Phần
05
21/
Cứu vật, vật trả ơn - Cứu nhân, nhân trả oán
22/
Ðâu nguồn hạnh phúc
23/
Cặp mắt Thái tử Câu Na La
24/
Một câu đáng giá nghìn vàng
25/
Gương bố thí
Cứu
vật, vật trả ơn - Cứu nhân, nhân trả oán
Xưa
có vị quốc vương nước Thiên La, ông là một người thông
minh, nên đã trực nhận: thế cuộc vô thường nhân sanh thống
khổ. Liền từ bỏ ngai vàng với tình thương nhỏ hẹp để
vào núi tu hành. Ở được 30 năm, bỗng một hôm nay có người
đi săn ham đuổi theo một con nai, lỡ bước sa vào một cái
hầm sâu, ở trước chỗ Ngài thường ngồi tham thiền; đồng
thời có một con rắn một con chim, vì sợ hãi cũng đều rơi
xuống đó, thân thể bị thương đau đớn vô cùng. Người
trông lên cầu cứu kêu la thảm thiết. Vị đạo sĩ nghe tiếng
kêu la, động mối từ tâm lấy đuốc soi xuống các nạn nhân
đang gục đầu khóc lóc. Ngài đến bên hầm bảo rằng: “Các
người hãy yên tâm, ta sẽ cứu các người thoát nạn”. Ngài
liền đi kiếm dây thòng xuống, người, rắn, chim đều nhờ
sợi dây đó mà lên, thoát khỏi tai nạn. Sau khi lên khỏi
hầm cả ba đều thành kính lạy tạ và thưa rằng: “Thân
mạng chúng con được sống ngày nay, là nhờ lòng hoàng từ
phổ độ của Ngài, vậy chúng con xin trọn đời cung cấp
các vật dụng Ngài thiếu thốn, để đền đáp công ơn trong
muôn một!”. Ðạo sĩ nói: Ta là quốc vương trong một nước,
trân bảo đầy kho, muốn gì cũng được, nhưng ta nhận thấy
phú quí như ngục tù, tài sắc danh vọng là cạm bẫy đưa
ta vào vòng tội lỗi, chúng nó là những lưỡi gươm sắn
bén để giết đời ta, là những mũi tên nhọn để bắn vào
tâm ta và cũng vì chúng ta lặn hụp mãi trong biển sanh tử,
chịu đủ mọi điều đau khổ. Vì thế, ta phải từ giả
xuất gia học đạo, ta nguyện chứng được đạo quả Vô
thượng chánh biến tri để khai hóa chúng sanh trở về giác
tánh, đâu phải ba người mà thôi?. Ngài nói tiếp: Từ nay
các ngươi đền ơn ta, không gì quý hơn quy y Tam bảo, vâng
lời Phật dạy, làm các việc lành.
Người
thợ săn thưa: “Ở đời tuy có những nhà nho sĩ tích công
lũy đức, làm lành tránh dữ, nhưng đâu bằng người Phật
tử quên mình cứu người, mà không cần sự đền đáp của
người chịu ân. Thâm ân của Ngài con không biết lấy gì
đền đáp, song chỉ xin Ngài nếu thuận tiện quá bước đến
nhà con, cho con cúng dường đôi chút”.
Chim
thưa: “Con tên Bác, khi nào gặp việc gì cần đến con xin
Ngài gọi đến tên con, con sẽ đến ngay”.
Rắn
thưa: “Con tên Trành, nếu đạo sĩ có gì không hay xãy đến
xin Ngài gọi tên con, con sẽ đến hầu”.
Thưa
rồi cả ba đều từ biệt đạo sĩ ra về. Tình cờ một hôm
đạo sĩ đến nhà thợ săn, người này vì lòng gian tham ám
ảnh nên vừa trông thấy Ngài đi đàng xa, vội vàng bảo vợ:
“Ngài đến kia sẽ không may cho ta, nếu ta có bảo ngươi
làm thức ăn gì để cúng dường, ngươi hãy chậm chậm, vì
quá ngọ thì ông ấy sẽ không ăn nữa”. Ðạo sĩ vừa đến
nhà, hai vợ chồng thợ săn niềm nở tiếp rước, mời ở
lại thọ trai nhưng dần dà nói chuyện mãi quá ngọ, Ngài
phải về không.
Trở
về núi thấy chim, Ngài gọi: Bác!… Bác!…
Chim
thưa: “Ngài ở đâu về?”
- Ta
ở nhà thợ săn về.
- Ngài
đã thọ trai chưa.
- Nhà
kia chưa kịp dọn thì đã quá ngọ, nên ta không ăn mà trở
về đây.
Nghe
vậy chim tức tối than rằng: “Thật người quá vong ân bội
nghĩa!”. Rồi quay lại thưa với đạo sĩ: “Con không biết
lấy gì để cúng dường Ngài. Mời Ngài ngồi đây con đi
chốc lát sẽ trở về”. Chim liền bay vào hậu cung của vua
nước Bà Già, thấy Hoàng hậu nằm ngủ, trên đầu có gài
hột ngọc kim cương; chim tha về dâng cúng đạo sĩ. Hoàng
hậu tỉnh dậy tìm ngọc không thấy, liền tâu vua. Vua truyền
sắc trong nước: người nào tìm được ngọc trọng thưởng.
Ðạo
sĩ khi được ngọc kim cương bèn nghĩ rằng: “Ta tu hành dùng
gì đến vật này, thôi đem lại cho người thợ săn”. Người
thợ săn biết là ngọc của vua, bèn trói đạo sĩ đem đến
nộp cho nhà vua.
Vua
hỏi đạo sĩ: “Nhà ngươi từ đâu đến mà được ngọc
quý này?”.
Ðạo
sĩ suy nghĩ: “Nếu nói sự thật thì loài chim trong cả nước
nầy đều bị chết hết; nếu nói trộm được thì không
phải người tu hành”, Ngài nghĩ vậy đành im lặng vui lòng
chịu đựng sự hành phạt ngọn roi tàn nhẫn! Ngài không oán
vua không thù người thợ săn. Trái lại, Ngài động lòng từ
bi nên phát nguyện rằng: “Cho tôi được mau thành Phật để
cứu độ các sự quả báo khổ não của anh thợ săn vì lòng
tham ác đã gây nên, và tất cả chúng sanh hiện đang đau khổ”.
Vua truyền đem chôn đạo sĩ chừa đầu lại sáng mai để
giết.
Bấy
giờ đạo sĩ gọi tên con rắn:
Trành!
Trành… Rắn nghĩ: “Trong thiên hạ không ai biết tên ta, chỉ
có đạo sĩ thôi, có lẽ cần gì đến ta chăng?”. Rắn vội
vàng tìm đến, thấy đạo sĩ bị hình phạt như thế. Rắn
đau đớn cúi đầu thưa rằng: “Vì sao Ngài bị mắc nạn
này?”.
Ðạo
sĩ kể tất cả nguyên do. Rắn rơi nước mắt thưa: “Lòng
nhân đạo của đạo sĩ rộng lớn không bờ bến, mà còn
gặp tai nạn như thế này, huống gì kẻ không đạo đức,
thì tai họa lại sao tránh khỏi”. Rắn thầm nghĩ: ông vua
nầy chỉ có một Thái tử rất cưng quý, ta sẽ vào cung cắn
chết Thái tử rồi trở ra đưa thần dược cho đạo sĩ. Và
dặn: “Hễ thấy đám Thái tử đi ngang qua, Ngài đem thuốc
này cứu Thái tử, Ngài sẽ thoát nạn”.
Sau
khi hay tin Thái tử chết, nhà vua đau đớn vô cùng, bèn truyền
lệnh: “Người nào có tài năng làm cho Thái tử sống lại,
ta xin chia một nữa nước”. Nhưng tất cả lương y trong nước
đều bó tay. Nhà vua đành đem thây Thái tử vào núi để hỏa
tang. Ðám đi ngang qua bên đạo sĩ, đạo sĩ hỏi: “Thái tử
đau bệnh gì mà bỏ mạng chóng thế? Hãy thong thả tôi có
thể cứu sống Thái tử”. Thị tùng nghe vậy vội vàng đến
tâu vua. Vua rất mừng cảm động nói: “Nếu Ngài cứu sống
con tôi, tôi sẽ xá tội cho Ngài và chia nước để Ngài làm
vua”.
Ðạo
sĩ lấy thuốc xoa khắp thân thể, bỗng nhiên Thái tử ngồi
dậy: “Vì sao ta ở đây?”. Người hầu thuật rõ mọi việc
đã xảy ra. Thái tử vui mừng trở về cung. Vua giữ lời hứa
chia nửa nước cho Ðạo sĩ, Ðạo sĩ nhất định từ khước
không nhận. Khi đó nhà vua tỉnh ngộ, Ðạo sĩ là người
đã sống ra khỏi vòng danh lợi, bèn hỏi: “Ngài ở nước
nào, và được ngọc ở đâu?”.
Ðạo
sĩ thuật rõ đầu đuôi việc đã xảy ra. Nhà vua nghe rồi
ăn năn cầu xin sám hối, rồi đòi thợ săn đến bảo: “Ngươi
có công với nước, đem tất cả bà con đến đây ta sẽ trọng
trưởng”. Khi đã đến đầy đủ vua truyền lệnh: “Vì
ngươi đã bất nhân bội nghĩa, mà đạo sĩ gần thác oan,
tội người rất nặng ta sẽ giết cả họ”. Lệnh vừa truyền
ra, Ðạo sĩ vội đến can vua: “Chúng ta là kẻ trượng phu,
không nên đem oán để báo oán, nên đem ân mà báo oán, oán
ấy mới mong dứt được. Vậy xin bệ hạ hãy vì tôi tha cho
tất cả những người nầy”. Vua nghe cảm động và mến
phục đức nhẫn nại hy sinh cao cả của đạo sĩ. Liền ân
xá cho những tội nhân ấy.
Ðạo
sĩ trở về núi, tiếp tục tinh tấn tu hành, đến khi mạng
chung được sanh lên cõi trời và lần lượt chứng thành đạo
quả.
Nói
đến đây, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni gọi các Tỳ kheo mà
bảo: “Ðạo sĩ này chính là tiền thân của ta, chim là tiền
thân của ông Thu Tử, rắn tức là A Nan ngày nay, thợ săn
chính là Ðiều Ðat đó vậy”.
Thuật
giả: Thể Thanh
Ðâu
Nguồn Hạnh Phúc
Ánh
tà dương dịu sáng, vui tươi, lan rộng giữa khoảng trời
xuân êm ả. Gió muôn phương thổi lại, đem hương hoa về
ướp thơm cảnh vật nơi vùng tịnh xá Kỳ Hoàn. Cỏ cây lành
mạc đượm vẻ thái bình, thanh tịnh trong buổi chiều hôm.
Ðó đây vài làn khói lam uốn éo vươn mình trên mấy túp
lều tranh cũ kỹ. Xa xa một đỉnh núi cao của dãy Hy Mã Lạp
Sơn đội xấp xỏa lùm cây trắng trông giống như ông lão
bạc đầu.
Giữa
khung cảnh thiên nhiên vừa êm đềm, vừa ẩn vẻ hùng tráng
ấy, bốn thầy Sa môn cùng ngồi đàm luận dưới gốc cây
cổ thụ. Trời xuân tươi đẹp như dục khách sanh tình, một
vị bổng lên tiếng bảo: “Này các huynh đạo: thử nghiệm
xem trong đời có điều chi đáng yêu và vui thích nhất?”.
Nghe lời ấy ba vị đều tỏ vẻ tán thành, nói tiếp: “Hay
lắm, chúng ta mỗi người nên suy nghĩ, rồi đưa ý kiến ra
để giải đáp câu hỏi này, xem đằng nào hơn?”.
Sau
vài phút trầm ngâm, vị thứ nhất bảo: “Vào tiết trong
xuân, cây cỏ khoe tươi, muôn hoa cười nụ, tiếng chim líu
lo trên cành bích, hương thanh phảng phất khắp nơi, phong cảnh
thật là đẹp! Trong lúc ấy ví ta được thả thuyền nhẹ
theo giòng nước hay mang theo bầu rượu đến sườn non, chắc
trong đời không chi thú bằng!”.
Vị
thứ hai đáp: “Cảnh gia đình sum họp vẫn là vui. Nhưng nếu
thêm vào đấy những thức ngon, rượu quí, và tiếng sinh ca
khoan nhặt lẫn trong tình thân mật, nét hân hoan thì tôi thiết
tưởng hạnh phúc trên đời chỉ trong ngần ấy!”.
Vị
thứ ba nói: “Tôi thấy: nếu ta được sinh trong dòng tôn
quý giàu sang, ở lầu cao nhà rộng, sẵn tiền bạc nhiều
ta muốn sắm món gì cũng tùy thích. Khi ra đường ta phục
sức cực kỳ xinh đẹp, xuống ngựa lên xe. Lúc nào nhà ta
gọi đến, lắm kẻ kính thưa hầu hạ. Trong cảnh đó thử
hỏi còn chi hơn? Theo ý tôi đó là thú vui độc nhất”.
Vị
thứ tư lại bảo: “Giữa đời, tiền bạc, quyền tước
có lẽ còn dễ tìm hơn giai nhân. Riêng về tôi, người nào
có được ba nàng hầu tuyệt sắc, kẻ ấy chưa chắc vua chúa
sánh bằng! Còn thú gì vui hơn: Khi ngắm nét hoa tươi đẹp,
bâng khuân dường lạc non hồng; lúc nghe giọng hát du dương;
ngơ ngẩn như vào động bích. Lại còn lúc khi cùng người
ngọc bàn câu phong tuyệt, cạn chén đồng tâm, chắc rằng
hạnh phúc giữa trần hòan không qua mấy điều tôi đã kể”.
Sau khi tỏ bày ý kiến, bốn vị đều cho chỗ nhận xét của
mình là đúng, cùng nhau tranh luận phân vân.
Bấy
giờ, cách đấy không xa, Ðức Phật đang đi kinh hành xung
quanh Kỳ Hoàn tịnh xá. Nghe mấy lời ấy, Ngài động lòng
thương xót, liền bước đến hỏi: “Các ông bàn luận chuyện
gì thế?”. Bốn vị Tỳ kheo không dám che giấu, phải đem
sự thật thưa lên. Ðức Phật bảo: “Những lời mà các
ông vừa nói, đều là đường lối đi vào sự lo sợ, đau
buồn không phải hạnh phúc lâu dài, chân thật, vì sao? - cảnh
vật dù tươi đẹp trong mùa xuân, nhưng sang thu đông là phải
tàn tạ héo khô. Thân quyến tuy sum họp vui cười, song có
lúc đau khổ vì sinh ly tử biệt. Tiền của, ngựa xe là những
vật không lâu bền, và khi chết ta không thể đem theo. Ðến
như sắc dục là một mối nguy vô cùng nó làm cho con người
thân thể suy mòn, tinh thần mờ mệt. Những cảnh hư nhà,
mất nước đều từ ấy sinh ra. Tóm lại bao thú vui các ông
vừa kể, đã mong manh ngắn ngủi, lại chính là nguyên nhân
cho sự luân hồi đau khổ về sau. Chỉ có cảnh niết bàn
là sáng suốt, thường còn, an vui, trong sạch. Ðấy mới chính
là nguồn hạnh phúc chân thật lâu dài. Là Sa môn đã lánh
trần tìm đạo, các ông đừng để cho sự vui giả dối ám
ảnh, mà tiến theo con đường chân chánh, sáng suốt của mình”.
Tiếp
theo mấy lời ấy, Ðức Phật lại nói kệ rằng:
Thương
mừng sinh lo
Thương
mừng sinh sợ
Biết
rõ thương mừng
Ðâu
còn lo sợ?
Ái
dục sinh lo
Ái
dục sinh sợ
Nếu
không Ái dục
Ðâu
còn lo sợ?
Ham
muốn sinh lo
Ham
muốn sinh sợ
Nếu
không ham muốn
Ðâu
còn lo sơ?
Ưa
pháp trong sạch
Lòng
thành, biết thẹn
Sửa
mình gần đạo
Ðược
chúng yên mến
Xa
lìa thị dục
Nghĩ
rồi mới nói
Lòng
không tham ái
Sẽ
thoát luân hồi
Ðức
Phật lại bảo bốn vị Tỳ kheo: “Về kiếp trước có vị
vua tên Phổ An, kết bạn với bốn ông vua bên nước láng
giềng… Một hôm, vua Phổ An mời bốn ông bạn sang nước
mình hội yến. Tiệc hoa kéo dài đến tận bốn tháng, tiếng
ca nhạc, thức lạ ngon, đã làm cho tình thân hữu càng thêm
đậm đà, khắng khít. Ðến ngày chia tay, vua Phổ An hỏi bốn
bạn rằng: “Trên đời có thú chi vui nhất?” Bốn vị quốc
vương đều theo chỗ ưa thích, tuần tự đưa ra mấy điểm
sau này: Cuộc dạo chơi – Gia đình sum họp – Giàu sang -
Sắc dục. Vua Phổ An nói: “Theo ý kiến tôi, những điều
các ông bàn luận, đều là thú vui mong manh và nguyên nhân
đau khổ, chỉ có đạo vô vi trong sạch là vui”.
Này
các Tỳ kheo! “Vua Phổ An thuở trước chính là thân ta ngày
nay; bốn vị quốc vương kia là tiền thân các ông đấy. Kiếp
xưa ta đã giải rõ sự vui khổ, mà các ông còn chưa hiểu,
nên mới trôi lăn mãi trong biển sanh tử cho đến đời nay.
Nếu hôm nay các ông lại không cố gắng tu tỉnh thì bánh
xe sống thác khổ đau chưa biết bao giờ dừng nghĩ”.
Nghe
Ðức Phật nói, bốn vị Tỳ kheo hổ thẹn, sám hối khói
tham dục tiêu tan, gương lòng lặng yên, trong sạch. Khi Ðức
Phật trở ngót bước đi, không ai bảo ai, bốn người đều
ngồi thẳng mình, để tâm vào cõi thanh nhàn, vắng lặng…
Chiều
dương từ từ đi thẳng xuống phương đoài xa thẳm. Dạ thần
cũng bắt đầu rủ màn âm u trên vạn vật. Giữa khoảng trống
của hai quả núi bên chân trời tây, bỗng lộ ra nhiều vệt
mây hồng rực rỡ, tạo nên một vẻ đẹp huyền ảo, thiên
thần. Cùng trong lúc ấy, khi ánh sáng đời sắp tắt, ánh
sáng đạo lại bật chiếu nơi tâm của bốn vị Tỳ kheo.
Trong một buổi chiều xuân, họ đã tìm thấy nguồn hạnh
phúc khơi dòng trong cảnh trời xuân bất diệt - trời xuân
của ly dục và thanh đạm.
Thuật
giả: Trí Hiền
Có
thì sẽ mất
Giàu
sang sẽ nghèo hèn
Tụ
hội sẽ phân ly
Mạnh
khỏe rồi sẽ đau chết
Cặp
Mắt Thái Tử Câu Na La
Thuở
xưa ở Ấn Ðộ có một ông vua tên là A Dục trị dân rất
công bình. Hồi còn trẻ, tính Ngài hay giận dữ nhưng dần
dần Ngài trở nên hiền từ dịa dàng. Nhờ gương sáng của
Ngài, nhờ huấn dụ đưa ra, Ngài dạy cho dân tính nhã nhặn
đối với mọi người và lòng bác ái đối với kẻ khổ
sở. Ngài lập bệnh viện để chữa trị người bệnh, lập
công viên để người và vật có chỗ nghĩ ngơi, sai đào giếng
để khách bộ hành và vật khỏi bị khát nước, sai trồng
hai bên đường những cây ăn quả và cây để làm thuốc.
Người
con đầu tiên của Ngài có cặp mắt đẹp hiền từ như chim
“Câu Na La”. Vì thế người ta gọi chàng là Câu Na La. Ðức
vua rất đổi yêu mến, Hoàng hậu Liên Hoa là mẹ của Thái
tử.
Hoàng
hậu mất sớm. Nhưng Thái tử rất được vua cha yêu dấu
và tin dùng. Lòng từ ái, tính dịu dàng và khiêm nhượng của
Ngài làm nhân dân rất yêu mến và kính trọng. Vợ Ngài rất
dịa dàng, bao giờ cũng làm vừa lòng Ngài, tên nàng là Ma
Ða Vi.
Hoàng
hậu mất, vua A Dục lấy một người vợ kiêu căng và độc
ác tên là Xích Di. Sau khi nàng sanh được một con, nàng ước
ao nó sẽ được nối ngôi thay chân Câu Na La, và tuy không
để lộ ra một cử chỉ gì, lòng nàng rất ghét người con
ghẻ.
Nhân
khi vua mắc bệnh nặng, các thấy thuốc đành bó tay, nàng
Xích Di tìm cách chữa khỏi, vua tỏ ý muốn tạ ơn nàng, nàng
xin vua cho con nàng được nối ngôi. Thật éo le cho vua A Dục.
Ngài rất làm buồn rầu vì không thể chiều lòng ân nhân,
và Ngài nhắc lại lời hứa với chánh hậu lúc lâm chung là
chỉ truyền ngôi cho Thái tử Câu Na La mà thôi. Ngài nói: “Ta
có thể bỏ ngôi báu chứ không thể phụ lời hứa được”.
Thấy
chuyện không lành, Xích Di xin vua cầm quyền chánh một ngày
mà nàng sẽ định sau. Vua nghe lời, và nàng định nhân dịp
ấy mà làm những việc ghê gớm.
Trong
nước có một thành gọi là Ðắc Xô Thi La nổi lên chống
lại các quan cai trị của nhà vua. Chính hoàng hậu Xích Di
cũng dính vào việc ấy. Thật thế, trước hết nàng cho các
quan tiền rồi bảo lấy thuế dân thành ấy thật nặng, sau
xúi dân nổi lên làm loạn. Hoàng hậu xúi dân nên yêu cầu
vua cho Thái tử Câu Na La ra cai trị thành ấy, lấy cớ rằng
chỉ có Thái tử là công bình mới đẹp loạn được. Sáng
hôm sau các đại biểu thành Ðắc Xô Thi La đến để yêu
cầu việc ấy, Xích Di tâu vua cho được tự tiện dùng ấn
của Ngài, là cái ấn dùng để niêm phong những sứ mệnh
gởi đi. Thế tức là nàng nắm được quyền hành trong ngày
ấy.
Rồi
các đại biểu, Hoàng hậu tán thành lời yêu cầu của họ,
tâu vua rằng chỉ có Hoàng tử được dân khâm phục và vì
thế đưa dân đến chỗ bình an mà không có cuộc bạo động
vì. Vua nghe lấy làm bối rối, vì Ngài nghi Hoàng hậu có manh
tâm.
Có
gì nguy hiểm bằng sai Thái tử đến một thành phiến loạn.
Thấy
vua lo âu, Hoàng hậu giả vờ đau đớn nói rằng: “Nếu nhà
vua còn nghi ngờ lòng nàng thì từ nay nàng không nói gì nữa”.
Rồi nàng giả bộ giận dỗi trả ấn lại cho vua, vì nàng
biết thế nào vua cũng không nỡ thu. Thật thế, vua A Dục
trọng lời hứa không dám lấy ấn lại. Thái tử cũng một
mực xin đi, Ngài phải bằng lòng. Nhưng muốn chắc chắn Ngài
định cho một đội quân đi hộ thân Hoàng tử. Hoàng tử
từ chối việc ấy, vì ngài nghĩ muốn tránh sự đổ máu,
phải hành động rất mau: Nếu đi với đạo quân thì mất
nhiều thì giờ. Ngài lại nói rằng: “Nào phải thấy gươm
giáo như rừng, nghe tiếng ngựa hý, voi gầm, tiếng xe, tiếng
trống, tiếng kèn, mà yên nhân tâm được đâu”.
Vua
không nói gì nữa. Thái tử từ giã Ngài, từ giã nàng Ma Ða
Vi rồi một mình cỡi ngựa Ma Ðăng La phi đi mau như gió. Chàng
có ngờ đâu sau lưng chàng có người kỵ mã phóng nước đại.
Ðó là người rất trung thành với Hoàng hậu, đương mang
trong mình một sứ mạng có niêm ấn vua kỷ lượng.
Thái
tử cưỡi bạch mã đi mau như bay. Hai bên đường làng mạc
núi đồi đồng lúa rừng xanh như thụt lui lại. Nhưng cái
tên chàng còn đến nhanh hơn, vì nhân gian mong ngài đến lắm.
Họ sửa soạn tiếp chàng. Kẻ thì rắc hoa xuống đường,
kẻ thì hái quả đến hiến, đâu đâu cũng dậy tiếng hoan
hô. Nhân dân xin Thái tử tha tội vì dân chúng không dám nổi
lên chống vua, mà chỉ vì bọn tham quan ô lại. Nghe tiếng
kêu vang. Ngài lấy làm thương hại tha lỗi mà đi vào thành
giữa tiếng nhạc vang lừng. Thái tử đặt lại thuế má chọn
người công bình ra trị dân; dân lấy làm mừng rỡ và phái
đại biểu về tâu vua tỏ bụng trung thành, và ca tụng Thái
tử đã đưa lại sự yên ổn.
Thành
Ðắc Xô Thi La đang vui vẻ thì bỗng nhiều người cưỡi ngựa
theo Thái tử vừa đến, và giao cho công chức trong thành một
cái dụ. Mở ra xem ai nấy sửng sốt sợ hãi vì đạo dụ
ra lệnh: “Phải móc mắt Thái tử Câu Na La kẻ thù lợi hại
của nhà vua và là kẻ làm nhơ nhuốc nòi giống”. Ðạo dụ
lại nói rằng khi đã làm hình phạt ấy rồi, không được
người dân nào cứu giúp Thái tử và cấm không được nói
đến tên Ngài nữa.
Các
viên chức không dám cho Thái tử biết đạo dụ vô nhân đạo
ấy. Sau một đêm lo ngại, họ nói với nhau rằng: “Nếu
ta không tuân lệnh sẽ bị nhiều nguy hiểm. Ðến Hoàng tử
là người tốt đối với tất cả thiên hạ mà nhà vua còn
bắt tội nữa là chúng ta”.
Ngày
mai họ dâng đạo dụ lên cho Hoàng tử. Ðọc xong Ngài nói:
“Ðây chính là lệnh của nhà vua, vì có niêm ấn rõ ràng,
các ngươi cứ thi hành theo lệnh ấy”.
Ngài
cũng biết rằng vua cha chẳng bao giờ có ra lệnh hành hình
con, đó là chỉ do Hoàng hậu, nhưng đã có niêm ấn thì phải
tuân theo.
Dân
gian được tin sẽ thi hành mệnh lệnh tại một khoảng đất
giữa thành phố. Ðến giờ đao phủ được lệnh móc mắt
Thái tử, nhưng bọn này chỉ chấp tay cung kính xin chịu: “Chúng
tôi không ai đủ can đảm làm việc ấy”.
Thái
tử tháo chuỗi ngọc mang trên đầu đưa cho đao phủ nói rằng:
“Ðây là tiền thưởng cho các ngươi để làm tròn phận
sự”. Chúng vẫn một mực từ chối. Sau cùng có một người
hình thù quái gở, đến xin thay chân bọn đao phủ. Nhưng anh
này cũng không có gan dùng tay móc mắt. Anh ta đốt một đống
lửa lớn nung một thanh sắt đỏ rồi lại gần Thái tử.
Thái tử ngồi tự nhiên để đốt cặp mắt. Cảnh tượng
bấy giờ thật là đau đớn đến nổi hằng nghìn người
chung quanh đều khóc vang lên.
Hành
hình xong, Thái tử một tay chống lên người kia, một tay ra
hiệu bảo mọi người chung quanh yên lặng. Thái tử khuyên
phải xa Ngài ra không được cứu giúp Ngài và kêu tên Ngài,
y như trong đạo lệnh. Họ cúi đầu vừa đi vừa khóc, trong
lúc ấy Thái tử nằm phục xuống đất. Nghe nắng dội nóng,
Ngài lê đến một chỗ có bóng mát để nghỉ.
Lâu
lắm, chung quanh Ngài yên tịnh không một tiếng động, bỗng
Ngài nghe tiếng chân ngựa dậm gần đến rồi có tiếng kêu
thảm thiết.
Nhận
là con ngựa Măng Ða La, Ngài nói: “Còn con nữa, con cũng nên
bỏ thầy con”.
Con
ngựa quanh quẩn vài lần rồi đi xa, ra khỏi thành phố, một
mình lủi thủi trở lại con đường mà nó đã vui vẻ đưa
Thái tử đi.
Mặt
trời lặn. Một vài ngườI động lòng muốn giúp Ngài. Song
đã có lệnh cấm, họ đành đứng xa nhìn nhau lắc đầu.
Sau mãi một bà lão nghèo đi lại gần Ngài lấy nước rửa
chỗ đau và lấy cỏ băng lại; bà đỡ Ngài dậy, dìu ra khỏi
cổng làng rồi đành thở dài trở về.
Trong
lúc Thái tử đang đau đớn, thì đại biểu thành Ðắc Xô
Thi La được vua tiếp đãi ân cần. Thấy nói Thái tử được
tung hô tôn trọng, lòng nàng Ma Ða Vi cũng bớt lo sợ, vì nghe
chồng nàng phải đi dẹp loạn nàng vẫn áy náy không yên.
Mấy
ngày sau, sốt ruột nàng đi đến chỗ nàng từ biệt chồng;
qua ngày thứ ba, nàng bỗng thấy con ngựa Ma Ða La trở về
một mình. Một tư tưởng ghê gớm thoáng qua óc nàng; rồi
như cây gỗ bị đốn gốc, nàng ngã xuống bất tỉnh.
Tỉnh
dậy nàng nghĩ rằng có lẽ chồng nàng đã bị dân nổi loạn
giết chết. “Sao ta lại không tin chồng ta còn sống?” Nếu
chưa được tin chắc chắn, sao ta không đi tìm chồng”. Nghĩ
vậy nàng không để mất một phút, trở về cung, trút bỏ
đồ trang sức, ăn bận như người thường dân rồi trốn
đi tìm chồng nàng không dám cho vua biết, sợ vua vì thương
mà cầm lại chăng.
Nàng
lủi thủi đi về phía thành Ðắc Xô Thi La, ruột đau như
cắt, dọc đường gặp ai nàng cũng hỏi có gặp Thái tử
không? Ði ngày này sang ngày khác chẳng được tin gì cả.
Một
buổi sáng vừa ra khỏi chỗ trú đêm, nàng liền gặp một
người nông phu đang gieo mạ. Người ấy nói lúc rạng đông,
nhân đi qua đám rừng nhỏ thấy một người trẻ tuổi mù
mặc áo ra dáng ông hoàng; người nông phu liền cho người
ấy mấy quả cây hái trong rừng và một chén nước lã.
Nàng
Ma Ða Vi liền đến chỗ ấy thì nàng thấy Câu Na La một mình
ngồi trên đá. Nhưng đau đớn thay, cặp nhỡn tuyến của
chàng đã tắt hẳn. Nàng khóc nức lên và quì trước chàng
nghẹn ngào, cầm lấy tay chàng hôn. Nghe nước mắt nhỏ xuống
tay, Thái tử cảm động, đoán là nàng Ma Ða Vi. Nhưng chàng
chưa dám tin. Ðến khi nghe rõ tiếng nàng thì không còn nghi
ngờ gì nữa. Chàng bảo nàng ngồi xuống; trong lúc đang đau
khổ ấy, được gặp người thân yêu, nỗi vui mừng khôn
xiết.
Thái
tử thuật lại cho vợ nghe những chuyện xảy ra. Rồi nàng
đỡ chàng đứng dậy đưa chàng cùng về ra mắt vua cha.
Về
phần vua A Dục từ khi được tin con ngựa Ma Ða La về một
mình và nàng Ma Ða Vi đi trốn, Ngài rất lo ngại. Tức khắc
sai sứ về thành Ðắc Xô Thi La để hỏi tin Thái tử và tìm
nàng Ma Ða Vi. Nhân dân trong thành, thấy vua lo ngại cho Thái
tử liền hiểu họ bị cái dụ đầu tiên lừa. Sợ bị nghiêm
trị, họ bèn tìm cách lừa sứ giả rằng Thái tử đã một
mình về triều. Dân chung quanh không dám hé răng, vì chúng
biết rằng nói sẽ bị trừng phạt. Sứ giả nghi dân đã
giết Thái tử nhưng không cớ chứng cớ gì đành trở về.
Trong
khi ấy hai vợ chồng Thái tử cùng dắt nhau về kinh. Bấy
giờ Thái tử đã trút bỏ bộ quần áo ông hoàng mà khoác
đồ rách rưới vì trong cảnh ấy đồ trang sức chỉ làm
thêm đau lòng. Ði qua làng hai vợ chồng cất tiếng hát trong
trẻo dịu dàng, dân làng động lòng đưa cho đồ để ăn
uống.
Một
ngày kia hai người đến cung điện nhà vua. Lính canh cửa thấy
người lam lũ nên không cho vào. Nhưng thấy cảnh thương hại
áo rách bùn lầy bụi bậm nên cho vào trú trong chỗ chứa
xe. Mỏi mệt hai người ngủ thiếp. Ngày mai vua A Dục đương
buồn rầu nghĩ đến con thì ngài giật mình vì nghe tiếng
hát quen tai; đó là tiếng hát của Thái tử ở trong nhà chứa
xe. Vua nhận ra là tiếng con, nhưng còn sợ lầm. Ngài sai ra
hỏi xem ai hát. Cận thần tâu rằng: đó là tiếng hát của
người ăn mày mù, đi với một người vợ. Vua liền sai dẫn
cặp vợ chồng kia đến sân rồng. Thoạt đầu thấy người
ăn mặc rách rưới vua còn nghi ngờ chưa dám nhận là con nhưng
hộ mặt hiền từ phúc hậu kia thật là của Thái tử, còn
lầm sao được. Hơn nữa dầu nàng Ma Ða Vi áo quần thô kệch
cũng còn dễ nhận. Vua đưa mắt nhìn dâu, nhìn con rồi ôm
choàng cả hai mà khóc nức nở.
Một
hồi lâu vua mới định thần lại, hỏi vì sao Thái tử mắc
nạn. Khi hiểu nguyên do, vua nổi giận, hỏi rằng: “Ðứa
nào dám dùng ấn của trẫm để làm việc tày trời kia?”.
Thái tử ngồi im, vì chàng không muốn nói vì sợ Hoàng hậu
bị nghiêm phạt, hỏi mãi, nàng Ma Ða Vi mới nhắc lại cho
vua hay rằng Hoàng hậu Xích Di có được phép dùng riêng ấn
vua trong một ngày. Ðã nhiều lần vua nghi Hoàng hậu có bụng
ác với Thái tử. Vì Ngài nghĩ rằng, Hoàng hậu muốn con được
nối ngôi tức là muốn trừ Hoàng tử Câu Na La; tuy nghi vậy
Ngài vẫn không dám tin. Nhưng bây giờ sự đã rõ ràng, Ngài
liền truyền lệnh vời Hoàng hậu đến.
Về
phần Hoàng hậu, từ khi thi hành được thủ đoạn, mất ăn
mất ngủ; hễ chợp mắt là thấy hiện ra cảnh mắt Thái
tử bị hành hình. Thế rồi vừa tỉnh dậy vừa la. Nàng lo
rằng tội nàng sẽ có ngày tiết lộ. Nàng tưởng tượng
rằng từ vua chí dân, lính tráng, quan lại ai cũng nhìn thấu
rõ tâm can mình, khiến nàng càng thêm khắc khoải lo sợ.
Khi
có lệnh đòi, nàng đoán biết là việc bại lộ, lúc thấy
các tội ác của mình, nàng hối hận nhưng không nói ra tiếng
nữa chỉ cúi gầm mắt xuống, đợi lời tuyên án. Thái độ
ấy rõ ràng hơn lời thú tội.
Vua
A Dục nổi giận mắng lớn và truyền rằng trước khi đưa
Hoàng hậu ra chém còn bắt chịu nhiều cực hình đau khổ
đã. Thái tử tâu xin vua mở lượng từ bi giảm tội cho nàng.
Nhưng vua vẫn không nghe. Thái tử bèn quỳ xuống nói rằng:
“Tâu lạy phụ vương, nào phải một mình Hoàng hậu phạm
tội đâu! Ðó chỉ là kiếp trước con làm nhiều tội ác,
nên nay bị nghiệp báo thôi. Ðã từ lâu con cố nhớ xem lại
kiếp trước con đã tạo nên tội ác gì nhưng mãi đến tối
hôm qua, con mới nhớ rõ…”
Vua
ngắt lời: “Như con thì có tội gì, con là người tốt nhất
trên đời!”. Thái tử cảm động đáp: “Một người hiền
lương chưa hẳn là vô tội. Vì nếu kiếp này ăn ở hiền
lành, nhưng kiếp trước bạc ác thì cứ phải chịu quả báo.
Tâu phụ vương, thuở xưa, có một người đi săn, một hôm
thấy năm chục con dê rừng trong núi, liền lung núi bắt hết.
Anh ta nghĩ rằng nếu giết hết thì tiêu thụ làm sao cho hết,
chi bằng ta móc mắt chúng đi, chúng không trốn được, ta
sẽ lần lượt đưa từng con tới tỉnh mà bán. Nghĩ thế
anh ta không ngần ngại liền dùng tay móc mắt chúng đi rồi
thả vào hang núi để bán dần. Người đi săn ấy là tiền
kiếp của con. Người đi săn ấy đã làm đau khổ năm mươi
chúng sanh, ngày nay là ngày cuối cùng người ấy trả nợ
vậy”.
Vua
nghe lấy làm cảm động, nhưng còn phân vân chưa tin thì Thái
tử ngồi ngay ngắn lại, chắp tay trước ngực mà nói rằng:
“Nếu lời tôi nói đúng sự thật thì xin Phật chứng minh
cho và mắt tôi sáng lại”.
Lời
nói vừa dứt, mắt Thái tử bỗng sáng như thường, vua A Dục
và nàng Ma Ða Vi xiết bao vui mừng.
Vua
dẹp giận ra lệnh ân xá cho nàng Xích Di, chỉ buộc nàng phải
tìm chỗ yên để sám hối tội lỗi. Vua từ đó ngôi báu
vững vàng, còn Thái tử được chính thức phong Ðông cung
để nối ngôi sau và nàng Ma Ða Vi sẽ là Hoàng hậu.
Thái
tử Câu Na La là tiền thân Phật Thích Ca vậy.
Trích:
Phật Pháp
Tạo
một nghiệp nhân gì, dù lâu đến trăm ngàn kiếp cũng không
mất, hễ đủ nhân duyên rồi, thì mình phải chịu quả báo.
Một
Câu Ðáng Giá Nghìn Vàng
Ðời
xưa có một nhà triết lý treo biển giữa chợ nói: “Ai chịu
hễ một trăm lạng vàng thì sẽ dạy cho một bài học rất
hay!”. Một vị quốc vương lúc ấy đi dạo chơi, thấy biển
đó, động lòng hiếu kỳ, liền đem một trăm lạng vàng cho
nhà triết lý để xin một bải học, thì nhà ấy chỉ dạy
cho một câu: “Phàm làm việc gì trước phải nghĩ đến kết
quả”.
Câu
ấy giản dị đến nổi phần đông cận thần của vua bĩu
miệng trề môi cho giá một trăm lạng vàng là quá đáng. Nhưng
sau khi ngẫm kỹ, vua nhận thấy lời ấy rất hay và truyền
khắc câu ấy trên các tấm cửa cung điện và các đồ khí
dụng của vua, để hằng ngày nhớ mãi không quên. Nhờ một
câu ấy mà vua xóa bỏ được nhiều điều tệ, phát minh được
nhiều điều hay về chính trị làm cho nước mỗi ngày mỗi
thêm thịnh vượng.
Thời
ấy có những bậc Hoàng thân thấy Thái tử còn nhỏ, muốn
gấm ghé ngôi báu, nên âm mưu làm nhiều điều thí nghịch,
họ lo lót với một quan ngự y để đầu độc vua trong những
khi đau ốm.
Một
hôm, vua se mình đòi quan ngự y đến làm thuốc, quan ngự y
chế thuốc độc sẵn, rót vào chén ngự để dâng vua. Nhưng
may thay, trong lúc quan ngự y lại thấy nơi chén câu cách ngôn:
“Phàm làm việc gì trước phải nghĩ đến kết quả”. Ngự
y giựt mình, nghĩ đến kết quả, thấy sự thí nghịch chẳng
những làm cho mình phải tru di tam tộc, mà còn gây biết bao
tai họa cho thần dân, nên liền hối quá, đem tất cả việc
đầu độc thí nghịch tâu cho vua rõ. Nhờ sự thú nhận, mà
cả bọn gian đảng đều bị tiểu trừ mà ngôi vàng càng
thêm bền vững…
Trích
báo: Viên Âm
Muốn
biết nguyên nhân thời kỳ đã qua, thì nên xem kết quả hiện
tại đương thọ.
Còn
muốn biết kết quả về sau thế nào, thì nên xem cái nhân
hiện tại đương làm.
Gương
Bố Thí
Ngày
xưa có một vị Bồ tát, nhân thấy cuộc đời vô thường
cho đến cả thân mạng và của cải cũng vậy. Nên Bồ tát
phát tâm dõng mãnh đem tất cả sản nghiệp của mình bố
thí.
Trong
khi bố thí Bồ tát không phân biệt người oán kẻ thân, miễn
thấy ai thiếu thốn khổ sở là Ngài đem lòng thương xót
và tận tâm giúp đỡ. Cũng vì thế, nên lòng nhân từ của
Ngài vang khắp mọi nơi, và ai nghe đến tên Ngài cũng đều
cảm phục.
Nhân
đó, một vị Thiên đế Thích chưởng quản Dục giới sanh
lòng ghen ghét lo sợ. Ông ta thầm nghĩ: “Nếu vị Bồ tát
này tu hạnh bố thí quảng đại như vậy không bao lâu phước
đức của người sẽ hơn ta và khi ấy địa vị Thiên Ðế
Thích này chắc gì ta giữ mãi được”. Nghĩ thế rồi; Thiên
Ðế Thích bày mưu kế để lung lạc hạnh bố thí của Bồ
tát. Ông bèn dùng thần thông hóa hiện một cảnh địa ngục
ghê rợn trước mắt Bồ tát và trong địa ngục ấy, một
tội nhân đang bị hành hạ khổ sở… Thấy tội nhân bị
hành hạ Bồ tát thấy làm đau đớn thương xót trong khi ấy
thì Thiên Ðế Thích kia liền đến chỉ vì chuyên tu hạnh
bố thí, nên ngày nay y phải chịu quả báo đau khổ và nếu
ngươi tu hạnh bố thí, thì sau này khi mạng chung, ngươi cũng
phải đọa vào địa ngục này để chịu mọi điều đau khổ
như thế. Vậy, ngươi còn muốn tu hạnh bố thí nữa không?”.
Nghe
Thiên Ðế Thích nói, Bồ tát rất ngạc nhiên, và bảo với
Thiên Ðế Thích rằng: “Tôi chưa hề nghe ai nói bố thí mà
bị đọa vào địa ngục và chịu mọi đau khổ!”. Ðế Thích
trả lời: “Nếu ngươi không tin, thì ngươi thử đến hỏi
tội nhân ấy”. Bồ tát liền đến hỏi tội nhân: “Ngươi
vì duyên cớ gì mà phải chịu hình phạt như thế?”. Tội
nhân trả lời: “Cũng vì lúc sanh tiền có bao nhiêu tiền
của tôi đều đem giúp hết cho người, nên nay tôi chịu quả
báo đau khổ ở đây”. Bồ tát lại hỏi: “Nếu ngươi đem
tiền của bố thí mà nay phải chịu quả báo đau khổ, vậy
những kẻ được bố thí thì sao?”. Tội nhân đáp: “Những
kẻ được bố thí, sau khi mạng chung sẽ được sanh lên cõi
trời hưởng quả báo an vui”.
Nghe
vậy Bồ tát vui vẻ nói: “Sở dĩ ta đã bố thí là vì muốn
cho chúng sanh thoát khổ được vui… Nhưng nếu vì bố thí
mà thân ta phải đọa vào địa ngục để chịu muôn ngàn
đau khổ, ta cũng vẫn vui lòng. Vả lại cứu giúp chúng sanh
mà thân mình bị đau khổ cũng là điều rất thường đối
với Bồ tát”.
Thiên
Ðế Thích nghe vậy, rất lấy làm cảm phục và cung kính hỏi
rằng: “Vì chí nguyện gì mà người có những hành động
quả cảm như thế?” Bồ tát trả lời: “Chí nguyện của
ta không ngoài mục đích cầu Phật đạo để cứu khổ chúng
sanh”.
Sau
khi biết rõ chí nguyện của Bồ tát, Thiên Ðế Thích tự
thấy hối hận, liền thành kính đến quì trước Bồ tát:
“Thưa Ngài chỉ vì nghiệp chướng mê mờ, sợ mấy quyền
vị Ðế Thích nên tôi giả bày cảnh địa ngục ấy, để
hầu lung lạc chí nguyện bố thí mà phải chịu quả báo đau
khổ! Nghĩ lại hành động lỗi lầm của tôi, tôi rất hổ
thẹn và đau đớn. Vậy trước Ngài tôi xin sám hối và xin
nguyện sẽ mãi mãi noi gương bố thí cao quý của Ngài; và
nguyện sẽ hết lòng giúp đỡ những ai trong cõi Dục giới
này, phát tâm tu hạnh bố thí.”
Thuật
giả: Chơn Trí
Sướng
gì hơn sướng làm lành
Cho
bao nhiêu của để dành bấy nhiêu