Phần
05:
21/
Giao du cần chọn bạn
22/
Tiếng đàn vi diệu
23/
Hy sinh
24/
Bớ người ta: “Ăn cướp”
25/
Làm vua trong 7 ngày
Giao
du cần chọn bạn
Trong Tuyết Sơn có một khu rừng cây cối um tùm, có đủ thứ
quả thơm ngon, lại ở về phía mặt trời soi luôn, được
thêm phần ấm áp.
Có đủ thứ chim tụ họp, một hôm chúng bàn với nhau rằng:
Chúng ta ở đây với nhau được đông đúc như thế này, kể
cũng là một sự quý hoá. Xong cũng cần nên có một con đứng
đầu để trông coi giữ gìn chật tự, mong khỏi xảy ra những
sự đáng tiếc về sau.
Chúng đều cho là phải, lập tức chiệu tập hội họp cùng
nhau, bầu lên một con làm vua, cầm quyền thống trị cho chúng.
Khi hội bàn cãi hồi lâu, bắt đầu bầu chim Hạc.
Có con phản đối nói: Không thể được, vì chim Hạc chân
cao mỏ dài, bầu lên một khi con nào không may có lỗi sẽ
bị mổ vỡ óc.
Phần đông cho là phải, Hạc bị bác.
Thứ hai đề cử chim Ngan.
Lại có con phản đối nói: Chim Ngan tuy lông trắng mỏ đỏ
mình đẹp, ai trông thấy cũng yêu thật, xong vì cổ dài lạy
hay ngoẹo, vậy cổ mình đã vênh, cử lên làm gương chính
cho cả chúng ta thế nào được.
Ngan bị bác.
Thứ ba cử chim Công, chúng cho chỉ chim Công là xứng đáng,
vì lông cánh đầu đuôi đều có vẻ, vậy có thể làm vua
được.
Lại phái phản đối nói: Vẫn biết chim Công đẹp, xong chỉ
tốt mã bề ngoài, không phải là loài biết liêm xỉ, mỗi
khi múa là xù ngay hình ra thực rất khó coi.
Công cũng bị bác. Chông đi chông lại thấy chim Cú, chúng
cho là Cú ban ngày thích yên tĩnh, ban đêm hay rình mò, như
thế có thể trông coi cho chúng được mọi xự yên ổn, cả
đàn vỗ cánh ưng thuận.
Cú được đại đa số tán thành.
Bấy giờ chim Vẹt đứng ngoài nghĩ rằng: Phàm như phép làm
chim, ban đêm cần yên tĩnh để ban ngày đi kiếm ăn, nay bầu
Cú lên, ban đêm thì hắn lần mò, chúng mình phải chầu chực,
ban ngày hắn nghĩ ngơi, mình phải kiếm ăn như thế là cả
chúng ta bị vất vả khổ sở suốt đêm ngày. Nay nếu ta tất
bị hắn giận có thể sẽ bị hắn vặt lông và mổ chết.
Nhưng nếu nay ta bỏ đi thì tất cả đàn cùng khổ.
Cuối cùng Vẹt lại nghĩ rằng: Thà là mình bị khổ, xong
khổ để bênh vực lẽ phải cho công chúng được nhờ, còn
hơn là yên phận sống lấy một mình.
Vì thế, Vẹt giữ một thái độ rất bình tĩnh và cương
quyết ra nói với công chúng rằng: Cứ theo thiển ý của tôi
thì không nên bầu Cú làm vua. Vì lúc vui vẻ trông mặt hắn
khó coi, huống chi khi hắn cáu lên, thì còn ai giám nhìn nữa.
Vả lại ban ngày thì hắn nằm dài ra, ban đêm lần mò đến
sáng, thì còn ai chịu được, đó là lòng thành thực của
tôi xin bày tỏ.
Cả chúng đều tỉnh ngộ cho Vẹt nói là đúng đều nhận
Vẹt là chí tuệ, nhanh nhẹn sáng xuốt nhất, kết cuộc bầu
Vẹt lên làm vua.
Trí
Hải
Bạn
bè có 3 pháp yếu:
- Một
là thấy lỗi liền chỉ rõ can gián.
- Hai
là thấy làm việc hay hết sức tùy hỉ.
- Ba
là khi gặp tai nạn không rời bỏ nhau.
Tiếng
đàn vi diệu
Trong một đêm trăng sáng, trời trong xanh hiền lành như một
tâm hồn giải thoát. Trong Kỳ Hoàn tịnh xá, Ðức Phật
trang nghiêm ngồi trên Bửu tọa, hào quang ngũ sắc tỏa khắp
quang Ngài ánh sáng chói ngời làm tăng thêm vẻ uy nghi của
một đấng Thế Tôn.
Ðêm càng về khuya, khí trời càng thêm mát dịu, gió nhẹ
mơn man đem muôn vàn hương lạ từ Hy Mã Lạp Sơn về luồn
qua kẽ lá của rừng cây, len vào trong Tịnh xá, hòa hợp tạo
nên một hương vị đậm đà mùi đạo vị.
Giữa sự vắng lặng của đêm khuya, các vị Tỳ kheo đều
ngồi quanh trong Tịnh xá, trầm tư mặc tưởng, cố công tu
luyện tìm rõ cội gốc nghiệp chướng của con người, để
diệt trừ mọi dây oan nghiệt hầu trở nên con người lành
mạnh hữu ích cho thế nhân. Với tâm niệm bao la, với tâm
hồn phóng khoáng, các vị Tỳ kheo tùy theo căn cơ tùy theo
sở thích của mình, đều một lòng tinh tấn tu tập theo phương
pháp của mình lựa chọn không ngừng.
Nhưng trong đêm nay một trong hàng ngàn vị Tỳ kheo đương
tu tập có một vị mới được thọ giới Tỳ kheo vì chí
bồng bột muốn mình sớm đắc đạo liền, đã tụng kinh
Di giáo của Ðức Phật Ca Diếp suốt đêm, cầu nguyện Ngài
gia hộ để mau chứng Thánh quả. Nhưng đêm càng về khuya,
thân thể của vị Tỳ kheo ấy càng thêm mệt mỏi, mà nhìn
lại bản thân và nội tâm của mình vẫn chưa giác ngộ được
điều gì. Vì thế, sau một hồi suy nghĩ chưa thấu đáo, vị
Tỳ kheo ấy sinh tâm buồn chán, có ý định muốn thối lui
trốn tất cả bạn đồng tu để về sống lại cuộc đời
trần tục.
Ý
định của vị Tỳ kheo kia vừa khởi Ðức Phật biết được.
Ngài cho vị Tỳ kheo thị giả gọi ngay vị tỳ kheo sắp thoái
chí kia đến. Thoáng qua nét mặt ưu tư, với lòng Từ bi cao
cả Ðức Phật liền dịu dàng hỏi:
- Khi còn ở thế gian, con thích chơi thứ gì?
- Bạch Ðức Thế Tôn, con thích chơi đàn cầm.
- Dây chùng thì thế nào?
- Bạch Ngài đàn không ra tiếng.
- Dây căng quá thì sao?
- Bạch Thế Tôn, mọi tiếng đều bứt.
- Còn dây lên vừa vừa thì thế nào?
- Bạch Thế Tôn, tiếng đàn vi diệu, vang ngân đó đây.
- Cũng vậy con ạ! Người học đạo không tinh tiến thì không
hiểu đạo, mà tinh tấn quá cũng không đem lại kết quả
nào. Nếu muốn có kết quả tốt đẹp, con cần phải tu tập
vừa phải, tinh tiến đều đặn. Ðừng nên thái quá rồi
bất cập, sanh tâm chán nản, như con vừa có ý định thoái
lui.
Nghe Phật dạy xong, vị Tỳ kheo kia liền tỉnh ngộ. Thấy
sự tu tập của mình quá khờ dại, ý định trở về trần
tục thật điên rồ, nên đã thành thật ăn năn sám hối,
đảnh lễ Phật và nguyện vâng lời chỉ dạy của Ngài, cố
công tu tập vừa phải, tinh tiến không ngừng trên đường
đạo.
Sau khi lễ Phật trở về phòng riêng của mình vị Tỳ kheo
thoái chí kia vẫn còn nghe văng vẳng lời Phật dạy, trong
lòng thấy khoan khoái và mãn nguyện lắm. Vì không có gì quý
giá hơn, khi vị Tỳ kheo ấy thấy rõ hướng đi của mình
trên đường tu tập không khác gì chiếc thuyền sau bao ngày
lênh đênh lạc hướng giữa bể cả, vừa tìm thấy được
lối về quê hương bến cũ.
Chuông trong Tịnh xá nhẹ nhàng, khoan thai điểm từng tiếng
một, báo hiệu một đêm đã tàn. Ánh sáng ban mai hòa
hợp với không khí trong lành của Tịnh xá, tạo thành một
sớm bình minh vô cùng tươi sáng. Chim trong vườn tỉnh dậy,
cất tiếng hát líu lo hòa theo tiếng gió, tạo nên một bản
nhạc trầm hùng của vũ trụ.
Chư thiên khắp nơi, từ những phương trời xa thẳm vượt
qua giới hạn của không gian, rộn ràng bay về trong Tịnh xá,
và mang theo vô số hoa lạ của ngàn phương về cúng dường
Ðức Phật, làm cho buổi sáng của Tịnh xá, và mang theo vô
số hoa lạ của ngàn phương về cúng dường Ðức Phật, làm
cho buổi sáng của Tịnh xá đã linh động lại tưng bừng
và càng linh động thêm. Nhưng có bình minh nào trong lành tươi
sáng, có cảnh nào tưng bừng linh động bằng tâm hồn của
vị Tỳ kheo kia, khi vị ấy nhận rõ được đường lối tu
tập của đời mình qua một đêm dài đen tối của cõi lòng…
Trúc Ti
Trên
đường đạo nhiều khi ta khổ sở,
Một
lòng hăng hái tiến không thôi,
Dù
cho non nước có đổi dời,
Ta
cũng nguyện muôn đòi tinh tiến mãi.
Hy
sinh
Ngày xưa, có một ngưòi lái buôn nhân đức và hiền hậu,
một ngày kia, chàng cùng năm người khách khác vượt trùng
dương chèo thuyền qua xứ lạ để mua các thực phẩm và châu
báu. Mua xong, mọi người đều vui vẻ dong buồm trở
về xứ.
Khi ra đi thì trời quang mây tạnh, gió thuận buồm xuôi, nhưng
khi thuyền ra khơi, thì thời tiết bỗng thay đổi, gió xoay
chiều, từng đám mây đen ùn ùn kéo đến dần dần lan tỏa
khắp cả bầu trời. Những lằn chớp rạch từng luồng sóng
quằn quèo giữa vùng trời mây gió. Tiếng sấm vang dậy, mưa
ào ào đổ xuống. Gió mỗi phút mỗi mạnh, sóng mỗi lúc
mỗi to, tiếng gầm thét dữ dội và nhào lộn như điên cuồng.
Chiếc thuyền nhỏ, lên xuống theo với đợt sóng nổi chìm.
Ðược một lúc thì lái gãy, buồm đứt, chiếc thuyền lảo
đảo quay tít mấy vòng như chiếc lá vàng, giữa cơn gió lốc,
bỗng bị úp lại và chìm hẳn.
Cuống quít hãi hùng và lo sợ, những người trong thuyền đều
bị sóng cuốn ra giữa bể. Trong khi ấy người lái buôn bám
vào được cột buồm, còn năm người bạn đồng hành không
bám vào đâu được cả và sắp bị chìm sâu vào đáy bể.
Họ kêu cầu rên la rất thảm thiết. Ai đã từng chứng kiến
tiếng khóc não lòng của một kẻ sắp lìa trần mà không
động lòng đau xót? Cũng chính vì tiếng khóc ấy, đã khơi
dậy ở lòng người thương gia một tình thương vô hạn, một
sự hy sinh cao cả mà trừ phi những bậc Thánh nhân thì ít
người làm được.
Chàng ta quay mũi cột buồm lại, rồi bơi đến vớt từng
người một, khi cả năm người bạn đều níu vào cột buồm
chàng mới hơi yên lòng, nhưng vì cột buồm nhỏ, không thể
chịu đựng được sức nặng của sáu người. Kể cả người
lái buôn kia nữa, nên bị chìm dần xuống nước. Người lái
buôn tự nghĩ: Nếu ta ham sống cứ níu vào cột buồm này,
thì không những một mình ta chết mà năm người kia cũng không
tài nào thoát khỏi. Nếu ta dùng sức mạnh mà gạt bớt một
người ra khỏi cột buồm thì có lẽ cứu được thân ta và
bốn người kia nữa. Nhưng việc ác đức ấy ta không nỡ
và không thể làm. Chi bằng ta hy sinh ta để cứu những người
khốn nạn ấy.
Nghĩ như thế nên người lái buôn thả cột buồm và bị sóng
đánh chìm nghỉm. Cột buồm bấy giờ được nhẹ bớt, từ
từ nổi lên lại. Năm người kia nhờ thế mà được an toàn,
trở về quê hương sum họp với gia đình họ.
Người lái buôn nhân đức và hiền hậu ấy là tiền thân
của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni.
Thiện Châu
Cứu
một người bị nạn hơn bố thí tất cả.
Các
sao tuy có sáng, chẳng bằng sức sáng của mặt trăng.
Bớ
người ta! Ăn cướp!
Thuở
xưa, lúc Ðức Xá Lợi xuất gia, Ngài còn một người em trai
và một người em gái. Mẹ ngài là người tà kiến,
không tin theo Phật giáo, nên Ngài có căn dặn Chư Tăng, khi
nào em trai Ngài có xin xuất gia thì cứ tự tiện cho,
không cần chờ sự ưng thuận của mẹ Ngài.
Bà mẹ thấy con trai lớn của bà là Ngài Xá Lợi Phất xuất
gia, bà sợ con trai út cũng xuất gia theo anh nên bà lo đi cưới
vợ cho con. Ngày làm lễ rước dâu, theo phong tục thời ấy
thì phải chọn một người rất già mà còn đủ vợ chồng
đến xối nước trên tay cô dâu và chú rể.
Trong khi ấy chọn được bà ngoại của cô dâu là người
có đủ điều kiện. Khi làm lễ bà ngoại vợ lại nắm tay
đôi tân nhân rồi xối nước và nói rằng: “Bà cầu chúc
cho hai con được ăn ở với nhau cho đến đầu bạc răng long
như bà vậy”.
Em của Ngài Xá Lợi Phất nhìn vợ thật là đẹp, nhưng khi
day qua nhìn bà ngoại già nua, miệng thì móm mém, da nhăn tóc
bạc, thật là xấu xí. Chàng ta mới có cảm tưởng rằng:
“Bà ngoại vợ ta trước kia chắc cũng đẹp lắm mà hôm
nay cái đẹp ấy không còn, thì sau này vợ ta cũng phải chịu
cái cảnh già nua chi phối, vậy thì sắc đẹp đâu có tồn
tại mãi được.
Trên đời không có gì trường tồn bền vững. Khi mà
sắc đẹp của vợ ta phai lạt với thời gian, thì còn thú
vị gì nữa. Thảo nào mà anh cả ta lại không đi tìm đường
giải thoát!”.
Suy sét đến đó, chàng phát tâm chán nản mùi giàu sang, vợ
đẹp, ý chàng muốn xuất gia theo gương của anh, chàng mới
nghĩ ra một kế, khi rước dâu theo đường chàng làm bộ đau
bụng cứ đòi xuống đi sông mãi.
Nhiều lần như vậy, bà mẹ tưởng con mình bị bệnh kiết
nên không để ý, để cho chàng tự do và cho xe rước dâu
về trước, để chàng đi sau. Dịp may đã đến, chàng bèn
đi thẳng vào Chùa ở gần đấy, xin Chư Tăng cho phép xuất
gia.
Chư Tăng nói;
- Nhà ngươi đã được sự ưng thuận của cha mẹ chưa?
- Bạch chư Ðại Ðức, chưa!
Chư Tăng không dám cho xuất gia, vì theo luật Ðức Thế Tôn
cấm không cho người xuất gia trong khi cha mẹ không cho phép.
Khi hết sức yêu cầu Chư Tăng mà quý Ngài không bằng lòng
cho xuất gia, chàng mới la lên rằng: “Bớ người ta! Ăn cướp
nó cướp của tôi đây này!”.
Chư Tăng lấy làm lạ mới hỏi:
- Gã kia! Ngươi đã điên rồi chăng? tại sao ở giữa chúng
Tăng mà ngươi lại la lên như thế? Ai cướp của nhà ngươi?
Chàng đáp:
- Bạch Chư Tăng! Ðệ tử là em của Ngài Xá Lợi Phất. Chư
Tăng mới sực nhớ đến lời dặn của Ngài Xá Lợi Phất,
nên cho em Ngài xuất gia…
Thông Kham
Trí
tuệ là gốc của muôn hạnh loài.
Ngu
si là nguồn tội lỗi.
Làm
vua trong 7 ngày
Hoàng đệ Vi Ta gò cương ngựa, quay sang lão tướng Kiên Ðà:
-Ta muốn đi tản bộ để được cùng lão tướng đến cạnh
các đạo sĩ tu khổ hạnh trong rừng già này.
Ðội
ngựa dừng lại ngoan ngoãn, hai người cùng nhảy xuống đất.
Trong khi chờ đợi vị lão tướng của mình buộc xong ngựa
vào gốc cây, Hoàng đệ Vi Ta đưa mắt nhìn theo con đường
mòn sâu thẳm, mơ màng suy tưởng đến những cảnh trí mình
sắp được trông thấy: “Dưới tàn cây, hốc đá của rừng
xanh vắng lặng, thân đạo sĩ uy nghi như thần tượng.
Ðiệu
nhạc thoảng lên từ hơi gió ngàn phương, thanh tịnh vô cùng
như nâng hồn người thoát tục cao thêm mãi tận hư vô. Thật
là huyền diệu”.
- Xin
mời Ngài đăng trình.
Vi
Ta bỗng quay lạ, nhìn lão tướng Kiên Ðà và nói với giọng
u buồn:
- Lão
tướng ạ! Lâu nay ta ôm ấp một mối băn khoăn khó giải.
Ta tưởng đến một hướng đi cho cuộc đời. Phải chọn
một trong hai con đường: Một là bằng mọi cách, chiếm đoạt
tất cả những gì mình ao ước để tạo được hạnh phúc
hiện tiền, hai là ép buộc thân xác vào cảnh thiếu thốn,
khổ hạnh để hủy diệt thân này mà được hạnh phúc trong
tương lai. Ta không tán thành cách tu tập của các vị Sa môn
theo đạo Phật, vẫn ăn uống đầy đủ mà luyện tâm thanh
tịnh.
Lão
tướng có hiểu được ta chăng!
Ta
buồn vì anh ta Hoàng Ðế A Dục, một bậc trí tuệ, một vị
anh hùng cái thế lừng danh của Ðại quốc Magada này lại
bị cám dỗ bởi những lời đường mật của hàng đệ tử
của Phật. Nhưng mà thôi, ta không nên nhắc chuyện ấy lại
làm chi, lão tướng hãy dẫn ta vào tận núi thẳm rừng sâu
để ta được chiêm ngưỡng các đạo sĩ tu khổ hạnh.
Lão
tướng Kiên Ðà đăm chiêu nghĩ ngợi, lão vẫn giữ im lặng
khi bước đi bên cạnh ông Hoàng. Nhưng bỗng vị cận thận
chỉ về hốc đá, cung kính:
- Tâu
Hoàng đệ, dưới hốc đá, một bóng hình đạo sĩ.
Ông
Hoàng tiến nhanh về phía hốc đá. Dưới tàn cây rậm rạp,
một đạo sĩ gầy như một bộ xương khô. Ðôi mắt sâu như
hai vực thẳm, và cái đầu tóc, tóc dài quanh rối ghê gớm,
phủ kín cả đôi vai, tỏa xuống bộ sườn trần trụi. Thân
thể đạo sĩ ở trong tình trạng gần như chết hẳn, chỉ
còn cái lưng vẫn giữ thẳng, lồng ngực hồi lâu thấp thỏm.
Hoàng
đệ Vi Ta đến bên cạnh đạo sĩ:
- Bạch
Ðại Ðức, Ngài tu hành khổ đạo đã bao năm rồi mà thân
xác ốm yếu như thế này? Thật đệ tử lấy làm bái
phục.
Ðạo
sĩ vẫn nhắm nghiền đôi mắt trả lời:
- Ðã
mười hai năm rồi, mười hai năm mong giải thoát chiếc thân
uế trược này để linh hồn siêu thoát.
- Bạch
Ðại Ðức, Ngài dùng món chi để nuôi mạng qua ngày?
- Bần
đạo ăn rễ rau và trái cây thôi.
- Bạch
Ðại Ðức, Ngài ăn nghỉ ở đâu?
Ðạo
sĩ chỉ đồng cỏ khô bên cạnh:
- Bần
đạo nằm nghỉ trên đống cỏ khô này.
- Bạch
Ðại Ðức, trên đường tu học Thiên Ma bách chiếc, những
chướng ngại nào làm tâm hồn Ngài không an tịnh?
Ðạo
sĩ lắc đầu tỏ vẻ chán nản:
- Ðiều
làm cho bần đạo khổ công và tốn nhiều công phu nhất là
nhìn thầy những đôi chim trời, thú rừng “nhảy nhót”
với nhau.
Hoàng
đệ Vi Ta buồn than:
- Ngài
đã thấy chân đích của sự tu hành sắp đạt đến chưa?
Ðạo
sĩ yên lặng giây lâu, Ngài khẽ lắc đầu rung rinh mớ tóc
dày:
- Họa
may khi thân xác này tàn rụi!
Ông
Hoàng đứng dậy nét mặt buồn rười rượi. Mười hai năm
khổ hạnh hành hạ thân xác đến cùng kiệt mà vẫn chưa
diệt hết được dục tình, dục ác! Phải đợi đến khi
cái thân này hủi diệt, các giác quan không còn cảm xúc, cái
biết hoàn toàn vô năng lực thì mới tin rằng có thể đạt
được chân lý?
Lão
tướng Kiên Ðà đến bên cạnh góp lời:
- Xin
Ngài chớ khá bận tâm! Chúng ta còn viếng thăm đôi vị danh
tiếng nữa rồi Ngài được tận mắt tỏ tường, sức chịu
đựng khổ đau vô cùng tận để mong cho cuộc đời riêng
thoát khỏi khổ đau của kiếp người.
Hoàng
đệ Vi Ta khua tay:
- Ta
hiểu đủ rõ lão tướng ạ! Chúng ta sắp sửa về đi thôi.
Chiều
đã xuống bóng cây đổ dài trên đường. Trước khi
lên ngựa ông Hoàng quay lại vị cận thần nói:
- Kiên
Ðà ạ! Sự tu hành của vị Ðạo sĩ kia khó khăn biết là
bao mà chưa thoát được ước muốn tầm thường. Thế các
vị Sa môn tu theo Ðạo Phật ở trong các chùa viện, tuy sống
trong chay tịnh đạm bạc nhưng no ấm, thì làm sao mà thành
tựu được đạo quả. Ấy thế mà Hoàng huynh ta vẫn mãi
cung kính, cúng dường cho họ.
Lão
tướng Kiên Ðà không trả lời. Và trên đường về hai người
lặng lẽ cho ngựa chạy chậm chậm. Trong tâm trí mỗi người
đều nặng một nỗi suy tư.
- Kìa
lão tướng Kiên Ðà và cả Ðại thần Châu Ðàn nữa. Các
Ngài làm gì ở đây?
Ðại
thần Châu Ðàn cung kính trả lời Hoàng đệ Vi Ta:
- Tâu
Ngài, trời hè nóng bức, Hoàng đế tắm ở trong cung, cho nên
chúng tôi đứng đây giữ long bào và mão ngọc.
Ông
Hoàng Vi Ta nhìn đăm đăm vào chiếc vương miện trên tay Châu
Ðàn. Vị Ðại thần biết ý, đưa chiếc vương miện lên
trước mặt hoàng đệ Vi Ta:
- Thưa
Hoàng đệ, đây quả thật là một chiếc mão vô giá và đẹp
nhất kinh thành. Nó kết bằng một trăm hạt xích châu, hai
trăm hạt lưu ly và năm mươi hạt mã não. Lót bên trong là
gấm quý xứ Ty La và ở ngoài bọc vàng Ðề Bạt.
Ông
Hoàng tỏ ý thèm thuồng :
- Thật
là một chiếc vương niệm quý giá và đẹp đẽ vô cùng ước
gì ta sẽ được một chiếc nhỉ!
Lão
tướng Kiên Ðà nhìn Vi Ta, mỉm cười :
- Thưa
Hoàng đệ, với dung mạo đẹp đẽ uy nghi và gương mặt khôi
ngô của Ngài, nếu Ngài đội chiếc vương miện quý giá này
thì hạ thần sẽ tưởng đến một vị trời Ðế Thích vừa
giáng hạ.
Vi
Ta khoái chí, cầm chiếc vương niệm mân mê.
Ðại
thần Châu Ðàn liếc nhanh về phía ông hoàng:
- Lão
tướng Kiên Ðà nói đúng đấy. Thưa Hoàng Ðệ, Ngài hãy
đội thử để chúng tôi chiêm ngưỡng dung nhan.
Hoàng
đệ mỉm cười nhìn quanh:
- Nhưng
ta ngại…
Châu
đoàn cướp lời:
- Thưa
không, Hoàng đế mới đi tắm. Vả lại, Ngài là Hoàng đế
tương lai kia mà. Chiếc vương miện này sẽ là của Ngài.
Kiên
Ðà phụ hoạ :
- Vâng,
Ngài sẽ là Hoàng đế. Ngài hãy đội thử tý thôi.
Hoàng
đệ Vi Ta không còn tự chủ được lòng ham muốn. Ngài trịnh
trọng đặt chiếc vương miện lên đầu và dang ra xa:
- Các
khanh ngắm ta có đẹp không nào?
Bổng
cửa phòng vụt mở và Hoàng đế A Dục đã bước ra khỏi
phòng.
Vi
Ta hốt hoảng đứng ngây người chiếc vương miện vẫn
còn mang trên đầu.
Nghiêm
nghị Hoàng đế A Dục phán:
Ngự
đệ Vi Ta! Hành động của ngươi tố cáo một tham muốn
cuồng loạn.
Ông
Hoàng Vi Ta quỳ xuống run run van xin:
- Em
khờ dại lầm lỗi. Xin Hoàng huynh mở lượng bao dung. Thật
tình em không có lòng bội phản chỉ một phút…
Hoàng
Ðế A Dục cắt nganh lời:
- Pháp
luật nghiêm minh của triều đình không cho phép ta dung tha,
dù tội phạm chính là em ruột ta.
Rồi
đổi sắc mặt Ngài truyền lệnh:
- Lực
sĩ đâu. Hãy dẫn phạm nhân ra pháp trường.
Vi
Ta sụp xuống chân vua, nức nở khóc. Các cận thần cũng
lạy lục, xin vua thương tình, giảm tội. Hoàng đế A Dục
hạ giọng và chậm rãi, Ngài nói:
- Ta
niệm tình các khanh! Và để thỏa lòng ước muốn của em
ta, ta sẽ cho Vi Ta làm vua trong bảy ngày, nhưng…
Ngài
dừng lại một lát, rồi nhìn thẳng vào Hoàng đệ Vi Ta, ngài
tiếp:
- Nhưng
sau bảy ngày làm Hoàng đế, ngươi sẽ phải chịu y luật
tử hình.
Hoàng
đế A Dục đỡ Vi Ta dậy, truyền khoác thêm áo cẩm bào và
bảo các quan đón rước Vi Ta về cung điện đặt lên ngôi
cao cả.
Trước
sân rồng, Hoàng đế Vi Ta tiều tuỵ, rũ rượi trong bộ áo
cẩm bào, phủ phục dưới bệ. Hoàng đế A Dục nghiêm
nghị:
- Ngự
đệ Vi Ta!
- Dạ
!
- Bảy
ngày đã qua! Trong bảy ngày trên ngôi vàng điện ngọc, say
sưa bên cung nữ yêu kiều, có trong tay muôn vạn quyền lực,
hẳn em đã được sung sướng rồi chứ?
Hoàng
đệ Vi Ta ê chề, chán nản:
- Tâu
Hoàng huynh, em khổ lắm Hoàng huynh! Ngồi trên nệm gấm vương
giả, chung quanh dìu dặt tiếng nhạc, tiếng ca của những
cung tần mỹ nữ, nhưng lòng em không thể nào vui được khi
trí em mãi nghĩ đến lưỡi gươm sáng quắc của tên đao phủ,
đến dòng máu đào phun giọt từ cổ em sau khi chiếc đầu
em lăn lóc. Trời ơi! Lại thêm nỗi, mỗi khi hoàng hôn
vừa tắt, bốn tên lực sĩ Chiên Ðà La đứng bốn góc Hoàng
cung, tay cầm gươm trần, tay nắm xích sắt, khua lổn cổn
hô to: “Một ngày qua. Một…còn sáu ngày nữa, tân vương
sẽ bị chặt đầu. Cái chết của Ngài đang đi tới… một
ngày qua…”
Hoàng
đệ Vi Ta buông tiếng thở dài não nuột, rồi tiếp:
- Tâu
Hoàng huynh, mỗi tiếng nói của họ là mỗi lưỡi gươm nhọn
đâm vào tim em. Suốt cả bảy ngày, em sống trong phập phồng
lo sợ. Ngai vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ, quyền lực
danh vị nào có nghĩa lý gì đâu khi tâm em đang đau khổ, Hoàng
huynh ạ! Rồi Vi Ta bưng mặt khóc nức nở. Ðôi vai run run
trong chiếc cẩm bào rộng. Bá quan đều cảm động.
Vua
A Dục từ từ bước xuống ngai vàng, đến bên cạnh đỡ
em Ngài dậy, dịu dàng an ủi:
- Vi
Ta em! Trong cái danh vị cao cả nhất của người đời, em chỉ
sợ sệt, lo âu chết mất một thân này, một kiếp này mà
cảm thấy thống khổ đến như thế.
Vậy
em hãy nghị lại, các vị Sa môn tu theo đạo Phật, họ luôn
luôn nghĩ đến cảnh sanh, già, bệnh, chết của hết thảy
con người, trong vô lượng kiếp, qua nhiều cảnh giới đau
thương khốn nạn như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, thì
thử hỏi ăn một đôi bữa trong ngày, khoác hài gai áo vải,
có gì là sung sướng đâu em!
Hoàng
đệ Vi Ta trầm ngâm nghĩ ngợi, Ngài nhớ lại những băn khoăn
trước đây của mình mà đã có lần Ngài thổ lộ với lão
tướng Kiên Ðà.
- Tâu
Hoàng Thượng…
Vua
A Dục không để em nói hết lời:
- Ta
đã hiểu hết những thắc mắc của em. Có phải em đã cho
rằng cần phải tu hành ép xác, làm tê liệt giác quan mới
có thể tạo được tâm thanh tịnh. Và sự thật đã trả
lời cho em như thế nào. Vi Ta ạ! Ðức Phật có dạy: Chẳng
phải đi chân không, chẳng phải để tóc bồm sồm, chẳng
phải xoa cho đất vào người mình, chẳng phải tuyệt thực,
chẳng phải nằm trên đất, cũng chẳng phải ngồi mãi mà
người ta có thể trở thành thanh tịnh nếu không tiêu diệt
dục vọng tự tâm mình.
Và
Ðức Phật cũng đã dạy: “Có hai cực đoan mà kẻ cầu đạo
phải lẩn tránh. Cực đoan thứ nhất là sống cuộc đời
buông lung theo dục vọng để mưu cầu những thọ hưởng ích
kỉ, ti tiện, xấu xa. Cực đoan thứ hai là sống đời
sống khổ hạnh, hành thân hoại thể mình một cách khả ố,
ghê tởm. Cả hai cực đoan kia đều không có lợi ích gì để
đưa đến cứu cách giải thoát. Phải đi trên con đường
trung đạo. Chỉ có con đường trung đạo mới đưa hành giả
đến chánh tri kiến, đến thanh tịnh yên vui. Ðến đại giác
ngộ, và cứu cánh “Niết Bàn”. Em đã nghe rõ chưa?
Mắt
sâu hóm của Hoàng đệ Vi Ta khô dần, mặt Ngà tươi tỉnh.
Ngước lên nhìn Hoàng đế A Dục, Ngài nói:
- Tâu
Hoàng huynh. Em đã hiểu rồi! Những nỗi băn khoăn lâu nay
của em đã được cởi mở. Em đã thấy được con đường
tu tập chân chính. Em đã thấy lòng nhẹ nhõm dù bây
giờ em phải bị tội tử hình.
Hoàng
đế A Dục nắm lấy tay em cảm động:
- Không!
Không! Em không còn có tội lỗi gì nữa. Nếu như trước đây,
lòng ước vọng cuồng loạn của em đã gây nên tội lỗi
thì bây giờ chính sự giác ngộ của em đã tự nó xóa được
hết cả lỗi lầm của em rồi! Hoàng đệ Vi Ta nắm lấy tay
anh nói qua ánh mắt trìu mến kính yêu:
- Hoành
huynh, hoàng huynh thương em đến ngần ấy sao! Hoàng huynh đã
chỉ cho em con đường giải thoát. Em đã thấy rõ rồi và
em nguyện sẽ đi theo con đường sáng suốt của Ðức Phật.
Hai
anh em ôm nhau. Tình thương yêu chan hòa trong đôi tim đồng
điệu thông cảm, giác ngộ.
Ngoài
vườn ngự, con chim hoành anh chuốt lưỡi tung một tràng nhạc
mừng vầng dương lên mang ánh sáng đến loài người.
Quảng
Huệ
Nghĩ
đến cái chết, đến cái đời mơ hồ, không biết mình sống
bao lâu và không biết thời thế nó xảy ra cho mình như thế
nào, nghĩ như vậy khiến mình sống theo chân lý.