Phần
04:
16/
Nàng kỹ nữ Phệ Sa
17/
Vàng ngọc phải chăng là hạnh phúc
18/
Oanh vũ cứu đàn
19/
Tinh tấn vì đạo hay là Tôn Giả Phú Lâu Na
20/
Công chúa Ly Cấu
Nàng
kỹ nữ Phệ Sa
Ở
thành Ma Ðồ La, có nàng kỹ nữ sắc đẹp tuyệt trần tên
là Phệ Sa. Nàng thường để ý đứa thị tỳ của nàng, khi
nào đi mua phấn sáp gì thì cứ đến nhà một người lái
buôn trẻ tuổi tên là Ưu Bà Cấp Da.
Một
hôm nàng kêu hòi:
- Ngươi
có tình ý với chàng làm sao, mà mua gì cũng đến đấy cả?
Ðứa
Thị tỳ thưa:
- Chàng
người phong nhã, tánh tình thuần hậu, lại là người chí
thành theo đạo Phật, mọi người đều kính mến.
Nàng
Phệ Sa nghe nói liền sai thị tỳ đến mời chàng đến chơi.
Chàng
bảo về trả lời:
- Bây
giờ chưa phải lúc gặp tôi.
Nàng
nghĩ sợ chàng hiểu lầm phải có tiền, nên sai đến nói
lại. Chàng cũng vẫn trả lời:
- Bây
giờ chưa phải lúc gặp tôi.
Cách
ít lâu, nàng Phệ Sa muốn bán mình cho một nhà buôn giàu bèn
mưu giết người nhân nghĩa cũ. Việc tiết lộ, bị vua Na
Ðồ La truyền bắt, cắt tay, cắt mũi rồi đày ra ở ngoài
bãi tha ma.
Chàng
Ưu Bà Cấp Da biết đầu đuôi câu chuyện nghĩ bụng rằng:
Khi nàng còn đẹp đẽ sung sướng thì người tu đạo không
nên đến làm chi. Nay nàng đã bị cụt tay, cụt chân, đau
đớn khổ sở, chính là lúc ta phải đến thăm nàng. Nghĩ
xong chàng cùng người hầu cận đi đến thăm. Ðứa thị tỳ
nay vẫn không rời bỏ nàng, trông thấy chàng đến, liền
hốt hoảng vào tin. Nàng Phệ Sa vội lấy miếng vải khoác
trên thân, khóc lóc tủi thẹn mà nói rằng:
- Thưa
chàng, khi người thiếp thơm đẹp như đóa sen báu thì chàng
không đoái hoài đến. Nay thiếp thân tàn ma dại như thế
này, chàng còn đến làm gì cho tủi cực lòng thiếp.
Chàng
đáp:
- Trước
kia tôi không đến vì tôi không có tà tâm, ngày nay nàng bị
nạn, tôi đến để thăm nàng và chỉ cho nàng rõ những thảm
trạng của sự khoái lạc gây ra ở trong đời. Rồi chàng
đem đạo Phật nói cho nàng nghe, chỉ rõ nhân quả tội phước,
khuyến hóa an ủi nàng.
Nàng
Phệ Sa tự biết tội lỗi của mình, phát lòng sám hối, tâm
được an vui nhẹ nhàng. Và từ đó, chí thành cải hóa theo
lời Phật dạy, nàng luôn luôn làm điều lành, tránh điều
ác, mở rộng thân tâm, quên nỗi đau khổ của mình, nghĩ
đến đau khổ của người.
Minh
Châu
“Người
say mê sắc dục như cá nuốt lưỡi câu, như tằm kén tơ,
như thiêu thân bay vào đèn, tự dấn thân vào chỗ chết mà
không hay biết.”
Vàng
ngọc phải chăng là hạnh phúc
Thời
Phật tại thế, có một vị Quốc vương tên là Ða Vị Tả
kính thờ cả 69 dòng ngoại đạo. Bỗng một ngày vua phát
thiện tâm muốn bố thí rất nhiều, bao nhiêu của báu chất
đấy như núi, rao rằng hễ ai đến xin đều cho bốc đi một
nắm.
Vì
số người đến xin đã dài ngày mà núi báu vẫn chưa suy
suyển.
Ðức
Phật biết Quốc vương có nhiều phước duyên về trước
có thể hóa độ, liền hóa làm một vị Phạm Chí đến thăm.
Vua rất mừng rỡ, làm lễ xong hỏi rằng:
- Ngài
muốn cần dùng gì xin cho tôi biết? Tôi vui lòng cúng dường.
Vị
Phạm Chí đáp:
- Tôi
từ xa đến đây, cốt xin nhà vua ngọc báu để đổi lấy
vật liệu làm nhà ở.
Vua
đáp:
-
Tôi rất vui lòng xin Ngài bốc lấy một nắm.
Vị
Phạm Chí bốc một nắm, đi bảy bước, trở lại trả chỗ
cũ.
Vua
hỏi:
- Cớ
sao Ngài không lấy?
- Với
số báu ấy thật đủ làm nhà, nhưng khốn cho tôi về sau
còn phải cưới vợ nữa, thì không đủ dùng, nên tôi không
lấy.
- Thôi,
Ngài lấy thêm ba nắm.
Vị
Phạm Chí bốc ba nắm, đi bảy bước trở lại trả chỗ cũ.
- Sao
Ngài lại thế?
- Với
số báu vật ấy thật đủ cả cưới vợ, nhưng lấy gì sắm
ruộng đất, đầy tớ, trâu ngựa, tôi tính không đủ, nên
thôi là hơn.
- Thôi,
Ngài lấy thêm bảy nắm.
Vị
Phạm Chí lấy xong, đi bảy bước lại trở lại trả chỗ
cũ.
- Cớ
gì Ngài vẫn chưa vừa ý?
Nếu
tôi có con cái phải lo cưới gả, sắm sửa, lại còn việc
nhà đám kỵ, giao tiếp thân bằng, tôi tính vẫn cứ thiếu,
nên không lấy.
-
Tôi vui lòng cúng tất cả, Ngài lấy về dùng cho đủ!
Vị
Phạm Chí bước lên núi báu rồi trở xuống không nhận.
Nhà
vua rất quái lạ thưa rằng:
- Ý
Ngài thế nào, tôi thật không hiểu.
- Bản
ý tôi đến xin Ngài để mưu cầu sự sống. Xong tôi xét lại
mạng con ngưòi sống chẳng bao lâu, muôn vật cũng không thường
sáng còn tối mất, khó giữ lâu bền.
Dầu
tôi được cả núi báu, vị tất đã lợi ích hoàn toàn cho
bản thân. Lo toan tham muốn bao nhiêu, luống công nhọc nhằn
bấy nhiêu, chẳng bằng dứt bỏ dục vọng, cầu đạo giải
thoát, rèn luyện các đức tính tốt cho bản thân, cho gia đình,
cho xã hội, đều hướng về mục đích từ bi, trí tuệ là
hơn, nên tôi không lấy.
Khi
đó nhà vua tỉnh ngộ, tâm ý sáng suốt cầu được nghe pháp.
Vị
Phạm Chí liền nói bài kệ rằng:
Tuy
được núi vàng báu
Chất
cao đến trời xanh.
Thế
gian nhiều như thế
Chẳng
bằng thấy nguồn đạo.
Ðời
không lành tưởng lành,
Ưa
mà thấy như ghét
Lấy
khổ dùng làm vui,
Cuồng
phi bị tai hại.
Nói
bài kệ xong, Ngài đã hiện Phật thân phóng hào quang sáng
rực rỡ, vua và quần thần vui mừng hớn hở xin thọ ngũ
giới, chứng quả Tu Ðà Hoàn.
Viên
Minh
“Ðời
người ngắn ngủi lắm, thoáng qua lẹ làng như bóng chớp.
Không ai sống mãi mà khỏi chết, thì con người có trường
thọ được đâu. Vậy nên ta diệt lòng tham lam và bố thí
cho kẻ nghèo. Sự giàu sang phong phú không phải thuộc về
ta mãi mà thường thường vì nó mà ta lụy thân.”
Oanh
Vũ cứu đàn
Ngày
xưa, bên một sườn núi cao là cụm rừng hoang, lá xanh bao
phủ độ vài mươi mẫu đất, đấy là nơi trú ngụ của
hàng vạn gia đình hươu, nai và chim chóc.
Một
buổi trưa hè, vạn vật như bị tê liệt dưới sức nóng
của những tia lửa mặt trời thiêu đốt. Chim thú uể oải
gần như chết ngạt trong bầu không khí nặng nề oi bức.
Tiếp theo đó những ngọn lửa hồng khe khắt bừng cháy từ
góc rừng này qua góc rừng khác. Ngọn lửa độc ác cứ
lên cao, lan rộng, bao vây dồn lần thú rừng, chim chóc vào
những cụm rừng chưa kịp cháy…
Ảo
não thay! Những tiếng kêu la thảm thiết, tuyệt vọng vang
động một góc trời…
Trước
cảnh bi thương, nhìn thấy sự chết chóc đau đớn của đồng
loại, một chiếc chim bé nhỏ trong đoàn oanh vũ vụt bay qua
làn khói đen nghi ngút làm cho đàn ngạc nhiên và hoảng sợ.
Thì
sau đó vài phút, cũng chiếc chim nhỏ bé ấy trở về với
một thân hình ướt đẫm, rồi đập mạnh đôi cánh và vung
văng cho nước tưới vào lửa.
Chiếc
oanh vũ ấy bay đi bay lại nhiều lần như thế. Với nắm thân
bé nhỏ, với sức lực không bao nhiêu, oanh vũ mệt nhoài,
không bay được nữa. Nhưng một lát sau người ta thấy oanh
vũ lại làm công việc đã làm…
Cũng
khi ấy đứng chợi trên đồi cao, một chủ trại vô tình
trông thấy nghĩa cử của oanh vũ vô cùng thương xót, đem
tâm cảm phục, bèn sai người nhà ra cứu lửa và kết quả
ngọn lửa bạo tàn kia bị dập tắt.
Khi
lửa đã tàn, thú rừng chim chóc kêu nhau trở về nơi quê
hương tổ ấm sum họp trong cuộc sống an lành của gia đình
thân mến.
Chim
Oanh Vũ ấy là tiền thân của Ðức Phật Thích Ca.
Thiện
Châu
“Trước
khi làm phước tứ phương, hãy giúp đỡ cho ngay người ở
gần mình đi đã.”
Tinh
Tấn vì đạo hay là Tôn Giả Phú Lâu Na
Mùa
Ðông đã tàn, khí trời dần dần ấm áp. Dưới ánh sánh
bình minh, muôn cánh hoa đang vươn mình phô sắc. Trên cành,
chim chóc đã rời tổ cất tiếng hát trong trẻo, như để
chào mừng ánh sáng đã trở về, hay để tiễn chân nhà
Ðạo sĩ sắp lên đường quên mình vì Ðạo.
Trong
thành Ba La Nại ngôi Tịnh xá Trúc Lâm kiến trúc trên một
canh đồi rộng rãi, cây cối um tùm tĩnh mịch dần dần hiện
rõ trong đám sương mù.
Lúc
bây giờ Ðức Thế Tôn đang an tọa trong Tịnh xá Trúc Lâm,
dùng đạo nhãn thấy dân chúng ở nước Rô Na Ba Răn Ta đang
chịu nhiều điều thống khổ dưới quyền thống trị của
nhà cầm quyền Kê Hoa Ðà người Bà La Môn giáo. Người ấy
đã dùng bạo thế lực sẵn có trong tay, ép buộc dân chúng
phải tôn thờ Phạm Thiên và ngược đãi bắt bớ những người
chống đối lại.
Trước
hành động bạo ác và bất công ấy, Ðức Thế Tôn thương
hại cho Kê Hoa Ðà là một nhà trí thức mà hiện tại không
có người hướng dẫn sáng suốt tương lai không tránh khỏi
ác báo trong ba đường.
Bấy
giờ Ðức Thế Tôn thấy trong hàng đệ tử, chỉ có Tôn giả
Phú Lâu Na là người có thiện duyên với Kê Hoa Ðà và dân
chúng xứ ấy nên sai đến đó để giáo hóa.
Ðức
Thế Tôn biết rằng: Trên con đường truyền bá Chánh Pháp
dắt người trở về con đường tươi sáng của ánh đạo
Từ bi, tôn giả Phú lâu Na sẽ gặp nhiều trở ngại thử
thách của đối thủ.
Biết
vậy, nên Ðức Thế Tôn gọi Tôn giả Phú lâu Na đến dạy
rằng:
- Dân
xứ ấy và Kê Hoa Ðà độc ác lắm, ta sợ ngươi không đủ
can đảm để chịu đựng.
- Bạch
Thế Tôn, con nguyện đem hết năng lực để làm tròn sứ mạng.
- Nếu
đến đó bị chửi mắng, thì ngươi nghĩ sao?
- Con
nghĩ: Những lời chửi mắng kia cũng như những tặng phẩm
nếu họ đem đến tặng cho con, con không nhận, họ sẽ mang
về, và con nghĩ rằng: Những người ấy còn hiền từ lắm,
vì họ chỉ chửi mắng mà không nhận nước con.
- Nếu
họ đem nhận nước ngươi?
- Con
nghĩ rằng: Họ là những người tối dạ, và chỉ nhận nước
mà không lấy đá ném vào đầu con.
- Nếu
họ dùng đá ném vào đầu ngươi?
- Con
nghĩ rằng: Họ rất tốt vì chỉ lấy đá ném vào đầu mà
không dùng gậy đập con.
- Nếu
họ dùng gậy đập ngươi:
- Con
nghĩ rằng: Họ rất hiền từ vì chỉ dùng gậy đập mà không
giam cầm, ngăn cản bước đường truyền đạo của con.
- Nếu
họ giam cầm ngươi?
- Con
nghĩ rằng: Những người ấy rất tử tế, vì họ giúp con
có thời gian tịnh dưỡng tinh thần để nung luyện thêm ý
chí, mà không dùng gươm đâm chém con.
- Nếu
họ lấy gươm đâm chém ngươi?
- Con
nghĩ rằng: Họ rất tốt dạ, vì chỉ đâm chém mà không giết
chết con.
- Nếu
họ giết chết ngươi?
- Bạch
Thế Tôn, con rất vui mừng, vì những người kia đã dùng tâm
từ bi giúp cho con sớm thoát khỏi tấm thân giả tạm đau
khổ này, để chóng thành quả vị Vô Thượng Giác.
Ðức
Thế Tôn dạy: Hay thay! Hay thay! Phú Lâu Na ngươi đã có một
ý chí mạnh mẽ. Ngươi đã biết khinh thường thân mạng để
phụng sự chân lý. Ngươi thật là một người đệ tử trung
kiên của ta, đáng thay ta đến xứ ấy truyền bá Chánh pháp
hướng mọi người trở về con đường sáng đầy an lạc
và giải thoát.
Tôn
giả Phú Lâu Na đảnh lễ, vâng lời Phật dạy rồi từ giã
lên đường sang xứ Rô Na Ba Răn Ta.
Thiện
Bình
“Chúng
sanh cần con đến
Ðạo
pháp cần con đi
Không
nề gian lao,
không
từ khó nhọc,
Quyết
tâm làm tròn nhiệm vụ của vị NHƯ LAI SỨ GIẢ”
Công
chúa Ly Cấu
- Em
cài thêm hoa lên mái tóc cho ta.
- Chà
Công chúa đẹp quá!
Hoa
Nô thốt ra câu nói ấy trong khi nàng cúi xuống cài đôi chim
sẻ nạm toàn kim cương lên đôi cẩm hài của Công chúa.
Trước
điện Quỳnh La 50 vị Phạm Chí đã túc trực sẵn sàng, hai
hàng Ngự lâm quân đứng nghiêm như tượng, mấy chục nàng
cung nữ xiêm y rực rỡ, tiếng lục lạc vàng dưới mấy chục
chân tròn trắng cùng tiếng xao xuyến chạm vào nhau hòa thành
một điệu nhạc lạ mà hay.
Tất
cả đang chờ Công chúa. Bỗng tiếng vọi thổi lên để dẹp
đường, người ta đều đổ dồn đôi mắt vào chính điện.
Bức rèm nhung tơ màu hồng lạt thêu đôi phụng hoàng bằng
kim tuyến lay động. Công chúa, một con người ngọc đài các
bước ra.
Những
ai đứng sau xa phải kiễng chân lên mới nhìn rõ Công chúa
để mà thì thầm khen ngợi cái sắc đẹp đoan trang lộng
lẫy của nàng, cũng như thầm phục đức khiêm tốn của con
người đẹp khi đi ngang qua hàng Ngự lâm quân người đã
cúi đầu kính cẩn đáp lễ.
Ðây
là một buổi lễ hành hương của Công chúa Ly Cấu con vua
Ưu Ðiền.
Cũng
giờ phút ấy, trong ngày hôm ấy, ở Tịnh xá Trúc Lâm các
vị đại đệ tử của Ðức Thế Tôn sau thời thanh đán xả
thuyền định rồi. Các Ngài phân phó nhau đi khất thực theo
lệ thường.
Trước
khi ra đi, Trưởng lão Xá Lợi Phất bắt đầu chú nguyện:
Tôi nguyện cho tất cả chúng sanh đều thâm hiểu pháp tứ
đế, y theo tu hành và thành tựu quả vô sanh, Ðại đức Mục
Kiền Liên: Tôi nguyện tất cả chúng sanh đều tránh khỏi
sự ma chướng, phát tâm bồ đề cầu đạo vô thượng, Tôn
giả Ðại Ca Diếp: Tôi nguyện cho tất cả chúng sanh đều
phát thiện tâm, tu hành giải thoát hưởng phước vô lượng,
thành tựu đạo quả, Thánh giả Tu Bồ Ðề: Tôi nguyện cho
tất cả chúng sanh thâm hiểu vạn pháp như huyễn trừ sạch
tâm chấp trước, cầu chứng quả Niết bàn, Tôn giả A Nan:
Tôi nguyện cho tất cả chúng sanh bỏ dữ làm lành, đầy đủ
phước đức hiện sống tâm hồn ly dục, khi thác được sanh
về các cõi an vui… cho đến Ngài A Nan Luật Ðà, ngài Phú
Lâu Na, La Hầu La… mỗi Ngài đều có chú nguyện cho chúng
sanh trước khi ra đi.
Xe
giá Công chúa vừa ra khỏi cửa thành phía Bắc thình lình
nghe tiếng hô lớn: “Dừng xe”, bọn Phạm Chí và tất cả
tùy tùng đều kinh ngạc, có một vị Trưởng lão trong bọn
Phạm Chí ra thưa: “Tôi thấy xa xa ở bên cửa phía đông
có một đoàn đệ tử của Cù Ðàm (chỉ Ðức Phật) đương
hướng về ngã này, nếu chúng ta gặp những người ấy chắc
là có việc không hay xin công chúa hãy truyền cho lui xe về
ngã khác”. Nghe tâu, Công chúa để ý ngó xa quả thấy những
vị tu hành ấy khoan thai trong chiếc áp vàng, đĩnh đạc và
giải thoát làm sao, lòng nàng bỗng nhiên kính mến lạ: Sự
thông cảm đến với Công chúa một cách đột ngột, nên chẳng
những nàng không cho lui xe mà còn truyền xe giá ngừng hẳn
lại, rồi Công chúa xuống kiệu để chờ đón đoàn người
đức hạnh kia.
Bọn
Phạm Chí và tất cả tùy tùng như bộ máy bị phanh, không
một lời thưa lại.
Ðoàn
người ly dục đương từ từ đi đến, bước đi thong thả
nhẹ nhàng trong im lặng, phải chăng ý niệm của người đương
mải chú nguyện cho chúng sinh và cử chỉ oai nghi ấy còn ham
lo ái hộ loài sâu kiến.
Ðầu
đoàn là Trưởng lão Xá Lợi Phất vừa đến nơi thì Công
chúa quỳ sụp xuống cúi đầu đảnh lễ, tất cả bọn tùy
tùng bất giác cũng sụp xuống quỳ theo.
Ðoàn
người cao khiết ấy, cứ im lặng đi qua, cho đến khi Công
chúa ngẩng lên và nhìn theo chỉ còn thấy những tà áo vàng
bay nhè nhẹ.
- Ủa,
Công chúa hành hương ở miếu Kỳ Bà sao mãi đến bây giờ
vẫn chưa về? Trẫm phiền khanh truyền người xuống điện
Quỳnh La xem thử.
Buổi
hành hương của Công chúa bị về trễ, vua Ưu Ðiền ở nhà
lo ngại.
Từ
khi Hoàng hậu Băng Sa thăng hà, để lại cho nhà vua một nỗi
nhớ nhung vô hạn và một người con gái yêu quý vô cùng.
Vua cha đã cô đọng tình thương con cả cha lẫn mẹ, thêm
vào đó những đức hạnh cao quý của Công chúa, nên đức
Vua để ý lo cho con từng cử chỉ.
Ngoài
cái việc làm người con hiếu, Công chúa còn giúp vua cha nhiều
ý kiến lành mạnh để trị nước an dân, nhờ vậy mà các
nịnh thần tham quan ô lại không mọc lên, nên nhà vua tận
hưởng thái bình, mà dân chúng thời ấy thật đã sống đúng
nghĩa an cư lạc nghiệp. Vì thế nhà vua đối với Công chúa
chẳng những yêu quý mà còn kính nể như một ngườ bạn
vậy.
Nhà
vua đã ngoài 60 tuổi, không có con trai, Ngài vẫn canh cánh
bên lòng ước ao được người rể quý để ký thác non sông
lúc tuổi già. Nhưng Công chúa không bao giờ nghĩ đến chuyện
trăm năm, nên mặc dù đã 19 tuổi mà vua cha cũng không dám
đá động đến lương duyên của con.
Sau
buổi lễ hành hương hôm ấy, Công chúa trở về thâm cung
chí xuất gia bỗng manh nha trong lòng người đẹp.
Thời
ấy có bà Ðại Ái Ðạo là Ma Ha Ba Xà Ba Ðề, Di Mẫu của
Ðức Thế Tôn đã xuất gia lãnh đạo một đoàn thể Ni Lưu
(phái nữ tu sĩ) hiện an trú tại Kiều Ðàm Tịnh Xá.
Công
chúa xin phép vua cha được thường thường đến hỏi đạo
với Ngài.
Một
hôm Công chúa đem ý nguyện cầu xuất gia thưa với Di Mẫu
nhưng Công chúa đã thất vọng, vì theo qui luật nhà Phật
thì phải có sự thỏa thuận của gia đình, việc ấy Công
chúa chắc chắn không bao giờ được vua cha cho phép.
Chí
cầu giải thoát, lòng thương cha già đương phân tranh, thì
Di mẫu đã tìm cho nàng một giải pháp vẹn toàn là có thể
thực hiện hạnh xuất gia của bực Thượng Nhân (nghĩa là
thân gia, tâm cầu xuất gia tam giới).
Vâng
lời Di Mẫu, Công chúa như phăng được mối tơ lòng, nàng
liền thực hành theo hạnh Bồ Tát tại gia.
Công
chúa ngày nay không còn trang điểm như xưa, nàng ăn mặc thô
sơ theo lối tu hành. Ðồng thời nàng đã tìm nhiều phương
tiện đưa vua đến yết kiến Ðức Thế Tôn, nhờ vậy mà
vua Ưu Ðiền cũng trở thành một Phật tử chân chánh và tận
lực phục vụ đạo. Vả chăng cao hạnh của người ai lại
phủ nhận?
Vì
vậy, cung điện Quỳnh La nay đã biến thành một tịnh thất
trang nghiêm thuyền vị, mỗi tháng cứ đến ngày trai Công
chúa lại thỉnh Di Mẫu vào cung truyền giới “Bát quan trai”
và dĩ nhiên tất cả cung nữ đều thừa nhận theo tu tập
thuần thành.
Mấy
kho châu báu là tư sản của vua cha cho để chờ ngày xuất
giá, Công chúa đã đem ra bố thí cho dân nghèo. Nàng tâu vua
cha mở mang nền kinh tế, dạy dân nghề nghiệp thiện, Công
chúa đứng lên mở các trường huấn luyện đạo đức cho
phái phụ nữ, nhất là người khéo áp dụng Phật pháp vào
lối sống của dân chúng. Công chúa chủ trương các viện
dưỡng lão, tế bần và lập một bệnh viện mà nàng phát
nguyện tự thân săn sóc bệnh nhân.
Công
chúa Ly Cấu là người đầu tiên tham gia công việc xã hội
ở nước Ấn Ðộ thời ấy vậy.
Nàng
vui với đạo say với việc làm: Năm năm qua đều đều như
thế. Một hôm, người ta khệ nệ khiêng đến một bệnh nhân
bệnh tình trầm trọng, người bệnh phung lác lở cùng cả
mình, một chứng bệnh khốc liệt đã ăn cụt mười ngón
tay chân, còn chảy nước cùng mình, mặt mày lở loét trông
rất dễ sợ.
Bệnh
nhân rên la thảm thiết, mới thoạt trông thấy con người
đáng thương kia. Công chúa phải rung mình nghĩ đến khi
tay mình đụng nhằm để tắm rửa săn sóc. Nhưng lòng từ
bi cứu khổ đã thắng, đôi bàn tay tròn thuôn thuôn như ngọc
chuốt từ từ khoát nước nhẹ nhẹ rửa cho bệnh nhân, tay
Công chúa lầy lụa nước ghẻ, bệnh nhân thì giẫy giụa
quằn quại nàng phải ôm đỡ bệnh nhân và không nhẫn tâm
được, Công chúa đã tràn đầy đôi mắt lệ, nàng phải
nhắm lại để rơi hai giọt nước mắt từ bi.
Nhưng
khi mở mắt, thì lạ thay bệnh nhân đâu mất mà trước mắt
nàng ánh sáng chói lòa Ðức Như Lai uy nghi đứng như pho tượng
độc tôn. Công chúa sung sướng quá nàng sụp xuống đảnh
lễ Phật. Tất cả nhân dân trong bệnh viện lúc bấy giờ
tâm hồn nhẹ nhàng, bao bệnh nhân đều thoát khỏi bệnh khổ.
Ðức
Như Lai tán thán công hạnh của Công chúa và thuyết lý “Tứ
Diệu Ðế” cha nàng nghe, Công chúa liền chứng quả Tu Ðà
Hoàn và tất cả chúng hội nghe pháp đều chứng được ly
dục.
Thể
Quán
“Dẫu
xây chín đợt phù đồ,
Không
bằng làm phúc cứu cho một người”