiếng mất, vội vàng lên bờ mặc
áo rồi đến hỏi:
- Tôi
tắm can chi đến Thầy, mà Thầy lại rủa tôi chi chi, những
là tam đồ, là độc ác?
Thầy
Diệu Pháp đáp:
- Nam
mô A Di Ðà Phật, tôi là người tu hành, lẽ đâu sanh lòng
rủa ai. Anh đừng ngờ vực mà mang lấy tội. Vì tôi thấy
anh tai nạn sắp đến nơi, sẽ bị gông cùm khổ sở nên tôi
thương xót, thở than một đôi lời, chứ không có gì ác cả.
- Thầy
già lẫn quáng mắt, Thầy sao biết được tai nạn của tôi
mà nói càn như vậy?
- Anh
thực là nóng nảy quá, tôi tu hành đã lâu năm, lẽ đâu phạm
giới vọng ngữ. Khi vừa thấy anh tôi đã biết
nghề anh làm không phải là nghề lương thiện. Có nhân duyên
thì có quả báo, anh còn mê nên không biết đó thôi. Ước
chừng trong một tháng nữa, dù anh cao bay xa chạy thế nào
cũng mắc lưới pháp luật.
Anh
ta giật mình, chắp tai lạy Thầy và nói:
- Thầy
thực là một vị Ðại sư đoán không sai một may, con tự
biết lỗi đã nhiều, xin Thầy liệu có phương pháp gì cứu
con khỏi tai, khỏi nạn.
- Cứu
khổ cứu nạn là bản nguyện của Ðức Quán Thế Âm Bồ
Tát. Nhưng từ nay về sau anh phải biết cải hoá tự tâm,
thường niệm tên Ngài thì thế nào cũng thoát khỏi tai ách.
- Bạch
Thầy, Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát vì sao mà được phép mầu
như vầy?
- Các
vị Phật, các vị Bồ Tát cũng một tâm như mình cả, vì
có công tu tập nên tâm ấy được hoàn toàn tấn hóa, rũ
sạch các lối mê lầm và chứng được công đức vô lượng
vô biên. Người đời cũng một tâm như vậy, nhưng vì không
chịu tu tập nên bị màng vô minh bao phủ, dễ mắc vào lưới
tham sân si, phải luân hồi mãi mãi. Cổ nhân có câu “Nhất
thất nhân thân, vạn kiếp nan phục” nghĩa là một phen mất
thân người, muôn kiếp khó được lại. Như thế được sanh
làm người, nghe được Phật pháp mà không biết tu hành cho
giải thoát, thì uổng biết chừng nào. Lỡ ra làm điều tội
lỗi rồi phải sa đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh
thì muôn kiếp gỡ ra không khỏi. Anh nên nghe lời tôi,
về nhà tự tu tự tỉnh, đừng để đến khi lửa cháy đến
mi thì dù có lo cũng không kịp nữa.
Anh
nghe rồi, chào Thầy đi về, ra tuồng hối hận, vài bữa sau,
khi Thầy đương ngồi tọa thiền niệm Phật thấy một người
đến trước mặt quỳ lạy ba lạy và xin quy y làm đệ tử.
Thầy
hỏi:
- Anh
có phải là người tắm bữa trước không? Anh quê quán ở
đâu, suy nghiệm thế nào mà nay đến đây xin xuất gia đầu
Phật?
- Nam
mô A Di Ðà Phật tên con là Dũng Mãnh, ở làng này vẫn là
con nhà lương thiện, khi còn nhỏ cũng có theo học chút ít
về Nho giáo. Nhưng chẳng may cha mẹ mất sớm không ai dạy
bảo, rong chơi trong xóm cờ đám bạc bày mưu định kế,
gian xảo đủ vành, mà gia tư cành ngày càng sa sút. Khi ấy
các bạn lại rủ rê thêm một nghề ăn trộm nữa. Lòng tham
sẵn, biết đâu là phải trái miễn được đồng tiền. Ban
đầu còn e ngại rụt rè, đến sau tập dữ tánh thành, chỉ
biết rình ngõ dò đường cho thành thuộc, nghĩ mưu mẹo cho
khôn ngoan cốt lấy được nhiều tiền là sung sướng, chứ
không biết gì nữa hết. Con ma tham dục đã dắt lối đưa
đường, dù mưa gió lớn cũng ngồi chỗ xó vườn không biết
chi lạnh lẽo. Một mực trèo tường đào ngạch, cậy
đố, khoét vách. Vào nơi hổ huyệt mà cũng không biết gì
là nguy hiểm, dẫu được của như nước mà cũng không giàu
có hơn ai.
Tháng
ngày lần lừa, từ khi gặp Thầy về nhà ngồi nghĩ lại những
hành động ấy mà rùng mình rởn ốc.
Ôi!
Vì tôi mà bao nhiêu người tan nát cửa nhà, vì tôi mà bao
người đau lòng xót ruột, càng suy nghĩ càng thương, thương
đến nỗi ước chừng các của lấy được giá có còn cũng
đem trả lại.
Ngờ
đâu ngẩn ngơ đôi ba ngày mà xem trong lưng gạo không tiền
hết, con ma ích kỷ thúc dục bên tai tôi, cái đói đã tới
kề bên tai. Thôi, xếp đạo đức lại, mà đi kiếm gạo.
Bấy
lâu rình nhà bà Quản Oai một nhà giàu có, đường xá thông
làu cả rồi, hôm nay lại mưa to gió lớn, trời tối như mực,
cũng nên qua nhà ấy mà kiếm món tiền tiêu, thói cũ lại
tuôn ra như nước.
Tôi
bất giác vai mang đồ nghề bước ra, đi thẳng đến nhà bà
Quản Oai, bấy giờ chĩ có một mẹ một con ở nhà nên tôi
lách dậu, thuốc chó rồi thì chắc có lẽ đêm ấy cũng được
món tiền kha khá. Tôi lần bước đến gần, nhòm vào cửa
thấy một người con gái trẻ đương ngồi tựa án, chong ngọn
đèn khuya, đầu bù tóc rối ra dáng âu sầu khổ não.
Tôi
đứng nép bên chái nhà chờ cho cô ta đi ngủ, ngờ đâu từ
canh một tới canh tư mà thỉnh thoảng vẫn nghe có tiếng đi
ra đi vào, tâm sự tôi đêm hôm ấy bối rối tợ tơ vò.
Khi
nhớ đến lời Thầy dạy thì muốn quay trở về mà cứ
hễ cất bước đi thì con ma tham dục kéo dắt trở lại, không
sao về được. Ðêm khuya thanh vắng, nghe trong mình mỏi mệt
nhường nào thì lòng tham lại thôi thúc lên chừng ấy.
Khi sắp đến canh tư trong lòng tôi chỉ còn
là một thằng ăn trộm hung dữ mà thôi, chứ không nhớ lời
Thầy dạy bảo nữa, rồi lại nhòm lối cữa sau một lần
nữa cũng vẫn thấy cô ta còn thức. Khi bấy giờ giận tức
nổi lên, tôi rút giao phá cửa quyết vào giết đi cho đáng
kiếp. Giận thực sao mà giận. Ðến bây giờ tôi nghĩ lại
thật là vô lý quá, nhưng khi đó lòng tham đã nổi lên còn
biết chi là phải trái. Của người ta để trong rương
đã nghĩ như của mình, thì người thức không cho mình lấy
tức là người giữ, phản đối với mình, vì vậy mà mình
giận, mình quyết giết người ta cho bằng được.
Ôi!
Cái năng lực của con ma tham dục nghĩ mà ghê ma sợ. Một
người đã được nghe lời phải biết hối hận như tôi mà
còn tối tăm mù mịt, làm càn làm dở, huống chi ai ai. Thật
đáng thương cho người còn mắc trong vòng tham dục.
Tôi
vừa phá cửa vào thì người con gái ấy đứng dậy một cách
tỉnh táo, bảo tôi rằng :
- Chú
ơi! Chú cứu mẹ tôi với, mẹ tôi đau mệt, Thầy thuốc chạy
cả chỉ còn một chút hơi thở thoi thóp mà thôi. Anh tôi đi
xa, tin không về kịp, không biết làm sao bây giờ. Chú có
phương chi cứu mẹ tôi thì dù bổ đầu lấy não, mổ bụng
lấy gan tôi thì tôi cũng đành lòng chết thay cho mẹ tôi.
Xin chú làm ơn cứu mẹ tôi với.
Lúc
ấy kỳ thực cô ấy chỉ biết có mẹ đau mệt, gặp ai thì
xin cứu mạng chứ không còn biết chi nữa cả. Tôi thấy lòng
cô ấy chí hiếu như vậy cũng cảm động sa nước mắt.
Sực nhớ lời Thầy dặn, tôi liền khuyên cô ta đặt bàn
thờ giữa sân mà niệm danh hiệu Ðức Quán Thế Âm Bồ
Tát , cầu Ngài linh ứng cứu cho bà mẹ cô ấy sống lại.
Cô
ta nghe lời mừng rỡ khôn xiết, đặt hương án ngoài sân,
khấn quỳ niệm Phật, lại nhờ tôi ngồi bên trong giúp bà
mẹ cô ta.
Tôi
nghĩ cũng ngán thiệt, ai ngờ trong đời lại có người lạ
như thế, ăn trộm đã phá cửa vào nhà, không kêu la cứu
thì thôi , lại trao nhà cửa tài sản cho người ăn trộm nữa.
Cô
ấy quỳ niệm Phật ngoài sân, đêm hôm tối tăm lại thêm
mưa gió lạnh lẽo mà không hề lay động, thực là chí thành
chí kính.
Khi
ấy giá tôi muốn lấy của, dù vơ nhặt cả tài sản cũng
không ai biết, nhưng tôi thấy người con gái hiếu hạnh như
vậy, nghĩ đến phận mình làm trai càng thêm tủi hổ, lòng
tham của tôi đã tiêu tan hết, tôi chỉ còn nghĩ thân
người cũng như thân mình, lo trông nom bà mẹ cô ta chứ không
còn nghĩ đến tiền bạc nữa.
Tôi
sực nhớ tới Thầy là một vị Cao Tăng Ðạo Ðức mới thấy
tôi mà đã biết đầu đuôi gốc ngọn, chắc ai cầu khẩn
chuyện chi Thầy cũng hiểu rõ nên tôi cả đêm cầu Thầy
cứu mạng cho bà Quản Oai kẻo tội nghiệp quá.
Quả
nhiên đến khi gần sáng có một vị Ðạo nhân trong chùa ra
đưa cho cô con gái quỳ ngoài sân một chén thuốc. Thuốc có
linh nghiệm hết sức, vừa đổ vào miệng là bà Quản Oai
đã hắt hơi thở một tiếng mạnh, chân tay nóng lên rồi
mở mắt ra hồi lâu một cách tỉnh táo. Bà bảo người con
gái: “Con ơi! Ngờ đâu mẹ còn sống được trông thấy mặt
con “.
Bà
lại chỉ tôi mà hỏi: “Có phải nhờ chú này mà mẹ sống
lại chăng?”. Cô gái thưa: “Phải”. Bà bảo con gái lạy
tạ ơn rồi nói: “Mẹ trông chú này cũng thiếu túng lắm,
con hãy vào trong nhà lấy một món tiền khát lớn đưa cho
chú về tiêu dùng. Người sống hơn đống vàng, con đừng
suy ít tính nhiều mà mang lấy tội. Chú túng cũng như mình
túng, con lấy mau mang ra đây để chú còn về nghỉ kẻo chú
thức khuya mỏi mệt”.
Tôi
liền đáp:
- Chút
công nhỏ mọn đâu dám kể ơn, bà sống lại đây là nhờ
lòng hiếu hạnh của cô em chí thành cầu nguyện cảm động
đến chư Phật. Tôi không giấu chi bà, tôi chính là một thằng
ăn trộm, khi tôi phá cửa vào nhà thấy cô em chí hiếu, cảm
phục bội phần nên không nỡ hạ thủ. Một đêm tôi
đã giác ngộ được rồi, muôn sự lỗi lầm từ trước xin
sám hối, từ nay nhất định cắt tóc đi tu, của cải thế
gian tôi không cần dùng làm chi nữa đâu mà bà phải đền
ơn đáp nghĩa.
Thưa
Thầy, sau khi từ giã hai mẹ con bà Quản Oai, tôi đi một mạch
đến đây để bạch Thầy xin xuất gia cầu Phật. Tôi xét
ăn năn hết sức, người ta cũng một tâm mà sao lại hiếu
hạnh khiêm cung, mình cũng một tâm mà sao lại gian tham độc
ác. Nói rộng ra, Phật cũng một tâm mà sao lại từ bi, hỉ
xả, nhu hòa, nhẫn nhục, công đức vô lượng vô biên, tôi
cũng một tâm mà sao lại tham sân si hiểm độc, ích kỷ hại
người, tội ác vô cùng tận. Như vậy nghĩ mà ghê gớm cho
tâm mình, muốn bỏ cái tâm ấy đi, rồi tu theo cái tâm tốt
lành như của chư Phật.
Thưa
Thầy, tôi đã trình bày đầu đuôi gốc ngọn, muôn sự về
trước đều sám hối cả, xin Thầy tin lòng mà thu nhận làm
đồ đệ, tôi nguyện một lòng xin theo lời Thầy dạy bảo
dù muôn thác cũng không chối từ.
Ðại
sư làm thinh hồi lâu rồi nhẹ nhàng bảo:
- Tập
quán anh đã nhiều kiếp nhiều đời, phép giới luật nhà
Phật e về sau anh chịu không nổi, nhưng anh đã nguyện thì
hễ tôi bảo chi dù muôn thác cũng không nan từ. Vậy tôi thử
bảo anh một việc:
“Kìa,
cây đại thọ trước của chùa, anh hãy trèo lên chót cây
rồi nhảy xuống đất. Làm như vậy tôi mới tin bụng anh
và mới truyền phép cho anh tu tập”.
- Con
xin vâng lời Thầy dạy.
Cây
đại thọ cao ước chừng ba mươi thước Dũng Mãnh trèo tới
ngọn liền nhắm mắt, miệng niệm Nam Mô A Di Ðà Phật rồi
nhảy xuống, khi ấy nghe trong mình nhẹ nhàng như bấc, hình
như có ai bồng đỡ. Khi hai chân chấm đất, Dũng Mãnh mở
mắt ra đã thấy Thầy đứng trước mặt. Dũng Mãnh sụp
xuống lạy, Ðại sư liền đỡ dậy và khen:
- Lòng
anh đã quyết định như vậy, lo chi không thành chánh quả.
Sau
đó thầy liền làm lễ thế phát, truyền giới, giảng lý
duy tâm và dạy Dũng Mãnh ngồi kiết già niệm Phật theo
phép Nhất Hạnh tam muội.
Dũng
Mãnh nhờ túc căn đã sẵn, giảng đâu hiểu đó, vừa thọ
pháp xong liền tạ ơn Thầy và thưa:
- Con
nhiều kiếp nhiều đời, say mê trong bể khổ, nay nhờ Thầy
chỉ bảo đã biết đường tu tập. Nhưng con trộm nghĩ
con còn phải mang lốt Dũng Mãnh này thì dù có cao đàm điệu
luận đến đâu cũng khó lòng phát khởi tín tâm cho thế gian
được. Vậy con xin phép Thầy tọa thiền niệm Phật dưới
gốc cây này chờ đến khi nghiệp chướng tiêu diệt, thực
tướng hiện tiền, bỏ thân này mà vãng sanh tịnh độ, về
sau may ra mừng Phật thọ ký, con cũng nguyện phân thân trở
lại xứ này để cùng Thầy hoằng tuyên Phật pháp.
Ðại
sư nhủ:
- Nhất
cú Di Ðà vô biệt niệm, bất lao đàn chỉ đáo Tây phương,
con hãy cố gắng trì niệm, tinh tiến tu hành, thì có lo chi
không chứng được quả vãng sanh Cực lạc.
Từ
đấy, mỗi ngày Ðại sư thường ra khỏi cảnh giới Dũng
Mãnh và chỉ đường tu tập trong bảy ngày đêm Dũng Mãnh
ngồi kiết già nhập định, đến ngày chót phá màn vô minh
thấy được chơn như bản tánh, Dũng Mãnh xét mình sắp về
cõi Tịnh độ, nên đến đảnh lễ Tôn sư, từ giã Ðạo
hữu.
Trưa
hôm sau cả Tăng, Ni, Ðạo hữu trong chùa đều đến hộ niệm,
bổn đạo xa gần nghe tin đến xem đông vô kể.
Thầy
Dũng Mãnh ngồi kiết già, hai tay chắp rồi niệm bài kệ rằng:
“Biến
quan pháp giới,
Bản
vô nhất vật.
Phóng
hạ đồ đao,
Lập
địa thành Phật”.
Ðọc
bài kệ rồi, trời đã đúng ngọ Thầy Dũng Mãnh nhập tịch.
Mùi hương bát ngát, hào quang sáng ngời, Tăng, Ni, Ðạo chúng
lại sờ mình Thầy Dũng Mãnh thấy đã viên tịch.
Nhìn
cây đại thọ trước cửa chùa, cành lá đều ửng sắc vàng,
các thứ chim tụ về kêu nhịp nhàng như là niệm Phật, niệm
Pháp, niệm Tăng.
Hơn
ba ngày bầy chim mới giải tán…
Trích
Khóa Niệm Tuy Thân
Một
lòng kính lạy Phật đà,
Ngàn
đời con nguyện ở nhà Như Lai.
Con
hằng mặc áo Như Lai,
Con
ngồi pháp tọa Như Lai muôn đời.