Phần
10
46/
Một lòng vì đạo
47/
Nai hiền
48/
Năm giọt mật
49/
Ðức Phật với con voi dữ
50/
Công chúa Nhật Quang
Một
Lòng Vì Ðạo
Cũng
một mùa xuân trong sáng đẹp đẽ như hôm nay nhưng là một
mùa Xuân xa xăm lắm, một vị Quốc vương có tiếng nhân từ
vui vẻ, ngự giá về các làng mạc thôn xóm, thăm viếng quần
chúng và tặng quà tết cho kẻ nghèo. Ngài cùng chung vui với
muôn dân. Ðó còn là một dịp để nhà vua được tìm hiểu
đời sống và tâm tình của dân.
Khi
ra đi ngài vui vẻ bao nhiêu, khi trở về Ngài lại buồn rầu
lo âu bấy nhiêu.
Nhà
vua thường khuyến khích mọi người phụng thờ Tam bảo, thực
hành phép ăn chay, làm các việc thiện, hiếu thảo với cha
mẹ, thuận hòa với anh em. Ngài tha sưu thuế cho tất cả những
ai thực hành theo lời Ngài khuyên bảo.
Mọi
người đều răm rắp làm theo.
Nhưng
có ngờ đâu, bề ngoài họ mạng một lớp “đạo đức giả”
để che đậy bao nhiêu điều xấu xa, hung ác, nham hiểm ở
bên trong. Nhờ có cuộc kinh lý trong ngày Xuân hôm ấy ngày
mới thấu rõ được lòng người. Từ đó Ngài luôn luôn suy
nghĩ để tìm một giải pháp cải thiện dân chúng một cách
hoàn bị.
Một
tuần sau gương mặt Ngài trở lại tươi vui như trước. Rồi
khắp dân chúng được ban truyền sắc dụ của nhà vua: “Kể
từ nay ai còn ăn chay niệm Phật sẽ bị tội xử tử, còn
người nào không theo đạo Phật được tự do, an phần chức
nghiệp”.
Ðương
nhiên những kẻ giả tâm đều trở lại hành động như cũ,
không còn phải che đậy một chút gì.
Tuy
thế, sáng kia người ta dẫn đến sân triều một cụ già
tả tơi yếu đuối, cụ này đã không tuân lệnh nhà vua vẫn
quy ngưỡng theo đạo Phật. Cụ nghĩ rằng: “Lâu nay ta nghèo
khổ trọn ngày chỉ có một bữa cơm rau nhưng được quy y
Tam bảo, được nghe giáo lý của Chư Phật, lòng ta sung sướng
vô cùng. Còn dẫu sống một cuộc đời sung túc trên châu
báu ngọc ngà hay có được lên cõi Thiên đàng hưởng thụ
mãi mãi cuộc sống Thần tiên đi nữa mà không được nghe
đến một câu kinh, Phật, đối với ta cũng chỉ là ngục
hình”.
Cụ
già khẳng khái tâu:
- Tâu
Bệ hạ, bần dân này đã có tội không tuân lệnh của Ngài
xin Ngài cứ việc chặt đầu.
Nhà
vua phán:
- Nếu
người biết tự hối và thi hành theo sắc lệnh mới của
Trẫm, Trẫm sẽ tha tội và phong chức tước cho. Còn kẻ làm
dân mà không tuân theo quốc pháp Trẫm sẽ xử chém đặng
răn kẻ trái phép về sau.
- Tâu
Bệ hạ, nếu bỏ chánh pháp mà làm đến bực vua chúa, hưởng
thụ tất cả mọi khoái lạc trong cõi Nhân Thiên, bần dân
này cũng không ham.
- Ngươi
cãi lệnh ta sẽ truyền đem xử tử ngay tức khắc.
- Tâu
Bệ hạ, trong Kinh Phật có dạy: “Nếu chúng sanh tự gieo
mình vào ba đường ác thì khó được làm người và có làm
người chăng nữa cũng không thể sanh vào nước có đạo đức,
không xem được Kinh Phật, không gặp được các cao Tăng để
cúng dường và nghe pháp”. Nay tôi được biết pháp Tam bảo,
hiểu được chút ít Kinh Phật, vậy có lẽ kiếp trước tôi
đã dày công tu luyện lắm. Thế thì dẫu Bệ hạ có bỏ tôi
vào nước sôi hay nung vào lửa đỏ đi nữa tôi vẫn giữ
trọn một niềm theo Tam bảo mà thôi.
- Ngươi
là ai mà còn khí khái với ta? Trước cái chết mà vẫn còn
hùng hổ.
- Tôi
tên là Thanh Tiến Sử, tâu Bệ hạ cứ việc xử tội, tôi
không bao giờ oán than hay van xin một điều gì.
Quân
sĩ hãy đem chém ngay ông lão Thanh Tiến Sử nầy.
Rất
nhanh, các tên lính xáp đến dẫn cụ già ra pháp trường.
Trước
pháp trường, bên cạnh những lưỡi gươm sáng quắc đang
sẵn sang đưa lên cổ, Thanh Tiến Sử vẫn thản nhiên vui vẻ
và khuyên người con trước khi vĩnh biệt: “Con ơi! Con sanh
gặp thời có Phật pháp, biết sùng bái Tam Bảo là một điều
phước đức của con. Con hãy vững dạ tu học, noi gương cha
đây, dẫu đầu cha phải rơi vì sắc lệnh nghiêm ngặt của
nhà vua. Cha vẫn vui lòng và quyết theo Chánh đạo không bao
giờ lãng bỏ”.
Vừa
dứt lời, vị cận thần truyền cho quân lính dẫn cụ trở
về triều.
Khi
vị cận thần về tâu lại lời khuyên con của Thanh Tiến
Sử, nhà vua rất cảm động và vô tình những dòng nước
mắt tươm chảy trên đôi má nhăn nheo của vị vua hiền đức.
Ngài bước xuống bệ rồng ra tận cửa thành ôm lấy Thanh
Tiến Sử. Mọi người đều ngạc nhiên. Cụ già cũng trố
mắt nhìn vua vì không hiểu chuyện gì. Nhà vua đưa cụ vào
cung một cách ân cần vui vẻ, song Thanh Tiến Sử cũng chưa
rõ điều gì nên chỉ biết cúi đầu sát đất lạy tạ ơn
vua. Nhà vua liền đỡ lấy tay Thanh Tiến Sử rồi thân mật
bảo: “Trong quốc dân này chỉ có một Thanh Tiến Sử! Chỉ
có một Thanh Tiến Sử thuần thành theo Phật pháp, quyết một
lòng vì đạo. Ngoài ra đều giả dối, đều vụ lợi. Chiếu
dụ của Trẫm ban ra chỉ cốt để thử lòng người mà thôi.
Vậy từ nay xin ngươi hãy sống cùng Trẫm, giúp Trẫm trong
việc truyền bá Phật pháp thức tỉnh nhân tâm”. Rồi cả
hai chuyện trò vui vẻ. Sau đó nhà vua phong cho Thanh Tiến Sử
chức Tướng quốc.
Câu
chuyện ấy được truyền tụng trên môi quần chúng lan ra
tận các hang cùng ngõ hẻm, và cũng từ đó tiếng chuông cảnh
tỉnh ngân vang trong tâm hồn mọi người.
Chẳng
bao lâu dân chúng được sống trong cảnh êm ấm, thân yêu,
an hòa, vui vẻ, ai ai cũng đều quay về với Ðạo Phật.
Vị
Quốc vương ấy chính là tiền thân của Ðức Thích Ca.
Ðức
Thượng
Thà
có đạo đức mà chết, chớ không chịu mất đạo đức để
được sống.
Nai
Hiền
Ngày
xưa…
Ngày
xưa trong một khu rừng ven bờ sông Hằng Ðộ, xuất hiện
một con Nai hiền. Nai đẹp vô cùng, sừng màu trắng vươn
cao như pha lê lóng lánh: da óng ánh vàng như gấm đính thêm
từng hành minh muôn màu. Cả thân hình Nai thanh tú ấy có thể
đã tập trung hết mọi vẻ đẹp của trần gian. Nhưng đôi
mắt Nai buồn lắm thế? Có cái chi u ẩn như thương cho cuộc
sống mê lầm.
Nai
chính là hiện thân của một vị Bồ tát. Nai nghe và nói được
tiếng người. Thú trong rừng thương Nai, quay quần bên Nai
như một bà mẹ hiền, theo lời Nai như một bậc thầy sáng
suốt. Nai đem tình thương hòa vào cuộc sống muôn loài, núi
rừng vì thế ít nhuộm màu hồng, con cháu trong rừng chỉ
ăn cỏ cây.
Vốn
biết thân mình là một miếng mồi thế nhân hằng ao ước,
Nai chỉ ở trong rừng sâu, không để cho loài người được
thấy. Những đêm trăng sáng. Nai vui cùng muôn thú cảnh thanh
bình. Nhưng mà nếu cuộc đời chỉ là có thế thì còn đâu
nước mắt đầy vơi?
Có
một sáng mùa thu, rừng vừa qua cơn mưa lớn. Nước sông Hằng
chảy mạnh. Những dòng suối nhỏ từ lâu vẫn hiền hòa róc
rách giữa những triền đá trắng phau, hôm nay mở rộng bờ
hung hăng như trăng lớn phun nước vào dòng sông cả. Nai đủng
đỉnh xuống bờ sông uống nước.
Nhìn
dòng nước cứ mãi tuôn đi, bọt trắng tóe tung trên mặt
sông một màu xanh biếc, Nai bỗng thấy lòng ngập tràn chua
xót. Không biết bao giờ vạn vật mới thôi quay cuồng trong
bóng tối vô minh để trở về với thanh tịnh? Nai tử nhủ:
“Nếu cần thì thân này có tiếc chi?”.
Bỗng
một tiếng kêu cứu từ xa vọng lại:
- Ai
cứu tôi với! Trời ơi, tôi sẽ chết mất giữa dòng sâu.
Tiếng
kêu càng lúc càng rõ. Nai ngước mắt nhìn ra giữa dòng sông
Hằng hung bạo: Một người đang chới với trên một thanh
củi mục. Có lẽ y đã chìm đò ở phía trên kia và nhờ niú
được thanh củi mục mà khỏi chết. Nhưng tình thế thì cũng
đã ngặt nghèo lắm. Y nổi lên chìm xuống, đôi tay co quắp
một cách tuyệt vọng. Chắc sức cũng đã yếu rồi. Tiếng
kêu càng lúc càng khan, mất dần trong tiếng reo hát điên cuồng
của sóng nước. Nai biết giờ phút quyết định sự sống
còn của người kia đã đến. Không lẽ làm ngơ? Lòng Bồ
tát bỗng dạt dào một tình thương cao cả. Ðau khổ của
người là đau khổ của mình, cứu người là tự cứu mình.
Nhìn người quằn quại ai thấy vui chi?
Nai
lao nhanh xuống dòng nước lũ. Tình thương đã làm nên tất
cả. Không quản nhọc nhằn và nguy hiểm, Nai lướt qua sông
lớn và cõng người kia lên bờ. Người kia tỉnh lại, ngạc
nhiên vô cùng khi biết một con Nai đẹp đã cứu mình thoát
nạn. Quá cảm động y quỳ xuống đội lên đầu công đức
của Nai. Y nói:
- Hỡi
vị Nai thần, tôi không biết làm sao để nói tất cả tấm
lòng. Ngài đẹp lắm, nhưng chính lòng vị tha của Ngài mới
đẹp hơn cả. Kể từ nay, thân tôi là của Ngài, tùy Ngài
sử dụng.
Nai
hiền rưng rưng nước mắt. Quả thật không ngờ lại có người
biết ơn đến thế. Nai nói:
- Ông
ơi, tôi tưởng sẽ không bao giờ tìm được một người tốt
ở cõi thế sa đọa này. Lòng biết ơn của ông đã làm cho
tôi vô cùng sung sướng. Nhưng nói làm chi đến chuyện trả
ơn. Ông còn vợ con ở nhà, không nên nán lại đây lâu, chắc
họ đang nóng lòng chờ đợi. Nhưng ông đừng đem chuyện
gặp tôi đây mà nói lại với ai, họ sẽ không ngại gì mà
đến tìm bắt tôi. Hãy sống vì đời, vì người. Là thú
rừng, tôi không biết nói lời gì đẹp đẽ hơn.
Người
kia hứa chắc với Nai, xá tạ xong y lên đường về chốn
cũ.
Lúc
y về đến thành chính là lúc Hoàng hậu vừa chiêm bao thấy
một con Nai vàng kỳ dị. Bà thấy trên một ngôi báu cao sang
có một con Nai hiện đang giảng pháp bằng tiếng người. Mình
Nai gắn đầy châu ngọc, da Nai óng ánh như những lớp gấm
đẹp nhất của đời. Hoàng hậu liền đem chuyện ấy thỏ
thẻ với nhà vua.
Bà
nói:
- Tâu
Bệ hạ, thần thiếp nghĩ không còn vật chi quý giá hơn con
Nai vàng trong mộng ấy. Nếu vườn thượng uyển này mà có
nó… trời ơi, Bệ hạ hãy tìm cách bắt đi!
Vua
tin ngay lời Hoàng hậu, ở đời đã có được mấy người
đàn ông không nghe lời vợ, không nghe lời thỏ thẻ của
một người đàn bà, nhất là người đàn bà đẹp? Thế là
vua cho truyền khắp nước:
“Trong
sử có chuyện một con Nai vàng mình đầy châu ngọc. Ðã nhiều
người thấy nó, nhưng không biết bây giờ ở đâu. Nếu ai
bắt được, hay chỉ cho người khác bắt, vua sẽ thưởng
cho quyền cai trị một làng giàu có và vô số bạc vàng”.
“Quyền
cai trị một làng giàu có và vô số bạc vàng”. Ai mà không
ham? Người được Nai cứu lắng nghe cho rõ lời truyền rao
của vua rồi bất giác y nhìn xuống chiếc áo đã sờn, đôi
hài há miệng: Y nghèo quá! Một tiếng thở báo trước cơn
giông tố của lòng. Y biết chắc chắn vợ con y đã hai hôm
rồi nhịn đói. Ngay những lúc có y ở nhà, nai lưng người
ra đối lấy bát cơm, gia đình y vẫn không lúc nào no đủ,
huống hồ là y đã đi vắng những hai ngày.
Y nhắc
lại lời truyền rao: “Nếu ai bắt được, hay chỉ cho người
khác bắt, vua sẽ thưởng cho quyền cai trị một làng giàu
có và vô số bạc vàng”. Có thể như thế được không?
Sung sướng giàu sang đến thế ư? Trong lòng con người vừa
thọ ơn bỗng nổ ra một trận chiến gay go giữa tham lam và
đức hạnh. Ðức hạnh như nói với y: “Anh có thể quên
được công đức của Nai hiền sao? Nếu không có Nai thì bây
giờ có anh không? Cứ bội ước đi rồi không còn một kiếp
nào anh cất đầu lên được!”. Nhưng tham lam nhỏ to than
thỉ: “Hãy chỉ chỗ của Nai đi! Anh sẽ được vinh hoa phú
quí, vợ con anh sẽ được no đủ”.
Lòng
y thật như guồng chỉ rối. Y không biết nên theo đạo đức
hay giàu sang, trung thành hay phản bội. Con quỷ tham lam gớm
guốc vẫn cứ kề bên than thỉ. Cuối cùng, quỷ tham đã thắng.
Một chút lương tâm còn nuối lại trong lòng, y tự nhủ:
- Ta
quyết chỉ chỗ Nai ở cho nhà vua. Kể ra thì cũng tàn nhẫn
thật nhưng còn dịp nào để được giàu sang. Bạc tiền và
danh vọng trên hết!
Y cười
lên sặc sụa, cái cười khoái trá của một con người sắp
thỏa mãn. Nhưng y có biết không, bắt nguồi từ cái cười
ấy, gương mặt y từ hiền lành chất phát bỗng trở thành
gớm ghiếc lạ thường. Nếu soi gương, chắc y ngạc nhiên
về sự đội thay của mình lắm.
Y vào
cung tâu vua biết chỗ ở của Nai hiền. Như mở nước cờ,
vua ra lệnh đi săn Nai ngay buổi chiều ấy, khu rừng bị quân
lính nhà vua vây kín. Từng đàn chó dữ ào ạt sủa cắn vang
động cả một vùng. Chúng lục lội từng hóc núi, bụi lùm.
Tiếng kèn săn rền vọng lên như một lời kết tội.
Nai
choàng dậy trong giấc ngủ. Sau cơn hoảng hốt ban đầu, Nai
biết mình không thể thoát khỏi tay người hung ác. Cũng vừa
lúc ấy, vua và người được Nai cứu đến kề bên.
Y đưa
tay chỉ chỗ cho Vua:
- Ðó,
Bệ hạ xem, con Nai vàng kỳ dị!…
Những
tia nắng cuối của chiều thu chiếu lên mình Nai lộng lẫy,
từng hang châu ngọc lóe sáng muôn màu. Vua say nhìn Nai đẹp.
Cung tên đã sẵn sàng, bọn lính định bắn quị linh thú,
nhưng vua ngăn lại:
- Ðừng
bắn, hãy bắt sống cho ta!…
Nhưng
chưa đuổi bắt thì Nai đã tự dẫn mình đến trước mặt
vua và nói lớn:
- Thưa
Ngài, tôi không hiểu tại sao Ngài có thể tìm được chỗ
trú của tôi!
Nhà
vua ngạc nhiên – có thể nói là sửng sốt – vì Ngài chưa
từng thấy Nai nào lại biết nói tiếng người. Vua đáp:
- Hởi
Nai thần, chính người này đã chỉ cho ta.
Mặt
Nai và vua đồng một lúc quay về người được Nai cứu. Bỗng
nhà vua kêu lên kinh hãi: mặt người kia chỉ trong một khắc
trở thành lở loét gớm ghê. Mủ máu chan hòa trên gương mặt
trước kia hiền lành chất phát.
Nai
lên tiếng giảng:
- Thưa
Ngài không có gì lạ cả. Ðó chính là cái quả báo mà nguyên
nhân là sự vong ân của y. Thưa Ngài, người này trước kia
đã được tôi cứu khỏi chết đuối, nhưng y đã quên lời
hứa mà chỉ chỗ của tôi cho vua. Tham lam đã làm mờ mắt
nhân gian. Trong bóng tối vô minh ác nghiệt con người quên
hết liêm sĩ và ân tình. Ôi tham lam, gốc nguồn của bao tội
lỗi! Vua chợt hiểu. Ngài bỗng thấy ghét cay ghét đắng người
được cứu. Quay mũi tên về phía y, vua hét lên dữ dội:
- Kẻ
vong ân bội nghĩa kia, mi đã làm nhơ nhuốc danh người. Ta
quyết vì đời cho mi chết! Dây cung trương lên, nhưng Nai hiền
đã đến chận phía trước. Mình Nai đã biến thành bình phong
che chở cho người kia đang run như một cái đuôi thằn lằn.
Nai nói với vua:
- Không
nên Ngài ạ! Quả báo bao giờ cũng đến với người gây nhân
như hình với bóng. Không cần và cũng không có một người
nào thưởng phạt hay định đoạt quả báo cả. Chính gương
mặt lở loét kia đã trừng phạt y nhiều lắm. Tôi xin Ngài
hãy tha cho y. Phần tôi, tôi đang chờ Ngài quyết định.
Vua
bỗng thấy ánh sáng đạo. Ngài thấy kính phục Nai hiền cùng
tột. Ngài kêu lên:
- Ðối
với kẻ mưu hại mình Nai còn tỏ lòng từ bi cao cả như thế.
Nai ơi, trong lốt thú rừng man dã ấy, chính Nai mới thật
là người, một con người đúng nghĩa. Còn chúng tôi đây,
Tuy mang lốt người, nhưng quả thật chưa bằng muông thú.
Rồi
vung tay ra hiệu, vua hét vào tai tên phản bội:
- Ta
tha cho ngươi. Hãy đi đi, đi cho khuất loài người.
Y lầm
lũi bỏ đi, mặt cúi gầm xuống đất. Bóng y đổ dài trên
nền cỏ rừng, lưng y quay lại phía mặt trời, y đang bước
lần, bước lần vào bóng tối…
Vua
nói với Nai:
- Thưa
Ngài, Ngài đã hoàn toàn tự do. Từ nay, không ai trong nước
này lại động đến thân Ngài nữa.
Về
phần tôi, những lời cao đẹp của Ngài đã làm tôi trong
phút chốc giác ngộ được chân lý. Tôi sẽ khắc những lời
đó vào tim và đem chí hướng từ bi của Ngài gieo vào lòng
nhân loại.
Thế
rồi vua từ giả Nai, kéo quân về chốn củ. Rừng trở lại
thanh bình như xưa. Người và vật từ nay hiểu nhau, không
còn tìm cách sát hại nhau nữa. Rừng già thổi vọng tiếng
kèn săn hung hăng, máu hồng thôi hoen trên cỏ màu xanh. Con
cháu trong rừng ngày một đông thêm, phơi phới lớn lên, không
lo loài người tàn bạo.
Và
đêm đêm, lúc trăng ngà dọi bóng xuống rừng hoang, đàn thú
hiền lành quây quần chung quanh Nai như để nghe lời giảng
đạo.
Huyền
Thanh
Ở
hiền thì gặp lành,
Hễ
ai làm dữ tan tành ra tro.
Năm
Giọt Mật
Ngày
xưa có một tên tử tù vừa vượt thoát khỏi lao ngục, chạy
bán sống bán chết. Ðàng sau hắn, hai con voi say đang đuổi
theo, do sự tổ chức truy nã của nhà cầm quyền.
Trong
cơn hốt hoảng, chẳng may hắn ta rơi tõm xuống một cái giếng
sâu ở dọc đường.
Nhưng
trong cái rủi ro cũng còn được chút may mắn: Khi thân mình
chưa rơi tới đáy, không biết quờ quạng vùng vẫy như thế
nào mà hắn ta níu được một cái rễ cây mọc thòng xuống
giếng.
Hú
vía ! qua giờ phút nguy ngập ấy, hắn tưởng chừng như đã
yên thân: hai con voi sẽ chẳng biết mình ở đâu mà tìm. Nhưng
ý nghĩ ấy thoạt biến mất theo hơi thở: hai con voi say đã
đến bên miệng giếng, gầm rống vang động, hút phăng tất
cả những cây cỏ mọc trên miệng giếng như để thị uy.
Nếu
hắn mà lên thì phải chết!
Hắn
hốt hoảng quá. Nếu sợi dây đang đeo mà đứt thì thật
là chắc chết mười phần. Hắn ta tính phăng tuột lần xuống
đáy giếng để may ra có chút hy vọng nào không. Nhưng bất
đồ nhìn xuống đáy giếng sâu thẳm, hắn ta thấy ba con rồng
đang múa vuốt, giơ nanh, miệng phun lửa dữ, như muốn bay
đến nuốt trửng hắn. Ðiếng hồn, hắn đành phải cố bám
chặt sợ dây, đeo lủng lẳng giữa chừng. Nhưng có phải
được vậy là yên thân đâu? Ác nghiệt làm sao, kề trên
miệng giếng, hai con chuột cống xù, một đen một trắng,
đang đua nhau ráp cắn sợi dây. Ác nghiệt hơn nữa là bao
quanh thành giếng, theo những lỗ trũng gần hắn nhất, bốn
con rắn độc bây giờ xuất hiện, ngóc đầu, thè lưỡi toan
mổ.
Những
biến cố dồn dập xẩy tới tấp làm cho hắn ta hết phương
trốn tránh, ý nghĩ liều mạng lại hiện đến: bề nào cũng
không khỏi chết, thà leo ngược trở lên mặt đất, rồi
bỏ chạy, dù có chết cũng còn thây. Thế là hắn ráng phăng
lần leo ngược trở lên. Khốn khổ quá, phần lo sợ, phần
đuối sức, bồ hôi bồ kê ướt dầm. Miệng khô cổ cháy,
hắn ngước mặt lên trời mà than rằng: “Trời sao nỡ hành
hạ ta đến nông nỗi này”.
Càng
mệt, càng thở, hơi thở càng lúc càng ngắn dần; thở bằng
mũi không kịp, hắn phải há miệng để thở phụ, trong giờ
phút mạng cùng tuyệt vọng ấy, bỗng một bầy ong mật bay
ngang qua làm rơi vào miệng hắn 5 giọt mật… Hắn ta chíp
ngay, chắp chắp thấy ngon ngon… mê tít… và trong giây phút,
quên mất bao nhiêu sự nguy nan đang bao vây hắn…[1]
Người
ta có thể quên bẳng đi được tất cả bao nhiêu khổ sở,
đau đớn, khi người ta nhận được chút ít an ủi bằng Danh
lợi, Tiền tài, Sắc đẹp, Tiếng khen, Ăn ngon, Ngủ kỹ.
Chỉ
vì năm giọt mật “Ngũ dục” không đáng giá trong lòng lúc
dục vọng đang khao khát trông chờ, mà người trong giếng
có thể quên đi được bao nhiêu sự nguy hiểm đang bao bọc
quanh mình; loài người vì năm món dục lạc mà quên đi tất
cả những gì khổ não, tạm bợ, mạng sống không khác nào
như chỉ mành treo chuông!
Ðức
Phật với Con Voi dữ
Thời
kỳ Phật hành đạo tại thành Vương Xá, kinh đô của Vua
A Xà Thế, vua A Xà Thế rất tham lam hung bạo, đã sát hại
vua cha để dành ngôi báu. A Xà Thế lại hay thù ghét và manh
tâm làm hại những kẻ trung lương nên thường lập vây cánh
bè đảng làm hậu thuẫn.
Trong
số bè cánh nhà vua lại có Ðề Bà Ðạt Ða em họ Ðức Phật.
Vị này cũng sẳn lòng ganh tỵ với kẻ khác, thấy Ðức Phật
được nhiều người cung kính, Ðề Bà Ðạt Ða cũng giả
cách tu hành như Phật, nhưng không hề được ai cung kính,
nên tức giận muốn tìm cách hại Phật. Nhưng những điều
không may có bao giờ đến với những người có lòng từ bi
cao cả, đấng Giác ngộ đã tu hành trong nhiều kiếp. Nhưng
chứng nào tật nấy, ông liền liên kết với vua A Xà Thế
cầu xin nhà vua cộng tác trong việc sát hại Phật. Nhờ sự
bằng lòng của nhà vua, nên Ðề Bà Ðạt Ða đến tại sở
nuôi voi năn nỉ với bọn nài: “Ta đây là bạn thân với
nhà vua, các người giúp ta việc này, ta sẽ xin nhà vua cho
lương cao chức lớn. – Sáng mai thầy Gotama (Ðức Phật) sẽ
đi trì bình khất thực qua đây, các ngươi cứ việc thả
voi hung dử Nalagiri ra để làm thịt thầy”.
Sáng
hôm sau, Ðức Phật cùng một số đệ tử đi vào thành Vương
Xá để trì bình khất thực, trông thấy bóng Ngài, bọn nài
thả voi Nalagiri ra. Dân chúng nội thành phải tán loạn, dày
xéo nhau mà chạy, lo sợ cho tánh mạng của mình, kẻ leo lên
cây người núp ở tường cao nhà kín. Sau khi đã tìm được
chỗ ẩn núp chắc chắn, những con mắt hiếu kỳ hay lo sợ
cũng cố tình mắt để nhìn cho được sự việc sắp xảy
đến.
Voi
thấy bóng người đàng trước, nó cong đuôi, thẳng vòi chống
tai xông tới như vũ bão. Các vị đệ tử thấy cơ nguy mới
bạch với Ðức Phật:
- Bạch
Thế Tôn! Con voi Nalagiri nó có tánh hung dữ và thù ghét loài
người đã đến nơi kìa! Ðức Phật vẫn thản nhiên dạy
rằng:
- Này
các Tỳ kheo, các người không nên sợ hãi. Không bao giờ một
vị Chánh Giác phải chết vì một tai nạn ghê gớm như thế.
Những đấng Như Lai chỉ tịch diệt khi thì giờ đã đến
bằng cái chết tự nhiên và vẫn sống mãi trong tâm linh mọi
người.
Trong
khi ấy có tiếng bàn tán nhỏ to của mọi người đang ẩn
núp. Những kẻ thiếu đức tin, u mê cho rằng: đó là một
sự hy sinh vô lý, nên thốt ra những câu đầy mỉa mai:
- Chà,
uổng quá, vị Sa môn kia trẻ đẹp như thế mà lại hy sinh
cho con voi hung dữ giết hại thì thiệt là một việc dại
khờ.
Nhưng
nhóm người có đủ đức tin hơn là hiểu biết chân lý đôi
chút thì cho rằng: đó là một cuộc thử thách, sự tranh đấu
giữa loài vật với vị Từ phụ của loài người.
Voi
hung hăng đã phóng tới trước mặt Ðức Phật, mọi người
phập phồng lo sợ. Nhưng Ngài vẫn điềm nhiên đem tất cả
lòng Từ bi vô lượng để đối lại với sự hung dữ của
con voi. Voi như bị một sức thôi miên huyền bí, từ từ hạ
vòi và quỳ ngay trước mặt Ngài.
Ðức
Phật dịu dàng thoa vào đầu quy y cho voi và nói:
- Này
voi ơi! Ngươi nên ăn ở hiền lành để đạt đến an vui chớ
nên hung hăng như trước nữa.
Voi
như hiểu được lời Ngài, từ từ lấy vòi hút tất cả
bụi đã bám vào châm Ngài và rải lên khắp đầu nó như
để chứng tỏ nó đã biến ăn năn và xin phục thiện. Ðoạn
cúi đầu đảnh lễ Ngài rồi trở về chuồng cũ.
Từ
đó về sau voi Nalagiri trở nên hiền lành dễ thương. Và đó
cũng là một trong những nguyên nhân làm cho Ðề Bà Ðạt Ða
biết hối hận! Vua A Xà Thế biết trở về với Chánh Pháp.
Tiến
Mạnh
Công
Chúa Nhật Quang
Công
chúa Nhật Quang là con thứ hai của vua Ba Tư Nặc nước Xá
Vệ.
Công
chúa rất đẹp, một vẻ đẹp thùy mị hơn hẳn các thiếu
nữ đương thời ở nước Xá Vệ; Công chúa lại rất thông
minh học đâu nhớ đấy. Không những công chúa sắc sảo về
môn nữ công mà còn tinh thông các triết lý học thuật; đức
hạnh công chúa cũng quán chúng, tuy sanh trong giai cấp vua chúa
cao sang, nhưng vẫn giữ thái độ khiêm tốn nhã nhặn, nhất
là đối với hạng nghèo khổ tật nguyền, công chúa thành
thật yêu mến và luôn luôn tìm cách giúp đỡ. Vì thế nên
công chúa được rất nhiều người kính trọng. Người nào
đã hân hạnh gặp công chúa một lần, họ sẽ nhớ mãi nụ
cười hiền hòa và lời nói thanh tao của công chúa. Ðối
với cha mẹ, công chúa thật là người con hiếu hạnh, nàng
hầu hạ vua và hoàng hậu hết sức chu đáo, và không bao giờ
nói một lời hay làm một việc trái ý vua và hoàng hậu.
Ba
Tư Nặc vương được một người con xứng đáng như vậy,
vua rất cưng quý, có thể nói công chúa Nhật Quang là viên
ngọc vô giá của vua nước Xá Vệ. Những cuộc quan sơn ngoạn
thủy của vua, công chúa đều được tham dự, mỗi khi quốc
sự rảnh rang, nhà vua thường đòi công chúa đến hầu chuyện,
hỏi những vấn đề thắc mắc công chúa đều trả lời trôi
chảy, nhà vua rất đẹp dạ.
Một
buổi chiều nhà vua đang dùng trà tại vườn ngự uyển, có
công chúa đứng bên cạnh, nhà vua nhìn con rồi vui miệng phán
rằng: “Khắp nước Xá Vệ này không ai được hạnh phúc
bằng con, đời con được như thế thật là hoàn toàn nhờ
sức của cha mẹ tác thành vậy”.
Công
chúa Nhật Quang thành thật trả lời: “Tâu phụ vương, công
ơn sanh dưỡng của Phụ hoàng và Mẫu hậu như trời bể con
không hề dám quên. Nhưng đời con được hạnh phúc như thế
này, con thiết tưởng cũng có ảnh hưởng của cha mẹ một
phần nào, nhưng phần lớn nhờ kiếp trước con đã tu nhân
tích đức nhiều vậy”.
Câu
nói của công chúa không ngờ đã chạm lòng tự ái của vua
Ba Tư Nặc quá mạnh, vua liền đứng dậy, lặng lẽ trở vào
cung.
Ðêm
hôm ấy, nhà vua không hề chợp mắt, suy nghĩ mãi lời nói
của công chúa, và vua rất bực tức, đứa con yêu và ngoan
ngoãn của mình chưa bao giờ trái ý mình dù là một cử chỉ
nhỏ nhặt, hôm nay lại xúc phạm đến lòng tự ái của mình,
có thể nói là không thừa nhận một lý thuyết (nghĩa là
hạnh phúc của con hoàn toàn do cha mẹ tác thành) mà ông cho
là muôn đời bất biến và ai cũng phải công nhận.
Muốn
bảo thủ thành kiến của mình, nên mới sáng tinh sương, Ba
Tư Nặc vương liền đòi viên cận thần thân tín bảo rằng:
ta cần một thanh niên trạc tuổi công chúa Nhật Quang mà hiện
sống trong một cảnh nghèo hèn, cơm không có ăn, áo không
đủ mặc, ngươi phải tìm cho ra một người có đủ điều
kiện ấy, dẫn về đây cho ta.
Ba
ngày sau, viên cận thần dẫn về một thanh niên hành khất,
mặt mũi khôi ngô, nhưng trong người chỉ mặc vỏn vẹn một
chiếc khố rách đến yết kiến vua Ba Tư Nặc. Vua rất mừng
ban thưởng viên cận thần xong, quay lại hỏi thân thế thanh
niên hành khất rồi bảo rằng: Ta thấy ngươi nghèo khổ,
chưa có gia thất, nay ta đem công chúa Nhật Quang gả cho ngươi,
ngươi được quyền dẫn công chúa đi đâu tùy ngươi.
Thanh
niên nghèo khổ kia không biết trả lời ra sao chỉ cúi đầu
vâng lệnh.
Vua
lại kêu công chúa Nhật Quang đến phán rằng: hôm kia con đã
nói: “Hạnh phúc của con hiện tại phần lớn là do con đã
tu nhân tích đức ngày trước. Nay ta muốn thí nghiệm lời
ấy, nên ta đã gả con cho một thanh niên hành khất, nếu con
có phước báo thì con cũng trở nên giàu có sung sướng. Con
hãy sửa soạn ngày mai lên đường với chồng con, khi nào
có chiếu chỉ mới được trở về cung”.
Với
nét mặt đầy nghiêm nghị của Vua Ba Tư Nặc vương, công
chúa không dám nói gì, chỉ yên lặng trở về hậu cung.
Sáng
ngày công chúa vào lạy cha mẹ, từ biệt mọi người, rồi
bình tĩnh ra đi với thanh niên hành khất.
Hoàng
hậu và thần dân đều thương xót và khóc lóc, lo ngại cho
số phận công chúa, nhưng ý vua đã quyết nào ai dám mở lời
khuyên can!
Ra
khỏi hoàng cung, công chúa hỏi thanh niên hành khất rằng:
Cha mẹ chàng đâu? Nhà cửa chàng đâu? Vì sao chàng lại nghèo
khổ đến thế?
Thanh
niên buồn rầu đáp: “Gia đình tôi trước cũng giàu có,
vì được cha mẹ cưng quý, tôi tiêu xài hoang phí, ham chơi
bời với chúng bạn, có học tập nhưng không đâu đạt gì,
đến khi cha mẹ qua đời, tôi bán hết ruộng đất nhà cửa,
hiện nay chỉ còn một sở vườn cách đây ba trăm dặm cỏ
lác mọc đầy, cho người ta mướn họ không mướn, bán họ
không thèm mua, hết của cải, không nghề nghiệp không biết
nghề gì nuôi thân, nên phải hành khất độ nhật. Hôm nay
tôi đang lang thang giữa đường, thì gặp một vị quan của
vua, ông ta hỏi cặn kẽ về gia thế tôi, rồi ông dẫn tôi
yết kiến nhà vua, không biết gì sao nhà vua lại đem công
chúa gã cho một kẻ nghèo hèn như tôi?”.
Vẫn
nét mặt ôn hòa công chúa nói với thanh niên hành khất rằng:
“Dù sao từ nay chúng ta cũng đã là vợ chồng, chúng ta phải
tìm phương kế làm ăn và trước hết phải tìm nơi tạm trú”.
Không
biết tìm chỗ nào khác, nên công chúa và thanh niên hành khất
liền dẫn nhau đến sở vườn của cha mẹ thanh niên để
lại - thật là một mảnh vườn hoang phế, cỏ lác um tùm
sỏi đá lởm chởm. Hai người bàn định cắt cỏ đốn cây
che một chiếc chòi nhỏ vừa tạm ở, những người quanh đấy
có người biết công chúa Nhật Quang nên cùng nhau đến giúp
đỡ công việc cho công chúa. Ðến khi đào đất để dựng
cột nhà, vừa đào được vài lát đất thì gặp ngay ba cái
chum lớn niêm khằn cẩn thận. Công chúa liền mở chum ra thì
thấy trong ba cái chum ấy, vô số là vàng bạc châu báu, công
chúa vui mừng sung sướng đem bán bớt một số châu báu rồ9
mướn ngườ9 dọn dẹp cỏ rác, trồng tỉa hoa quả, tạo
lập lâu đài… Vốn sẵn tánh hiền lành lạ9 sẵn lòng yêu
thương giúp đỡ mọi người, nên thợ thuyền tôi tớ rất
trung thành tận tụy, không bao lâu đám vườn hoang phế kia
đã biến thành một vườn hoa trăm sắc muôn màu; lâu đài
trang hoàng lộng lẫy, người vô kẻ ra tấp nập không khác
dinh thự của bậc đế vương.
Từ
khi công chúa rời khỏi cung điện, vua Ba Tư Nặc sanh lòng
hối hận đêm ngày trông nhớ, nhà vua đinh ninh rằng: Công
chúa lâu nay chắc gặp nhiều khổ sở và định đón công
chúa trở về cung để an hưởng cảnh đoàn viên phú quý.
Nhà vua liền phái một số cận thần tìm nơi công chúa ở
và dò xem đời sống của công chúa ra sao?
Sau
một thời gian dò xét, các cận thần về tâu với nhà vua:
“Công chúa ở cách xa cung điện nhà vua chừng ba trăm dặm
và hiện đang ở trong cảnh phong lưu sung sướng giàu có ức
triệu”. Vua Ba Tư Nặc không tin, liền đến nơi dò xét quả
đúng như lời các cận thần. Nhà vua nói với kẻ tả hữu
rằng: “Trẫm thấy đời sống của vợ chồng công chúa Nhật
Quang hiện tại, tuy trẫm là vua một nước, thật cũng không
sung sướng bằng”.
Nhưng
vua cũng băn khoăn thắc mắc không biết tiền kiếp công chúa
đã tu những nhân lành gì mà nay được nhiều phước báo
như vậy.
Vốn
nghe Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni là bậc đại giác, nên vua thân
hành đến Tịnh xá nơi Phật thuyết pháp, cung kính bạch rằng:
Bạch Thế Tôn! Nghe danh Ngài là bậc đại giác chứng nhất
thế trí, hiểu thấu việc trong ba đời, nay đệ tử có điều
nghi xin Ngài chỉ dạy: “Nhật Quang công chúa thứ hai của
đệ tử, không biết đời trước tạo nhân lành gì, mà ngày
nay tướng mạo đẹp đẽ, thông minh xuất chúng, giàu có sang
trọng… Ðệ tử đã gả công chúa cho một kẻ hành khất
nghèo hèn thế mà công chúa cũng đào được vàng bạc rồi
trở nên sang trọng hơn người.
Ðệ
tử cứ thắc mắc mãi mong Ngài từ bi khai thị cho đệ tử
rõ?”
Ðức
Phật Thích Ca nở nụ cười hiền hòa muôn thuở thong thả
dạy rằng: “Nghi vấn Ðại vương sẽ được tiêu tan sau
khi nghe câu chuyện này:
- Nầy
Ðại vương! Xưa kia khi Ðức Phật Ca Diếp ra đời, có hai
vợ chồng người lái buôn giàu có, người vợ rất tôn kính
Tam bảo, thường khuyến khích mọi người bỏ việc ác làm
lành, quy y Tam bảo, lại hay làm việc bố thí cúng dường,
nhất là đối với kẻ tàn tật, nàng hết sức thương mến
và tận tâm chăm sóc. Người chồng lại có tánh bỏn sẻn,
mỗi khi thấy vợ làm việc cúng dường bố thí, thì tỏ ra
thái độ bất bằng, tìm cách ngăn cản.
Một
hôm gặp ngày nguyên đán, người vợ thành tâm sắm sửa lễ
vật để cúng dường Tam bảo và bố thí kẻ nghèo trong ba
ngày, người chồng thấy vậy bực tức nói rằng: “Hãy để
dành tiền của lại sắm sửa thêm nhà cửa ruộng đất, chứ
làm những việc ấy thêm hao tốn, phỏng có ích gì!”. Người
vợ dịu dàng trả lời: “Của cải là vật vô thường ta
không bỏ nó, rồi nó sẽ bỏ ta; hơn nữa những kẻ nghèo
khổ hiện tại, theo trong kinh Phật dạy, đều do đời trước
tham lam ích kỷ, không biết dùng tiền của làm các việc phước
thiện; ngày nay đời sống của vợ chồng chúng ta tạm gọi
là khá giả, chúng ta nên dùng một số tiền làm các việc
phước thiện để bảo tồn hạnh phục tương lai cho chúng
ta, và cũng gọi là góp một phần trong công việc nghĩa chung
vậy”.
Nghe
mấy lời giải thích của vợ, người lái buôn mới tỉnh
ngộ và cảm động, từ đó anh không ngăn cản vợ mà lại
rất hăng hái trong công việc làm phước đức…
Này
Ðại vương! Vợ người lái buôn xưa kia chính là công chúa
Nhật Quang ngày nay, đời trước nàng thường khuyến khích
mọi người bỏ ác làm lành, quy y Tam bảo, nên được quả
báo thông minh xuất chúng; đời trước sốt sắng cúng dường
bố thí, nên nay được quả báo sung sướng giàu sang, nhiều
người mến phục; đời trước tận tâm săn sóc giúp đỡ
kẻ tàn tật, ngày nay được quả báo nhan sắc đẹp đẽ,
tướng mạo đoan trang.
Người
lái buôn xưa kia chính là chồng công chúa hiện tại, ngày
trước lúc chưa tỉnh ngộ, anh ta bỏn sẻn hay ngăn cản việc
làm phước thiện của vợ, nên ngày nay phải chịu đói rách
một thời.
Vua
Ba Tư Nặc nghe Phật kể rõ tiền kiếp của công chúa Nhật
Quang, nhà vua mới tỉnh ngộ, và rất thâm cảm đạo lý nhân
quả tội phước của Phật. Rồi vua cúi đầu đảnh lễ Ðức
Phật ra về.
Về
đến cung, công việc đầu tiên của vua là cho người đón
rước vợ chồng công chúa Nhật Quang về. Gặp công chúa,
vua Ba Tư Nặc khôn xiết vui mừng, vua không quên nói nhiều
lời hối hận, với công chúa Nhật Quang cũng rất sung sướng
được gần gũi phụng sự cha mẹ, và giúp vua cha trong việc
trau dồi đạo đức, bảo quốc an dân. Thanh niên hành khất
chồng công chúa, cũng được vua phong cho một chức quan cao
cấp trong triền đình.
Quảng
Tiến
Sướng
gì hơn sướng làm lành
Cho
bao nhiêu của để dành bấy nhiêu
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Nhà cầm quyền ví dụ cho vô thường. Hai con voi say: Sanh và
Tử. Sợi dây: Mạng căn. Rơi vào giếng: Sự hốt nhiên thọ
sanh. Hai con chuột đen và trắng: Ngày, đêm. Ba con rồng: ba
độc (tham lam, giận dữ và si mê). Bốn con rắn: Bốn đại
(đất, nước, gió, lửa). Năm giọt mật: năm món dục lạc
(tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống và ngủ nghỉ).