Phần
03:
11/
Lòng ích kỷ quá độ
12/
Của tuy đất cát lòng con kính thành
13/
Gần Phật và xa Phật
14/
Một cuộc chiến thắng vinh dự
15/
Quả báo của lời nói, hành động đâm thọc ly gián
Lòng
ích kỉ quá độ
Ngày
xưa có một thủy quái tên Makara vô cùng ích kỉ, vô cùng
tự phụ và cũng vô cùng tàn bạo.
Tưởng
chừng cả thế giới phải tiêu diệt, thì lòng khát vọng
của nó mới thỏa mãn. Mỗi bữa ăn, nó ăn hết số cá mà
một chiếc mành phải làm trong một ngày. Các loài thủy tộc,
từ lớn đến bé đều lạ lùng, hoảng hốt, hãi hùng, bởi
vì nó ăn tất cả, không chừa một con nào. Nhưng dĩ nhiên
là trừ nó ra.
Ðứng
trước cảnh tượng diệt vong, loài thủy tộc phải làm thế
nào, biết tìm đâu một chỗ trốn tránh: Ở dưới nước,
hay đáy bể, cũng như trên đất bằng không có lấy một chỗ,
có một đôi con mọc cánh bởi vì nó sắp biến hóa thành
chim, chúng nó hy vọng được cất cánh. Nhưng vừa vọt ra
khỏi mặt nước, đâu lại vào đấy, nó rơi vào bể cả.
Con thủy quái, khoái lạc nhìn con mồi, và chế nhạo trước
mưu mô ngu ngốc của đồng loại. Loài cá, dù bơi hay lặn,
lớn nhỏ đều bị nghiến ngấu. Con thủy quái ra chiều đắc
ý, nhưng lòng dục vọng không đáy nó vẫn không thỏa mãn.
Không
bao giờ nó có ý nghĩ rằng mình rồi cũng có ngày bị ăn
thịt. Phải, vì còn ai mạnh khỏe, hung tợn, kiêu ngạo bằng
nó? Loài cá càng làm cho nó tin rằng mình là đúng?
Nhưng
loài cá, con thì bị ăn thịt, con thì chạy trốn, nên trong
bể thưa thớt dần. Vật thực càng hiếm hoi, càng khó kiếm,
và khi nhai những con cá nhỏ xíu dưới hàm răng to tướng
của mình nó tức điên lên.
Makara
nghiến và cắn lưỡi. Giận dữ, có giật mạnh cái đuôi
vĩ đại bằng phẳng và cứng rắn như một tấm ván.
Nó
quật lung tung nhưng không có tăm hơi một con cá nhỏ nào trong
vùng nước nổi sóng. Nó ngạc nhiên, thất vọng và bực tức
vật thực đã hết mà cơn đói lại càng hoành hành mãng liệt.
Biết làm sao bây giờ? Nó bơi lội, sục sạo khắp nơi. Bỗng
nhiên nó nghe bốc lên một mùi quen thuộc, mùi khuyến rũ của
loài cá, mùi ấy nếu không bốc lên từ người nó thì còn
từ đâu nữa?
Tình
trạng giống như con hươu chạy đuổi kiệt sức theo mùi xạ
từ cổ nó tiết ra.
Con
Makara lúc thì lặn xuống đáy bể, lúc thì nổi lên mặt nước.
Cái mùi thơm ngon từ mình nó lại theo nó mãi. Trong cơn ngạc
nhiên và bị kích thích, nó cắn nghiến lấy thịt mình. Mộ
cảm giác vừa đau đớn vừa hoan lạc nổi lên. Nó nhắm nhía
lấy máu mình và nó không thể dừng được nữa. Cứ như
thế, nó ăn cho đỡ đói, và nó “đã lăn mình vào đau khổ
để quên đau”. Ðến lượt biển cả lại ăn thịt nó, và
cái gì còn sót lại, thì đó là vang bóng của lòng kiêu ngạo
của nó, và lòng ám ảnh hãi hùng của bầy cá đang sợ sệt
dìu dắt nhau trở về.
Toàn
Siêu
“Như
sét do sắt sinh ra rồi trở lại ăn sắt, ác nghiệt do con
người gây ra rồi trở lại dắt con người đi vào cõi ác.”
Của
tuy đất cát lòng con kính thành
Hôm
ấy nghỉ học, sáu đứa bé cả trai lẫn gái thân hình cũng
như trạc tuổi xấp xỉ ngang nhau, chúng rủ nhau lại trong
chiếc sân rộng mát trước nhà em Lệ Xa, con của ông bà Ðăng
Quang, một gia đinh lễ giáo rất sùng thượng để chơi trò
chơi mà mấy hôm nay chúng không chơi được vì mưa lạnh.
Không biết trò chơi này ai bày ra và đâu truyền đến mà
đứa bé Ấn Ðộ nào cũng biết và rất thích chơi, nhất
là những lúc có mặt độ năm bảy đứa.
Sau
phút họp mặt chúng liền phân phối công việc để sắm sửa
cuộc chơi. Mấy em gái thì đi chợ và nấu cơm, mấy em trai
xây nhà và chưng dọn.
Nguyên
liệu làm nhà là những viên gạch bé, những tấm ván thừa.
Nhà thì có nhà song không ở và làm gì trong nhà được cả.
Bông hoa, đồ dùng đều phải chưng dọn bên ngoài. Chợ chúng
là hàng rào râm bụt, hoa đỏ lá xanh là những thức ăn ngon
lành dể mua. Gạo thì có sẵn bên hè nhà chỉ còn xúc nấu:
Ấy là cát. Tuy nhiên, Li Tơ em bé gái phụ trách nấu
cơm vẫn giả bộ bem hem, buốc huốc chum hum thổi phò qua những
khe củi không bao giờ cháy vì tươi xanh và không có lửa,
thức ăn thì không cần nấu, sau khi mua về chúng ngắt vụn
và cứa nhỏ vào bát đĩa là xong, nói bát đĩa cho oai chứ
toàn là những miếng mảnh sành, nắp hộp và khu chén. Còn
đũa thì rất sẵn ở bờ đậu chúng tự bẻ lấy.
Hí
hoáy, chạy ngược chạy xuôi la thúc hối trong chốc lát thì
tất cả đâu vào đấy: Thức ăn đều được sắp lên bàn,
ố thật là giản dị chỉ là cái đòn, có nải chuối tráng
miệng, không biết chúng tạo đâu ra hay lượm trong thùng rác
của chị bếp.
Bày
biện xong xuôi, chúng mời nhau lại để khai mạc buổi
tiệc. Ðang xúm vít vây quanh chiếc bàn thấp lè tè thì bỗng
nhiên đôi mắt tròn xoe của Lệ Xa hướng về những người
đức hạnh trong những bộ áo cà sa vàng nghiêm trang vượt
qua hàng cây trước bờ rào, rồi tất cả lũ trẻ quay mặt
nhìn theo… Bữa tiệc chưa bắt đầu nhưng đã bị gián đoạn
vì đoàn người kia khoan thai, im lặng bước vào cổng. Lệ
Xa liền rời khỏi bàn ăn chạy ngay đến trước Ðức Phật
chắp tay vái chào và kính thưa:
- Thưa
Ngài, thầy mẹ con hôm nay có việc phải qua làng bên cạnh.
- Tốt
lắm! Thôi con trở vào chơi với bạn, Ðức Phật bảo Lệ
Xa.
Ngần
ngừ không lui bước, Lệ Xa tỏ vẻ vì không có gì để cúng
dường, mọi hôm, vào giờ này khi Phật và Chư Tăng đi ngang
là cha mẹ Lệ Xa thường hay dâng cúng vật thực.
Ðoán
biết em bé Lệ Xa muốn thưa thỉnh điều chi nên Ngài chưa
đi vội.
Bỗng
Lệ Xa nhanh nhẩu về phía bạn nhanh tay bưng ngay bát cơm to
nhất trên bàn đem dâng cúng Phật với đôi tay tín thành kính
cẩn.
Các
đệ tử đứng sau đều lấy làm lạ, xầm xì và hỏi nhau
về thứ lễ vật lạ kỳ mà em bé đang dâng cúng. Chính lũ
trẻ, bạn của Lệ Xa cũng không hiểu Lệ Xa đang làm gì và
rất lo ngại cho nó…
Ðỡ
lấy bát, Ðức Phật nói với giọng trong thanh, hiền dịu:
“Của tuy đất cát, lòng con kính thành. Như Lai nhận
cho con”.
Ðoạn
Ngài trao bát cơm ấy cho Tôn giả A Nan, dặn đem về vãi lên
nền nhà Ngài ở. Nhìn khắp các đệ tử, Ngài dạy thêm:
- Em
bé này có tâm hoan hỷ cúng dường, nhờ công đức ấy một
trăm năm sau sau khi Như Lai nhập diệt, em bé sẽ làm vị Quốc
Vương tên là A Dục. Vị lãnh tụ này sẽ là một người
hộ pháp đắc lực, rất tôn sùng Tam bảo, biết phân chia
Xá Lợi, xây tám vạn bốn ngàn ngôi tháp để tôn thờ,
biết đem Chánh Pháp áp dụng trong công việc trị dân, giúp
nước, tiếng tăm lừng lẫy…
Tôn
giả A Nan lại ngạc nhiên hơn nữa liền bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn em bé này chỉ cúng dường chút ít đất cát mà sao
lại được phước báu nhiều như thế, nhất là được nhân
duyên xây tám vạn bốn ngàn ngôi tháp để cúng dường Xá
Lợi?
Ðức
Phật ôn tồn giải đáp:
- Này
A Nan và tất cả đại chúng. Không phải chỉ trong kiếp này
mà ở một tiền kiếp xa xưa em bé đã là một vị Quốc Vương
tên Ba Tắc Bỳ luôn luôn được cúng dường Ðức Phật Phất
Sa, và nghĩ đến nhân dân chưa có dịp được chiêm ngưỡng
đức tướng trang nghiêm của Ðấng Giác ngộ, người đã
mời rất nhiều họa sĩ vẽ tám vạn bốn ngàn bức tượng
để lưu truyền khắp mọi nơi. Nhờ công đức ấy cộng thêm
việc đang làm trong hiện tại mà sau này em bé sẽ được
vô lượng phước báu và nhất là đước có nhân duyên xây
tám vạn bốn ngàn ngôi tháp để tôn thờ Xá Lợi.
Nghe
đến đây Tôn giả A Nan và toàn thể đại chúng mới hết
nghi ngờ.
Riêng
về Lệ Xa thì em sung sướng và thỏa mãn vô hạn vì đã được
Ðức Phật tiếp nhận lễ vật và tự tay em làm ra dâng cúng.
Lũ
trẻ nãy giờ đứng xa nhìn lại, bây giờ sau khi nghe, thấy
và nhận biết lòng thương bao la rộng rãi của Ðức Phật
chúng rủ nhau đi gần lại và vây quanh Ngài.
Giờ
đã gần hết, Ðức Phật và các đệ tử phải tiếp tục
đi hóa trai. Trước khi ra đi, một lần nữa Ngài rờ đầu
và chú nguyện cho Lệ Xa thường được sức khoẻ, học tập
tiến bộ và Ngài dặn thêm lũ trẻ:
- Các
con chơi với nhau cho hòa thuận, vui vẻ nhé!
Ðoàn
người thanh tịnh khuất lần trong ngả xóm, nhưng lũ trẻ
mải nhìn theo không chớp mắt.
Ðại
Chí
“Tam
Bảo là ruộng phước phì nhiêu cho chúng sanh gieo giống.”
Gần
Phật và xa Phật
Một
thời Ðức Phật ở nước Xá Vệ, tại Tịnh Xá Kỳ Hoàn
thuyết pháp cho Chư Thiên nghe. Lúc bấy giờ ở nước La Duyệt
Kỳ có hai vị tân học Tỳ kheo muốn yết kiến Ðức Phật.
Giữa hai nước ấy có một khoảng đồng rộng, không có người
ở, lại gặp thời tiết hạn hán, nên suối hồ đều cạn.
Hai người đi ngang qua, bị khát nước, chỉ gặp được vũng
nước nhỏ thì bị đầy những trùng, không thể uống được.
Hai
người mới bàn với nhau rằng:
“Chúng
ta từ xa lại, cốt trông mong chiêm ngưỡng Ðức Phật, không
ngờ ngày nay bị chết khát giữa đường”.
Mội
người nói rằng:
- Thôi
ta hãy tạm uống để khỏi chết có vậy mới gặp được
Phật và lại ta uống cũng không ai biết cả.
Người
kia đáp rằng:
- Giới
luật Ðức Phật chế ra, lấy nhân từ làm gốc. Nếu giết
hại chúng sanh để tự sống thì dù thấy Ðức Phật cũng
không ích gì. Thà rằng giữ giới chịu chết, chớ không phạm
giới mà được sống.
Người
đầu theo ý riêng của mình uống nước đỡ khát và đi đến
chỗ Phật ở. Người thứ hai không chịu uống nên phải chết
vì khát nhưng được sanh lên cõi trời Ðao Lợi. Nhờ suy nghĩ
nên tự biết mình ở kiếp trước nhờ giữ giới nên được
sanh thiên, thật là do lòng tin mạnh nên phước báu chẳng
xa vậy. Nghĩ như thế, bèn đem hương hoa đến lễ Phật rồi
đứng hầu một bên.
Còn
người uống nước, phải cực khổ trải qua nhiều ngày mới
đến chỗ Phật ở. Thấy đầng Chí Tôn oai nghiêm, người
liền cúi đầu đảnh lễ khóc lóc bạch Phật rằng:
- Con
còn một người bạn muốn đến yết kiến Phật, chẳng may
giữa đường bị mệnh chung, dám mong Ðức Thế Tôn biết
cho.
Ðức
Phật trả lời:
- Ta
đã rõ rồi.
Liền
lấy tay chỉ Tiên nhân đứng hầu một bên mà nói rằng:
- Người
Tiên nhân này chính là người bạn của ngươi đó. Người
này nhờ giữ trọn giới luật nên được sanh lên cõi Trời
và được gặp ta trước ngươi.
Lúc
bấy giờ Ðức Thế Tôn chỉ tay vào ngực người kia và bảo
rằng:
- Ngươi
tuy thấy hình ta mà không giữ giới luật của ta, thì tuy ngươi
thấy ta mà ta không thấy ngươi. Người kia tuy cách xa ta ngàn
vạn dặm, nhưng giữ giới luật thì người ấy tất đứng
trước mặt ta.
Lúc
bấy giờ Ðức Thế Tôn bèn nói bài kệ rằng:
Học
nhiều lại nghe nhiều,
Hai
đời được ngợi khen.
Học
ít lại nghe ít,
Hai
đời bị đau khổ.
Phàm
học nên nghe nhiều,
Dầu
gặp nhiều tai nan.
Trì
giới chẳng tái phạm,
Sở
nguyện được thành tựu.
Giữ
giới không chu toàn,
Sở
nguyện bị tán mất.
Xét
lý nhận yếu nghĩa,
Không
gì đáng can ngại.
Lúc
bấy giờ vị Tỳ kheo nghe bài kệ xong bèn tự xấu hổ, cúi
đầu xin sám hối, yên lặng suy nghĩ lời Phật dạy. Còn vị
Tiên nhân sanh tâm hoan hỷ, chứng được Pháp nhãn, trong chúng
hội hoan hỷ phụng hành.
Minh
Châu
“Giới
luật là thầy của các ngươi.
Giới
luật là thọ mạng của Phật Pháp.
Giới
luật còn Phật Pháp còn.”
Một
cuộc chiến thắng vinh dự
Trong
Ấn Ðộ Dương, cách chừng hàng chục dặm về phía nam bờ
biển Ấn Ðộ, có một hòn đảo khổng lồ. Ðó là đảo
Tích Lan. Người ta gọi là đảo SinhGaLa (Singhaladvipa) vì người
chinh phục đảo ấy là anh hùng SinhGaLa.
SinhGaLa
là con trai một người lái buôn giàu có. Chàng rất được
nuông chiều. Cha chàng thì trông mong chàng ngày sau trở thành
một người sung sướng, sống yên thân trong đống tiền của
lớn lao, nhưng mộng của chàng lại khác. Chàng thích phiêu
lưu, thám du đến những đất nước xa xôi. Bể khơi sóng
gió và chân trời mới lạ thúc dục chàng SinhGaLa khẩn khoản
nhiều phen mới xin được cha vượt bể cả cùng với một
đoàn lái buôn hơn năm trăm người.
Ðoàn
thuyền tiến về hướng Nam định sẽ ghé lại miền đất
nào mà họ trông thấy trước nhất. Bỗng một chiều kia,
một trận bão nổi lên dữ dội và đoàn thuyền bị sóng
đánh tan từng mảnh. Trong tai nạn khủng khiếp này, một số
người may mắn bám được vào các mảnh ván thuyền và trôi
được vào bờ. Trong số này, có chàng thanh niên SinhGaLa.
Một
đoàn thiếu nữ ra tận bờ biển đón tiếp họ rất nồng
hậu. Mỗi ngườì đàn ông được mời về một nhà riêng,
ở đó có một thiếu nữ chăm lo săn sóc ân cần, âu yếm
như đối với người thân yêu nhất. Các thiếu nữ tha thiết
mời họ mãi mãi ở lại đây. Những ngày đầu, những người
đàn ông bị nạn đều lo an dưỡng cho lại sức và lúc thảnh
thơi là lúc tâm trí họ hướng về quê hương, gia đình mà
họ không biết bao giờ gặp lại. Nhưng rồi thời gian đã
đổi thay lòng họ. Họ thấy quen lần với cây cỏ nước
non, với sự thân mật quyến rũ của các người đàn bà đẹp.
Họ chịu thay những bộ áo cũ để khoác những chiếc áo
choàng bằng lụa mới, bắt dầu đòi hỏi những món ăn ngon
rồi dần dà họ sống chung thành gia đình với những người
đàn bà đến đón tiếp họ trong những cuộc vui say đắm.
Tháng ngày lần qua, lần qua, nhiều cặp vợ chồng đã sinh
hạ con cái.
Trong
cảnh sống mới này, mọi việc đều do đàn bà đảm đương.
Các người đàn ông được nghỉ ngơi dạo chơi thỏa thích.
Nhưng có một điều là họ không được xuống hướng Nam.
Sự cấm đoán này đem lại cho SinhGaLa, chàng thanh niên dũng
cảm, nhiều nỗi nghi ngờ. Chàng quyết tâm tìm hiểu sự bí
mật của những người đàn bà kỳ dị này.
Một
đêm kia, SinhGaLa, chờ lúc vợ ngủ say, lén dậy và cặp chặt
thanh gươm bên mình rồi đi thẳng về phía Nam. Chẳng mấy
chốc, chàng thấy trước mặt bức thành kín không có cửa
ra vào. Ðây là đâu? Người ta cất giấu cái gì trong
này? Chàng đến gần và lắng tai nghe. Có tiếng văng vẳng
từ trong phát ra. Nhanh trí SinhGaLa leo lên một cây mọc trên
bờ thành nhìn vào.
Cảnh
tượng thật là ghê rợn. Hơn trăm người ốm yếu, đói khát
đang quằn quại bên cạnh những đống xương trắng chồng
chất. Một mùi tanh hôi hắt ra kinh tởm. SinhGaLa giữ được
bình tĩnh hỏi chuyện các người còn sống. Chàng mới biết
rằng đây là một toán lái buôn Ấn Ðộ bị đắm tàu trôi
dạt vào đảo này trước khi đoàn người cùng đi với chàng
đến nơi này. Trước đây bọn đàn bà, cũng đã đón tiếp
họ, nhận họ làm chồng để rồi khi có một số người
khác đắm thuyền trôi dạt đến, bọn đàn bà đem nhốt họ
tại đây, làm đồ ăn cho chúng. Họ sẽ lần hồi bị giết
chết như những người bạn xấu số của họ mấy ngày vừa
qua. Và rồi cũng sẽ đến đoàn lái buôn của SinhGaLa chịu
cái số phận làm mồi cho bọn yêu tinh tàn ác dâm dục này.
SinhGaLa
không lấy gì làm ngạc nhiên vì chàng đã đoán thấy cái
quyến rũ gian trá của người đàn bà làm vợ chàng. Chàng
nắm chặt thanh kiếm lại. Rồi chàng hỏi các người kia thử
họ có biết cách gì để thoát khỏi nơi này không.
Có
người trả lời:
- Mỗi
năm, đến một ngày nhất định, có một con ngựa trắng,
bay được, từ trên trời hạ xuống đảo này. Nó sẽ kêu
lên ba lần.
“Ai
về Ấn Ðộ sông Hằng,
Theo
đây ta giúp vượt băng bể này”.
Người
nào vững tâm theo bám chặt mình nó, sẽ trở về được quê
hương, gia đình.
SinhGaLa
hỏi lại:
- Thế
tại sao các anh không nắm cơ hội trên để thoát khỏi nơi
nguy hiểm này?
- Trời
ơi! Chỉ vì chúng tôi bị mê đắm. Những lời thân mật,
những cử chỉ vuốt ve của bọn đàn bà kia làm chúng tôi
bỏ lỡ mất cơ hội rồi. Ðến phút này, chúng tôi chỉ còn
một lời cuối cùng là chúc các anh may mắn can đảm trở
về nước Ấn Ðộ yêu quí của chúng ta và nhắn chung với
các người sau chúng ta hãy đừng mê đắm mà thiệt hại cả
một đời.
Từ
trên cây tụt xuống, SinhGaLa trở về nhà trước khi người
đàn bà vợ chàng thức dậy. Chàng làm ra vẻ tự nhiên như
không có điều gì xảy ra, và giữ kín những bí mật đã
biết được.
Ngày
quan trọng đến rồi. Ngày ngựa thần hạ xuống đảo. Chàng
họp các bạn bè mình lại, nói cho họ biết số phận đen
tối của họ. Mọi người đều kinh hãi và khi ngựa thần
mới vừa hạ xuống thì ai nấy đều nhanh chóng bám chặt
vào thân mình ngựa khổng lồ để được bay về xứ sở.
Ngựa
đã bay lên cao và sắp vượt bể cả. Lúc bấy giờ bọn yêu
tinh mới hay biết. Chúng nhờ phép lạ mà đuổi theo kịp ngựa
BaLaHa. Mỗi con yêu bồng trên tay đứa bé mới sinh và đem
hết những lời nói đường mật, những cử chỉ ái ân để
quyến rũ chồng nó trở lại. Chúng đã đạt được kết
quả. Từng người, từng người đàn ông mê hồn, buông tay
ra và rơi vào trong lòng bọn quỉ đàn bà dâm dục ấy. Cuối
cùng chỉ còn một mình SinhGaLa, người thanh niên can đảm,
cương quyết đến nỗi không có gì lay chuyển nổi, bám chặt
cổ ngựa thần và trở về được yên ổn, đáp xuống nước
Ấn Ðộ, quê hương của chàng.
Về
phần bọn nữ quái khi trở về đảo, chúng tỏ vẻ giận
dữ với con yêu chúa bất lực đã không làm lay chuyển được
lòng dạ SinhGaLa. Chúng trục xuất yêu chúa ra khỏi đảo cho
đến khi nào con này đem được SinhGaLa trở lại.
Yêu
chúa biến thành một người đàn bà đẹp, lộng lẫy vô cùng
trong bộ áo lụa mỏng. Nó mang cả con nó theo vào đến tận
nhà SinhGaLa. Nó tìm đến ông bà phú thương, thân sinh của
SinhGaLa, tự xưng là công chúa một nước ở phương Nam.
Rồi nó chỉ đến đứa bé rồi trách SinhGaLa đã bỏ mẹ
con nó sau những năm ân ái nồng thắm, để cho nó phải lặn
lội nhiều ngày mới ra được đến đây. Ông bà phú thương
vừa cảm động cho tình nghĩa con dâu, vừa sung sướng được
trông thấy cháu trai mập mạp kháu khỉnh nên lưu cả hai mẹ
con lại và hứa sẽ bắt buộc SinhGaLa thuận tình hòa hợp.
Ông lão nói với chàng:
- Con
ơi! Con nỡ từ bỏ người con gái con một vị Quốc vương
và đứa bé này hay sao? Mẹ con chúng nó là những kẻ đáng
thương. Hãy rộng lượng mà tha thứ cho chúng nó nếu có gì
mà con không bằng lòng.
SinhGaLa
thấy cần trình bày cho cha mẹ mình rõ tung tích bọn đàn
bà này:
- Thưa
cha, người đàn bà này không phải là một công chúa, chính
nó là một con yêu tinh ghê tởm.
- Con
ạ! Không nên nghĩ như thế cho riêng nó. Phần nhiều đàn
bà là yêu tinh. Hãy tha thứ.
- Không
thể được! Thưa cha, con cương quyết rồi. Nếu không con
đã mãi mãi cách biệt cha mẹ và quê hương như những người
đã đi theo con. Giờ đây chỉ có hai cách, hoặc là cha mẹ
giữ nó lại đây để con đi chỗ khác, hoặc là con ở đây
và đuổi nó ra khỏi nhà này.
Thấy
con một mực cương quyết, ông bà phú thương đành phải mời
nàng công chúa giả mạo đi khỏi nhà mình. Cùng kế, con yêu
tinh vào triều đình, kiện SinhGaLa với Ðức vua. Cố nhiên
là việc nàng không thể làm SinhGaLa thay đổi ý định của
chàng được, nhưng mang lại một điều tai họa, ấy là chuyện
ông vua phải lòng người đàn bà đội lốt công chúa. Vua
nói với SinhGaLa:
- Hỡi
chàng thanh niên! Nếu chàng không thích, chàng hãy nhường nó
lại cho ta.
SinhGaLa
tâu rằng:
- Xin
Ðức vua hãy suy nghĩ lại. Tôi không thể nhận người đàn
bà này và tôi cũng không có quyền nhường nó cho ai cả.
Từ
sau khi vụ kiện này, con yêu tinh đã thâu nhận được lòng
ái mộ của Nhà vua. Sắc đẹp mê hồn và những hành động
quyến rũ của nó càng làm cho nhà vua ngây ngất, cho đến
một hôm nó hoàn toàn làm chủ được tinh thần của Ðức
vua.
Rồi
đêm đến, dùng tà thuật, nó bắt mọi người trong cung lăn
ra ngủ mê man. Nhanh như chớp nó bay về tìm các chị em nó
và thúc giục:
- Hãy
nhanh lên! Ta mất một SinhGaLa nhưng ta được trọn một cung
vua. Nhanh lên, ai thèm máu tươi! Hãy theo ta!
Trong
đêm tối, cả bầy yêu tinh hăm hở xuất hành với nguyên
hình ghê sợ của chúng. Chúng đã hoành hành hết sức kinh
tởm trên các thân người đang ngủ say.
Ðến
sáng hôm sau, cửa cung vua vẫn đóng im ỉm. Người ta dồn
lại nghẹt cả trên khúc đường vào cung điện. Các triều
thần, các quan chức, các vị chỉ huy quân đội… Ðiềm chẳng
lành truyền lan nhanh chóng và trên không trung, bầy quạ đen
lượn qua lượn lại, kêu từng tràng tiếng dài rung rợn.
SinhGaLa hiểu được công chuyện trước ai hết. Chàng bảo
người bắc thang rồi leo nhanh vào thành, thanh gươm quý nắm
chặt nơi tay. Chàng vung gươm xông vào giữa đám yêu tinh đang
hối hả thanh toán bữa tiệc ngon của chúng. Cùng lúc ấy,
quân lính ngoài thành cũng đã phá được cửa để vào trợ
giúp SinhGaLa. Người ta thét lên vì căm giận cho sự tàn bạo
của bầy yêu tinh. Bọn này hoảng hốt bay đi, đứa mang theo
một cánh tay, đứa mang theo một cẳng chân người đang ăn
dở. Không ai ngờ có sự tàn phá khốc hại trong cung
vua như thế này, từ xưa nay. Ðức vua, Hoàng hậu, Hoàng tử,
Công chúa, Cung phi, Mỹ nữ tất cả đều bị tàn sát.
Sau
khi an táng thi hài Ðức vua và các người xấu số, triều
thần lẫn dân chúng đều thấy mình lâm vào một tình trạng
quẫn bách: Thiếu người đứng đầu quốc gia, thiếu vua:
Ai sẽ đảm lên đảm nhận ngôi báu?
Mọi
người đồng thanh:
- Trọng
trách ấy phải dành cho kẻ thông minh nhất, can đảm nhất.
Kẻ ấy, không ai xứng đáng hơn chàng thanh niên anh hùng SinhGaLa.
SinhGaLa
từ chối vì chàng chưa có danh phận gì. Nhưng chàng chẳng
đã chiến thắng bọn yêu tinh một cách rực rỡ hay sao? Chàng
đã vững tâm không để sa mê vào lưới dục vọng hay sao?
Ðến cuối cùng SinhGaLa nhận lời với điều kiện là mọi
người hăng hái giúp chàng phá tan sào huyệt bọn yêu tinh
dâm dục để báo thù cho những người bị giết, để giải
phóng cho những kẻ hiện đang bị giam cầm. Toàn thể đều
tán thành công cuộc thích đáng ấy.
Hôm
SinhGaLa lên ngôi vua cũng là hôm chàng xuất quân. Ðội binh
thuyền trương buồm tiến về phía Nam. Không có hy vọng đánh
bọn yêu tinh vào lúc bất ngờ được, vì trên bãi bể chúng
có dụng hai trụ cờ: trụ ngoài mé bãi báo tin mừng như tin
có tàu chìm, trụ trên đồi cao phía trong bãi báo tin hung dữ
như tin tấn công của chiến thuyền từ xa đến. Thành ra,
muốn đánh chúng phải thật là tài giỏi và can đảm.
SinhGaLa
đã tiến quân lên đảo. Bọn yêu quái đã chuẩn bị đối
phó. Chúng hiện nguyên hình hung ác hòng đe dọa quân lính
của SinhGaLa. Nhưng trái lại, chính bộ mặt yêu quái của
chúng đã làm cho mọi binh sĩ phẫn uất thành ra họ càng thêm
hăng hái mạnh mẽ. Vả lại cái quá khứ đầy tội ác của
bọn chúng đã đưa chúng ngày hôm nay phải đền tội.
SinhGaLa
thúc quân, oanh liệt chiến đấu, bọn yêu tinh túng thế, tan
rã. Phần lớn đã bị tiêu diệt. Chỉ còn những đứa biết
hối cải, nguyện từ bỏ cuộc sống tội lỗi để quay về
đường lành được SinhGaLa ra lệnh tha thứ. Chàng khuyên chúng
nên đi nơi khác để làm ăn lương thiện.
Từ
độ ấy hòn đảo tên SinhGaLa tên của vị anh hùng đã chiến
thắng bọn yêu tinh dâm dục. Vị anh hùng ấy là tiền thân
Ðức Phật Thích Ca. Một vị đại từ bi nhưng không kém phần
dũng mãnh…
Quảng
Huệ
“Chẳng
có sự thắng trận nào cao thượng bằng sự thắng trận Chánh
pháp. Chẳng có sự bại trận nào đê hèn hơn sự bại trận
giặc lòng.”
Quả
báo của lời nói, hành động đâm thọc ly gián
Xưa
có một vị Tỳ kheo tên Kondaahana kể từ khi vị này xuất
gia, hễ thầy đi đâu thì sau lưng Thầy cũng có một người
phụ nữ đi theo sau, riêng Thầy thì Thầy không biết gì cả,
nhưng ai ai cũng đều thấy.
Khi
đi khất thực, những thí chủ cúng dường để vào bát Thầy
hai muỗng cơm, muỗng thứ nhất họ nói: Muỗng này là phần
Thầy, và muỗng thứ nhì là phần cô bạn của Thầy.
Các
vị Tỳ kheo thấy như vậy đinh ninh Thầy phạm giới Bất
cọng trụ mới đi nói với Trưởng giả Cấp Cô Ðộc và
yêu cầu ông đuổi Thầy Tỳ kheo Kondaahana ra khỏi chùa. Ông
Trưởng giả không dám, chư Tỳ kheo cho bà tín nữ Visakha biết,
bà cũng không dám. Các thầy mới vào chầu Ðức vua Ba Tư
Nặc và thuật tự sự. Ðức vua nhận lời. Chiều lại vào
chùa, vua cho quan quân bao vây chánh điện, còn vua thì lên điện,
Thầy Kondaahana nghe ồn ào mới ra coi, thì vua thấy sau lưng
Thầy có một người phụ nữ, riêng Thầy thì biết vua đến
liền trở vào. Gặp Thầy vua không đảnh lễ, nhưng vua lại
không thấy hình người phụ nữ lúc ở ngoài. Vua tìm trong
kẹt cửa dưới gầm giường cũng không thấy, mới hỏi:
- Bạch
Thầy, trẫm vừa trông thất một người phụ nữ ở tại
đây, cô ấy đâu rồi?
- Tâu
Ðại vương, bần đạo không thấy.
- Chính
trẫm thấy một người phụ nữ đứng sau lưng Thầy.
Thầy
Tỳ kheo vẫn quả quyết.
- Bần
đạo không biết và không thấy.
Ðức
vua nghĩ: “Chuyện này sao kỳ thế!”. Vua mới nói:
-
Vậy xin Thầy hãy đi ra ngoài.
Khi
Thầy đi thì lập tức có người phụ nữ theo sau lưng. Vua
trông thấy rõ rồi, mới mời Thầy vào. Thầy trở vào và
ngồi xuống.
Khi
Thầy đi vào, vua trông chừng theo hình của người phụ nữ
ấy, nhưng bỗng dưng lại biến mất. Vua lấy làm lạ mới
hỏi:
- Bạch
Thầy, còn người phụ nữ ấy đâu?
- Tâu
Ðại vương, bần đạo chẳng thấy người phụ nữ nào cả.
- Xin
Thầy thành thật nói cho trẫm rõ.
- Tâu
Ðại vương, hàng Ðại chúng đều nói rằng có một người
phụ nữ đi sau lưng bần đạo, mà bần đạo thì không thấy.
Vua
mới nghĩ rằng đây là hình giả, nhưng hãy còn nghi nên lại
phán rằng:
- Vậy
xin mời Thầy đi khỏi chỗ này lần nữa.
Thầy
ra đứng ngoài thì hình người phụ nữ lại hiện ra đứng
sau lưng. Ðức vua hỏi Thầy vẫn trả lời như trước.
Vua
mới nghĩ: “Quả thật là hình giả”, vua mới thưa rằng:
- Bạch
Thầy, một khi đã có điều không được trong sạch thế này,
thì không có ai trong sạch cúng dường cho Thầy, vậy từ đây
Thầy cứ vào cung nội, trẫm xin cúng dường những vật dụng
cho Thầy.
Các
thầy Tỳ kheo mới nói với nhau rằng: Quý Thầy nghĩ xem nhà
vua ương hèn thái quá, chúng ta đã mời vào để xem tình tệ
như thế này lại không chịu đuổi Thầy Tỳ kheo phá giới
ấy, mà còn mời vào cung để cúng dường. Rồi các thầy
mới nói với Thầy Kondaahana rằng: “Này kẻ phá giới! Nhà
vua cũng là kẻ hèn như ngươi vậy”.
Lúc
trước thầy không có bằng cớ để đáp lại, nhưng bây giờ
đã được nhà vua làm chứng nên liền trả lời rằng: “Các
người là kẻ phá giới, các người là kẻ dẫn gái đi”.
Các thầy Tỳ kheo mới đem chuyện ấy vào bạch với Ðức
Thế Tôn.
Ðức
Thế Tôn gọi Thầy vào hỏi:
- Thầy
có mắng các Thầy Tỳ kheo kia không?
Thầy
bạch:
- Bạch
Thế Tôn, vì các Thầy ấy nói đệ tử.
Ðức
Thế Tôn hỏi các Thầy kia:
- Tại
sao các Thầy lại mắng Thầy Tỳ kheo này?
- Bạch
Thế Tôn, vì chúng con thấy một cô phụ nữ đi theo sau lưng
của Thầy Tỳ kheo này.
Ðức
Thế Tôn mới phán hỏi Thầy Tỳ kheo Kondaahana rằng:
- Các
Thầy Tỳ kheo này có thấy một người phụ nữ đi theo sau
lưng ngươi, vậy tại sao ngươi lại không thấy, mà lại gây
gỗ với các Thầy Tỳ kheo này. Quả này cũng do nơi nghiệp
đê tiện của ngươi kiếp trước, vậy mà hiện nay tại sao
ngươi cũng không bỏ tánh đê tiện ấy?
Lúc
ấy các Thầy Tỳ kheo đồng bạch với Ðức Phật:
- Bạch
Ðức Thế Tôn, thầy Kondaahana làm nghiệp thế nào trong quá
khứ?
Ðức
Thế Tôn mới dạy rằng:
- Trong
thời kỳ Ðức Phật Ca Diếp, có hai vị Tỳ kheo yêu thương
nhau chẳng khác nào anh em cùng một cha mẹ. Thời kỳ ấy,
mỗi năm Chư Tăng hội làm lễ Phát Lồ một lần. Gần đến
ngày Phát Lồ, hai thầy rủ nhau đi định đến nơi làm lễ
phát Lồ.
- Lúc
đi giữa đường, có một vị Chư Thiên ở cõi Trời Ðao Lợi
thấy hai vị thương nhau mới nghĩ rằng: “Hai vị Tỳ kheo
này rất thương yêu nhau, ta có thể chia rẽ được không?”.
Trong
khi đang nghĩ kế chia rẽ, thì một trong hai thầy nói rằng:
- Xin
Thầy vui lòng đợi tôi một chút, tôi cần đi sông.
Vị
Chư Thiên mới đợi cho thầy Tỳ kheo ấy đi sông xong, khi
từ trong bụi đi ra, vị này liền hóa ra một người phụ
nữ một tay nắm lấy quần, một tay vén tóc làm như mới
vừa ân ái với Thầy Tỳ kheo ấy xong. Vị Chư Thiên cố ý
đợi cho Thầy Tỳ kheo kia thấy rồi mới biến mất.
Do
đó, khi Thầy Tỳ kheo này đến thì vị kia liền nói:
- Thầy
là người phá giới.
- Thưa
Thầy đâu có!
Vừa
rồi tôi thấy có một cô gái đi sau Thầy.
- Thưa
Thầy chuyện này thật tôi không có.
Hai
Thầy cãi nhau, kết cuộc hai Thầy chia đường nhau đi không
bao giờ hợp nhau, vì không bằng lòng cùng nhau làm lễ Phát
Lồ.
Vị
Chư Thiên thấy kết quả tai hại như vậy mới nghĩ rằng:
“Ta đã làm nên tội quá đáng lắm rồi”, liền hiện xuống
nói:
- Giới
đức của vị Tỳ kheo này vẫn trong sạch, đây là do nơi
tôi muốn thử hai Ngài thôi. Xin hai Ngài cùng làm lễ Phát
Lồ chung.
Chừng
ấy, hai vị Tỳ kheo mới chịu nghe theo và hoan hỷ cùng nhau
làm lễ Phát Lồ.
Vì
nghiệp đê tiện ấy, sau khi chết, vị Chư Thiên mới bị
đọa vào địa ngục A Tỳ, thời gian nhiều kiếp, đến nay
mới sanh làm Kondaahana.
Khi
nhắc tiền kiếp của Thầy Tỳ kheo Kondaahana xong, Ðức Thế
Tôn mới phán rằng:
- Ngươi
vì nghiệp đê tiện ấy nên mới có chuyện phi thường như
hôm nay. Thế mà ngươi vẫn giữ tánh đê tiện ấy. Ngươi
không nên nói tiếng gì với các Thầy Tỳ kheo. Ngươi phải
nín lặng như người câm, khi ngươi làm được như thế mới
mong hết nghiệp và chứng đạo quả…
Thông
Kham
“Thánh
hiền kiêng mọi lời nói vu khống. Nghe thấy điều gì, người
cũng không nhắc lại để gây mối bất hòa giữa người này
với người nọ. Bực hiền hòa giãi những người chia rẽ,
kết chặt dây thân ái giữa người đồng tâm nhất chí. Bực
hiền lấy sự hòa hợp của người khác làm sự vui thích
của mình, coi đó là công việc là lạc thú của mình. Người
chỉ nói những lời làm cho người hòa hợp.”