Phần
11
51/
Truyện con chó đói
52/
Vua A Dục trở về với Phật giáo
53/
Hoa sen trong người
54/
Vui trong Ðau khổ
Truyện
Con Chó Ðói
Thuở
Ðức Phật còn tại thế, có một ông vua rất hung ác, nghe
Phật đến thuyết pháp trong nước mình, ông liền ngự giá
đến chỗ Phật ở và xin Ngài kể một câu chuyện gì đã
vui lại hữu ích nữa.
Ðức
Phật liền kể chuyện con “Con Chó Ðói” như sau:
“Thuở
xưa, có một vị quốc vương rất bạo ngược, hà khắc với
dân lành, nhân dân đều oán trách. Ông Ðế Thích thấy vậy
liền hiện xuống trần dắt theo một con quỷ rất dữ. Ông
Ðế Thích hóa mình thành một người thợ săn, còn con quỉ
thì biến thành một con chó cao lớn.
Người
thợ săn dẫn con chó vào cung của vị quốc vương để yết
kiến. Bỗng con chó vùng tru lên dữ dộI, làm cho lâu đài
cung điện đều rung rinh… Vị quốc vương thất kinh, liền
đòi người thợ săn đến trước ngai vàng mà hỏi rằng:
- “Gã
kia, vì cớ gì mà con chó tru lên dữ vậy?”.
Người
thợ săn thưa:
- Tâu
Bệ hạ, vì đói nên nó tru.
Vị
quốc vương liền ra lệnh đem cơm cho chó ăn. Nhưng một điều
không ngờ là đem bao nhiêu thì con chó ăn hết bấy nhiêu,
tất cả thực vật trong kho đã hết sạch mà nó vẫn chưa
no, nên nó càng tru lên dữ dội hơn nữa, mà ác hại thay,
mỗi lần nó tru thì cung điện đền đài của quốc vương
lung lay hình như muốn sụp đổ…
Vị
quốc vương không biết tính thế nào, mới hỏi người thợ
săn:
- Lấy
cái gì cho nó ăn để nó nín?
Người
thợ săn đáp:
- Tâu
Bệ hạ, lấy thịt của người nó ghét cho nó ăn nó hết
tru.
Quốc
vương hỏi:
- Nó
ghét kẻ nào?
Người
thợ săn tâu:
- Nó
ghét những kẻ bất công hãm hại dân nghèo. Ngày nào trong
nước không có dân đói khó nữa, ngày đó nó mới nín…
Vị
quốc vương liền nhớ tới những việc ác của mình làm thì
hết sức hối hận, từ đó mới ăn năn chừa cải, chịu
nghe những lời công bình chánh trực”.
Ðức
Phật kể dứt câu chuyện này thì mặt vua tái ngắt.
Ðức
Phật dịu dàng dặn với nhà vua rằng: “Ngày nào bệ hạ
nghe tiếng chó tru thì bệ hạ hãy nhớ đến câu chuyện ta
kể. Bệ hạ có thể làm cho con chó nín được”.
Hoàng
Minh
Ðạo
Phật đã cảm hóa những ông vua hung bạo như vua A Dục xứ
Ấn Ðộ, thành những kẻ thương dân mến nước.
Vua
A Dục Trở Về Với Phật Giáo
Lúc
Ðức Phật còn tại thế, Ngài đã đem Chánh pháp phú chúc
cho các vị quốc vương và đại thần, để sự truyền bá
Phật pháp mau phổ biến.
Từ
ngày Ðức Phật diệt độ, nếu quan sát trong lịch sử Phật
giáo, thì thấy có hai vị quốc vương thật hết lòng lo hộ
trì Phật pháp. Tại xứ Ấn Ðộ, thì có vua A Dục. Ở
Trung Hoa thì có đến mười ông vua có nhiệt tâm với đạo,
nhưng chỉ có ông Lương Võ Ðế hết lòng vì đạo hơn cả.
Nay
xin thuật sơ lịch sử của vua A Dục:
Nguyên
vua A Dục là dòng dõi của A Xà Thế vương, thân phụ của
Ngài tên là Tần Ðầu Sa, thân mẫu thuộc phái Bà La Môn.
Khi
Ngài còn nhỏ thì thân thể rất thô kịch xấu xa, nên vua
cha chẳng thương yêu. Ðến lúc Ngài thành nhân, thì oai võng
hơn người và võ nghệ xuất chúng.
Sau
nhân có việc nội loạn tại thành Hưu Thị La, vua cha mới
sai Ngài đi chinh phục. Khi đâu đó được bình yên, vua cha
thấy Ngài có công lao nên phong làm Thái tử.
Cách
ít lâu, vua Tần Ðầu Sa thăng hà, thì Ngài kế vị, song tánh
rất bạo tàn vô đạo, đến nổi giết hết mất trăm người
tôi đại thần và kẻ thân thuộc.
Mùa
xuân năm ấy… trăm hoa đua nở, cảnh vật vui tươi, Ngài
mới dẫn bọn cung nữ đi dạo khắp vườn hoa mà thưởng
ngoạn. Khi ra ngắm cảnh vườn xuân, bọn cung nữ chỉ lo chơi
giỡn và trầm trồ khen ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, chớ chẳng
quây quần bên Ngài như lúc ở tại nội điện. Vua nổi giận,
truyền bắt giết tất cả, rồi tức thì trở về cung, chứ
không đi thưởng ngoạn nữa. Lúc ấy, toàn dân trong nước
đều ta thán cho Ngài là một ông vua đại gian ác.
Ðã
vậy mà Ngài còn lập ra một chỗ gọi là: “Ðịa ngục ở
trần gian”, đặt tên là vườn “Ái lạc” ngoài thì sắp
đặt cực kỳ tốt đẹp, nào là ao sen non bộ, cỏ quý hoa
thơm, cũng như công viên, để cho nhân dân mặc tình đến
đó mà thưởng thức giải trí…
Nhưng
trong, thì có non đao rừng kiếm, lò lửa vạt dầu, và đủ
các món khí cụ để hành hình người một cách ghê gớm.
Hễ
người nào vào trong vườn Ái lạc đó, thì ngục tốt bắt
giam, rồi cứ hành hình. Còn những thế nữ ở trong cung
mà cãi cọ xung đột với nhau, thì bắt đem vào cho chủ ngục
phân xử. Thiệt là một cái thảm trạng thống khổ của nhân
gian không kể xiết. Khi ấy có một vị Tỳ kheo, nhân đi khất
thực nơi thành Hoa Thị, vì chẳng thông thuộc đường xá
nên lạc vào vườn “Ái lạc”, nhìn thấy cảnh tượng bên
ngoài thì tốt đẹp lạ lùng, còn phía trong quả là một chốn
địa ngục.
Thầy
Tỳ khoe hoảng kinh, toan kiếm đường trở ra, ai ngờ bị ngục
tốt đón bắt lại. Thầy hết sức yêu cầu mà bọn ấy không
dung thứ, nên thầy bèn khóc òa.
Chủ
ngục thấy vậy liền hỏi: Thầy là người tu hành, sao mà
sợ chết đến đỗi khóc như con nít vậy?
Thầy
Tỳ kheo đáp:
- Tôi
chẳng phải sợ chết mà khóc, vì sợ mất sự lợi ích cả
một đời người của tôi, nên mới ai bi như thế?
- Sự
lợi ích làm sao, Thầy bày tỏ cho tôi nghe thử?
- Số
là tôi mới xuất gia, chưa chứng đặng đạo quả. Tôi nghỉ
lại thân người khó đặng, Phật pháp khó gặp, nay rủi sa
vào chỗ ác địa này, thế nào cũng phải hủy mạng, thì
còn đâu mà tu học nữa nên tôi mới khóc, chứ tôi đâu có
sợ chết.
Thấy
Tỳ kheo nói rồi, mới khẩn cầu với chủ ngục xin dung thứ
cho Thầy sống sót trong bảy ngày, rồi sẽ hành hình chẳng
muộn.
Chủ
ngục thấy người tu, thì cũng động tâm, nên y theo lời của
Thầy xin mà đình lại bảy ngày mới toan hạ thủ.
Ngày
đầu, thầy Tỳ kheo nhìn thấy cách hành phạt rất độc ác,
nào là người phụ nữ thân hình tốt đẹp mà bị bỏ vào
cối quết người thì xương tan thịt nát, xem rất ghê sợ;
nào là bọn ca nhi nhan sắc tuyệt vời mà cũng bị quăng vào
lò lửa, đứa thì rút tay co cổ, đứa thì hả miệng nhăn
răng.
Thầy
Tỳ kheo thấy cảnh tượng ấy thì sanh lòng nhàm chán, mới
nhớ lời Phật dạy rằng: “Sắc lịch dịu dàng dường như
bọt nhóm, dung y đẹp đẽ mà đâu còn hoài”. Nhờ chỗ dẫn
chứng lời của Phật dạy đó mà Thầy tỏ ngộ, dứt
hết các đều tạp nhiễm, liền chứng đặng quả A La Há.
Ðến
ngày thứ tám, ngục tốt bèn bắt Thầy đem bỏ vào chảo
dầu, rồi chất củi mà đốt. Song khi lửa hạ và củi thành
tro mà dầu trong chảo vẫn tự nhiên không nóng.
Chủ
ngục thấy vậy nổi giận, đánh đập bọn ngục tốt, rồi
hối đem củi cho nhiều và chụm thêm vào mãi mãi, nhưng đến
khi xem lại trong chảo dầu thì thấy Thần Tỳ kheo ngồi kiết
già trên hoa sen, xem bộ tự nhiên chẳng hề lay động chút
nào cả. Chủ ngục hoảng kinh, lật đật đến tâu tự sự
cho vua A Dục rõ.
Vua
tánh nóng như lửa, khi nghe tin ấy liền tức tốc đi thẳng
đến vườn Ái lạc.
Vua
vào đến nơi, thì thấy Thầy Tỳ kheo hiện thân lên hư không,
biên đủ 18 phép thần thông, trên mình thì nước tràn lênh
láng, phía dưới thì lửa cháy rần rần, thí như một hòn
núi lớn ở giữa không gian vậy.
Vua
A Dục đứng nhìn sửng sốt một hồi, rồi tự nghĩ: “Mình
với Thầy Tỳ kheo này cũng đồng là loài người, cớ sao
Thầy lại đặng phép thần thông tự tại như thế, còn mình
thì lo việc sát hại nhân dân, làm việc đại ác!”.
Vua
nghĩ như thế nên vội vàng quỳ xuống bạch với vị Tỳ
kheo ấy rằng: “Ngửa mong Thánh giả chiếu cố đến tôi,
xin hạ xuống nơi đây, tôi nguyện từ rày về sau bỏ dữ
làm lành mà quy với Ngài”.
Thầy
Tỳ kheo đáp:
- “Hay
thay! Hay thay! Nay đại vương đã tự hối mà quy đầu Tam bảo,
thì sẽ đặng phước đức vô cùng và hân hạnh cho dân chúng
biết bao”.
Thầy
Tỳ kheo nói xong, liền dùng thần lực của mình mà trở về
tịnh xá.
Khi
vua A Dục đã quy y theo Phật rồi, thì trong lòng hân hoan vô
cùng, định sửa soạn trở về cung. Bỗng người chủ ngục
đến tâu: “Khi Ðại vương lập ra cảnh “Nhân gian địa
ngục” này, có ra lệnh hễ ai vào đây thì không cho ra. Tôi
đã thọ mạng rồi, nên không dám cãi. Còn Ðại vương là
bực thiên tử cũng phải nhất ngôn mới được”.
Nghe
chủ ngục nói như thế, vua A Dục mới hỏi: “Cứ theo lời
của nhà ngươi nói đó, thì bây giờ nhà ngươi muốn giết
ta hay sao?”.
Chủ
ngục đáp: “Quả như lời của Ðại Vương đó, thì mới
đúng với quân lệnh”.
Vua
A Dục liền hỏi lại chủ ngục: “Vậy khi ban sơ tạo vườn
Ái lạc này, nhà ngươi với quả nhân ai vào đây trước?”.
Chủ
ngục thưa: “Tâu Ðại vương! Tôi vào đây trước”.
Vua
nghe đáp như vậy, tức thì truyền cho ngục tốt áp lại bắt
chủ ngục bỏ vào chảo dầu, đồng thời ra lệnh phóng hỏa
đốt hết cả vườn Ái lạc.
Từ
đấy về sau, vua bỏ hẳn các điều dữ mà làm những việc
lành, và tâm tánh hết sức từ bi nên kẻ thời nhơn đồng
ca tụng là Ðạt Ma A Dục Vương (ông vua hiền lành).
Sau
lại nhờ đức Ưu Ba Cúc Ða (Tổ thứ tư) giáo hóa thêm, nên
vua càng tín ngưỡng Phật pháp hơn nữa, chính vua đã phái
256 vị Cao tăng đi khắp trong xứ để truyền bá Phật giáo…
Thiện
Dụng
Hoa
Sen Trong Người
Mai
hôm ấy, kinh thành Xá Vệ rộn rịp trong cảnh phố phường
buổi sáng. Trên các đường lớn ngựa xe tấp nập; từng
đoàn người qua lại trong những bộ áo màu sặc sỡ. Các
cửa hàng đông nghẹt những người mua. Tiếng guốc giày của
những người quí phái liên tiếp vang lên tạo thành những
âm thanh ồn ào náo nhiệt. Nhưng đi sâu vào các đường hẻm
thì những cảnh sống hình như vui tươi, giàu mạnh của số
đông người trong hai giai cấp Sát Ðế Lợi và Bà La Môn ấy
không còn nữa, mà những cảnh bần cùng, đen tối của hai
hạng người Tỳ Xá và Chiên Ðà La hiện ra quá rõ rệt: những
chiếc nhà lá thấp lè tè, chật hẹp, đóng cửa từ sáng
sớm… Những đứa trẻ đang đùa giỡn chọc ghẹo nhau trên
vệ đường. Những người tàn tật nghèo khổ lũ lượt đi
từ nhà này sang nhà nọ xin nhờ sự bố thí một cách khó
khăn…
Như
lệ thường, sáng nay Ðức Thế Tôn vào thành để giáo hóa.
Bình đẳng, không phân biệt nghèo, giàu, sang, hèn; Ngài đi
hết phố này đến xóm khác.
Ni
Ðề, một thanh niên thuộc giai cấp Chiên Ðà La, giai cấp
thấp nhất ở Ấn Ðộ, đang gánh một gánh phân chạy lon
bon trên con đường xóm, thấy Ðức Phật, chàng bối rối,
sợ sệt, vội rẽ qua đường khác và tự thanh trách; chàng
nghĩ rằng mình đã sinh vào nơi thấp kém mà còn phải làm
những việc đê hèn như thế này nữa, thật là vô phước
quá, đồng là người thì tại sao người ta lại dìm nhau trong
cuộc sống? Tuy rẽ qua đường khác nhưng đôi mắt chàng vẫn
đăm đăm hướng về hình ảnh trang nghiêm; sáng rực hào quang
của Ðức Phật. Một sự ước ao trào dậy trong lòng chàng:
Ôi! Biết bao giờ ta được trực tiếp gặp Ðức sáng suốt
kia. Càng nhìn lòng chàng càng cảm mộ. Tuy chưa gặp Ðức
Phật lần nào, song đức hạnh hoàn toàn của Ngài, chàng
được nghe nhiều người kể lại.
Hiểu
tâm niệm Ni Ðề qua những cử chỉ rụt rè và đôi mắt đăm
chiêu, Ðức Phật bước nhanh về phía Ni Ðề. Thấy Phật
đến, Ni Ðề hoảng hốt: Vì tự thấy mình nhớp nhúa không
đáng gần Phật, phần sợ người bắt tội nên chàng nhanh
chân lẩn tránh.
- Con
ôi! Như Lai đến với con đây! Sao con lại tránh? Ðức Phật
ở xa nói lại với một giọng trong thanh, êm ái.
Ðể
đôi thùng xuống, run rẩy Ni Ðề quỳ thưa:
- Bạch
Ngài con không dám… Có điều chi dạy bảo xin Ngài ban cho,
xin Ngài đừng đến gần con…
Ðức
Phật bước thêm và đến sát Ni Ðề. Ni Ðề cúi xuống và
sắc mặt biến xanh, ra vẻ sợ sệt lắm. Nở một nụ cười
chan chứa tình thương Ðức Phật nói:
- Con
ơi! Không ai có quyền bắt tội con đâu, vì chính Như Lai đến
với con, chứ không phải con đến với Như Lai. Hơn nữa Như
Lai nay không phải là người trong giai cấp vua chúa như Thái
tử Tất Ðạt Ða ngày xưa, mà là người của tất cả chúng
sanh, nhất là hạng người đau khổ như con. Như Lai muốn nói
với con một vài câu chuyện… Nghe qua những lời nói dịu
hiền và có lý của Ðức Phật, Ni Ðề bớt lo sợ và nhìn
Ðức Phật một cách kính mến, chàng thưa:
- Chẳng
hay Ðức Thế Tôn vẫn đoái hoài đến người cùng khổ này
sao? Và con đây cũng được Như Lai dạy bảo và được thật
hành theo đạo của Như Lai nữa sao?
Một
cách nghiêm nghị Ðức Phật hỏi: Ai đã làm cho các con thắc
mắc những điều ấy?
- Bạch
Thế Tôn: những đạo sĩ Bà La Môn thường nói chỉ có giai
cấp họ và người trong dòng Sát Ðế Lợi mới có quyền
thờ kính Hiền Thánh và có quyền giao thiệp với người đồng
giai cấp, chứ bọn con thuộc dòng hạ tiện không có phép
làm những việc của họ làm và phải trọn đời phục dịch
họ…
Ni
Ðề muốn nói nhiều nữa song Ðức Phật ngắt lời và hỏi:
- Vậy
con không biết Như Lai ra đời để cứu khổ cho chúng sanh
bằng cách phá tan những sự mê tín dị đoan, ỷ lại thần
quyền và đưa chúng sanh đến cuộc sống bình đẳng và an
vui sao?
Thôi,
giờ đây, con có muốn sống một đời sống tươi đẹp và
rộng rãi không? Và con muốn sống gần Như Lai không?
Sung
sướng muốn chảy nước mắt, Ni Ðề đáp: - Ðó là điều
mà con tưởng không bao giờ thực hiện được; nếu được
Như Lai cứu độ thì đó là một phước lành của con vậy.
Dịu
dàng Ðức Phật cầm tay Ni Ðề dắt đến bờ sông gần đấy…
Tắm rửa xong, Ni Ðề theo Ðức Phật trở về Tịnh xá Kỳ
Hoàn được Phật và Giáo Hội thâu nạp cho là Tỳ kheo, qua
một thời gian tinh tấn tu luyện vị Tỳ kheo mới nhập đạo
này đắc quả Tu Ðà Hoàn rồi lần chứng quả A La Hán.
Bấy
lâu Ba Tư Nặc vương bất bình và không hiểu tại sao Ðức
Phật là người của dòng hào thế Thích Ca mà lại độ đệ
tử phần nhiều là những người ở hai giai cấp dưới. Nay
lại được nghe Ðức Phật vừa độ cho Ni Ðề, ông càng
bất bình hơn nữa. “Ðảnh lễ - ai chứ ta không đảnh lễ
anh chàng Ni Ðề được…!”. Ba Tư Nặc vương lẩm bẩm như
vậy. Càng nghĩ càng tức giận, Ba Tư Nặc vương liền cùng
với các vị cận thần đi đến Tịnh xá Kỳ Hoàn để xin
Phật đừng độ cho Ni Ðề là Tỳ kheo và từ rày về sau
đừng cho những người thuộc cấp hạ tiện (theo quan niệm
của ông và những người trong hai giai cấp trên) xuất gia.
Vừa
đến tam quan Tịnh xá Kỳ Hoàn, thấy một vị Tỳ kheo đang
ngồi trên một hòn đá lớn khâu vá chiếc áo cũ, Ba Tư Nặc
vương liền đến nhờ vị Tỳ kheo ấy vào bạch Phật xin
cho ông yết kiến. Nhận lời, vị Tỳ kheo liền xuyên qua hòn
đá và ẩn mình đâu mất, làm cho Ba Tư Nặc vương và các
cận thần hoảng sợ nhưng vô cùng khâm phục!
Một
lát sau, cũng từ hòn đá ấy hiện ra, vị Tỳ kheo khi nãy
trả lời cho Ba Tư Nặc vượng:
- Ðại
vương cứ vào, Ðức Thế Tôn đã hứa cho.
Ba
Tư Nặc vương bái chào rồi đi ngay vào tịnh xá.
Ðảnh
lễ Ðức Phật xong, Ba Tư Nặc vương liền hỏi:
- Bạch
Thế Tôn! Thầy Tỳ kheo vừa xin cho con vào yết kiến là ai
và tên là gì mà có thần thông quảng đại như vậy? Thầy
đã xuyên qua đá cứng một cách nhẹ nhàng, tự tại…
- Ðại
vương! Ấy là Ni Ðề, người gánh phân ở thành Xá Vệ mà
ta đã độ cách đây hơn một tháng, nay đã chứng quả A La
Hán nên đã có những thần lực như vậy.
Thấy
Ba Tư Nặc vương im lặng và ra chiều suy nghĩ, Ðức Phật
ôn tồn nói thêm:
- Này
Ðại vương! Trong đất bùn nhơ nhớp nở lên những cánh sen
đầy hương thơm tinh khiết. Ðại vương có thích và có ưa
hái khống?
- Bạch
Thế Tôn! nếu là hoa đẹp hương thơm thì không ai không quý
và không muốn hái để ngắm nghía và trang hoàng cả.
- Ðại
vương! Cũng vậy tuy là người ở trong các giai cấp dưới
(ấy là do con người phân chia), nhưng nhờ sự trau dồi đức
hạnh, rèn luyện trí tuệ mà trở thành Thánh Hiền thì người
trí tuệ có nên cung kính cúng dường không?
- Bạch
Thế Tôn! Ðã là Thánh Hiền thì rất đáng cho phàm phu chúng
con cung kính cúng dường lắm!
- Lành
thay! Ðại vương quả là người sáng suốt biết quý trọng
“giá trị chân thật” của con người.
Mặt
trời làm tan mây mù ra sao thì những lời của Ðức Phật
cũng làm tan những ý niệm khinh rẻ chán ghét Ni Ðề và các
người trong hai giai cấp dưới của Ba Tư Nặc vương thế
ấy… Bắt đầu từ đó ông vô cùng kính phục tài năng và
đức hạnh của Ni Ðề, vị Tỳ kheo mà ông đã gặp ở tam
quan.
Ba
Tư Nặc vương lại xin Phật cho thỉnh A La Hán Ni Ðề ngày
mai vào nội thành để giáo hóa cho hoàng tộc và nhân dân
và cũng để ông cúng dường luôn thể. Phật hứa cho, Ba Tư
Nặc và các vị cận thần đảnh lễ và trở ra tam quan để
trực tiếp cung thỉnh vị A La Hán thần thông tự tại khi
nãy.
Ðược
vị A La Hán này chấp nhận, Ba Tư Nặc vương vô cùng sung
sướng. Trên đường về ông không ngớt tán thán Ðức Phật,
đấng hiện thân của bình đẳng và Giáo Hội của Ngài là
một đoàn thể đầy đủ tài năng và đức độ.
Thiện
Châu
Không
có giai cấp khi trong máu người cùng đỏ.
Không
có giai cấp khi trong nước mắt người cùng mặn.
Vui
Trong Ðau Khổ
Một
hôm, Ðức Phật cùng đệ tử vào thuyết pháp trong thành La
Duyệt Kỳ, lúc ra về gặp chành thanh niên đang lùa một bầy
bò vừa ăn no, chúng nhảy vọt vào húc nhau. Thấy vậy, Ðức
Phật nói mấy bài tụng sau đây:
“Người
đi chăn đưa roi chăn, lùa bầy bò; Cũng như thế già chết
chăn nuôi và lùa kéo sinh mạng đi mà nào ai có biết!
Xưa
nay, hàng trăm hàng ngàn người chứ không phải một, chứa
chất của cải cho lắm, cung dưỡng thân thể cho nhiều, nhưng
rồi không ai khỏi điêu tàn chết chóc.
Sống
nghĩa là ngày đêm sinh mạng bị công kích, bị tước dần,
cho nên sự sống bị tiêu mòn đi in như bờ đất bị nước
soi lở”.
Lúc
về Tịnh xá, tôn giả A Nan bạch Phật:
- Bạch
Thế Tôn! Vừa rồi trên đường về Ðức Phật có nói ba
bài tụng nhưng chúng con không hiểu hết ý nghĩa, xin Thế
Tôn từ bi chỉ giáo cho.
- A
Nan! Trên đường về vừa rồi ông có thấy người lùa bầy
bò không?
- Bạch
có.
- Người
ấy là người thợ thịt. Bò của anh ta có đến ba ngàn con,
cứ ngày lùa ra ngoài thành tìm nơi cỏ tốt cho ăn rồi lựa
con nào to béo thì làm thịt để bán. Giết hơn một nữa rồi
mà bầy bò ấy không con nào biết số phận của mình ra sao
cả. Chúng vẫn thản nhiên vui vẻ, húc nhau, nhảy vọt, kêu
rống, ăn chơi… Ta cảm thương chúng nó nên mới nói mấy
bài tụng vừa rồi.
Nhưng
A Nan nầy! Có phải riêng chỉ người chăn bò và bầy bò ấy
mới như thế đâu, nhân loại cũng có lắm người vùi mình
trong hoàn cảnh tương tợ như thế. Họ chấp trước “Bản
Ngã”, không biết bản ngã chỉ là sự chuyển biến liên
tiếp, vì thế, họ tham lam dục lạc cung dưỡng thân xác,
rồi sung sướng khoái chí họ sát hại lẫn nhau, húc chết
sự sống của nhau mà không biết là mình đang húc nhau với
cái chết! Trong khi đó, bên cạnh sự sống, vô thường chết
chóc lanh lẹ tiến đến, thế mà họ vẫn ngang nhiên không
hay không biết, có khác gì bầy bò kia?
Phật
dạy như thế, trong số được nghe có những người xưa nay
cung dưỡng thân thế quá đáng liền tỉnh ngộ, tự cố gắng
khuyến khích mình sống theo sự thật. Nhờ thế, nên không
bao lâu họ đều chứng được vô sanh.
Hồng
Mai
Một
ngày đã qua, thế là chúng ta đã bước gần đến cái chết
một bước, mạng sống cũng giảm lần. Như cá ít nước có
vui gì! Ta phải siêng năng tu tập như cứu lửa cháy trên đầu.
Nên nghĩ đến vô thường, cẩn thận đừng có buông lung!