Phần
02:
6/
Ðiều đáng lo nhất
7/
Nước mắt mẹ hiền
8/
Tai hại của tham ái
9/
Vua Ưu Ðiền với pháp ly dục
10/
Sáu giác quan tranh công
Ðiều
đáng lo nhất
Hoàng
Thái Hậu vua Ba Tư Nặc mất, y tục lệ cổ truyền của xứ
Ấn Ðộ, nhà vua và quần thần lo cử hành lễ an táng rất
long trọng. Sau khi công việc xong xuôi, nhà vua cùng Hoàng tộc
mang cả áo vải sô gai, đi chân đến nước Xá Vệ nơi tịnh
xá Kỳ Hoàn đảnh lễ Ðức Phật.
Lấy
làm lạ Ðức Phật bảo vua Ba Tư Nặc ngồi rồi hỏi rằng:
- Hôm
nay sao Ðại vương mặc y phục như vậy?
- Kính
bạch Ðức Phật Thế Tôn! Mẹ con năm nay tuổi ngoài chín
mươi, bà vừa mới mất sau một cơn bệnh nặng. Con an táng
xong lòng cảm thấy buồn bởi thân thuộc biệt ly, nên đến
đây chiêm ngưỡng Ðức Thế Tôn, may đâu nhờ Ngài để vơi
được đôi phần đau xót.
- Này
Ðại Vương! Từ xưa đến nay điều đáng lo nhất cho nhân
loại: “Sống thì thiếu thốn, già thì héo khô, bệnh thì
đau đớn, và chết thì biệt ly…”Bốn thứ ấy không bao
giờ hẹn với người cả.
- Bạch
Thế Tôn! Thế thì bấy lâu nay con quá mê lầm: Buồn những
điều không đánh buồn… nhất là lo những điều không đáng
lo!...
Vua
Ba Tư Nặc vừa dứt lời, thì Ðức Thế Tôn dạy:
- Ðại
vương này! Vạn vật vô thường chuyển biến, di dịch không
đứng yên: Sự sống của con người cũng y như vậy, chả
khác gì nước sông xuôi dòng chảy suốt ngày đêm.
- Ðại
vương hãy chú ý nghe, tất cả các ý ấy ta sẽ tóm tắt trong
bài kệ sau đây:
“Như
nước chảy xuôi dòng, Chẳng bao giờ trở lại.
Mạng
người cũng như vậy, Không khác một mảy may”.
Im
lặng một hồi lâu để cho vua Ba Tư Nặc được thấm nhuần
chân lý ấy rồi Ðức Phật lại tiếp thêm:
- Này
đại vương! Ðời người ai cũng già, cũng bệnh, cũng chết,
chứ không ai là kẻ trường sanh, thoát ly ngoài định luật
ấy, dù là vua chúa. Vậy nhà vua buồn rầu một cách vô nghĩa
trước cái chết thì chỉ hao tổn xác thân và tinh thần mềm
yếu mà thôi. Là người con hiếu thảo, Ðại vương làm tất
cả phước thiện như: bố thí, trì giới, nhẫn nhục… để
hồi hướng công đức ấy cho người quá cố. Nếu làm được
như vậy thì không những ảnh hưởng đến người chết, mà
hiện tại người còn sẽ được nhiều phước lạc và tương
lai sẽ đi lần đến nơi giải thoát.
Những
lời Phật dạy làm cho bao nhiêu sầu muộn của Ba Tư Nặc
và Hoàng Hậu tiêu tan và những niềm hoan hỷ hiện bày trên
nét mặt.
Trên
đường về vua Ba Tư Nặc luôn luôn nói với mọi người:
- Hôm
nay chúng ta mới bắt đầu thấy được dấu Ðạo. Ta hy vọng
có thể làm cho Mẫu hậu ta được siêu thoát ly được bốn
điều đáng lo nhất của nhân loại mà Ðức Phật đã dạy
nếu thật hành theo Ngài.
Tuyền
Minh
“Không
có vật gì thường trụ, vật gì cũng biến đổi, người
ta không thể tắm hai lần trong một dòng nước, vì từ giây
phút này đến giây phút khác, dòng nước ấy không còn y như
cũ, nó đã biến đổi và trở thành dòng nước khác.”
Nước
mắt mẹ hiền
Nắng
chiều ẩn vàng những căn nhà mới dựng trên bãi biển của
thành Ba La Nại. Ðó là nhà của một người lái buôn giàu
có. Hơn mười năm nay, anh ta đã bao lần lên đênh trên biển
cả, tìm đến những bến bờ xa lạ của các nước Ả Rập,
tiếp xúc với những dân tộc hiền lành cũng như hung dữ.
Sau mỗi chuyến đi anh ta lời rất lớn. Rồi anh trở thành
một trong những người nhiều của cải nhất.
Vợ
anh là một người đảm đang. Mắt nàng luôn ẩn vẻ lo buồn.
Và ngày về của chồng với bao đồ quí giá vẫn không làm
cho nàng vui, vì cái viễn ảnh của ngày ra đi, của cuộc chia
ly sắp đến.
Hai
vợ chồng sanh được một đứa con trai. Nàng đặt cho nó
cái tên thật dài Métracanyaca. Ðứa bé đem lại cho nàng những
nỗi khuây khỏa trong lúc xa chồng.
Métracanyaca
đã lên sáu. Một đêm về mùa đông nàng thao thức không ngủ
được vì sắp đến ngày cha Métra về. Ðến gần sáng, trời
bỗng trở gió, gió càng lúc càng mạnh. Tiếng gió bể ầm
ầm. Những nối lo ngại như nhiều lần trước trỗi
dậy. Mãi đến chiều đoàn thuyền vẫn chưa thấy về. Người
ta ra bãi ngóng trông.
Ðến
gần tối, một chiếc thuyền buồm xuất hiện. Trong số hàng
chục chiếc ra đi chỉ có một chiếc trở về, và chiếc đó
không phải là thuyền của chồng nàng. Người ta báo cho nàng
cái tin hung dữ. Thuyền của chồng nàng bị đánh đắm. Nàng
ngất đi, sự đau đớn lớn lao nhất của đời nàng ghi mãi
nét buồn trên gương mặt nàng. Và tất cả hi vọng của mình
còn lại, nàng đã trút vào cuộc đời của Métra.
Métra
lớn lên khoẻ mạnh hơn người. Mắt hắn long lanh đen nháy,
luôn luôn nhìn thẳng ra xa mơ ước một cuộc đời phiêu bạc.
Nàng đã đoán trước được điều ấy nên tìm hết cách
khuyên bảo con. Ðôi lúc hắn hỏi mẹ: “Mẹ ơi! Cha con thuở
trước làm nghề gì?”. Câu hỏi đó đã làm nàng nhiều đêm
không ngủ yên. Nàng thấy lại nỗi đau xót của mình trong
buổi chiều đông năm xưa. Nàng nói dối hắn: “Cha con hồi
trước làm nghề đi buôn trong nước”. Hắn liền nuôi mộng
đi buôn trong nước.
Năm
năm sau, Métra trở thành một thanh niên cứng cỏi, và hắn
đi buôn trong nước. Trong chuyến đi buôn đầu, hắn lời được
bốn đồng. Ðó là một thành công lớn đối với kẻ còn
thiếu kinh nghiệm như hắn. Hắn đem cả bốn đồng về giao
cho mẹ hắn và yêu cầu mẹ cúng dường giúp đỡ các vị
Sa môn, Ba La môn, các người nghèo khổ và ăn xin. Mẹ hắn
tưởng hắn an phận thích nghề ấy rồi.
Nhưng
một hôm hắn trở về buồn rười rượi. Hắn muốn đổi
nghề vì nghe người ta nói cha hắn làm nghề bán dầu thơm.
Mẹ hắn đành chiều hắn. Ngày hôm sau hắn lập quán trong
thành phố. Lần này hắn lời được tám đồng khá hơn lần
trước. Nhưng cái nghề bán dầu thơm tầm thường nọ không
làm hắn hứng thú chút nào. Lại thêm có người bảo cha hắn
trước kia làm nghề bán nữ trang. Thế là lần sao, hắn đem
tám đồng về cho mẹ nó với cả ý định bỏ nghề bán dầu
thơm.
Nó
chuyển sang nghề bán nữ trang. Nó bán chạy và cạnh tranh
với những tiệm vàng lớn trong thành phố. Nó lời tháng đầu
mười sáu đồng. Tháng sau ba mươi hai đồng. Thật là những
món tiền to lớn. Hắn đem về cho mẹ và cũng yêu cầu mẹ
làm các việc công đức như những lần trước. Nhưng cái
nghề này giữ chân hắn một chỗ và hắn thấy bực bội.
Sự hoạt động của hắn bị bó hẹp, tầm mắt hắn bị
chặn lại. Rồi có một chủ tiệm vàng đến nói với hắn:
“Sau chàng không làm nghề hàng hải như ông thân chàng mà
lại đi làm nghề bán nữ trang hèn mọn tù túng này”. Hắn
bị kích thích đúng chỗ… Vậy là hôm sau, Métra bán tất
cả số vàng còn lại dồn được một số vốn lớn. Bể
khơi với sóng gió ngàn trùng, với các bến bờ xa lạ kêu
gọi hắn. Hắn nhất quyết rồi, hắn về nói với mẹ: “Thưa
mẹ có phải cha con trước kia làm nghề hàng hải không? Mẹ
cho con theo nghiệp cha con đi buôn ngoài bể cả”.
Mẹ
hắn sửng sốt. Bà đã cảm thấy trước điều mong muốn
của con. Bà đã để ý đến cái nhìn đăm đăm của hắn
ra tận bể khơi như cố tìm đến bên kia bờ đại dương.
Bà đã để ý con say sưa thèm thuồng cuộc đời của những
thủy thủ trên các thuyền buồm từ xa đến. Bà cũng muốn
cho con thỏa nguyện, nhưng hình ảnh của cuộc ra đi không
ngày về của cha Métra đã làm cho nàng tìm hết cách ngăn
con: “Phải, Métra ạ! Cha con trước đây làm nghề hàng hải
nhưng bị nạn chết đánh từ ngoài bể khơi. Mẹ đã đau
khổ lắm rồi. Nay mẹ chỉ có mình con, con nỡ nào bỏ
mẹ đi ra góc bể chân trời, mẹ sẽ khô héo mà chết”.
Métra
tuy cảm động nhưng hắn đã quyết. Chiều hôm ấy hắn cho
người đánh chuông rao khắp kinh thành Ba La Nại: “Hỡi các
thương gia đáng tôn kính! Métra sắp đi buôn xa, vậy ai muốn
đem hàng ra hải ngoại thì cứ đi chung với người”.
Mẹ
Métra khuyên răng hắn rất nhiều. Hắn vẫn không đổi ý
định. Ðến ngày ra đi, năm trăm lái buôn cùng đi chuyến
này với hắn, bà mẹ quá thương con. Cái cảnh ra đi giống
hệt như cảnh ra đi của cha con ngày trước, làm bà quá đau
xót. Bà ngã xuống ôm lấy chân con mà khóc. Mọi người đều
cảm động, Métra ngồi xuống một lát, nhưng hắn bỗng đứng
dậy, rút mặt chân ra, bước qua đầu mẹ hắn. Hắn đi thẳng
xuống thuyền không ngoái nhìn lại. Bà mẹ chậm chạp ngồi
dậy và trong nước mắt mà niệm nho nhỏ: “Con ơi! Mẹ
cầu cho con tai qua nạn khỏi. Mẹ cầu cho con khỏi bị quả
báo đã bước ngang đầu mẹ con ơi”.
Ðoàn
thuyền vượt sóng đã ba ngày trường, đến ngày thứ tư
trời bỗng đổi biến đột ngột rồi có gió mạnh. Gió cuốn
từng hồi báo trước một cơn bão lớn. Mọi người lo ngại
và cố sức chống chọi. Nhưng chuyện phải đến đã
đến. Bão to đã đánh tan cả đoàn thuyền.
Métra
đeo trên một tấm ván và may mắn trôi dạt vào bờ xa lạ.
Hắn lần lần hồi tưởng lại và đi đến một thành phố.
Ðây là thành Ramana. Anh chàng thanh niên của kinh thành Ba La
Nại được người ta niềm nở tiếp đón. Có bốn nàng tiên
đẹp đẽ đến chào hắn, trước ngực mỗi nàng đều lấp
lánh một đồng tiền vàng giống như đồng vàng hắn đã
trao cho mẹ ngày trước đây. Các nàng tiên nói với hắn:
“Chào chàng Métra, đây là đền đài của các em. Ðây là
tất cả sự khoái lạc ở đời. Chàng vào đây chung vui với
chúng em”. Métra nhận lời. Hắn sống đầy đủ về
vật chất hình như được hưởng những phước đức đã
làm nên ngày trước, nhưng hình như có một nguyên do vô hình
thúc đẩy hắn: Hắn buồn ý và ra đi, xuống miền Nam. Hắn
đến thành Sadamaham. Có tám nàng tiên trẻ đẹp đến chào
hắn. Trước ngực mỗi nàng lấp lánh một đồng tiền vàng
giống như đồng tiền vàng của hắn đã trao cho mẹ ngày
trước đây. Các nàng tiên cũng nói với hắn những lời dịu
dàng như những nàng trước. Hắn cũng nhận lời ở lại đây
và hắn cũng đã sống đầy đủ về vật chất như được
thừa hưởng những phước đức đã làm nên ngày trước.
Sau, buồn ý lại ra đi, xuống miền Nam.
Hắn
đến thành Nandana. Mười sáu nàng tiên đẹp đẽ đến chào
hắn. Trước ngực mỗi nàng lấp lánh một đồng tiền vàng
giống như đồng tiền vàng hắn đã trao cho mẹ hắn ngày
trước. Các nàng dịu dàng mời hắn ở lại và chăm sóc như
những nàng trước. Hắn đã sống đầy đủ về vật chất
như được thừa hưởng những phước đức đã làm nên ngày
trước. Nhưng rồi hắn cũng lại ra đi về phía Nam.
Hắn
đến thành Brahmottora. Ba mươi hai nàng tiên đẹp đẽ chào
hắn. Trước ngực mỗi nàng lấp lánh một đồng tiền vàng
giống như đồng tiền vàng hắn đã trao cho mẹ hắn ngày
trước. Hắn được mời ở lại hưởng khoái lạc trong thành.
Ðến đây nhiều điều đã làm cho hắn suy nghĩ: Tại sao hắn,
một kẻ có tội với mẹ, hắn đã hưởng những sung sướng
đã qua. Phải chăng đó là do ngày trước hắn đã trao những
món tiền bốn đồng, tám đồng, mười sáu đồng, và ba mươi
hai đồng cho mẹ hắn để làm việc thi ân. Nhưng sự sung
sướng được hưởng đối với hắn quá nhiều rồi. Hắn
không thể ở lại đây nữa. Hắn lại muốn ra đi xuống miền
Nam, mặc dù các nàng tiên hết sức khuyên can.
Lần
này hắn đi thật xa. Hắn đến một bức thành bằng sắt.
Hắn đi vào thành thì cửa thành đóng lại. Hắn cứ đi nữa
và không mấy chốc hắn gặp một người to lớn trên đầu
đội một vành sắc cháy đỏ. Lửa phun rừng rực máu mủ
trên đầu người ấy chảy tràn xuống miệng, người ấy
liếm tất cả. Hắn đến gần và hỏi:
- Nhà
ngươi là ai? Tại sao lại bị hình phạt đau đớn khổ sở
như vậy?
Người
ấy nén đau xót, ngẩn nhìn hắn một lát rồi trả lời:
- Tôi
là người đã làm cho mẹ tôi đau khổ, nên tôi phải gánh
lấy quả báo như thế này. Tôi sẽ chịu quả báo mãi cho
đến khi một người khác đã tạo nghiệp ác làm mẹ đau
khổ đi ngang qua đây sẽ thay thế cho tôi.
Cái
quá khứ tội lỗi của Métra hiện lên rõ ràng trong tâm trí.
Métra đã bước ngang đầu mẹ, đứa con bất hiếu đó đang
đứng đây và đáng nhận những hình phạt nặng nề nhất.
Métra vừa nghĩ như thế thì vành lữa nóng bay qua chụp lên
đầu chàng. Métra nhìn người kia bây giờ đã khỏe mạnh,
vết thương trên đầu bấy giờ đã lành hẳn và hỏi:
- Tôi
phải chịu vòng lửa này trong bao lâu?
Người
kia đáp:
- Chàng
phải chịu hình phạt này đời đời kiếp kiếp cho đến
khi có người phạm tội đã làm mẹ đau khổ như chàng, đến
thay thế cho chàng. Métra đau khổ vô cùng. Lửa cháy xèo từng
mảnh thịt, mặt như bị cắt từng mảnh thịt, mặt như bị
cắt đi từng đường gân máu và tê liệt từng chỗ. Tuy vậy
Métra vẫn bằng lòng với hình phạt mình đã chịu. Chàng
nghĩ rằng: “Lại sẽ có người phạm tội đối với mẹ
để đến chịu thay ta? Không nên như thế! Chúng sanh ơi!
Hãy đừng ai sanh tâm làm mẹ mình đau khổ. Hãy đừng ai làm
cho nước mắt mẹ mình tuôn chảy vì mình”.
Rồi
Métracanyana phát nguyện rằng: “Tôi xin nguyện đội vành
này mãi mãi, xin thay chịu đau khổ cho tất cả chúng sanh”.
Lời
phát nguyện của Métracanyaca thật là vô cùng chứa chan tình
yêu thương rộng lớn. Lời phát nguyện chân thành ấy đã
dải thoát Métra khỏi vòng tội lỗi và vòng lửa bỗng rời
khỏi đầu Métra bay lên hư không trả lại cho Métra đời
sống an lành.
Quảng
Huệ
“Xin
mẹ hiền nhận lạy này con bất hiếu
Ðã
bao lần làm mẹ khổ ngày xưa
Ðã
bao lần làm mẹ khóc như mưa
Bao
nhiêu lạy cũng chẳng vừa ân mẹ.”
Tai
hại của tham ái
Ngày
xưa, có một chàng thanh niên phạm tội loạn luân với chị
dâu của mình, và mối tình thầm lén này, đã khiến họ yêu
nhau tha thiết, mặc dù đó là một tình yêu đầy tội lỗi.
Người chị dâu lang chạ đã nhiều lần xúi em chồng giết
chồng đi, để hai người tự do hưởng hạnh phúc bên nhau.
Thoạt
nhiên người em không mù quáng nghe lời xúi dục thâm độc
ấy, nhưng người chị dâu không nản lòng, cứ khuyến khích
mãi, và cuối cùng người em đáng thương hại kia đã giết
anh mình.
Vì
tình thương vợ còn quá nặng, nên sau khi chết, người chồng
đáng thương ấy lại đầu thai làm con thằn lằn ở trong
nhà, và con thằn lằn này thường khi buông tay cho mình rớt
xuống ngay mình người vợ.
Người
đàn bà tội ác này biết con thằn lằn là chồng mình đầu
thai, nên chỉ hai ba lần sau là thằn lằn bị giết chết.
Sau
khi chết, con thằn lằn vẫn còn thương vợ, nên đầu thai
làm con chó trong nhà. Lúc khôn lớn hễ mỗi khi người đàn
bà ngoại tình đê tiện ấy đi đâu, thì chó ta chạy theo
một bên như bóng theo hình. Bị các thanh niên trong xóm chọc
ghẹo nhiều lần, họ kêu là cô thợ săn… Lòng tự ái bị
tổn thương, cô ta lại giết con chó.
Nợ
tình chưa dứt nên chó ta chuyển kiếp làm con bò đực trong
nhà vợ. Lớn lên bò ta cứ đi theo một bên người đàn bà
thâm độc ấy mãi. Lần này cũng bị các cậu trai chọc ghẹo
họ kêu cô là cô chăn bò. Chịu đựng không nổi với lời
bỡn cợt, có tính cách phỉ nhổ ấy, cô ta lần thứ ba giết
chồng đang sống kiếp mang lông đội sừng.
Màn
tình chót sắp hạ, mặc dù vợ giết ba phen, nhưng tình thương
vợ vẫn còn vương vấn, nên sau khi bị giết, bò ta bèn đầu
thai vào thai bào của người vợ. Nghĩa là hết làm chồng
trở lại làm con.
Sau
khi sanh ra, đứa nhỏ nhớ được kiếp trước của mình biết
rằng: Chính tay người mẹ này đã giết mình trong bốn kiếp
qua, từ khi mình còn là chồng nàng.
Quá
đau khổ, đứa nhỏ bắt đầu làm khó mẹ nó, nhất định
không cho người mẹ đụng đến mình nó. Mỗi khi người mẹ
ẵm bồng, thì nó la khóc giẫy giụa như mình sắp chết.
Thế
là chỉ có ông nội và bà bội cực khổ nuôi nấng đứa
bé.
Khi
đứa nhỏ biết ăn biết nói, một hôm ông nội hỏi cháu:
“Tại
sao cháu không cho mẹ cháu động tới mình”. Ðược dịp
đứa bé thuật lại hết đầu đuôi và kết luận: “Nó đâu
phải là má của con, nó là người thù của con đấy nội”.
Nghe
qua câu chuyện tình đẫm máu, và thấy rõ lòng dạ người
đời, ông nội bèn ôm cháu vào lòng và nói: “Thôi! Cháu
đừng buồn nữa, ông cháu mình sẽ đem nhau đi tu”. Mủi
lòng ông cháu ôm nhau khóc. Ông nội thì khóc cho mối tình
ngang trái của cháu, mà mới hôm nào là đứa con trai của
mình. Còn đứa cháu cũng khóc, nó khóc cho ông nội mà trước
đây là cha của mình phải cực khổ vì mình, khóc cho số
kiếp của mình sao chóng thay đổi.
Và
mấy ngày sau, trong một ngôi chùa người ta thấy một vị
Tăng già và một em bé sống an lành dưới bóng Phật đài.
Họ trầm ngâm trong vẻ mặt thảm buồn, và dường như họ
cố gắng lắm. Phải! Họ cố gắng để quên đi mối tình
sa đọa, mà trong đó họ chính là những nạn nhân đáng thương
nhất…
Thông
Kham
“Lòng
tham ái không nặng không sanh cõi Ta bà. Tâm niệm Phật không
chuyên nhất không sanh Tịnh độ.”
Vua
Ưu Ðiền với pháp ly dục
Khi
Phật còn tại thế, có một nước tên là Câu Lâm, vua nước
ấy hiệu là Ưu Ðiền. Trong nước có ông triệu phú tên là
Mai Hồi Ðề, sinh hạ một gái nhan ssắc tuyệt vời, trên
đời không ai sánh kịp, vì thế song thân tặng cho cô gái
cái tên Vô Tỷ. Vua các nước lân bang và các nhà hào phú
đều đến cầu thân. Ông triệu phú trả lời: Nếu có
người quân tử nào dung mạo xinh đẹp bằng con ông, thì ông
mới nhận lời.
Bỗng,
một ngày Phật đi qua nhà ông triệu phú, ông thấy Phật với
32 tướng tốt, 80 vẻ đẹp, thân thể sáng chói như vàng,
oai nghi trang nghiêm, tâm ông hoan hỉ và nói rằng: “Con ta
có người sánh đôi rồi, ông liền trở vào bảo bà, tôi
đã nhận thấy con người cho con mình làm bạn, bà nên sắm
sửa cho nó và mình cũng sửa sang cùng nhau đem con đi”. Bà
triệu phú vội vàng lấy chuỗi ngọc kim cương đeo cho con
và trang sức từ đầu đến chân trông như tiên nữ giáng
thế. Cả ba cùng nhau đến chỗ Phật.
Bà
triệu phú đi gần đến chỗ Phật, thấy dấu chân Phật đoán
biết không phải người thường, nói với ông rằng: Dấu
chân này không phải người phàm, chính là người thanh tịnh
ly dục, không nên đem con mình đến mà bị nhục. Ông không
nghe, mắng bà biết chi mà nói. Bà can không đắc lời, bực
mình lui về, ông triệu phú một mình đem con đi.
Ðến
nơi ông đảnh lễ Phật thưa rằng:
- Ngài
khó nhọc đi khắp nơi giáo hóa, thân tôi không thể cúng dường,
tôi xin cúng dường người con gái tôi để Ngài sai khiến.
Phật
bảo:
- Con
gái ông đẹp lắm phải không?
Ông
thưa:
- Thưa
Ngài, tôi chỉ sanh một gái duy nhất dung mạo thật thế gian
không ai sánh kịp, các vị vương giả và các nhà hào phú
đều ao ước mà tôi không nhận lời. Tôi thấy Ngài dung nghi
tốt đẹp, trên đời không ai bằng, lòng tôi tham cúng dường
nên đem đến Ngài để hầu Ngài.
Phật
bảo:
- Ông
bị mắt thịt mê hoặc, ta xem từ đầu đến chân người
con gái ông không có gì là đẹp. Trên đầu có tóc không khác
gì lông đuôi ngựa, dưới tóc có đầu lâu, giống như đầu
heo ở hàng thịt, bề trong có não không khác gì não heo, hai
mắt thường chảy ghèn nước mắt, hai lỗ mũi, miệng, hỉ
nhổ mũi dãi, trong bụng có tim gan, phèo, phổi, ruỗt già ruột
non, đầy dẫy hôi thối nhơ nhớp, không thể tả hết, chỉ
như cái đẫy da đựng đầy vật ô uế, bốn chân tay do các
lóng xương nối lại mà thành, nhờ chút hơi thở mà sống.
Nếu đem chia ra đầu một nơi, chân tay thân thể mỗi nơi
mỗi cái, thế thì lấy cái gì gọi là đẹp, mà nói không
ai sánh kịp? Trước kia khi tôi mới thành Ðạo dưới gốc
cây Bồ Ðề, có ba nàng ma nữ ở cõi trời, hình dung nhan
sắc, không ai sánh bằng, họ đến gần tôi chực phá đạo
chánh, tôi khi ấy nói pháp quán thân bất tịnh, như vầy,
ba người kia bỗng nhiên thành già, tóc bạc, mặt nhăn, lấy
làm hổ thẹn, bỏ đi mất. Ông thử nhìn xem thân người là
vật ô uế có gì đáng gọi là đẹp. Ông nên đem con về,
tôi không nhận lời ông đâu!
Ông
Hồi Ðề nghe Phật dạy thế, không còn biết nói gì, lấy
làm hối hận, lủi thủi đem con về.
Ngày
khác ông đem con gái đẹp dâng cho vua Ưu Ðiền. Vua được
người đẹp, bằng lòng, liền phong tước lộc cho ông Hồi
Ðề, vua rước nàng vào cung, phong làm thứ phi, cấp cho một
ngàn người hầu hạ múa hát, ngày đêm vui thú.
Hoàng
hậu vua Ưu Ðiền quy y theo Phật đã lâu, bà tu hành chứng
quả Tu Ðà Hoàn.
Thứ
phi thường tâu vua Hoàng hậu chứng quả, vua đem tâm nghi hoặc,
lấy cung tên ra bắn Hoàng hậu. Hoàng hậu thấy tên không
chút sợ hãi, cũng không giận hờn, chỉ nhất tâm niệm Phật,
lại khởi từ tâm, hướng trước mặt vua. Những mũi tên
vua bắn ra, đều lượn quanh Hoàng hâu ba vòng, trở lại rơi
trước vua. Vua thấy thế lấy làm sợ hãi, liền lên xe bạch
tượng đi thẳng đến chỗ Phật, gần tới nơi vua vội xuống
xe, đi bộ vào cúi đầu lễ sát chân Phật, quỳ mà bạch:
- Thưa
Thế Tôn, tôi có lỗi với Tam Bảo, vì tôi nghe lời tà siểm
của người yêu nên tôi lầm sanh niệm ác đối với Phật
và Thánh chúng, tôi đem trăm mũi tên bắn Hoàng hậu là đệ
tử Phật.
Thế
rồi ông trình bày những cử động tàn ác của ông đối
với Hoàng hậu, ông lo sợ hối hận, ông tin rằng chỉ có
Ðức Phật mới đầy lòng từ bi vô lượng, đến như người
thường làm đệ tử Phật, cũng biết phát từ tâm đến thế,
chính Phật là đấng Chánh Chân Vô Thượng, nên ông xin xám
hối tội lỗi và quy y Tam Bảo.
Phật
thấy ông thành thật trải bày tâm sự sám hối quy y, Ngài
nhận lời và an ủi:
- Ðại
vương là người thông minh, mau biết tỉnh ngộ thật đáng
quí.
Vua
cảm mến lễ Phật.
- Thưa
Thế Tôn, tôi từ trước đến nay theo thói dữ tợn ngu muội
không biết nhẫn nhục, ba độc nó sai khiến tôi làm nhiều
tội ác, nghe lời tà vạy không biết phải trái, nếu không
gặp Phật, chắc tội lỗi càng sâu dày. Cúi xin Ngài thương
xót nói rõ những tội lỗi tin nghe lời xiểm nịnh, để tôi
nhớ mà giữ gìn, cũng để làm gương cho người đời sau.
Phật
dạy:
- Hay
lắm! Ông phải chăm nghe và gìn giữ. Ở đời có bốn điều
người nam nữ, phải biết mà dè dặt:
+ Một
là người dâm phu tầm thường mơ tưởng nữ sắc, bỏ quên
Chánh Pháp nghe theo tà tín mờ tối, làm tôi tớ cho dục vọng,
đem cả tâm trí chú trọng vào đó, ngoài ra không thấy gì
hơn nữa.
+ Hai
là khi có con mang nặng đẻ dau, tận tụy nuôi cho trưởng
thành, tìm người xứng đôi vừa lứa, không kể xa gần, lặn
lội cho được, chú ý nuôi dài mối dâm dục cho con. Khi có
dâu rồi, nó quí vợ như của báu, riêng vui thú với nhau,
chỉ nghe lời vợ, quên hẳn công lao cha mẹ, sinh thành dưỡng
dục, trở thành bất hiếu.
+ Ba
là người đời làm lụng khó nhọc dành dụm tiền tài mà
không nghe làm phước, bố thí, cúng dưòng, vì không hiểu
cuộc đời vô thường, chỉ có phước đức là lâu dài đáng
quí. Thế nên khi có vợ rồi, tâm tình mê man, quên hết việc
phải, chăm chú vào nữ sắc, tuy có muốn bố thí, làm các
việc phước thiện khi nói ra bị vợ ngăn cản thì thôi, đành
chịu thành kẻ tiểu nhân, vì vậy mà quên lời răn dạy trong
kinh điển, không biết tội phước, bị ma nữ sắc ám ảnh,
khốn khổ suốt đời.
+ Bốn
là ở đời, không mấy người nghĩ ơn sanh thành, làm ra tiền
của, ít người hiếu dưỡng song thân. Phần nhiều rong ruổi
tìm tòi các việc cho vừa lòng dục vọng, đem hết tâm lực
của cải đổi lấy một người cho vừa ý, khi được rồi
vui mừng mê man, phải tìm bao nhiêu kế hoạch để kéo dài
cái vui ấy, gây ra những sự ham cầu tiền của, vơ vét cho
đầy túi tham, không kể phải trái liêm sĩ, quý hồ vợ con
nhà mình đầy đủ sung sướng, ai đói khổ thiệt thòi mặc
kệ ai, không khác chi con voi điên chạy rong theo dục vọng
mà cho là khoái lạc.
Bốn
thói xấu này, người Nam tử phải cẩn thận tránh xa, nếu
mắc vào thì hiện tại rất tai hại cho bản thân, gia đình,
xã hội. Mai sau sẽ đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đền
trả tội lỗi đã gây ra.
Vua
Ưu Ðiền nghe Phật dạy, hoan hỷ cúi đầu lễ Phật, bạch
rằng:
- Từ
trước đến nay tôi chưa được nghe lời dạy bảo quí báo
như hôm nay, nên tôi trót làm bao nhiêu tội ác. Từ nay về
sau, trọn đời tôi xin sám hối, quy y ngôi Tam Bảo không dám
phạm nữa, xin Thế Tôn chứng minh cho tôi.Vua lùi ra trở về
Hoàng Cung.
Từ
đó về sau vua chăm chỉ học Ðạo, ủng hộ Chánh Pháp, đem
Chánh Pháp dạy bảo nhân dân. Kính trọng Hoàng hậu, coi như
Ðạo bạn vua lại truyền các cung phi phải vâng theo lời dạy
của Hoàng hậu. Không bao lâu trong cung nội, ngoài nhân dân,
đều quy y Tam Bảo, thọ trì năm giới, nước Câu Lâm biến
thành cảnh an lạc hiện tại ở trần gian.
Ðàm
Minh
“Sự
tham lam nó làm cho con người chìm đắm mãi trong biển luân
hồi, mà nhất là cái tham về sắc dục nó đầy đọa và
vùi lấp con người một cách ghê gớm.”
Sáu
giác quan tranh công
Ngày
xưa, xưa lắm… Có một nhà vua nọ góa vợ chỉ có một nàng
Công chúa mà thôi, nên bao nhiêu tình thương nhà vua đều dồn
cả cho nàng.
Một
hôm Công chúa đau nặng. Bao nhiêu ngự y chăm sóc thuốc thang
đều thất thủ trước căn bệnh kỳ lạ của nàng Công chúa.
Sau cùng nhà vua phải triệu tập một “Ðại hội” thầy
thuốc trong toàn quốc để mổ xẻ bệnh trạng hầu tìm ra
phương pháp trị bệnh cho Công chúa. Sau khi đúc hết ý kiến,
một bản quyết nghị dâng lên vua, đại ý cho rằng Công chúa
bị chứng nội thương, phải có sữa sư tử mới trị khỏi…
Nhưng
tìm đâu cho ra sữa sư tử?
Nhà
vua bèn truyền khắp thần dân, hễ ai tìm được sữa sư tử
để trị bệnh cho Công chúa sẽ được thưởng quan tước
và tiền bạc.
Có
một chàng trai trẻ nọ được tin, mộng công hầu thúc đẩy
nên anh ta không quản hiểm nguy, lặn lội vào rừng sâu để
tìm cho được sữa sư tử.
Qua
bao ngày tìm kiếm dò xét, chàng trai nọ biết được chổ
ở của một bầy sư tử mấy trăm con, chàng bèn trộn thuốc
ngủ vào nước uống để nhử. Khi sư tử ngủ dậy, thấy
nước ngon quá bèn uống no. Thế là cả trăm con lại gục
xuống ngủ mê man. Chàng trai nọ tha hồ tìm sư tử cái để
nặn sữa.
Trên
đường về kinh đô, một hôm chàng trai nằm nghỉ dưới gốc
cây. Lúc ấy một vị A La Hán đi ngang qua bỗng nghe các giác
quan của chàng trai nọ tranh công với nhau rất kích liệt.
Lỗ
tai nói: Nếu tôi không nghe lệnh của nhà vua thì làm sao hiểu
được đi tìm sữa? Công tôi to nhất.
Chân
đáp: Này này, đừng có hỗn, tai anh nghe chân tôi không bước
thì anh có đến được chỗ sư tử ở không? Công to là tôi
đây.
Mắt
phát biểu: Các anh sai hết. Chỉ có tôi đây là quan trọng.
Tai nghe, chân bước nhưng mắt tôi nhắm lại thì các anh có
gãy giò không? Tôi mới đúng thưởng công to.
Tay
xen vào: Cãi nhau làm chi vô ích. Nếu đi đến nơi, thấy chỗ
của sư tử, mà không có mười ngón và hai cánh tay này thì
các chú có lấy được sữa mang về không? Công lao là ta.
Lưỡi
bỗng nổi giận: Ðược! Tôi đây đồ bỏ chắc. Các anh khoe
khoang tranh giành nhau, rồi đây sẽ biết tay tôi.
Quả
nhiên, khi chàng trai nọ về triều, hai tay trịnh trọng dâng
sữa lên nhà vua, bắt ngờ, lưỡi mách lẻo:
- Tâu
bệ hạ, đây là sữa lừa chứ không phải sữa sư tử.
Mặt
rồng đang tươi vui, bỗng sa sầm xuống, nhà vua nổi giận
vì rõ ràng nghe nói sữa lừa chứ không phải sữa sư tử,
bèn truyền lệnh chém đầu chàng trai nọ vì tội khi quân.
Chàng
trai hết sức biện bạch nhưng nhà vua không tin. Sau có một
vị đại thần đề nghị vua hãy lấy sữa trị bệnh cho Công
chúa thử, nếu lành là sữa sư tử, bằng trái lại thì chém
đầu cũng không muộn.
Vua
y lời, và nàng Công chúa nhờ được uống sữa nên khỏi
bệnh.
Tiếp
theo vị La Hán vào triều thuật lại việc Ngài nghe các giác
quan của chàng trai nọ tranh công với nhau. Và việc làm sàm
tấu kia chính là cái lưỡi không xương nên nhiều đường
lắt léo.
Nhà
vua hiểu rõ nội vụ, bèn trọng thưởng cho chàng trai nọ.
Nguyên
Cao
“Này
các Tỳ kheo! Hãy hoà hợp nhau lại, như nước với sữa, ánh
sáng với không gian!...”