Phần
8
36/
Cây đèn kỳ lạ
37/
Quỉ La Sát
38/
Mụt ghẻ nói tiếng người
39/
Phước báo của sự bảo vệ sanh linh
40/
Nan Ðà Tôn giả
Cây
đèn kỳ lạ
Sau
lễ tiễn đưa Phật và các thầy Tỳ kheo trở về tịnh xá
Kỳ Hoàn, vua A Xà Thế cùng với đình thần trở lại nội
cung để dự buổi yến thân mật và bàn một vài việc cần
làm thêm trong ngày đại lễ hôm ấy:
Câu
chuyện mở đầu trong bữa tiệc là những lời sau đây do
vua A Xà Thế phát khởi.
- Các
khanh! Quả nhân rất bằng lòng và thỏa mãn về việc các
khanh đã lo liệu quá ư tươm tất trong buổi lễ cúng dường
Phật và giáo hội vừa rồi.
Hướng
đôi mắt về phía đại thần Kỳ Bà, Vua A Xà Thế nói tiếp:
Kỳ
Bà! Khanh nghĩ hộ quả nhân xem còn có việc gì đáng làm nữa
để quả nhân tận hiến tấc dạ chí thành lên đức Chí
Tôn và giáo hội - những người tận tụy trong công việc
giáo hóa chúng sanh nói chung, thần dân của quả nhân nói riêng,
trở về với ánh sáng chân lý.
Ðứng
dậy ngẫm nghĩ trong chốc lát, rồi đại thần Kỳ Bà thong
thả tiếp:
- Tâu
đại vương, ngoài sự cúng dường trai phạn và y phục mà
Ðại vương đã dâng lên đức Chí Tôn và giáo hội, theo thiển
ý của hạ thần thì không việc gì có ý nghĩa hơn việc cúng
dường ánh sáng. Vì ánh sáng trượng trưng cho trí tuệ, cho
sự giác ngộ; ở đâu có ánh sáng thì ở đó bóng tối tan
mất. Cũng như ánh sáng Phật và giáo hội đến đâu thì ở
đó si ám và tội lỗi đều tiêu sạch. Ngu ý của hạ thần
chỉ có bấy nhiêu, kính mong bệ hạ thẩm xét.
- Hay
lắm! Ý kiến của khanh rất chí lý! Tiện đây nhờ khanh thay
quả nhân sắm sửa cho thật nhiều đèn đuốc để tối hôm
nay dâng lên Phật và giáo hội tại tịnh xá Kỳ Hoàn.
Ðại
thần Kỳ Bà vâng thuận. Buổi tiệc bắt đầu và tiếp diễn
trong tình thân mật giữa nhà vua và các vị cận thần.
Chiều
hôm ấy, trên đường trở về xóm nghèo, một bà lão hành
khất gặp rất nhiều xe cộ, lính tráng, tấp nập khuân chở
những thùng dầu, đèn và cả những chiếc lồng đèn
ngũ sắc rực rỡ.
Hỏi
thăm, bà lão hành khất biết đó là lễ vật của nhà vua
đem cúng dường Phật và giáo hội.
Hình
tướng trang nghiêm của Phật và các thầy Tỳ kheo lại hiện
về trong óc bà. Bà vui hẳn lên và rất tán thành việc làm
có ý nghĩa của nhà vua. Và xét lại tự thân, thấy mình chưa
làm được một công đức nào đối với Phật và giáo hội,
bà tự nghĩ phải sắm phẩm vật để cúng dường mới được.
Thò tay vào bị, bà lão moi ra vỏn vẹn chỉ có hai tiền. Một
sự quyết định nhanh chóng trong lòng khiến bà hoan hỷ đi
ngay vào một cái quán gần đấy…
- Thưa
cậu! Làm ơn bán cho tôi hai tiền dầu thắp.
- Bà
mà mua dầu làm gì? Sao không mua đồ ăn lại mua dầu, nhà
cửa đâu mà dầu với đèn!
- Thưa
cậu! Tôi thường nghe các bậc hiền đức trong làng bảo:
“Ngàn năm muôn thuở mới có một đức Phật ra đời; người
nào có nhiều phước duyên lắm mới được gặp”. Hôm nay
tôi may mắn được gặp nhưng chưa có lễ mọn nào để dâng
hiến lên Ngài. Ðiều ấy làm tôi vô cùng ân hận. Nhân tiện
vua A Xà Thế sửa soạn đèn đuốc để dâng lên Ngài và giáo
hội, tuy nghèo khổ, tôi cũng xin nguyện đem hai tiền mới
xin được đây mua dầu dâng ánh sáng lên Ngài.
Nghe
bà lão hành khuất tỏ tấm lòng chân thiệt đối với Ðấng
Giác ngộ, người chủ quán nhìn bà một cách cảm mến và
hạ giọng: Hai tiền chỉ được hai muỗng, nhưng tôi xin tặng
bà ba muỗng nữa là năm, và cho bà mượn luôn vịt đèn này.
Mong bà nhân cho.
Sau
khi cám ơn người chủ quán, bà lão ra về với bao niềm hoan
hỷ vì được người khác biểu đồng tình và giúp mình trong
công việc phước thiện.
Trời
chưa tối hẳn, những cây đèn xinh xắn, lộng lẫy của nhà
vua đã được những đội thị vệ thắp sáng. Tịnh xá Kỳ
Hoàn như vui nhộn hẳn lên. Ðó đây vang lừng những điệu
nhạc dịu dàng, nhịp nhàng với lới ca ngợi của những cận
thần thay nhà vua tán thán công đức của Phật và giáo hội.
Từng đoàn người lũ lượt đi dự lễ, đông như trẩy hội.
Bà lão hành khất cũng tiến mau về phía Tịnh xá và dừng
bước trước những hoa đăng rực rỡ, bà vội vàng đến
rót dầu vào cây đèn mà bà đã lau sạch và thay tim. Vừa
mồi ánh sáng bà vừa phát nguyện: “Cúng dường ánh sáng
này lên Ðức Thế Tôn và giáo hội, con chỉ cầu mong làm
sao con cũng sẽ được trí tuệ sáng suốt như các Ðấng Giác
ngộ trong mười phương”. Bà lại nghĩ: “Dầu ít như vầy
có sáng cũng chỉ đến nữa đêm là cùng”. Nhưng mạnh dạn
bà thầm nguyện: “Nếu quả thật sau này tôi sẽ được
giác ngộ như lòng tôi mong muốn hôm nay, thì số dầu ít ỏi
này cũng làm cho cây đèn này sáng mãi không tắt”.
Sau
khi treo cây đèn trên một cành cây, bà lão hành khất đi thẳng
vào tịnh xá, chí thành lễ Phật rồi ra về…
Số
đèn của nhà vua, tuy được những đội lính thay nhau lo việc
châm dầu, thay tim, nhưng ít cây được sáng suốt đêm, cây
thì bị gió thổi tắt, cây thì bị phật cháy…
Duy
cây đèn của bà lão hành khất thì ánh sáng nổi bậc hơn
muôn vạn cây đèn khác và cháy mãi đến sáng mà dầu vẫn
không hao.
“Này
đệ tử! Trời đã sáng, hãy ra tắt hết những cây đèn còn
đỏ”, Ðức Phật dạy với Ngài Mục Kiền Liên như thế.
Tôn
giả Mục Kiền Liên làm theo lời Phật. Nhưng đến cây đèn
của Bà lão hành khất, thì ba lần Tôn giả quạt mạnh, nhưng
ánh sáng cũng không mất. Lần thứ tư, Tôn giả cầm ngay vạt
áo cà sa và vận hết thần thông diệu lực của mình quạt
hắt vào đèn nhưng đèn lại rực sáng hơn trước. Tôn giả
Mục Kiền Liên và những người chung quanh đều ngạc nhiên
và cho đó là một cây đèn kỳ lạ chưa từng thấy.
Ngay
lúc ấy, Ðức Phật vừa đến, Ngài điềm đạm bảo:
“Thôi!
Ðệ tử hãy thôi. Dù cho đệ tử có tận dụng tất cả thần
lực của đệ tử cũng không thể nào làm tắt được cây
đèn này; vì đó là ánh sáng công đức của vị Phật trong
tương lai”.
Lời
dạy ấy của Ðức Phật đã làm cho nhiều đệ tử của Ngài
muốn tìm hiểu ai là người đã cúng dường đèn ấy. Sau
một cuộc điều tra kỹ càng, họ biết rõ người cúng dường
cây đèn kỳ lạ ấy chính là một bà lão hành khất!
Câu
chuyện này đến tai vua A Xà Thế. Nhà vua cho vời đại thần
Kỳ Bà đến để thuật lại câu chuyện và hỏi:
- Kỳ
Bà! Như khanh đã biết quả nhân làm rất nhiều công đức
và cúng dường rất nhiều đèn nhưng không thấy Ðức Thế
Tôn dạy gì về quả báo của quả nhân. Trái lại, bà lão
hành khất chỉ cúng dường có một cây đèn lại được Ngài
thọ ký là nghĩa làm sao?
Ðại
thần Kỳ Bà đứng lên ngần ngại mãi không dám trả lời.
- Kỳ
Bà! Ngươi đừng ngại gì cả, quả nhân muốn tìm hiểu những
nguyên khuyết điểm chứ không bao giờ dám nghĩ khác về Ðức
Thế Tôn.
Ðôi
mắt của đại thần Kỳ Bà bỗng sáng lên và khiêm tốn trả
lời câu hỏi của nhà vua:
- Tâu
đại vương! Theo những điều mà hạ thần được phỏng văn
từ cửa miệng của những người thân cận các thầy Tỳ
kheo và cộng thêm sự suy luận của hạ thần thì tuy đại
vương cúng dường rất nhiều phẩm vật, song tâm ý không
được chí thành cho lắm và có lẽ đại vương không phát
đại nguyện; cho nên tuy có công đức mà không làm sao bằng
công đức của bà lão hành khất chỉ cúng dường một cây
đèn nhưng đó là cả một tấm lòng chí thiết, một dạ chí
thành đối với những Ðấng Giác ngộ và nhất là lời thệ
nguyện cao rộng của bà ấy.
Nghe
đại thần Kỳ Bà phân tích tỷ mỉ về động cơ của sự
cúng dường của mình và bà lão hành khất, sau một hồi suy
nghĩ và xét lại bản tâm, vua A Xà Thế liền cởi mở được
tất cả những điều thắc mắc…
Thiện
Châu
“Công
đức cúng dường không đánh giá nơi phẩm vật, mà căn cứ
nơi sự thành tâm”.
Quỉ
La Sát
Xưa
có một đoàn ca kịch vừa đi du lịch khắp nơi, vừa kiếm
ăn bằng lối diễn tuồng. Trong các vở tuồng, đặc sắc
nhất là vở tuồng “Quỉ La Sát” vừa rùng rợn lại vừa
thích thú.
Chiều
hôm nọ, đóng tuồng Quỉ La Sát hay quá rất được công chúng
hoan nghênh. Ðóng xong đoàn ca kịch thu xếp đồ đạc để
qua tỉnh khác. Có kẻ vì quá yêu chuộng, nài cầu ở lại
bằng cách dọa dẫm: “Các ông ở lại đây sáng rồi hãy
đi. Bây giờ đã chiều mà phải đi qua một cánh rừng rậm,
trong rừng nhiều Quỷ La Sát lắm, nhất là lỡ ra đêm xuống
mà chưa ra khỏi rừng”. Mấy chàng kịch sĩ cười phì: “Chúng
tôi đây vốn đã là Quỉ La Sát, còn sợ La Sát nào nữa!”.
Thế rồi cả bọn đồng sửa soạn cất bước vượt rừng.
Nhưng chưa ra khỏi rừng thì trời đã tối hẳn. Cả bọn
đồng ý nghỉ lại trong rừng, mai sáng họ sẽ đi. Họ đi
bẻ cành khô, hốt lá về đốt lửa lên, rồi trải tạm những
tấm màn phông để ngủ, cắt phiên ngồi canh lửa, rồi thì
vì mệt mỏi đồng lăn ra mê mết.
Nửa
đêm độ vào canh một, sương xuống nhiều quá, trời lạnh
chành gác lửa run lẩy bẩy, bèn mở rương lấy tạm một
bộ đồ diễn kịch khoác vào người rồi ngồi gật gù bên
đống lửa hồng. Bộ đồ kia lại là bộ đồ Quỉ La Sát.
Có tiếng chim kêu, một người nằm ngũ vụt thức, ngoái cổ
lên nhìn xem lửa còn cháy và người bạn canh lửa còn đó
không. Nhưng kinh sợ biết bao! Người bạn canh lửa đâu chả
thấy, chỉ thấy có một con Quỉ La Sát ngồi gật gù bên
đống lửa. Lông gáy dựng ngược, hoảng lên, anh chàng chồm
dậy vừa chạy vừa la: “Quỉ La Sát! Quỉ La Sát”. Bọn
người thức dậy mắt nhắm mắt mở, nghe kêu tưởng là có
quỷ thực, cũng la lên và bỏ chạy theo người trước không
kịp suy nghĩ. Anh chàng gác lửa thiu thiu, nghe tiếng kêu tỉnh
dậy, thấy bọn kia chạy hết thì cũng tưởng rằng có quỷ
thực, bèn vội vàng mang cả bộ áo La Sát mà chạy theo. Bọn
trước chạy được một khoảng khá xa ngoái lui trông thấy
“hắn” theo sau, càng sợ, càng chạy, anh chàng gác lửa thấy
bọn trước chạy vùn vụt như tên thì tưởng đâu quỉ đã
kề sau lưng mình rồi, nên lại cố gắng đuổi. Bọn trước
thấy “hắn” đuổi gấp, lại càng hoảng hốt cứ thế
chạy cho đến mệt nhoài, đuối sức, trầy da chảy máu, cuối
cùng hết hơi nằm lăn ra, đến khi biết rõ, tất cả đều
bị thương, đau đớn khắp mình…
Con
người vì thành kiến sai lạc, vì vô minh che lấp nên đua
nhau chạy theo ảo tưởng trần gian và mua chuốc lấy bao nhiêu
là đau đớn khổ nhục.
Mụt
Ghẻ Nói Tiếng Người
Ðời
Ðường vua Ý Tôn ở đất Trường An có một nhà sư mắc
phải bệnh cùi, hằng ngày thất tha thất thiểu trong bộ quần
áo lang thang, mặt mày khô đét, thân hình gầy còm, tay chân
lở lói, ai trông thấy cũng gớm nhờm. Thỉnh thoảng, một
vài người vì động lòng trắc ẩn, biếu cho chút ít quà
bánh không đáng giá, ngoài ra không ai buồn đả động đến,
hoặc hỏi han điều gì cả, vì vậy chẳng ai biết nguyên
quán nhà sư ở đâu. Một hôm, trên con đường lớn xuôi về
cổng chùa An Quốc, nhà sư tình cờ gặp Ngộ Ðạt, lúc ấy
chưa phải là một tu sĩ nổi danh.
Thấy
người đồng đạo trong cơn hoạn nạn, Ngộ Ðạt quá đau
thương cố thỉnh về ở với mình. Trước tâm tình chân thật,
lời lẽ thiết tha của Ngộ Ðạt, nhà sư nhận chịu. Ngộ
Ðạt rước về chùa, kính như bậc thầy, hết lòng cung phụng.
Mỗi ngày sáng dậy, Ngộ Ðạt lấy nước nóng, rửa lau ghẻ
lở, tuyệt đối không tỏ vẻ gì nhờm gớm cả. Sau một
thời gian khá lâu, nhà sư từ giã ra đi, Ngộ Ðạt tỏ lòng
quyến luyến, cầm cọng lắm lời, nhưng nhà sư không đổi
ý. Thấy thế Ngộ Ðạt thiết tha xin theo để sớm hôm giúp
đỡ, nhà sư cũng từ chối nốt, bảo rằng: “Trên đường
danh đức, ông ngày sau sẽ được hiển đạt, ông nên ở
lại, đừng nghĩ việc theo tôi mà phải trôi nổi bình bồng,
mai một khả năng siêu tuyệt của mình”. Nhưng điều này
nên để dạ: “Hãy cẩn thận trong khi hưởng thụ những
phần hưởng danh dự, vì nó có thể làm tổn thương đạo
niệm của mình. Tôi hết sức cảm nghĩa tốt của ông, vậy
nếu sau nầy có bị tai nạn gì hãy nhớ qua đất Tây Thục,
xứ Bành Châu, núi Trà Lung mà tìm tôi. Cứ đến lưng chừng
núi, chỗ có hai cây tòng to tục gọi là “Song tòng lãnh”
chúng ta sẽ gặp nhau”.
Dặn
dò xong, nhà sư từ biệt, Ngộ Ðạt rơm rớm nước mắt,
trông theo đến khi khất bóng mới quay gót trở về.
Ngày
qua tháng lại, Ngộ Ðạt đến thời kỳ hiển đạt. Bấy
giờ ở kinh đô, người người đều quen biết và khâm phục
danh đức của Ngài. Một vị sư có tài, có đức, giảng pháp
hay, hiểu biết rộng, tiếng tăm vang dậy khắp nơi.
Vua
Ý Tôn qua nhiều lần thăm dò, trải bao cơn thử thách, mới
chịu thỉnh Ngài vào cung giảng đạo. Cách ít lâu lại phong
Ngài lên làm Quốc sư và ban cho một pháp tòa bằng gỗ trầm
thơm quí. Danh vọng này còn danh vọng nào hơn! Một hôm, nhân
lên ngồi trên ghế trầm, nghĩ mình tài đức ai bằng, vua
kiêng, quan phục, trăm họ kính nhường, Ngộ Ðạt thấy thật
không còn nấc thang nào cao hơn nữa. Lòng tự đắc dâng lên
tột độ, bỗng nghe xây xẩm mặt mày, Quốc sư vội bảo
đồ đệ dìu vào phương trượng, nằm mê man suốt hai ba giờ
mới tỉnh lại. Cảm nghe trong mình khó chịu biết đã thọ
bịnh, chợt rờ xuống gối nghe đau vén quần lên, thật là
hết sức kinh ngạc. Một mụt ghẻ giống tạc như mặt người,
có mày mắt, miệng, tai, mũi đủ cả. Ghê tởm quá! Kinh sợ
quá! Quốc sư ngất đi, các đồ đệ kêu vực mãi mới mở
mắt, bỗng nghe dưới mụt ghẻ nghiến răng, đau buốt thấu
xương, khổ sở quá không phương gì cứu chữa. Các danh y
và Quốc y đều được vua mời đến chữa cho Ngài, mà mỗi
lần thoa thuốc men là mỗi lần chết giấc chớ không thấy
thuyên giảm phần nào cả. Nhưng lạ, hễ mỗi lần đút thịt
vào thì lại thấy mụt ghẻ ăn ngay và lại nghe trong mình
êm ái dễ chịu. Thật là một quái bệnh xưa nay chưa từng
thấy. Các danh y, quốc y đều thúc thủ lăn lóc chịu khổ
sở mãi như thế đến hơn tháng trời, nằm nghĩ cuộc đời
chả ra chi, thân như bọt nước thoạt có, thoạt không, thoạt
còn, thoạt mất, đáng ghê sợ. Nhân nhớ đến vị sư bịnh
khi xưa, ôn lại những lời dặn dò thiết yếu, Quốc sư sực
tỉnh, bèn cố gắng một thân bị đau nhức, cắn răng lần
mò qua đất Tây Thục, xứ Bành Châu.
Vất
vả khổ sở suốt mấy tuần mới đến chân núi Trà Lung.
Bởi đường dốc quanh co, nên mãi đến lúc hoàng hôn mới
tìm ra được dấu. Kìa hai cây tòng đà lộ bóng, nhưng vị
sư đâu chẳng thấy hình dạng; nếu không tìm gặp, thì đêm
nay không khỏi dả thú nhai xương giữa chốn rừng núi hoang
vu, không một bóng người thấp thoáng. Ngộ Ðạt đang ngơ
ngác đoái nhìn bốn phía, lòng những lo sợ bồi hồi, thì
may quá, hình bóng thân yêu và quen thuộc khi xưa của vị sư,
bỗng hiện ra trong một gộp đá gần đấy. Một tiếng kêu
rú thất thanh vì mừng, Ngài Ngộ Ðạt bất chấp đau đớn,
chạy lại và leo nhanh lên gộp đá, ôm choàng lấy vị sư
hỏi han rối rít. Khi bộc lộ hết những nổi vui mừng, khao
khát của mình rồi, Ngài bèn kể bằng nước mắt sự khổ
sở đau đớn của mình cho vị sư nghe. Vị sư thốt lời an
ủi và dìu dẫn Ngộ Ðạt về Thảo am trên lưng chừng núi,
Ngộ Ðạt thưa:
- Bạch
Thầy, kẻ đệ tử đang lâm vào cơn khốn nạn, bức bách,
khổ sở không còn bút mực nào tả xiết, xin thầy rủ lòng
từ bi ra tay tế độ giúp cho đệ tử thoát nạn, ơn đức
Thầy thật vô lượng vô biên.
Không
hại gì, vị sư đáp, oan oan nghiệp chướng của ông đã vay
từ nhiều đời về kiếp trước, ngày nay phải đến thời
kỳ đền trả. Ông phải ẩn nhẫn trả xong mối nợ máu tiền
kiếp ấy, mới có thể giải thoát được. Ðức Thế Tôn
ta khi xưa còn thị hiện nạn gươm vàng đâm vế, ăn lúa ngựa
thay, huống chúng ta là hạng người phàm phu làm sao mà thoát
được. Nợ mình đã trả thì sẽ hết, nhưng cần thiết là
đừng nên vay nữa mới được.
- Thưa
thầy, thầy nói nợ máu là thế nào đệ tử không hiểu ra
sao cả, xin thầy hoan hỷ giảng cho.
- Chuyện
ấy rồi ông tất sẽ rõ, vì đã có người sẽ nói cho ông
nghe giờ khắc rất gần đây.
Rạng
ngày hôm sau, nhà sư dạy đồng tử dẫn Ngộ Ðạt xuống
ngọn suốt dựa triền, lấy nước rửa ghẻ. Ðồng tử vừa
toan khoát nước thì thoạt nghe tiếng thét từ trong ung thư
phát ra: “Khoan, hãy khoan đã, ta có việc cần muốn nói với
ông”.
Ngộ
Ðạt và đồng tử đang cơn kinh ngạc, thì mụt ghẻ tiếp
lời:
- Tiếng
đồn ông là người học rộng, vậy ông đã từng đọc sách
Tây Hán chưa?
- Ðã
có xem qua vài lượt, Ngộ Ðạt đáp.
- Vậy
ông có nhớ chuyện người Viên Án dèm tâu với vua Cảnh Ðế
chém chết Triệu Thố ở phía đông chợ chăng?
- Nhớ
lắm, nhớ lắm. Nhưng hỏi thế để làm gì?
- Chính
ông là Viên Án còn Triệu Thố là tôi, ông giết tôi oan đến
dường nào, ông có biết chăng? Thù ấy, oan ấy, thâm xương
thấu cốt tôi đã từng mười đời theo dõi bên ông để
tìm dịp báo oán, nhưng suốt mười đời ông luôn luôn làm
bực cao tăng, tinh nghiêm giới luật, tôi đành ôm hận, nhưng
quyết theo mãi, đến khi nào trả xong mối thù, đòi xong món
nợ máu mới thôi. Mới vừa rồi, được dịp thuận tiện,
ông vì vua kính chuộng, ban cho tòa trầm hương, phong làm đến
Quốc sư, vinh quang hiển hách, do đó tâm danh lợi nổi lên,
khí kiêu căng bừng khởi, khuyết phần đức hạnh, tôi mới
nhân cơ hội đó làm hại ông để đòi món nợ nần trên.
Ngày nay, nhờ Ngài Ca Nặc Ca Tôn Giả thương xót ra tay cứu
giải cho ông, lại cho dùng nước Tam muội rửa tội, nhờ
thần lực của Ngài khiến cho ông và tôi, từ đây oán hận
không còn, cừu thù tan mất, vậy kính khuyên ông, hãy cố
gắng tinh tấn tu hành và chúc ông vuông tròn đạo nghiệp.
Tôi xin chào vĩnh biệt.
Ngộ
Ðạt nghe xong, đầy mình mộc ốc. Ðồng thời với tay khoát
nước rửa mụt ghẻ, nước vừa chạm đến thịt, Ngộ Ðạt
nghe đau buốt thấu xương, ngất lịm hồi lâu. Khi tỉnh lại,
mụt ghẻ đã lành da thịt liền lại như xưa, không chút vết
sẹo nào. Quốc sư mừng quá đến chảy nước mắt, vội trở
lên núi cảm tạ ơn dày của Tổ, tự thệ từ đó tinh tiến
tu hành không dám chậm trễ nữa.
Tương
truyền bộ Thủy sám ba quyển vốn tự tay Ngộ Ðạt viết
ra để làm pháp sám sau khi lành bệnh.
Phước
Báo Của Sự Bảo Vệ Sanh Linh
Thuở
xưa, có một vị La Hán ở trên núi tuyết đã chứng Lục
thông: thấy rõ việc trong ba đời như xem việc trước mắt.
Nên danh tiếng vang lừng, người đương thời đều cảm phục.
Vị
La hán kia có nuôi thiếu niên Sa Di làm đệ tử.
Một
hôm, vị thiếu niên đệ tử đứng hầu bên cạnh thầy. Vị
La hán xem qua sắc tướng của vị đệ tử mình, Ngài liền
buồn rầu bảo vị thiếu niên đệ tử rằng:
- Con
ơi, Thầy xem sắc tướng hôm nay, Thầy rõ biết phước báu
của con đến nay đã gần hết, sau bảy ngày nữa mạng con
sẽ chết. Thôi Thầy trò ta ngày nay vĩnh biệt. Thầy cho con
trở về nhà thăm bà con quyến thuộc và cho con được thấy
cha mẹ con trong phút cuối cùng.
Nghe
xong, thiếu niên Sa Di chỉ biết đau đớn đảnh lễ thầy
rồi gạt lệ từ tạ ra đi.
Trên
đường về, gặp phải trận mưa lớn, thiếu niêu Sa Di rẽ
qua con đường hẻm thấy một bầy kiến nhỏ đang chơi vơi
trên một dòng nước nhỏ chảy ngang đường. Bầy kiến hết
sức chống đỡ, nhưng vô hiệu; vì thân nhỏ sức yếu mà
dòng nước quá mạnh, nên đành để dòng nước tự do dày
xéo, và chờ dòng nước đưa về cõi chết.
Thiếu
niên Sa Di thấy vậy, động lòng từ bi, liền cỡi chiếc áo
đang mặc trong mình ngăn ngang dòng nước để đàn kiến có
chỗ leo vào, những con nào kiệt sức, không thể leo vào áo
được, thiếu niên Sa Di nhẹ tay bắt từng con bỏ vào aó,
rồi đem bỏ vào chỗ khô ráo. Hai ba phen xem xét thấy bầy
kiến chắc chắn thoát chết, mới yên lòng về nhà.
Ðến
nhà, trong thời gian bảy ngày, thiếu niên Sa Di lo sợ chờ
ngày mạng chung. Nhưng đến ngày thứ tám, thiếu niên vẫn
còn sống. Thiếu niên Sa Di mừng rỡ trở về chỗ thầy.
Ðến
nơi, vị La hán hết sức ngạc nhiên! Không biết vì sao đệ
tử mình đến bây giờ mà vẫn còn sống. Ngài liền nhập
định dùng diệu trí quan sát mới biết đệ tử mình do công
đức cứu bầy kiến nên bảy ngày không chết mà còn sống
lâu được nữa.
Sau
khi xuất định, vị La hán giải cho Sa Di rõ lý do thoát chết,
và giải nghĩa chữ từ bi.
Từ
đấy, thiếu niên Sa Di tinh tấn tu hành không bao lâu chứng
đặng đạo quả.
Ðức
Tâm
Dùng
lòng từ bi cứu một mạng sống đặng phước báo không kể
xiết.
Nan
Ðà Tôn Giả
Ðã
mấy năm qua. Từ ngày chứng nghiệm chân lý dưới gốc cây
Bồ Ðề, Ðức Phật Thích Ca đã đặt chân lên nhiều kinh
thành, nhiều thôn dã, nhiều đất nước để truyền bá đạo
Từ Bi. Hàng đệ tử của Ngài càng ngày càng đông.
Trên
con đường giải thoát cho nhân loại không biên giới ấy,
một hôm kia, Ðức Phật trở về đất nước quê hương, nước
Ca Tỳ La Vệ. Ngài thấy nhân loại đáng thương đang chìm
trong sự lôi cuốn của cuộc đời có bà con thân thuộc mình,
có… em Ngài, Hoàng tử Nan Ðà.
Hoàng
tử Nan Ðà là em cùng cha khác mẹ với Ðức Phật. Lúc Phật
xuất gia, Nan Ðà còn tấm bé, Nan Ðà chỉ buồn thoang thoảng
vì thiếu sự chăm sóc chỉ bảo của một người anh hiền
từ. Thế thôi. Và tuổi trẻ cũng mau quên. Nan Ðà lớn lên
trong sự hầu hạ ân cần cẩn thận của cung vua. Không như
anh. Nan Ðà buông theo các thú vui. Cuộc đời bó hẹp lại,
nhỏ dần trước mắt người thanh niên ham mê sắc dục. Nan
Ðà chỉ còn thấy các mỹ nữ trong giọng hát, trong điệu
múa, trong những cuộc truy hoan…
Phật
trở về giữa sự vui mừng của dân chúng. Ngài ở Tịnh xá
và hàng ngày mang bình bát đi khất thực và truyền đạo như
trong khi Ngài ở các nước khác. Lối sống bình dị ấy làm
mọi người thán phục. Ðời sống của kinh thành xáo trộn.
Vàng bạc không còn là cứu cánh. Lòng thương yêu nhau, thương
yêu đến cả các sinh vật được xem là cao quí. Người ta
đã thấy những gì chắc thật của cuộc đời, thú vui chỉ
là mong manh chốc lát.
Nhà
vua đã mở nhiều cuộc bố thí, giảm nhẹ thuế má cho dân
chúng.
Về
phần Nan Ðà, Nan Ðà cũng cảm thấy vui. Những hình ảnh tươi
đẹp của những năm xưa hiện lên. Nhưng trong hai người như
có một cái gì khác nhau nhiều lắm, nên Nan Ðà chưa dám gặp
Phật. Nghe những lời ca ngợi về lòng nhân ái, về cuộc
sống bình dị của Ðức Phật, Nan Ðà tự đối chiếu với
mình. Và đã có lúc chàng nghiệm thấy một cái gì mong manh,
chóng tàn trong những cuộc vui say, trên nét nhăn mệt mỏi
của những mỹ nữ qua những cuộc múa ca.
Một
hôm, Nan Ðà thức dậy sau một giấc ngủ dài mệt mỏi. Mặt
trời đã lên cao. Chưa kịp sửa soạn, chàng đã thấy Ðức
Phật đang tiến vào nhà. Phật khoác chiếc y vàng, tay cầm
bình bát, Ngài đi khoan thai như lùa vào đây tất cả những
ánh sáng trong lành của buổi mai.
Phật
không khác xưa nhiều lắm, vẫn gương mặt hiền lành nhưng
thêm phần sáng suốt. Tất cả những hình ảnh trên diễn
ra trước mắt Nan Ðà đang đứng ngây người nhìn. Ðức Phật
tiến lạI gần, ân cần hỏi han. Lời nói của Ngài dịu dàng
làm cho Nan Ðà nhớ lại những ngày vui vẻ thuở xưa, hồi
ấy Nan Ðà nhìn đời một cách đẹp đẽ. Rồi Ngài nói với
Nan Ðà:
- Từ
lâu, ta vẫn thấy bên trong ra có phụ hoàng và em. Chính trong
mục đích giải thoát cho loài người rộng lớn và cho những
người thân thuộc mà ta thấy được đạo lý. Ta biết em
đang khao khát chân thật. Ta đi trước em, ta đã biết rằng
hạnh phúc chân thật không thể tìm ở đâu khác ánh đạo.
Ánh đạo ấy ta đem về cho em đây.
Nan
Ðà im lặng, cảm động. Người đứng trước mình là anh,
là thầy, là ân nhân? Nan Ðà thấy trong người rạo rực một
mối tình muốn hướng về đường lành. Chàng cúi xuống thân
mến ôm bàn tay của Ðức Phật đang đưa ra nâng chàng dậy.
Ðức Phật âu yếm:
- Ðường
ta đi sáng như sao nhưng khó khắn trở lực không phải là
ít. Mà có sự thành đạt nào không phải mua bằng gian lao,
ta đã nghiệm điều đó. Biết em có đủ trí lực để vượt
qua không?
Nan
Ðà ngẫm nghĩ rồi nguyện theo Phật. Chàng sửa soạn rất
nhanh chóng. Phật đã tiến ra cửa. Ngài bước đi, Nan Ðà
theo Ngài, tuy lòng đang dâng lên một cái gì âm ấm, trong sáng
như ánh nắng và trời đất tươi đẹp bên ngoài. Hai người
cùng tiến về Tịnh xá.
Ðến
Tịnh xá, Phật bảo các đệ tử săn sóc cho Nan Ðà. Người
ta thay chiếc áo gấm xanh và khoác cho chàng chiếc áo nâu bằn
vải. Người ta dành cho chàng một phòng rộng ngó ra vườn
hoa. Nan Ðà ngồi xuống chiếc ghế mây rồi nhìn ra vườn.
Trăm hoa đang mở rộng tung cánh để đón ánh trời, màu hồng
tươi mát của đào. Màu vàng dịu của mai, màu trắng như
tuyết của huệ, nổi bật lên trên màu xanh tươi của lá
cây. Ðây đó một vài đạo sĩ đang ngồi trên các phiến
đá trầm tĩnh niệm Pháp. Trong cái yên lặng, lâu lâu có điểm
một tiếng chuông ngân dài. Nan Ðà thấy một sức sống mạnh
mẽ của muôn cây, một sự rạo rực hướng về đạo của
con người. Thật là một thay đổi cực kỳ lớn lao trong tâm
hồn vị Hoàng tử thanh niên.
Nhưng
rồi có những lúc Nan Ðà thiêu thiếu một cái gì. Chàng tiếc
rẽ cái áo gấm chăng? Ðâu phải thế! Trước đây cũng có
nhiều lần chàng áo ước cởi bỏ nó đi để được mát
mẻ. Chàng tiếc một cái gì? Ðó là các sinh hoạt cũ, cái
lối ăn chơi say sưa bên cạnh những người vũ nữ có bàn
tay ngọc ngà, có thân hình mềm mại.
Ðức
Phật thừa hiểu rằng trong một sớm một chiều, Nan Ðà chưa
thể giác ngộ được chân lý nên chú ý đến Nan Ðà nhiều
hơn các đệ tử khác. Một hôm, có người mời Phật đi thọ
trai, Ngài không đưa Nan Ðà đi mà còn kêu đến đưa bình
bát cho và dặn nhà múc nước đổ vào cho đầy.
Ðược
ở nhà, Nan Ðà là vui thích vì chàng thấy có cơ hội trở
về thăm cung điện và các mỹ nữ. Biết như thế là sai lầm
nhưng có một sức mạnh nào thúc đẩy mãnh liệt. Dầu sao,
Nan Ðà cũng không quên lời Phật dặn “đổ nước vào bình
bát” mà chàng không biết đổ để làm gì. Cái bình bát
nhỏ bè này, hãy đổ vào một gàu là đầy ngay và rồi sẽ
trở về thăm cung điện cũng không muộn. Nan Ðà đem bình
bát ra giếng. Chàng xách lên gàu nước và đổ nước vào.
Chàng cẩn thận để nước khỏi đổ ra ngoài. Lạ quá! Gàu
nước đồ hết rồi mà sao không thấy nước tràn lên miệng
bình. Nan Ðà cúi xuống xem bình bát có bị nứt không. Tuyệt
nhiên không một đường rạn nào, lớp men vẫn liền láng.
Chàng múc gàu nước thứ hai, thứ ba, thứ tư và liên tiếp
nhanh tay đổ vào. Lạ thật, không có nước chảy ra ngoài
mà nước đổ vào biến đi đâu cả.
Nan
Ðà đã mệt nhoài mà bình bát vẫn không được một tí nào
cả. Làm sao để về thăm cung điện? Nôn nả quá, chàng để
bình bát ngay bên giếng và vụt chạy đi, hẹn trong lòng chốc
trở lại sẽ tiếp tục đổ nước vào.
Chạy
được một quảng, Nan Ðà thấy ở xa có đoàn người đi
ngược lại. Chàng dừng lại nhìn. Khốn rồi! Chính Phật
và đoàn đệ tử thọ trai về. Nan Ðà biết không có cách
nào tránh khỏi, bèn nép bên đường, cúi mặt nhìn xuống
đất. Phật đến bên Nan Ðà hiền lành bảo:
- Thôi!
Trở lại. Em hãy còn lời hứa đối với ta, còn công việc
ta giao chưa làm xong. Hãy tự chiến thắng mình mới đi đến
đích cuối cùng.
Nan
Ðà đi theo Ngài cùng trở về Tịnh xá.
Năm
hôm sau, trong cuộc du hành thuyết pháp ở cõi trời, Phật
cho Nan Ðà đi theo, Nan Ðà mừng lắm.
Ðấy
là một trong những cõi trời đẹp đẽ và hạnh phúc nhất.
Không biết bao nhiêu lâu đài tráng lệ nguy nga. Những chiếc
bàn, những độc bình bằng thủy tinh muôn màu rực rỡ. Những
vườn hoa với các cây xanh mướt, quanh năm hoa nở thắm tươi
và tỏa mùi hương nồng ấm. Ánh sáng một màu huyền ảo.
Mặt trời không gay gắt, ban ngày vẫn có sao sáng và ban đêm
trời luôn luôn sáng, thứ ánh sáng vàng trắng của những
đêm rằm.
Phật
đưa Nan Ðà đến một cung điện rực rỡ. Các tiên ông râu
bạc trắng ra đón tiếp. Phật thuyết pháp cho họ nghe. Trong
lúc đó các nàng tiên mời Nan Ðà đi xem khắp nơi. Chỗ nào
Nan Ðà cũng tấm tắc khen ngợi. Rồi các nàng tiên múa cho
Nan Ðà xem. Những gương mặt tươi đẹp như chưa bao giờ
lo buồn, các điệu múa uyển chuyển như còn gởi mãi trong
không gian các đường nét mềm mại. Sau đó Nan Ðà hỏi họ:
- Ai
sẽ có vinh hạnh hưởng cảnh sống êm đẹp trong những cung
điện ở đây?
Các
nàng tiên nhỏ nhẹ thưa:
- Cung
điện, vườn hoa, ánh sáng ở đây đang chờ đón một người
tên là Nan Ðà, nếu người ấy tu hành được chánh quả.
Nan
Ðà sung sướng nhẹ nhõm khi theo các nàng về cung điện.
Trên
đường về Tịnh xá, Nan Ðà định hỏi Phật xem lời các
nàng tiên nói có đúng không, nhưng không dám, chỉ tự bảo
với mình phải cố gắng tu tập. Nhưng biết đến bao giờ
mới lên cõi trời sung sướng. Nan Ðà nôn nả nên thiếu thái
độ hiền từ, tĩnh tâm, định trí. Và cái hăng hái của
những ngày mới trở về lần lần phai nhạt.
Một
thời gian sau, Phật lại chuẩn bị một cuộc đi truyền thuyết
xa và Nan Ðà cũng được đi theo. Lần này Phật dẫn chàng
xuống địa ngục.
Ðịa
ngục bày ta trước mắt Nan Ðà trước những cảnh tượng
ghê rợn. Ðây là một người đàn ông bị ép dưới một
tản đá khổng lồ. Tảng đá lún dần, lún dần trong tiếng
kêu thắt nghẹn trong tiếng răng rắc của bộ xương ngực,
xương tay, xương chân đang dập nát. Ðây là một người đàn
bà mang trên đầu một vành lửa đỏ. Tóc của người ấy
cũng cháy khét lẹt; và tay bị trói chặt ra phía sau, người
đàn bà vừa chạy vừa kêu không ra tiếng người. Nan Ðà
biết những hình phạt ấy là do sự tàn ác của họ ở kiếp
trước nên im lặng đi theo Phật. Gương mặt của Ngài tỏ
vẻ vô cùng thương xót và Ngài cầu nguyện cho họ.
Ðến
một đoạn nữa, Nan Ðà thấy trước mặt có năm chảo dầu
xếp thành hành dài trước mặt một cái đền tối om. Năm
con quỷ đang sắp sửa đun lửa. Trong bốn cái chảo đã có
bốn người không rõ là đàn ông hay đàn bà. Lửa đỏ, dầu
gần sôi. Người trong chảo vẫy vùng, chồm lên rồi lại
rơi xuống. Tiếng kêu của họ tắt đi trong tiếng sôi sùng
sục của dầu, tiếng củi cháy phừng phực. Nan Ðà đến
gần con quỷ coi chảo dầu thứ năm và hỏi:
- Tại
sao trong nầy lại không có người nào?
Con
quỷ không nhìn Nan Ðà, chăm chú coi lửa và trả lời:
- Chảo
không này cứ đun sẵn, để dành riêng cho một người tên
là Nan Ðà nếu người ấy biếng nhác, không lo tu tập.
Nan
Ðà giật nẩy mình và không dám hỏi thêm gì nữa.
Từ
độ ấy về, Nan Ðà không một chút nào dám xao nhãng việc
tu niệm, chàng lo tụng niệm, thuộc làu kinh kệ. Mãi đến
chiều chiều, Nan Ðà mới để một ít thì giờ đi dạo ngoài
vườn Tịnh xá.
Nhưng
có một điều là chàng đến chỗ nào, người chỗ ấy đều
lánh đi nơi khác. Nan Ðà bực lắm. Có một hôm Nan Ðà đến
gặp Ngài A Nan, Ngài A Nan là em họ chàng và là đệ tử yêu
mến nhất của Ðức Phật. Thấy Nan Ðà đến, Ngài A Nan cũng
lánh đi nơi khác. Không thể giữ nổi sự bực bội trong lòng,
chàng đến trước mặt Ngài A Nan là lấy lời kính cẩn thưa:
- “Xin
chú cho tôi biết vì lẽ gì các Ngài và chú lại không muốn
gặp tôi. Tôi tưởng đã ở một đạo với nhau, hơn nữa
lại là bà con, chú cũng không nên đối xử với tôi như thế”.
Ngài
A Nan biết không còn cơ hội nào tốt hơn cơ hội nầy để
trình bày cho Nan Ðà rõ đầu đuôi nên ôn tồn bảo:
- Chúng
ta tuy theo một đạo nhưng mục đích chúng ta không giống nhau.
Anh nhắm một mục đích khác. Anh tu hành để được lên cõi
tiên, để sống trong hạnh phúc, riêng anh, tu hành vì cảnh
khủng khiếp của địa ngục. Anh Nan Ðà ơi! Mục đích của
anh hẹp hòi. Phải lấy sự đau khổ của chúng sinh làm đau
khổ của mình, xem thường tài sản và tính mệnh của mình,
phát tâm thực hành lục độ để giải thoát vô lượng chúng
sanh. Ðó là mục đích của thầy ta, của chúng ta, của
những người tu hành chân chính.
Ngài
A Nan dừng lại để Nan Ðà kịp suy nghiệm. Rồi âu yếm nhìn
Nan Ðà Ngài nói tiếp.
- Anh
Nan Ðà ơi! Ðường tu hành còn dài lắm, cho đến khi nào chúng
sinh không còn khổ đau. Cho nên không nhìn một mục đích cao
rộng, ta sẽ dễ nản lòng thối chí như anh, đã có lần muốn
bỏ dỡ công cuộc nửa chừng. Phải can đảm lên anh ạ! Quả
lành sẽ đến với chúng ta.
Lời
Ngài A Nan đi thẳng vào tâm can, vào trí óc A Nan. Từ đó Nan
Ðà công phu tu luyện với mục đích cao quý giải thoát cho
chúng sanh và một ngày kia, bước theo A Nan, Nan Ðà trở thành
một đệ tử chân chính của Ðức Phật, trở thành Nan Ðà
tôn giả đáng kính mến muôn đời của chúng ta.
Quảng
Huệ
Luân
hồi nhân quả không sai
Không
tu ắt phải đọa đày khổ thân.