Phần
07
31/
Những người mù rờ voi
32/
Hoàng hậu Vi Ðề với pháp môn Tịnh Ðộ
33/
Nhân nào quả nấy
34/
Ðâu là sự thật
35/
Tình thương
Những
Người Mù Rờ Voi
Thuở
xưa, có một vị quốc vương tên là Cảnh Diện, tánh tình
thuần hậu, nhân đức ít ai bằng. Về phương diện chánh
trị thì Ngài thi hành những điều lợi ích cho dân chúng,
và Ngài thường đem Phật pháp để giáo hóa nhân dân, nên
trong thời kỳ ấy trình độ đạo đức của mọi người
lên mức khá cao; vì thế từ trong triều cho đến ngoài dân
sự đều đặng thái bình an lạc.
Nhưng
trong thời kỳ ấy, trong triền còn một vài vị đại thần,
tôn thời ngoại đạo, tin tưởng theo bọn tà sư do đó thường
tranh luận với nhau; rốt cuộc ai cũng chấp thủ cho sự kiến
giải của tôn giáo mình thờ, lý thuyết chủ nghĩa mình theo
là đúng cả. Muốn chấm dứt tình trạng đó, nên vua thường
suy tính và tìm tòi một mưu chước gì, để cảm hóa những
vị đại thần kia trở về đạo giác ngộ cứu cánh của
chư Phật, và nhận thấy những sự kiến giảIicủa mình lâu
nay là sai lầm.
Thì
một hôm, các vị cận thần được lệnh phải đi tìm những
kẻ mù từ thuở lọt lòng, đem về cho vua. Ðược tin ấy,
các quan trong triều cũng như dân chúng, ai nấy đều sanh nghi:
vua sẽ thi hành những điều gì mới lạ chăng?
Sau
hai ba ngày tìm kiếm, các vị đại thần dẫn về một tốp
người mù. Người nầy vịn người kia, người kia nắm kẻ
nọ đi vào sân rồng, trong lòng anh nào cũng hồi hộp, không
biết việc sắp xảy đến phước hay họa.
Sau
khi nhìn qua tốp người mù, vua liền lớn tiếng truyền cho
quần thần hay rằng: “Bổn ý của Trẫm là muốn thử xem
mấy người mù này có biết mình dáng con voi ra sao không? Vậy
các người sai thị vệ dẫn họ đến chuồng voi, ra lệnh
quản tượng kềm voi cho chắc chắn, đặng mỗi người lại
gần rờ xem cho kỹ lưỡng, rồi dắt tất cả về đây để
phúc tấu. - Nếu kẻ nào tả đúng hình dáng con voi, thì Trẫm
sẽ trọng thưởng”.
Tốp
người mù nghe thế, đều lộ vẻ vui mừng – lòng tự hẹn
với lòng sẽ rờ xem thật kỹ càng, và hy vọng phen này chắc
chắn sẽ được nhiều tiền bạc! Anh nào cũng tự hào xúc
giác của mình rất tinh tế, ý phân biệt của mình rất tinh
vi, xưa nay có hề sai khi nào đâu!
Vì
thế, khi dắt đến chuồng voi anh nào cũng giành rờ trước;
anh thì rờ đụng cái vòi, anh thì rờ nhằm cặp ngà, anh thì
rờ đụng cái tai, anh thì rờ nhằm hông, anh thì trúng chân,
anh thì rờ đụng đuôi – Anh nào cũng rờ đi rờ lại thật
kỹ lưỡng và trong lòng đinh ninh rằng mình đã biết đúng
hình dáng con voi.
Xem
xong, các vị cận thần dẫn tốp người mù trở lại trước
vua để Ngài thẩm xét. Vua thấy vẻ mặt anh nào cũng lộ
vẻ hân hoan, liền phán rằng: “Trẫm thấy các ngươi con
mắt bóng quáng, vì mù từ thuở lọt lòng mẹ, chỉ nghe người
ta nói đi nói lại, chớ chẳng biết hình dáng con voi ra thế
nào. Nay tất cả tuy là không thấy, nhưng đã đến tận nơi
mà rờ rẫm con voi rồi; vậy bây giờ mỗi người phải tả
hình dáng con thú ấy ra sao? Nếu đúng, Trẫm sẽ ban cho nhiều
tiền bạc để hộ thân.
Không
đợi hỏi lần thứ hai, anh rờ đụng cái vòi mau mắn trả
lời:
- Thưa
Bệ hạ, con voi hình như chiếc chiếu cuốn tròn!
Anh
rờ cặp ngà vội cãi:
- Thế
nào? Con voi giống chiếc chiếu cuốn tròn à? Thôi sai rồi
chính tôi đã rờ xem kỷ lưỡng. Con voi như cặp sừng trâu!
Anh
rờ đụng lỗ tai voi phát cáu:
- Sao?
Con voi lại giống cặp sừng trâu? Cũng sai bét! Con voi giống
cái quạt! Chính lúc tôi xem nó quạt vào mặt mát rượi mà!
Anh
rờ nhằm hông voi không thể nhịn được nữa:
- Các
anh mù thật! Con voi mà bé nhỏ giống chiếc chiếu cuốn tròn,
giống sừng trâu, giống cái quạt ư? Chính tôi đã ôm sát
lấy nó. Con voi như một bức tường bằng phẳng dài đến
hai ba thước tây!
Anh
rờ trúng chân voi, quơ tay lia lịa phân bua:
- Trật
hết! Trật hết! Thôi nín đi, để tôi nói cho mà nghe. Con
voi như cái cột nhà mời đúng! Chính tôi ôm thử giở lên
không nổi đây nè! Con voi như cái cột nhà mới đúng! Thôi
đừng cãi nhau nữa!
Anh
rờ nhằm đuôi voi nãy giờ lặng thinh, nhưng bây giờ anh thấy
đã đến giờ phút mình cần phải cải chính.
- Thôi
các anh ơi, nín đi! Ðể tôi nói cho mà nghe. Nãy giờ các anh
nói sai hết. Con voi hình như cây chổi. Chính tôi đã mân mê
vuốt ve nó một hồi lâu.
Ðám
người mù ấy, ai cũng cho sự hiểu biết của mình về hình
dáng con voi là đúng, nên cứ nhao nhao cãi vã nhau mãi, có anh
tức giận quá muốn trở gậy phan nhau. Thấy cảnh đó, từ
vua cho chí quần thần không ai có thể nhịn cười được,
có người cười đến tức bụng, có người cười đến chảy
nước mắt…
Vua
cười ngất bảo các quần thần: “Các khanh có thấy không?
Trong bọn người này, kẻ nào cũng cho sự hiểu biết của
mình về hình dáng con voi là đúng. Nhưng thật ra, không kẻ
nào nói đúng đặng sự thật của toàn thể con voi. Các ngươi
đây cũng vậy, người nào cũng cho tôn giáo, học thuyết,
chủ nghĩa mình đã đúng với chân lý; nhưng sự thật chưa
có người nào hiểu đặng toàn diện chân lý. Mà chỉ có
đức Phật, mới là người sáng suốt giác ngộ được hoàn
toàn sự thật vậy…
Các
vị quần thần đều tỏ vẻ hổ thẹn cúi đầu.
Nhà
vua Cảnh Diệp lập chước mà phá được sự kiến chấp sai
lầm của các vị đại thần, và từ đó họ đều một lòng
chánh tín Tam Bảo, bỏ hẳn các thứ kinh sách của ngoại đạo
tà sư chỉ lo nghiên cứu nội điển của Phật để tu hành,
mong thoát kiếp trầm luân sanh tử.
Thuật
giả: Hoàng Minh
Các
lối tuyên truyền xảo trá làm sao lung lạc được kiến thức
loài người, một khi mọi người đã biết đem Chánh Pháp
giác ngộ nhau.
Hoàng
hậu Vi Ðề với Pháp môn Tịnh độ
Trong
lúc Ðức Thích Tôn còn tại thế, ở Ấn Ðộ có vua Tần
Bà Ta La, nước giàu dân mạnh, tiếng oai hùng khắp cả bốn
phương chư hầu thảy đều quy phục.
Song
không bao lâu ông bị nghịch tử là A Xà Thế, sanh lòng ác
muốn hại để đoạt ngôi. A Xà Thế bắt phụ hoàng giam vào
ngục tối và cấm không cho ai được vãng lai. Hoàng hậu Vi
Ðề mật lo với ngục tối lén đến thăm, khi vào bà thấy
vua ngồi trong ngục tối, nhan sắc tiều tụy tinh thần bạc
nhược sắp chết vì đói! Hoàng hậu vật mình chết ngất,
sau khi tỉnh dậy về cung, bà tìm phương cứu chồng. Hoàng
hậu mới hòa bột cùng mật làm chuỗi anh lạc mỗi khi vào
thăm bà đổ ra cho vua dùng, nhờ vậy mà vua Tần Bà Sa La sống
cầm chừng khỏi chết. Nhưng rủi thay, cơ mưu bại lộ, A
Xà Thế biết được, ông giận quá xách gươm tìm mẹ để
giết, may có vị đại thần can, bà mới thoát khỏi. Song bị
giam vào lãnh cung. Từ đó Hoàng hậu không thể đem thức ăn
cho vua được nữa. Ôi! Còn chi đau đớn bằng mình bị tù
ngục và cảnh tượng chồng đói sắp chết hiện ra trước
mắt! Bà kêu gào than khóc đến nỗi hai mắt gần mờ; nhân
đó bà nhận thấy cuộc đời giả dối, ngai vàng là lao ngục,
danh lợi là gông cùm, ân ái là hổ lang, địa vị như rắn
độc.
Khi
ấy bà liền nhớ đến Phật, nhờ sự cảm thông Ðức Thế
Tôn ở trong Kỳ Hoàn Tịnh xá, vận thần thông trên hư không
cùng các đệ tử hiện vào trong lãnh cung. Trong khi bà đang
quỳ gối chấp tay hướng về đấng Ðại giác bỗng thấy
hào quang chói khắp, bốn bức tường lạnh lẽo trở nên ấm
áp. Ngẩng đầu lên bà thấy Phật; bà tủi mình khóc lóc
đảnh lễ đức Phật và các vị Thánh chúng mà bạch Phật:
Bạch Ðức Thế Tôn không biết con đã gây nên tội gì mà
nay sanh đứa con đại ngỗ nghịch đến nỗi toan giết cha
giam mẹ để đoạt ngôi? Nay con được may mắn gặp Phật,
nguyện Ðức Như Lai cứu độ cho con xả báo thân này để
được sanh vào thế giới nào đừng gặp nghịch tử và chịu
những điều oan khổ như ngày nay.
Ðức
Thế Tôn dịu lời an ủi: Hoàng hậu hãy bình tĩnh để nhớ
lại chuyện xưa. Khi Hoàng hậu chưa sanh Thái tử thì Ðại
vương và Hoàng hậu đêm ngày lo buồn, cầu các vị thần
linh để mong sanh con quý.
Vì
lòng quá tin tưởng nên một đêm kia Ðại vương chiêm bao
thấy thần mách bảo: “Trên núi cao cách thành mấy dặm có
vị tiên nhân đương tu trên ấy, khi xả báo thân sẽ đầu
thai vào làm con bệ hạ”. Lúc tỉnh lại Vua thuật lại cho
Hoàng hậu nghe và truyền xa giá đưa đi, đến nơi quản nhiên
thấy vị tiên nhân đang tỉnh tọa dưới gốc cây, vua quỳ
làm lễ, và đem việc mình cầu tự cùng điềm chiêm bao mà
thưa với đạo sĩ. Vị đạo sĩ nghe xong, nhập định một
lúc lâu, rồi bảo: “Quả có như vậy, song tôi còn ba năm
nữa mới ly khai được xác thân này, vậy bệ hạ hãy chờ”.
Vua nghe xong, buồn rầu thưa lại: “Mạng người vô thường
đâu có hẹn được, xin ngài từ bi cho tôi mau mau được như
nguyện, nếu chờ ba năm lâu quá, biết tôi còn sống mà đợi
được chăng?” Vua nằn nì rất lâu mà không được; phần
quỳ đã mỏi gối, ông liền nổi sùng bảo sẵng: “Trẫm
làm vua trong một nước, chủ trị cả giang sơn, Ngài tuy tu
hành song cũng ở trong đất nước của Trẫm, nay Trẫm đã
hết lời yêu cầu, nếu Ngài không nghe chắc không được”.
Ðạo sĩ ngậm ngùi sẽ bảo: “Mạng tôi chưa chết Bệ hạ
lấy thế lực áp bức tôi nếu tôi không nghe chắc sẽ nguy
hại, song tôi nghe thì khi vào làm con bệ hạ tôi sẽ hại
bệ hạ mà đoạt ngôi thật là đáng tiếc”. Ðạo sĩ nói
xong tự giận mà chết; và bắt đầu Hoàng hậu có thai, nhưng
vua rất buồn vì câu nói và cái chết của Ðạo sĩ vẫn ám
ảnh trong lòng.
Chẳng
bao lâu Hoàng hậu sanh Thái tử, vua đem việc ấy bàn với
Hoàng hậu cả hai đồng tìm quẳng con từ lầu cao rơi xuống,
cố cho Thái tử chết, nhưng Thái tử chỉ gãy một ngón tay
mà lại lớn rất mau, diện mạo càng lớn càng đẹp đẽ
oai nghiêm, tư chất lại thông minh khác thường, làm cho vua
và Hoàng hậu yêu quý như ngọc minh châu mà quên lần câu
chuyện cũ.
Tiếng
Phật êm dịu như tơ đàn la miên, Vi Ðề Hoàng hậu vừa nghe
vừa nhớ lại việc ác của mình, nên dịu lòng đau khổ và
ăn năn tội lỗi, bà liền đảnh lễ Phật, cầu Phật dạy
cho phương pháp tu hành để diệt tội và khi xả thân được
sanh về thế giới thanh tịnh bất sanh bất diệt.
Ðức
Thế Tôn phóng hào quang sáng chói hiện ra tất cả thế giới
trong mười phương, trong đó có một thế giới Hoàng hậu
nguyện sanh tức là thế giới Cực Lạc của Ðức Phật A
Di Ðà, cõi ấy an vui, không thấy khổ. Nhân đó Ðức Phật
dạy cho bà pháp môn Tịnh Ðộ là chuyên niệm danh hiệu đức
Phật A Di Ðà để cầu vãng sanh theo chí nguyện. Bà chí tâm
chuyên niệm đêm ngày không hở, nhờ vậy mà bà hết sự
buồn khổ và chuyển được lòng ngỗ nghịch của Thái tử.
Nên từ khi giam mẹ vào lãnh cung một thời gian ngắn, một
hôm A Xà Thế thấy lòng bâng khuâng và nhớ lại mẹ, nhớ
tội ác của mình ông bèn tự thân vào lãnh cung thăm mẹ.
Khi
ngục tốt tận lực đẩy cánh cửa sắt nặng nề, A Xà Thế
bước vào, bỗng ông dừng lại, ông đã thấy gì? Ông thấy
mẫu hoàng tĩnh tọa trên tấm đá lớn hai tay chấp trước
ngực mắt hơi nhắm, nét mặt điềm đạm hiền từ mặc dù
trời lạnh ở trong cung lạnh mà bà vẫn thản nhiên, dừng
vài phút, ông rón rén đến bên và như một cái máy ông quỳ
sụp xuống chân mẹ. Hoàng hậu giật mình mở mắt thấy A
Xà Thế, bà nhẹ nhàng để hai bàn tay lạnh trên đầu con…
Chúng
ta ngày nay biết pháp môn niệm Phật là khởi nguyên từ đó.
Thuật
giả: Thể Quán
Dương
gian là cảnh
Tịnh
Ðộ là quê
Sống
thì ta ở
Chết
ta trở về
Nhân
Nào Quả Nấy
Thuở
nước Vua Lưu Ly vì thù hiềm dòng họ Thích Ca mới cử binh
mà sang đánh nước Ca Tỳ La Vệ. Bắt được một nhóm thiếu
nữ quyến thuộc của Phật, quân lính vua Lưu Ly toan hãm hiếp.
Các người này cương quyết thà chịu chết chớ không để
mất trinh tiết. Không được thỏa mãn thú tánh của mình,
quân giặc liền đuổi xua tất cả thiếu nữ ra đồng đánh
đập một cách tàn ác, đến khi các người ấy ngã gục mới
chịu bỏ đi. Sau khi tỉnh hồn lại, các cô thiếu nữ đồng
nhau một chí hướng tìm chỗ ẩn tu. Trong lúc đi lang thang
giữa đồng hoang, bỗng đâu các cô gặp bà Hoa Sắc Tỳ kheo
ni đi khất thực về. Các cô mừng rỡ đón chào bà và kể
hết nỗi khổ đau để cầu xin theo bà xuất gia học đạo.
Ðộng
lòng từ bi, bà Hoa Sắc Tỳ khoe ni thâu nhận các cô làm đệ
tử. Từ ấy các cô tuy được nơi tu tập mà người nào cũng
thường than thân tủi phận. Sư bà thương tình khuyên dỗ:
Các con mới gặp bao nhiêu tai nạn, vừa qua đã cho là khổ.
Nếu các con biết rõ đời ta, thì các con phiền não đến
bậc nào! Các con ôi! Khi ta còn ngoài đời, thì ta cũng có
đôi bạn như ai. Theo phong tục nước ta, hễ mỗi khi gần
sanh thì các cô gái có chồng được đưa về nhà cha mẹ ruột.
Cũng như hai lần trước lần thứ ba, lúc cận ngày khai hoa
nở nhụy, cả gia đình ta: Chồng vợ con cái cùng kẻ ăn người
ở trong nhà đều kéo nhau về mái hiên cha mẹ ta cả. Trong
khi đi đường xa vất vả, bữa nọ, vừa băng ngang cánh đồng
vắng cách xa làng mạc, đến con sông thì trời sắp tối.
Rủi gặp con nước rồng lại không thuyền, chẳng biết làm
sao qua sông, gia quyến ta phải tìm gò nổng tạm nghỉ một
đêm, đợi sáng ngày nước cạn sẽ đi qua, mới gặp chỗ
cao ráo sạch sẽ thì bụng ta quặn đau. Một chặp sau ta sanh
một đứa con trai thứ ba giống hệt hai anh nó. Chồng ta và
kẻ tùy tùng lập tức kiếm cây lá làm tạm cái sàn gác cho
mẹ con ta nằm đó.
Khi
lo xong cho bốn mẹ con ta có chỗ nằm kín đáo, ấm áp, chồng
ta với bạn bè mới lên một cái nồng gần bên nghỉ ngơi,
một sự bất ngờ rùng rợn đã xảy ra trong giữa đêm trường
canh vắng là: nhiều con rắn độc to tướng đánh hơi người
bèn bò đến nuốt cả chồng ta với các tôi tớ, mẹ con ta
nhờ nằm trên sàn cao, dưới có bếp lửa đỏ, loài mảng
xà không dám lại gần, sáng ngày thừa dịp nước ròng sát,
ta định lội qua sông về quê quán chớ không còn phương nào
hay hơn nữa. Ta bèn cõng con đầu lòng đưa sang qua bờ sông
bên kia trước. Ta lội trở lại bên này, đai đứa con thứ
hai trên lưng, còn đứa mới sanh thì để vào cái đãy vải
ngậm ở miệng và đi từng bước dưới dòng nước. Ðến
giữa sông ta nghe bên kia bờ tiếng con ta rú lên bài hãi. Thì
khốn thay! một con hổ vồ lấy nó, rồi tha tuốt vào rừng,
trước cảnh đau thương bất ngờ ta không còn tỉnh trí, hả
miệng kêu to, đứa bé trong đãy rơi ngay xuống nước. Bấm
loạn tâm thần tay chân run rẩy, ta cứ lặn hụp dưới đáy
sông, mò đứa bé mới nở, quên lững đứa con thứ hai đai
trên lưng mà ta đã vô tình giết nó chết ngộp. Thảm thiết
thay! Chỉ trong một ngày đêm, tới sáng mà cả gia quyết ta:
chồng, con, tôi, bạn đều chết không kịp trối. Ta đành
rơi lệ, nuốt sầu gắng gượng lội tới mé lên bờ, kiệt
sức quá, ta ngã xỉu ngất đi, không còn biết sự gì nữa.
Trong
lúc đó có một lũ ăn cướp đi qua gặp ta bắt đem về nhà
nuôi rồi ép ta làm vợ. Chẳng bao lâu tên tướng cướp làm
chồng sau của ta bị bắt và lãnh án tử hình. Ta cũng bị
chôn sống theo chồng do phong tục. Sau mấy tiếng đồng hồ
bị lấp đất, có bọn cướp khác đến đào mả định lấy
của quý. Thấy ta còn thoi thóp, chúng bèn cứu ta đem về săn
sóc lành mạnh rồi cũng bắt buộc ta lấy tên chánh đảng
làm chồng.
Ăn
ở với nhau được ít lâu, ta có thai. Tối nào, trước khi
đi làm việc bất lương, chồng ta cũng dặn phải chực chờ
mở cửa cho nó vào mau mau khi có tai nạn xảy đến. Một hôm,
nó vừa ra khỏi nhà thì ta đau bụng, cách một chập sau, ta
sanh một đứa con gái. Ðồng thời chồng ta bị người đánh
đuổi chạy về rất gấp. Ta mắc bận bịu vì đứa con nên
không kịp mở cửa. Nó giận dữ tung cửa vào định giết
ta? Ta chỉ đứa con mới nở hy vọng nó nghĩ tình máu thịt
mà bớt cơn thịnh nộ đi chăng. Sau ta thất vọng: nó gắt
gỏng, chỉ mặt đứa nhỏ bảo rằng: nó là nghịch tử báo
đời. Rồi nó liền giết ngay. Nó kề gươm vào cổ ta, bắt
buộc ta phải ăn thịt đứa nhỏ ấy thì nó mới tha.
Cách
ít hôm sau, tướng cướp này bị sa vào lưới pháp luật chịu
án tử hình. Ta cũng bị chôn sống một phen nữa gần bên
mé rừng. Ít phút sau có một con cọp đến moi mả tha xác
người chết ăn thịt. Thân ta chôn ở dưới thây chồng ta
khỏi bị cọp ăn. Ðược thoát nạn này, ta ngẫm nghĩ cuộc
đời của ta vào sanh ra tử, khốn khổ vô cùng, nên ta không
còn tiếc những ngày sống thừa nữa, ta mới quyết chí xuất
gia đầu Phật.
Các
cô thiếu nữ nghe nói hết sức kinh nghi mới bạch rằng: “Nay
sư bà đã tu hành đắc đạo, sư bà có thể cho chúng con rõ
nguyên nhân nào sư bà gặp lắm nỗi gian nan rùng rợn như
thế không?”.
Bà
Hoa Sắc Tỳ kheo ni thong thả đáp: “Các con ơi! Có chi lạ
đâu, đó là quả báo như muôn ngàn quả báo khác của tiền
nhân kiếp trước mà thôi. Ðây các con hãy nghe: Nguyên kiếp
trước của ta, một thuở nọ, ta có chồng có con. Chồng ta
có vợ lẽ cũng có con như ta. Vì ghen tương mà nhất là tham
của, ta sợ gia tài của chồng ta phải chia cho con vợ bé thì
mẹ con ta chẳng được phần nhiều, nên thừa dịp chồng
ta với người thiếp đi vắng, ở nhà ta giết con chúng nó
hết. Chuyện sát nhân đem đến cửa quan, tra khảo cách nào
ta cũng chối mãi và ta lại thề dối rằng: “Nếu tôi có
giết con chồng tôi, thì tôi sẽ bị khổ sở vô cùng, cả
nhà tôi tan nát, các con tôi sẽ bị cọp tha, chết chìm, tôi
sẽ bị chôn sống, chết ngộp v.v… Nếu tôi có ác tâm giết
con vợ lẽ chồng tôi, thì ngày kia tôi sẽ bị người ta bắt
buộc tôi phải ăn thịt người con tôi.”
Ðó
các con có thấy không, một lời nói ra thì va lấy, một tiếng
thề dối mà mắc ngay, một hành động ác thì bị quả báo
dữ không sai. Biết được lý nhân quả như bóng theo hình,
tợ vang theo tiếng, thì các con không còn thắc mắc gì với
những tai nạn của các con ngày nay cũng như của bà ngày xưa.
Cho hay nhân nào quả nấy, chớ khá than van; vì không bao giờ
một việc xảy ra mà không có duyên cớ. Vậy khuyên các con
phải tin nhân quả mà lo tu hành.
Thuật
giả: Trường Lạc
Trước
khi làm một việc gì
Phải
nghĩ đến kết quả của nó.
Ðâu
Là Sự Thật?
Sáng
nay, trời mùa xuân quang đảng quá, những mầm non đầy nhựa
đang e ấp dưới những nách thân yêu của các kẻ lá, cành
cây, muôn chim đang hòa vui, reo hót những bản nhạc mừng xuân,
líu lo lãnh lót. Gió xuân lùa nhẹ những làn hương trong sạch
của muôn hoa, làm giảm bớt một ít u buồn của những khách
trần gian tục lụy, đồng thời gạt vỡ những giọt sương
còn bám chặt, đè nặng trên mình hoa lá.
Vầng
thái dương đã bắt đầu lên, nhả những tia nắng vàng chiếu
tỏa khắp không gian, đem lại loài người nguồn sinh lực
vô biên, đánh tan sự đen tối của đêm dài đầy sợ hãi.
Thành
Xá Vệ đã trở về với những sự náo nhiệt của một đô
thị lớn.
Khắp
các nẻo đường, người đi, kẻ lại lăng xăng nhứt là con
đường lớn vô ra cửa thành.
Ô
kìa! Sao những người đi đường họ đứng dừng lại và
nép qua một bên đường hết thế kia? Họ còn đứng im ra
dáng cung kính nữa! À, thì ra có Ðức Phật từ vườn Cấp
Cô Ðộc vào thành hóa trai, đi gần đến họ. Phải, ai thấy
Phật mà không cung kính cuối đầu cho được. Bước đi khoan
thai, tướng người oai nghiêm, hùng dũng sức sáng của trí
huệ cao siêu, dường như không thể tiềm tàng hết trong người
phải tung phát ra ngoài, thành muôn ngàn tia hòa quang rực rỡ.
Ðứng xa trông cũng đủ khiếp; lựa là phải đứng gần;
càng ngắm lâu, càng nép phục.
Ðức
Phật vào thành, theo đường phố, tuần tự hết nhà nầy
sang nhà khác để hóa trai. Ði như thế ngót một tiếng đồng
hồ. Rồi bỗng nhiên Ngài đứng lại trước cổng một ngôi
nhà khá sang trọng. Chẳng nói chẳng rằng, Ngài đứng im đấy
thật lâu. Cửa cổng vẫn đóng kín và bên trong lặng lẽ
tiếng người. Nếu nom kỹ, ta có thể thấy được bên trong
vợ chồng chủ nhà và đứa con đang xúm quanh mâm ăn thì phải.
Ðức
Phật bèn thâu hào quang và dùng thần lực bay vào.
Tại
thành Xá Vệ này, có một ông trưởng giả giàu có vô số
thế mà thảm ông lại là người keo kiết nhất đời, không
ưa làm việc bố thí, cũng không giúp đỡ ai bao giờ. Mỗi
khi ăn ông sai vợ đóng chặt cửa cổng, không tiếp bất cứ
một ai. Hơn nữa, cửa cổng nhà ông ít khi mở; ông rất sợ
những vị Sa môn đến hóa trai và nhất là những người ăn
mày. Ông keo kiết đến có tiếng khắp đô thành, thì phải
biết! Ngày hôm nay, ông nghe sao thèm thịt gà lạ thường,
lại thêm thằng con cũng đồng một ao ước như ông. Sao một
hồi tranh chấp trong cõi lòng, ông bèn quyết định bạo dạn
bảo vợ làm thịt con gà trống tơ.
Khi
món ăn làm xong, dọn lên mâm, lên bát, vợ chồng và con đồng
nhau hỷ hả.
Ðang
thích thú khen miếng ngon, miếng béo, ép con, mời vợ, ông
trưởng giả bỗng giật nẩy mình, tiếng động chân của
Ðức Phật đã đến tận thềm.
- Ðàn
việt! Ông bà nên cúng dường cho các thầy Sa môn, được
phước báo vô lượng, đức Phật lên tiếng.
Bị
quấy rầy, lại thêm keo kiết, trưởng giả nhà ta đổ cáu:
- Quái
trong lúc vợ chồng người ta đang ăn uống, ông lại đến
kỳ kèo xin xỏ? Nếu biết sự xấu hổ xin mời ông ra ngay
cho.
- Trưởng
giả là kẻ còn mê muội, tự mình không biết xấu hổ, chớ
ta là nhà tu hóa trai có gì mà phải hổ thẹn.
- Tôi
và vợ tôi, con tôi đang ăn uống ngon lành như thế này, vui
sướng như thế này, mà ông bảo là xấu hổ à?
- Trưởng
giả giết cha để ăn, lấy mẹ làm vợ, nuôi nấng cung cấp
cho kẻ oán thù, đã không tự xấu hổ, còn lên mặt trở
lại chê ta là nhà tu hành không biết thẹn à?
- Ðạo
sĩ nói thế nào? Nhà tu hành sao ăn nói kỳ cào thế, tôi giết
cha, lấy mẹ hồi nào?
- À,
thì ra trưởng giả chưa hiểu gì cả. Con gà trống tơ đang
dọn ăn trên mâm kia là cha của ông. Hồi trước vì bản tánh
tham lam, keo kiết, nên nhiều đời phải sanh làm loài gà, để
ăn bẩn cối xay để trả nghiệp. Vì nghiệp quả của ông
ngày nay chấm dứt, nên khiến ông thèm, con ông lại đốc
thúc. Vợ ông tuy phải buộc lòng bắt gà làm thịt, chớ khi
giết bà ta vẫn đau khổ hung lắm, bởi dây oan nghiệp nhiều
đời còn vương vấn. Ðứa con của ông hiện đây, đời trước
nó là quỷ La Sát.
Còn
vợ ông bây giờ, là mẹ ông hồi nhiều đời trước. Vì
ái ân sâu nặng chưa dứt, nên ngày nay phải làm vợ ông để
trả cho hết tình yêu thương tiền kiếp.
Ông
vì si mê không thấu biết căn nguyên, nên đành giết cha nuôi
kẻ oán cừu, lấy mẹ làm vợ, thật là điên đảo luân thường.
Chúng
sinh vì nghiệp chướng che ngăn, tạo nghiệp, thọ quả, quay
cuồng mãi mãi, sanh tử trôi lăn trong ba nẻo, sáu đường
không ngày nào cùng tận. Thật đáng hổ thẹn, đáng thương
tiếc biết bao!
- Bạch
Ngài phải làm thế nào để có thể hiểu rõ được và bậc
người nào mới có thể thoát khỏi vòng khổ lụy của sanh
tử, luân hồi, xin Ngài từ bi bảo cho chúng tôi thật muôn
phần cảm tạ.
- Nầy
thiện nam tử! Những sự oan oan tương báo, tử khứ sanh lai,
lặn hụp nổi chìm như thế, chỉ những bậc tu hành đã dứt
trừ tất cả phiền não mê lầm, chứng đặng ngũ nhãn lục
thông mới mong thoát khỏi. Còn ngoài ra đều khó tránh được
sự trả vay của nhiều đời nhân quả. Ta này đã quan sát
kỹ, thấy trưởng giả nhân tiền căn có gieo hột giống Phật
vào thức điền, dù trải bao nhiêu kiếp luân hồi đền trả
oan khiên, nhưng phước báo vẫn không mất.
Ngày
nay nghiệp quả trả xong, căn lành thuần thục, nên ta khuyên
trưởng giả hãy phát tâm cho mạnh mẽ tinh tấn tu hành kẻo
ngày sau khó thoát.
Kỳ
diệu thay! Lời của Ðức Phật vừa thốt xong như liều thuốc
trị bệnh, ông trưởng giả sợ tháo mồ hôi, tóc lông đều
dựng đứng. Phật liền hiện oai thần cho ông nhớ lại những
tội khiên tiền kiếp.
Bấy
giờ ông trưởng giả hết sức ăn năn lạy Phật để sám
hối những tội khiên ông đã tạo và phát nguyện tu hành,
mong thoát khỏi những tội nghiệp do ngu muội tạo ra, tánh
bỏn sẻn bỗng nhiên tiên tan mất.
- Lạy
Ngài, nhờ thần lực của Ngài phá tan những lớp mây mờ
trong đầu óc của con, ngày nay con mới thấy rõ đâu là sự
thật. Bấy lâu nay, con tưởng những cái gì xung quanh con, nào
vợ, nào con, nào của cải, đều là chân thật của con, nên
con mới lẫn tiếc từ đồng. Xét ra con vì nghiệp chướng
ngăn che, càng nhận thấy càng chìm, nên càng mê muội, lấy
giả làm chơn, cho hư là thật. Ngày nay con đã rõ ra thì sự
đã rồi, mong nhờ ơn Ngài giải thoát giùm con. Con thật muôn
phần cảm tạ.
Ðức
Phật nhận lời thâu ông vào hàng đệ tử. Ông xin thọ 5
giới của Phật, tu hành chứng đặng quả Tu Ðà Hoàn.
Tình
Thương
Hoàng
hôn về, đem theo một ít u buồn vơ vẩn. Theo gió nam, chim
nhạn bay từng đàn lẽ tẻ, đàn chim nhạn bay về trong khói
sương chiều ảm đạm cánh mõi chưa tìm được chỗ trú chân
trong một ngày gió bạt mưa ngàn. Mưa đã tạnh, gió đã yên,
những lá rụng đầy đường đang than thở với ánh dương
tà còn sót lại. Cảnh tượng đượm màu hoang tàn và thê
thảm.
Ngồi
bên song cửa, nàng Liên Hoa bâng khuâng nhìn trời với một
mối u buồn khôn xiết. Ðôi mắt nàng chạm phải cảnh tượng
thê lương của buổi chiều vàng, cũng như lòng nàng chạm
phải một cảnh đời oan trái.
Vâng,
cảnh đời oan trái quá! Bao nhiêu là phỉnh phờ và bao nhiêu
là dối gạt! Lòng nàng còn tươi thắm được không, khi đã
bị gió mây u sầu bao phủ. Lòng người sâu độc và phũ phàng.
Sắc nước hương trời mà làm chi, lâu đài vàng bạc có giá
trị gì, khi lòng người phụ bạc! Ngón đàn tuyệt diệu của
nàng không còn khêu gợi được những mãnh tình tan vỡ. Người
mà nàng chắc chắn sẽ ngàn năm sum hợp, thì nay đã ghét
bỏ nàng. Ðã bao nhiêu lần như thế, và cũng đã bao nhiêu
lần những buổi chiều vàng tan tác về trên cảnh vật. Tình
thương trời ơi! Tình thương chỉ là man trá nhất thời. Tình
thương là gì? Nếu không phải là những cánh nhạn bay qua,
chỉ để lại trên mặt hồ, trên trái tim nàng, những u buồn
thất vọng? Tình thương mong manh quá! Trái tim nàng hình như
thắt lại. Ðời còn có nghĩa gì với một kiếp hồng nhan
bạc phận như nàng?
Cảnh
vật đã nhuộm màu đen tối. Ðêm xuống giữa cảnh vật và
xuống giữa tâm hồn nàng. Nàng cảm thấy bơ vơ trống trải.
Nàng mến tiếc thời xưa, thời mà nàng còn bé bỏng, sống
trong tình thương không giới hạn của mẹ nàng. Tình mẹ thương
con, nàng thấy rõ là một tình yêu chân thật, vững bền.
Ôi, mẹ nàng còn đâu nữa để an ủi nàng trong phút đau đớn
này. Tìm đâu ra tình thương cao cả và đằm thắm như tình
mẹ yêu con.
Nhưng
mắt nàng vừa chạm phải một ánh sáng xa xăm. Ừ, trăng đã
lên ánh sáng dịu hiền đã lan tràn trên cảnh vật. Nàng cố
tìm trong trí nhớ và chắc rằng một tình thương bao la như
ánh trăng hiền hậu vẫn còn có ở đời này. Ðâu đó, người
ta ca ngợi tình thương. Phải rồi, tình thương của bực giác
ngộ ra đời, thấm nhuần muôn vật. Mắt nàng sáng lên, như
nhìn thấy ngôi sao cứu tinh hiện lên ở chân trời rực rỡ.
Người đang gieo rắc tình thương cao rộng bao la, chính là
bực giác ngộ, là Phật đà. Tình thương nhân thế mong manh,
nhưng tình bác ái của đạo Vàng vẫn trường cửu và bao
la cao rộng. Nụ cười thế nhân mong manh quá, nhưng nụ cười
Ðức Phật còn mãi hiền hậu với tất cả mọi loài. Nụ
cười ấy có một cái gì giống với nụ cười mẹ yêu con
tha thiết. Nàng thấy rõ: trú địa an tịnh là dưới ánh đạo
Vàng mà Ðức Phật còn đang gieo rắc quanh Ngài. Nàng sẽ đến
dưới tình thương Ðức Phật.
Tìm
được nơi nương dựa cho tâm hồ, nàng thấy lòng nàng êm
tịnh. Ngày mai, nàng sẽ đến với tình thương cao cả của
Ngài, và như đứa con thơ, nàng sẽ được an lành dưới nụ
cười êm dịu của người mẹ hiền.
Sáng
hôm sau, trời mới tinh sương, Liên Hoa đã vội vàng lên đường.
Ðường về Cấp Cô Ðộc không xa nhưng nàng muốn đến nơi
trước giờ ngọ nắng nung người. Nàng đi với một lòng
tin tưởng ở Ðức Phật Từ Bi không bến hạn của Ðức
Thế Tôn. Mặt trời lên cao, trời đã bắt đầu nóng nực.
Nàng Liên Hoa đi nhanh hơn để mau tới đích. Ðược hơn một
nửa đường, thì mồ hôi đã thấm ướt áo nàng. Ghé vào
một bóng cây to che rợp một hồ sen nước trong như gương,
nàng ngồi nghỉ, nước hồ trong quá, nàng đứng lên lại
gần vuốt mớ tóc lại để rửa mặt. Nước hồ mát rượi,
nàng thấy khỏe khoắn và an lành. Vén tà áo sang bên, nàng
bỗng thấy trong gương nước hồ trong, mặt nàng duyên dáng
tươi lành in trên nền trời xanh biếc, nàng còn trẻ, tóc
nàng còn xanh lắm và môi nàng còn thắm như son. Nàng còn xuân
quá! Rồi đây xuất gia đầu Phật, nàng đứng yên suy nghĩ
- rồi mớ tóc sẽ còn đâu. Sống trong cảnh thanh đạm của
người tu hành, nàng thấy còn sớm quá. Ðể năm năm sau cũng
còn chưa muộn. Nàng còn trẻ và đẹp biết chừng nào? Gương
mặt nàng, biết đâu sẽ đem lại cho nàng một người yêu
trong mộng tưởng.
Nghĩ
thế và ý muốn quay về ám ảnh đầu óc nàng. Nhừng từ
xa một bóng người đi lại. Bóng một thiếu nữ tha thướt
trong dáng đi đẹp của hàng quí phái.
Liên
Hoa giật mình: nàng chưa bao giờ trông thấy một người đẹp
như thế! Mắt thiếu nữ trong như gương nước hồ sen, tóc
nàng buông xuôi, đẹp như một làn mây mờ và mỏng. Nàng
nhẹ tiến về phía nàng Liên Hoa, trên môi đã nở một nụ
cười tươi như hoa phù dung buổi sáng.
Liên
Hoa yên lặng cúi đầu. Nhưng thiếu nữ đã đến bên. Thiếu
nữ cười, tiếng nàng trong như tiếng đàn huyền dịu:
- Sao
chị buồn thế? Chị đi đâu, hẳn chị về Ca Tỳ La?
Liên
Hoa chợt tĩnh, nàng đáp lời thiếu nữ:
- Không,
tôi về vườn Kỳ Thọ.
Thế
là hai người quen nhau.
Liên
Hoa bắt đầu thấy mến thiếu nữ. Ðã lâu, hai người nói
chuyện tâm tình, thiếu nữ nhìn Liên Hoa cười và tiếp:
- Không,
sắc đẹp chóng tàn lắm chị ạ. Chỉ có tình thương rộng
rãi mới là trường cửu.Tình thương thế nhân en thấy quá
mong manh.
Thiếu
nữ tỏ vẻ nhọc mệt. Gối đầu lên vai Liên Hoa, nàng lặng
yên nghe tiếng sáo diều đâu đây đồng vọng.
Lát
lâu, khống thấy thiếu nữ nói gì, Liên Hoa tưởng nàng thiếp
ngủ. Nhưng Liên Hoa kêu lên một tiếng khi nàng chạm phải
cánh tay lạnh như đồng của thiếu nữ. Nàng đặt đầu thiếu
nữ dậy thì, than ôi! Người đẹp đã chết rồi, thân xác
nàng đã lạnh ngắt và cứng đờ như gỗ. Hoảng kinh, Liên
Hoa vùng dậy mắt nàng trông rõ khuôn mặt thiếu nữ: Còn
đâu bao nhiêu vẻ đẹp não nùng! Mặt thiếu nữ xám lại,
mắt trắng dã, toàn thân tím lại như xác người để đã
bốn năm hôm.
Liên
Hoa thở dài. Nàng thoáng thấy lẽ vô thường của kiếp sống
đời người. Nở rồi tàn, sắc đẹp trôi theo thời gian tàn
tạ. Bao nhiêu ham muốn trở về tiêu tan mất cả. Ý chí xuất
gia mạnh mẽ trở lại với nàng, Liên Hoa đặt người bạn
xấu số bên bóng cây già rồi vội vã ra đi về vườn Kỳ
Thọ.
Mãi
bước hướng về nơi chủ đích, Liên Hoa không còn nhìn lui
lại phía sau. Nàng có ngờ đâu, thiếu nữ đã đứng dậy
hồi nào. Thiếu nữ đứng lên, nhìn theo Liên Hoa khuất dạng
trong bóng cây rậm rạp. Hình như đã hiểu sự thay đổi trong
tâm hồn Liên Hoa, nàng mĩm cười đắc chí. Nàng chép miệng:
Bao
nhiêu thế nhân, khi chạm phải luật vô thường vẫn còn ham
muốn không thôi!
Than
ôi! Tình thương thế gian là một trò hề điên đảo! Liên
Hoa sẽ được an lành dưới bóng Ðức Từ Phụ. Nàng sẽ
chứng được đạo mầu.
Trong
khi ấy, mặt trời đã lên đến đỉnh đầu. Tiếng hồng
chung giờ ngọ đã từ Kỳ Viên bay lại, ngân nga trong gió…
Thuật
giả: Thích Minh Lý
Chớ
hẹn đến già mới học đạo,
Mồ
hoang lắm kẻ tuổi xuân xanh.