Phần
04
16/
Phước báo hiện tiền
17/
Con dao trong tâm
18/
Người học trò bị thầy gạt được Phật độ
19/
Công chúa Thuần Nhẫn
20/
Tỉnh giấc mơ hoa
Phước
Báo Hiện Tiền
Ngày
xưa ở xứ Hòa Na, dân chúng phần nhiều tín ngưỡng Phật
giáo. Có vợ chồng chàng Kế Sa La cũng nhờ ảnh hưởng tinh
thần ấy, mà nổi tiếng đôi vợ chồng hiền đức.
Nhà
Kế Sa La rất nghèo, hằng ngày phải vất vả hai sương một
nắng, tranh đấu với bát cơm manh áo; nhưng vợ chồng vẫn
vui vẻ thân mật, an phần trong cảnh thanh bần, không bao giờ
vì tiền tài danh vọng, mà làm hoen ố được lòng trong sạch
của đôi vợ chồng chàng. Ngoài ra, chàng lại không quên đem
chánh pháp mà mình đã hiểu biết, khuyến khích mọi người
trở về đường thiện; mà chàng có thể đảm đương.
Thuở
ấy, miền ngoại ô xứ Hoà Na vừa bị mất mùa, lại thêm
nạn tật dịch, nên dân chúng miền ấy đói và chết rất
nhiều. Các nhà hảo tâm trong xứ hiện thời, hoặc chung hoặc
riêng, đến chùa tổ chức nhiều cuộc bố thí. Trước nhờ
các Tăng sĩ cầu nguyện cho những kẻ vừa bỏ mình vì tật
dịch được siêu thoát và nạn tật dịch đương hoành hành
mau chấm dứt; sau đem các phẩm vật phân phát cho các nạn
nhân đói khổ.
Vì
vất vả theo sinh kế, vả lại cũng ít lui tới các phương
xa, nên nạn tật dịch đói kém hoành hành ở ngoại ô
vợ chồng Kế Sa La không hay biết gì cả.
Theo
lệ thường, sáng nào Kê Sa La cũng cùng vợ chia nhau đến
các nhà điền chủ để làm mướn. Nhưng lạ thay, sáng nay
Kế Sa La đi một đoạn đường lại gặp những vị trưởng
giả, khăn áo chỉnh tề, theo sau những tên gia đinh hì hục
mang gánh gạo cơm mền áo… gặp hai ba phen như thế, Kế Sa
La khống ngớt ngạc nhiên, dừng lại hỏi: Chàng mới biết
vùng ngoại ô đang bị nạn và những bậc trưởng giả này
đem các phẩm vật đến chùa để mở cuộc bố thí. Bị kích
thích bởi tình đồng loại, lại thêm tủi cho số phận nghèo
nàn của mình; trong khi đồng bào đang lâm cơn đói khổ mà
mình không có một quan tiền, một đấu gạo, một viên thuốc
đỡ đần. Càng nghĩ chàng càng đau đớn sầu tủi! Trong trí
chàng hiện ra nhiều dấu hỏi: làm thế nào có tiền để
giúp đồng loại? Và chàng nguyện rằng: nếu làm cách nào
có tiền gạo để bố thí dù thân bị đọa đày suốt đời
chàng cũng vui lòng đổi lấy. Ðến đây, Kế Sa La không còn
thiết gì đến ăn làm nữa, lủi thủi về nhà.
Tối
đến vợ chàng về, thấy chồng mặt mày ủ rũ, ngồi một
mình thở ngắn than dài hình như bất đắc chí vì một việc
gì… Chị vợ lo sợ hỏi chồng, nhưng chàng tìm cơ thối
thoát không trả lời, vì chàng biết trước rằng: nếu đem
sự thật nói với vợ, đã không ích gì mà lại gieo thêm
cho vợ mối sầu tủi như mình, nhưng sau hai ba phen thiết tha
gạn hỏi của vợ, Kế Sa La không nở giấu giếm nữa mới
đem đầu đuôi câu chuyện thuật lại vợ nghe. Vợ chàng không
kém gì chàng, cũng sầu, cũng tủi, cũng thở than như chàng!
Nhưng sau một hồi suy nghĩ, chị vợ hăng hái nói: nếu chàng
bằng lòng chị ta sẽ đến giúp việc cho các nhà phú hộ,
thế nào cũng nhận đặng một số tiền, để làm việc bố
thí. Kế Sa La không tán thành, và chàng không nở để cho vợ:
nữ nhi yết ớt một mình đem thân thể làm tôi mọi người.
Chị
vợ lại nói: Hay là cả chúng ta đều đến ở giúp việc
cho một nhà đại phú, trước nhận được một số tiền
lớn để bố thí, sau có thể giúp đỡ nhau trong những công
cuộc nặng nề. Ý kiến này được Kê Sa La hoan hỷ tán đồng.
Thế là sáng mai đôi vợ chồng Kế Sa La lên đường đến
một nhà đại phú ở cạnh làng, xin giúp việc và nhận trước
một số tiền.
Vốn
nghe vợ chồng Kế Sa La là người hiền đức, nên nhà đại
phú kia bằng lòng ngay và cho vợ chồng Kế Sa La mượn trước
một năm quan tiền, lại được phép về nhà bảy ngày để
sắp đặt công việc; và nếu trong bảy ngày ấy vợ chồng
Kế Sa La đem đủ số tiền hoàn lại ông, ông cũng vui lòng
trả quyền tự do cho vợ chồng chàng.
Tiền
bạc giấy tờ, vợ chồng Kế Sa La hết sức vui mừng, đi
vào chợ mua các phẩm vật… và đến chùa Ðàn Ba gần đấy,
xin thiết lập cuộc bố thí ngay tại chùa, sau sáu ngày chú
nguyện, đến ngày thứ bảy sẽ phân phát các phẩm vật.
Việc
làm ấy rất thích hợp với hạnh Từ Bi, lại thấy lòng chí
thành của vợ chồng Kế Sa La, nên các Tăng sĩ trong chùa đều
tận tâm giúp đỡ, để cho cuộc bố thí này được thập
phần viên mãn.
Chiều
ngày ấy, Quốc vương bản xứ cũng cho người chuyên chở
rất nhiều phẩm vật đến chùa Ðàn Ba mở hội và cũng định
ngày thứ bảy bố thí. Vị Trú trì chùa Ðàn Ba tâu vua: ngày
ấy đã có vợ chồng Kế Sa La định mở hội trước rồi,
yên cầu nhà vua chung vào hội bố thí ấy, nếu không xin hoãn
lại ngày sau. Nhà vua phán: Trẫm thiếu gì tiền bạc mà phải
chung chạ với người khác và trẫm đây đường đường một
vị quốc chủ, Kế Sa La nào đó lại không vì trẫm mà nhường
cho trẫm được như nguyện, hay sao? Vị trú trì đem lời thuật
lại với vợ chồng Kế Sa La.
Kế
Sa La nhờ vị trú trì tậu lại nhà vua: Vợ chồng chàng xin
chịu tội, chứ không thể thay đổi cuộc bố thí qua ngày
khác.
Với
ý định kiên quyết ấy, nhà vua hết sức ngạc nhiên, cho
đòi vợ chồng Kế Sa La vào hỏi. Tiếp diện nhà vua, Kế
Sa La đem hết cả sự tình tâu rõ là: Vợ chồng chàng đã
bán mình cho một nhà địa chủ lấy tiền mở hội bố thí,
đến ngày thứ tám đã chính thức làm tôi tớ cho người,
không còn đi lại tự do nữa.
Nghe
xong câu chuyện, nhà vua hết sức cảm phục cử chỉ của
vợ chồng Kế Sa La. Ngài bùi ngùi than rằng: nếu trong quốc
độ này mà được nhiều người có “tâm từ” như vợ
chồng Kế Sa La, thì còn đâu những kẻ tham lam ích kỷ, lường
gạt đồng bào và còn đâu những kẻ bơ vơ trong xó chợ
đầu đình, lê mình khắp xứ, mà không đủ chén cơm lót
dạ, manh áo che thân!
Tức
thì nhà vua lại sai người đem vàng bạc ra ban thưởng và
hạ chiếu cấp cho vợ chồng Kế Sa La được trọn đời hưởng
quyền lợi trong mười xã. Ngài lại kêu vợ chồng Kế Sa
La đến phán rằng: “Ðây là PHƯỚC BÁO HIỆN TIỀN” của
hai người đó và trẫm vui lòng nhượng hai người mở cuộc
bố thí vào ngày thứ bảy để cho hai người được toại
nguyện”.
Vợ
chồng Kế Sa La cảm động lạy tạ ơn vua. Và đôi vợ chồng
ấy, không quên niệm hồng ân đức Phật đã tác thành cho
vợ chồng chàng: “đức tánh Từ Bi, nâng cao Ðạo sống”.
Nên nay mới gặp nhà vua đức độ, đem lại cho vợ chồng
chàng đến cuộc đời sung sướng giàu sang.
Thuật
giả: Thích Ðức Tâm
Dắt
một người mù qua đường, cho người đứt tay miếng giẻ
rách, lượm cây gai giữa đường, cho con kiến hạt cơm, đều
gọi là bố thí.
Con
Dao Trong Tâm
Ngày
xưa ở thành Xá Vệ nước Ấn Ðộ, đức Phật đến giáo
hoá độ cho một gia đình kia, hai vợ chồng đều cá tánh
tham lam độc ác, không biết tôn trọng đạo đức. Ngài liền
hóa một vị đạo nhân, mang bình bát đến khất thực. Lúc
ấy người chồng đi vắng, người vợ ở nhà, thấy vị đạo
nhân vào liền mắng chửi ầm lên. Vị đạo nhân hiền từ
nói:
“Tôi
là người tu hành, chỉ xin ăn mà tự sống. Lòng chỉ mong
gia chủ cho bát cơm để đỡ lòng, cớ sao lại mắng chửi
tôi đủ điều thậm tệ như vậy”.
Người
vợ tức giận hét ngược lên, thì vừa người chồng về,
trong tay sẵn cầm cao dao bén, chẳng nói chẳng rằng, người
chồng lặng lẽ xông tới, định chém đạo sĩ. Bỗng một
bức thành băng pha lê hiện lên, bao bọc người đạo sĩ,
bức thành trong sáng, kiên cố, không có cửa, người chồng
đến xô đập, đâm chém đủ cách cũng không sao chuyển được.
Người
chồng liền nói: “Ông hãy mở mau cho tôi vào với”.
Vị
đạo sĩ trả lời: “Ðược, nhưng ông hãy quăng con dao bén
đi đã”.
Người
chồng tự nghĩ: “Mình to lớn như thế này, còn người đạo
sĩ bé nhỏ thế kia, mình dùng hai tay không cũng đủ giết
chết vị ấy trong giây lát”. Nghĩ đoạn, liền quăng con
dao bén đi xa, nhưng sao bức thành pha lê vẫn nguyên như củ,
người chồng tức giận hét lên:
“Tôi
đã quăng con dao bén đi rồi sao ông không chịu mở cửa cho
tôi vào”.
Vị
đạo sĩ đáp: “Không, tôi không có nói ông quăng con dao bén
trong tay ông, tôi muốn ông quăng con dao bén trong tâm ông kia
mà”.
Người
chồng giựt mình kinh sợ, nhận thấy vị đạo sĩ thấu hiểu
tâm lý thầm kín của mình, nên đã bớt độc ác, cúi đầu
lạy tạ, ăn năn hối lỗi. Bức thành pha lê kiên cố ấy
bỗng biến mất, vị đạo sĩ hiện thành Ðức Phật, phóng
muôn ánh hào quang chói sáng rực rỡ một phương trời, và
ngay khi đó Ðức Phật thuyết pháp để hóa độ cho hai vợ
chồng người ấy.
Trích
báo: Viên Âm
Tâm
bình thế giới bình
Người
học trò bị thầy gạt được Phật độ
Thuở
xưa, tại thành Xá Vệ có ông Phạm Chí làm cố vấn cho nhà
vua, mở trường giảng đạo Bà La Môn, thâu được một số
học trò rất đông. Trong đám đệ tử của ông, có chàng
Ương Quật Ma là một ngôi sao tỏ rạng: Văn đã giỏi, võ
cũng hay, nết na thuần tuý, thêm diện mạo khôi ngô. Ai biết
được Ương Quật Ma rồi cũng trầm trồ khen ngợi là người
tài đức song toàn.
Người
vợ của ông Phạm Chí lại chú tâm yêu thầm trộm mến đứa
học trò tài giỏi của chồng. Nhân lúc chồng đi vắng, nàng
phấn son trang điểm xạ ướp hương xông đến nhà Ương Quật
Ma đường đột vào phòng liếc mắt đưa tình, nói sỗ sàng
những lời hoa nguyệt tray trúa, tỏ bày thái độ quyến luyến
gió trăng một cách lả lơi chẳng biết ngại ngùng.
Trước
cử chỉ khiêu dâm, người học trò nết na thuần túy ấy
không bao giờ để cho lửa tà xâm chiếm, Ương Quật Ma giữ
lễ đệ tử, thưa với vợ thầy rằng: “Thưa thím, thầy
ví như cha, thì thím ví như mẹ, đệ tử thà chết chớ không
dám làm điều bất chính để tiếng nhơ nhớp ngàn năm”.
Vợ
ông Phạm Chí còn giòn giã nói thêm: “Hễ đói thì ăn, khát
thì uống; huống nữa ta đã sẵn sàng cho thì cứ tha hồ thưởng
thức cái gì gọi là bất chính?”.
Ương
Quật Ma nghiêm nghị nét mặt cự tuyệt lại rằng: Kẻ ngu
dốt lỡ làng thói chim muông còn biết hổ thay! người học
đạo như tôi há chẳng thẹn, nếu không biết tôn ti thượng
hạ. Vả lại thím cũng như mẹ tôi, tôi đâu bạo gan làm
điều vô liêm sỉ. Dứt lời, Ương Quật Ma liền bước ra
khỏi nhà.
Vợ
Phạm Chí biết người học trò của chồng mình lòng cứng
như sắt đá không thể lay chuyển nổi, nên nàng riu ríu ra
về một nước với sự mắc cở chua cay. Dọc đường, nàng
tức giận quá mới nghĩ kế trả thù cho đã nư, nhất là
cho khỏi gai mắt. Về nhà, nàng xé quần áo, lấy màu thoa
mặt biến sắc, quàu mình trầy trụa, giả bộ đau nặng,
nằm rên hì hì…
Ông
Phạm Chí về, thấy vợ đầu bù tóc rối, quần áo rách rưới,
thân thể bị vít, thêm nghe vợ kêu nhức rối rít, ông hỏi
tại sao mà đến nổi như thế?
Nàng
đáp rằng: “Sớm mai này, thừa lúc chàng đi vắng, Ương
Quật Ma lẻn vào phòng thiếp, kéo áo nắm tay, giở trò hãm
hiếp: thiếp không không thuận tình, bị gã cưỡng bức mới
ra nông nỗi như vậy”.
Ông
Phạm Chí nghe lời vợ nói thảm thiết đau thương, liền tin,
không cần xét lại thật giả, quyết trừng trị ngay đứa
học trò mình một cách nặng nề mới vừa lòng. Ông nghĩ
ra một chước để gạt Ương Quật Ma sa vào lưới pháp luật,
bị án tử hình hơn là mình ra tay giết nó; ông bèn gọi Ương
Quật Ma nói ngon ngọt rằng: “Con đến học với thầy bấy
lâu nay nghề kiếm thuật được tinh thông; theo chỗ thầy
thấy thì trong đời không ai sánh kịp. Nhưng vì thiên hạ
chưa biết nên con còn mai một tên tuổi. Muốn cho con mau nổi
tiếng anh hùng, trước làm rạng rỡ tông môn, sau làm vẻ
vang thầy tổ, nên thầy ban cho con thanh kiếm này để cho con
lập công danh trong chớp mắt”. Ương Quật Ma lãnh thanh kiếm
và đứng chờ thầy chỉ dạy thêm. Ông Phạm Chí bảo rằng:
“Sáng sớm, con mang gươm ra ngã tư đường cái là chỗ đông
người qua lại đón chặt lấy mỗi người một ngón tay, đến
đứng trưa, lấy cho đủ một trăm ngón, xỏ xâu làm như tràng
hạt mà đeo, thì tự nhiên nổi danh “hoàn cầu vô địch
dõng sỉ”. Con phải lập tức thi hành y như lời thầy đã
dạy. Hăng hái mau lên con!”.
Ương
Quật Ma gắng gượng mang gươm ra đi, vừa suy nghĩ sợ sệt,
buồn rầu: nếu không nghe lời thầy thì lỗi đạo làm học
trò; còn vâng lời thầy thì trái với lẽ phải; vì có ngăn
ngừa mười điều ác và rộng làm mười việc lành mới sanh
lên cõi trời; ấy mới phải phép con nhà Phạm Chí; con người
lung lăng giết hại trái với lương tâm, con người học đạo
nỡ lòng nào tàn nhẫn. Mãi so hơn tính thiệt, nghĩ tới xét
lui, Ương Quật Ma bấn loạn tâm thần, đi vừa đến cội
cây cổ thụ bên vệ đường, chàng bị xây xẩm mặt mày,
ngã gục ngất người bất tỉnh. Thừa cơ, quỉ ác ám ảnh
làm cho chàng như điên như dại, trợn mắt nghiến răng, hươi
gươm vùn vụt.
Lúc
bấy giờ, kẻ bộ hành bốn phương vì nghiệp xua đuổi đến
bị Ương Quật Ma chặt đứt mỗi người một ngón tay, trong
chốc lát gần đủ số một trăm. Những kẻ mắc nạn kêu
la thảm thiết, tiếng đồn thấu tai nhà vua, các thầy Tỳ
kheo đi khất thực cũng rõ việc chẳng lành ấy, nên khi về
tới tịnh xá, liền bạch với Phật:
Ðức
Thế Tôn nghe qua động lòng thương xót, bảo các thầy Tỳ
kheo rằng: “Các người cứ ngồi yên, để ta đi cứu khổ
cho mọi người”. Dọc đường, Phật gặp bọn chăn dê và
dân chúng khuyên Ngài đừng vào con đường đương có người
điên rồ tàn ác giết hại không biết bao nhiêu người rồi.
Nếu Ðức Phật đến đó; Sợ e không khỏi bị thiệt hại:
mất một ngón tay.
Ðức
Thế Tôn đáp: “Không sao cả, giả sử trong ba cõi đều là
giặc cả, ta cũng không ngại gì, huống chi chỉ có một người
tàn bạo, thì ta có sợ gì, chúng ngươi chớ lo ngại”.
Mẹ
Ương Quật Ma thường ngày vẫn thấy con gần đến giờ ngọ
là về dùng bữa, mà hôm nay sắp đứng bóng rồi sao chẳng
thấy con về, bà bèn đem cơm ra khỏi nhà tìm con. Khi đến
nơi thì Ương Quật Ma đương đếm ngón tay được 99 cái.
Nó trông lên mặt trời thấy đúng ngọ mà còn thiếu một
ngón tay nữa, sợ quá giờ hỏng việc. Ương Quật Ma lòng
đương bối rối, thoạt thấy mẹ đến, không rõ là ai, giơ
kiếm chực chặt lấy ngón tay cho đủ số một trăm.
Mẹ
Ương Quật Ma thấy con có bộ tịch hung hăng, bà hoảng hốt
lui lại, thì lúc đó Phật vừa đến kịp.
Thương
hại cho Ương Quật Ma thình lình bị ác quỷ ám ảnh mê muộn
làm việc tàn nhẫn nếu chặt đứt tay mẹ, phạm lấy tội
ngổ nghịch, sẽ bị trầm luân nhiều kiếp rất tội nghiệp,
bèn hóa làm thầy Sa Môn lướt tới đứng trước mặt mẹ
chàng. Gã thấy thầy Sa môn liền gươm toan chém lấy ngón
tay. Nhưng vô hiệu quả, nó không làm sao lại gần bên mình
thầy tu ấy được, mặc dầu nó ráng hết sức chạy theo
cũng không bắt kịp. Ương Quật Ma nghĩ rằng: Ta nhảy một
cái vượt khỏi sông lớn dễ dàng như kẻ thế gian bước
mương rãnh, còn thầy Sa môn này đi bộ mà ta hết sức chạy
theo cũng không kịp. Thật là lạ! Vậy ta phải dùng phép nhiếp
hồn mới được. Ương Quật Ma bèn nạt một tiếng thật
to vang như sấm, kêu rằng: “Thầy Sa môn kia phải dừng lại”.
Thầy Sa môn đáp: “Ta đứng yên đã lâu, tại ngươi cứ
chạy mới cách xa ta mãi!”.
Ương
Quật Ma nghe nói hồi tỉnh lại, bèn ngâm bài kệ:
“Thầy
nói đã đứng lâu,
Sao
tôi rượt không kịp?
Thầy
nói tại tôi chạy,
Ấy
là tôi bị hiếp,
Xin
thầy giải nghĩa giùm,
Cho
tôi hết nghi hoặc”.
Thầy
Sa môn dạy rằng:
Chỉ
mang[1] nghe ta nói, mới khỏi sai lầm.
Vì
người trọng vọng, để cho ám vào, nên không tự chủ được.
Muốn
nổi tiếng anh hùng gây ra nhiều tội ác.
Thật
là rất u mê, mong gì nên đạo nghiệp.
Ta
đã đứng yên lặng, nên ta được giải thoát.
Người
vẫn cứ lăng xăng, nên người bị khổ não.
Ương
Quật Ma nghe nói tỏ ngộ, như say mê được tỉnh táo, liền
ném gươm bên vệ đường, quì mọp xuống đất lễ Phật,
bạch rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn, xin dung thứ cho con là kẻ
mê muội. Từ đây con xin làm đệ tử Ngài, bỏ tà theo chánh;
mong nhờ Ðức Thế Tôn rộng lòng thương xót cứu độ con”.
Ðức
Phật biết Ương Quật Ma cơ duyên đã thuần thục, bèn nhận
lời làm đệ tử, đưa về tịnh xá tại vườn ông Cấp Cô
Ðộc. Từ đó người tu các phạm hạnh, tinh tiến, chẳng
bao lâu chứng đặng quả thánh.
Bấy
giờ vua Ba Tư Nặc kéo binh đi tìm bắt kẻ sát nhân là Ương
Quật Ma. Ngài đi cùng nơi khắp chỗ mà tìm không gặp. Thoạt
đến tịnh xá, vua Ba Tư Nặc vào đảnh lễ Phật.
Ðức
Thế Tôn hỏi vua ở đâu lại đây con có vẻ mệt mỏi quá
vậy.
Vua
bạch rằng: “Lạy Ðức Thế Tôn! Vì nghe quân báo có đứa
nghịch tặc tên Ương Quật Ma đón đường giết hại lắm
kẻ bộ hành; tôi phải đem binh tìm bắt để trừ hại cho
dân lành, nên phải tuôn pha gió bụi dơ bẩn”.
Phật
nói: “Thế là Ương Quật Ma hiện nay đã xuất gia làm Tỳ
kheo ở tại đây: Vua có cần trị tôi người đó nữa chăng?”.
Vua
bạch Phật rằng: “Nếu người đã phát tâm xuất gia học
đạo, thì chẳng những tôi không trách phạt lỗi trước,
mà tôi nguyện xin hứa nguyện trọn đời tứ sự cúng dường
nữa. Bạch Ðức Thế Tôn, chẳng biết Phật thế nào mà khuyến
hóa được kẻ hung ác ấy vào đạo dễ dàng? Và bây giờ
người ấy ở đâu?”.
Phật
vừa nói vừa chỉ: Người ấy ngồi kế bên đây!
Vua
ngoảnh lại thấy Ương Quật Ma, mặt liền biến sắc tỏ
vẻ sợ hải.
Phật
an ủi rằng: Vua chớ sợ, người ấy nay đã hiền lành không
còn tánh bạo ác như xưa đâu, vua Ba Tư Nặc đi ngay trước
mặt Ương Quật Ma chắp tay và chào hỏi rằng: “Thầy có
phải là chỉ mang Ương Quật Ma không?”.
Thầy
Tỳ kheo đáp lại rằng: “Chính tôi là Ương Quật Ma”.
- Thầy
lúc còn ở tại gia họ là chi?
- Tôi
Kỳ Giốc.
- Sao
lại gọi là Kỳ Giốc?
- Vì
tôi phải lấy theo họ của cha tôi lưu truyền.
- Thế
là phải lắm! Thưa Thầy Kỳ Giốc Tỳ kheo, tôi xin trọn đời
cúng dường cho thầy các món cần thiết trong lúc thầy tu
hành.
Ương
Quật Ma cảm lòng chí thành của vua nên hoan hỷ nhận lời.
Vua
Ba Tư Nặc cúi đầu bái chào thầy Kỳ Giốc Tỳ kheo rồi
lại trước pháp tòa khâm khen công Ðức Phật như vầy: “Từ
bi thay, Ðức Thế Tôn! Giác ngộ cho người mê muội, dắt
dẫn kẻ tàn ác trở lại đường lành, xuống phước cho nước
nhà, ban ân cho lê thứ, cứu độ tất cả chúng sanh thoát
khỏi vòng khổ não!”. Vua tán thán công đức của Ðức Phật
rồi liền kéo binh về hoàng cung.
Bấy
giờ Tỳ kheo Ương Quật Ma đắp áo cà sa, bưng bình bát vào
thành Xá Vệ, lần lượt theo thứ lớp từ nhà xin ăn. Dọc
đường, thầy gặp một người đàn bà có thai gần ngày sanh,
cầu xin thầy chú nguyện cho được bình an. Thầy Tỳ kheo
không biết chú nguyện thế nào, trở về tịnh xá, ăn cơm
xong, thầy đến trước Phật bạch rằng: “Lạy Ðức Thế
Tôn, hồi sáng này, con vào thành khất thực, gặp một người
đàn bà có mang gần ngày sanh nở. Người ấy lo ngại thai
nghén thế nào nhờ Phật từ bi dạy cho con được rõ”.
Phật
bảo rằng: “Người mau trở lại an ủi người đàn ấy như
vầy: Tôi rất thành thật nói lời chắc chắn, từ khi tôi
mới sanh ra đến ngày nay, tôi chưa từng sát nhân hại vật.
Vậy tôi nguyện cho bà đến lúc sanh sản được bình an vô
sự”.
Thầy
Tỳ kheo Ương Quật Ma do dự bạch Phật rằng: “Con đã làm
nhiều tội ác, chém đến 99 người lấy mất mỗi người
một ngón tay, còn đâu dám nói vọng được!”.
Phật
nói việc ấy đã qua như thuộc về đời trước, khác hẳn
với đời này. Từ khi người xuất gia đến giờ chưa từng
nói dối, vì thế ngươi cứ chú nguyện như vậy cũng đủ
cứu thoát ách nạn cho người đàn bà ấy.
Ương
Quật Ma vâng lịnh Phật đến nhà người đàn bà chửa chú
nguyện y như lời Phật dạy. Vừa dứt lời thì người đàn
bà liền sanh được một cách dễ dàng, mẹ con đều bình
an.
Lúc
trở về tịnh xá, giữa đường thầy Tỳ kheo Ương Quật
Ma gặp lũ trẻ hung tợn ngược đãi thầy, đứa thì lấy
đá ném vào đầu, đứa dùng búa nện trên lưng, đứa lại
lấy dao đâm, lấy gậy đập. Thầy bị u đầu, xể mặt,
rách y, nhưng thầy vẫn coi như thường, không hề oán giận
cũng không thốt ra một lời nào than phiền. Về đến tịnh
xá, ngài đảnh lễ Phật và ngâm bài kệ rằng:
“Tôi
thật là tàn ác
Chỉ
mang tiếng lẫy lừng
Nay
qui y theo Phật,
Học
đạo dứt lòng sân.
Trước
khi hay sát hại,
Nay
lại rất hiền nhân,
Tuy
chỉ có một kiếp,
Ðã
đổi xác thay hồn.
Phật
từ bi vô lượng,
Không
gậy cũng không gươm,
Giáo
hoá điều phục tôi,
Thoát
khỏi vòng nhân ngã.
Tấm
lòng đã sáng suốt,
Không
giận cũng không tham,
Không
mừng cũng không sợ,
Không
khổ cũng không vui.
Chỉ
mang Ương Quật Ma,
Ðã
thành A La Hán,
Ở
trước Ðức Như Lai,
Kính
cẩn đọc kệ này”.
Thuật
giả: Thích Trường Lạc
Dứt
ác làm lành, giữ tâm hồn cho trong sạch, đó là Phật giáo.
Công
Chúa Thuần Nhẫn
Công
chúa Thuần Nhẫn là con gái út của vua Ba Tư Nặc. Công chúa
là người hiếu hạnh, lại có đức nhẫn nhục, nhưng phải
có tội xấu quá, nên đã 18 xuân mà vua cha chưa tính việc
xuất giá được.
Ôi!
Bà mụ cay nghiệt làm sao?
Bắt
nặn thế nào cho công chúa xấu đến nổi ai thấy cũng bực
mình, mũi tẹt, trán dồ, miệng hô, mắt toét, đó là chưa
kể đến thân hình nếu nói đến thân hình thì nàng chỉ
cao vỏn vẹn một thước lênh khênh. Vì vậy mà trong triều
các vương tôn, công tử phải tìm kế du học ráo, để tránh
cái nạn bị trạch phò mã.
Mỗi
khi công chúa thấy hai chị hãnh diện trước nhan sắc xinh
tươi, nàng rất ngậm ngùi tủi hận, song cũng không hề ganh
tỵ. Trái lại, hai chị thì kêu căng, mỗi khi thấy nàng thường
tỏ vẻ khó, không muốn gần gũi chuyện trò. Lại tâu với
vua cha cấm không cho nàng đi ra ngoài sợ thế gian chê cười.
Công chúa thui thủi một mình trong cung cấm.
Nàng
hiếu hạnh với cha mẹ, chiều chuộng hai chị và hết lòng
thương yêu những người hầu hạ. Nàng thường đem tiền
bố thí cho người nghèo khổ, cung cấp thuốc men cho người
bệnh hoạn, vì thế ai cũng yêu mến công chúa hơn hai bà chị.
Nhan
sắc kỳ dị của công chúa Thuần Nhẫn bay ra, cũng như đức
hạnh của nàng, nên một ngày kia Hoàng tử một nước lân
cận đến xin cưới nàng làm vợ.
Cầm
tay người nghĩa hiệp, vua Ba Tư Nặc cảm động, bảo Trọng
Ðức rằng: “Con trẫm được Hoàng tử thương mến thật
trẫm không biết lấy lời gì tả cho hết được nỗi lòng
cảm bội”. Khi về nước, Hoàng tử không cho tiếp xúc với
người, sợ thiên hạ thấy bên ngoài chê cười chăng?
Nhưng
than ôi! Lòng hào kiệt của vị Hoàng tử thanh niên cá hạn,
mà nhan sắc công chúa lại xấu vô cùng, nên mặc dầu vẫn
mến đức, trọng tài của vợ, mà lắm khi Thái tử cũng bực
mình về cái xấu của người vợ đáng thương. Rồi lần
lần Trọng Ðức tìm cớ săn bắn vui chơi riêng. Công chúa
như con chim trong lòng son, tuy có gạo trắng nước trong, nhưng
ngoài bốn bức tường thì nàng không còn hay biết gì cả.
Công chúa biết nghiệp duyên nên thầm trách kiếp xưa bởi
vụng đường tu nên kiếp này phải mang lấy quả xấu, không
bao giờ oán thán ai. Nàng chỉ một lòng nhu thuận với chồng,
khoan dung độ lượng với người trong cung.
Nhưng
ác thay! Các bà Vương phi quận chúa thường tìm đến với
nàng để khoe khoang hãnh diện, có khi còn dám chế nhạo nàng
ra mặt. Ðức nhẫn nhục của công chúa thuần thành, nên nàng
luôn luôn vui vẻ xem như không có gì đáng để ý.
Một
hôm các bà về xúi chồng bày một bữa tiệc, mời khắp cả
Vương tôn danh nhân trong nước. Theo lệ thường thì vợ nào
chồng nấy đếu đến đủ mặt… Duy chỉ có Hoàng tử Trọng
Ðức lủi thủi đến một mình. lủi thủi đến một mình.
Thôi thì các bà Vương phi, quận chúa, tiểu thơ khoe khoang
duyên dáng, các bà lại đi tìm Hoàng tử Trọng Ðức chế
giễu.
Hoàng
tử không chịu nỗi cơn tức giận, nên sanh lòng ghét vợ.
Chàng hằm hằm chuyến này thì về nhất quyết ly dị cho rảnh.
Chồng
đi yến tiệc, công chúa một mình vò võ trong cung. Tự nhiên
nàng thấy nao nao trong lòng, tin chắc có điều gì không hay
xảy đến cho mình. Nàng tủi thân rơi nước mắt. Tự nghĩ
ta đời trước đã tạo nhân gì ác nghiệp đến nỗi sanh
thân kỳ dị, làm khổ tâm biết bao nhiêu người vì thương
yêu ta. Nàng liền chắp tay thành kính hướng về giữa thanh
không thầm niệm. “Nam mô Phật, nam mô chư Phật”. và tự
khấn nguyện: Ðức Phật hiện nay Ngài hay ban bố ích lợi
cho chúng sanh, cứu khổ cho tất cả người khổ sở. Nay con
là một người đang chịu khổ, lại không làm sao ra khỏi
cung cấm để hầu Ngài. Nguyện xin oai thần Ðức Thế Tôn
từ bi khuất giá giáng thần vào trong chốn u đày này, cho
con được đảnh lễ. Nỗi thống khổ lòng thành kính tha thiết
của con người đáng thương ấy, ứng hiệp với Ðức từ
bi của Phật. Ðược Ðức Phật ở tịnh xá Kỳ Viên liền
vận thần thông hiện ra trước mặt, trong khi công chúa đang
quì lạy. Ngưỡng lên thấy Phật, vừa mừng vừa tủi, nàng
kính bạch: “Bạch Ðức Thế Tôn! Ðời trước con đã gây
nghiệp ác gì, mà ngày nay bị quả báo thân hình xấu xí như
thế này? Lại nhờ phước đức gì mà sanh vào chốn giàu
sang?” Ngài động lòng thương xót dịu dàng bảo: “Ðời
trước con là một người đàn bà có nhan sắc, lại hay cúng
dường bố thí, nhưng khắc nghiệt với tôi tớ, kiêu căng
với bạn bè và hay ganh tỵ với người có nhan sắc hơn mình,
mắt thường hay nguýt, miệng hay nói xấu người, khi sân hận
nổi lên thì đánh đập tôi tớ một cách tàn nhẫn. Nhất
là hay ỷ mình có nhan sắc của cải khinh ngạo kẻ khác. Ngày
nay con phải thành tâm tha thiết cần cầu sám hối đi, thì
những tội lỗi trước kia sẽ tùy theo tâm niệm mà tiêu diệt”.
Tiếng
Phật dịu dàng như tiếng chim Ca Lăng Tần Già, công chúa thấy
tự nhiên lòng nhẹ lâng lâng, nàng rút khăn lau ráo lệ, rồi
tha thiết cần cầu sám hối. Nàng quỳ xuống chân Phật hàng
giờ với những lời chân thật phát sinh ra tự đáy lòng.
Ðức Phật để cánh tay vàng lên đầu nàng, công chúa ngẩng
lên thấy đôi mắt hiền từ trong sáng của Ðức Phật nàng
rất sung sướng. Liền khi ấy mắt nàng cũng trong sáng như
mắt chim thu nàng thấy sắc diện của Phật đoan nghiêm hiền
hậu, lòng nàng cảm động, sanh bao sự vui mừng, tự nhiên
mặt nàng cũng đoan nghiêm mỹ lệ. Nàng thấy chân Phật sáng
ngời, cốt cách siêu phàm, lòng nàng lại bội phần mến phục,
tự nhiên thân nàng cũng đoan nghiêm điều đặn, các tướng
xấu xa của nàng bị tiêu diệt. Nàng liền trở nên một công
chúa đẹp đẽ xinh tươi đầy đủ phước tướng.
Phật
thuyết pháp cho nàng nghe xong liền vận thần thông trở về
Tịnh Xá.
Giữa
bữa tiệc vui, Hoàng tử Trọng Ðức không chịu được lời
chế giễu của các bạn. Tình yêu không thể kéo lại cái
hổ, cái nhục. Thái tử bực tức lên ngựa trở về cung,
vừa đi vừa thầm nghĩ: “Chuyến này nhất định để, nhất
định ly dị”.
Tiếng
gió ngựa của người hào kiệt sao mà gấp gáp thế? Công
chúa lo ngại vội vàng bước xuống thang lầu thấy mặt chồng
đầy sát khí, nàng không dám hỏi han gì. Theo lệ thường
nàng cúi xuống tháo chiếc đai ngọc trên lưng Thái tử và
cất chiếc mũ vàng cho đầu chàng đỡ nặng. Thái tử ngạc
nhiên, cử chỉ ấy rõ ràng là vợ, mà sao nhan sắc nàng biến
đổi thế kia? Công chúa hiểu ý, liền đem chuyện cầu Phật
kể lại cho chồng nghe. Từ đó vợ chồng vui vẻ hòa thuận
cùng nhau lo tu phước thiện.
Một
hôm vui câu chuyện, công chúa bảo chồng: “Thiếp xem chàng
trọng sắc hơn trọng đức”. Hoàng tử cả thẹn nói lảng
qua chuyện khác.
Ðọc
câu chuyện này chúng ta nhận thấy nhẫn nhục là điểm cốt
yếu cần phải có trong tất cả hạng người, cần phải dùng
trong tất cả hoàn cảnh. Nhờ sự nhẫn nhục, nhờ lòng thiết
tha ăn năn của công chúa Thuần Nhẫn đã đổi được cuộc
đời tối tăm trở thành tươi sáng. Chúng ta nên biết nếu
tâm đức thanh tịnh thì sẽ chuyển được hình tướng bên
ngoài. Vậy ta nên nhớ “NHẪN NHỤC LÀ GỐC HẠNH LÀNH, SÂN
SI LÀ NGUỒI TỘI LỖI”.
Thuật
giả: Thể Quán
Tỉnh
Giấc Mơ Hoa
Ðàn
én bốn phương bay về, đem lại cho trần gian tin xuân vui đầm
ấm. Ánh triều dương sắc vàng rực rỡ, lần lần lan rộng,
phá tan màu khói sương vẩn màu sửa đục của buổi bình
minh. Ðôi hàng cây bên vệ đường đã trút sạch lớp áo
vàng để thay vào những mầm non mập mạnh. Ngọn gió đông
dịu mát đầy sinh khí, nhẹ nhàng thổi lướt trên đám cỏ
xanh. Thành Thất La Phiệt vào buổi mai, âm thanh tràn ngập
vẻ thanh hòa đáng mến.
Phút
chốc vầng hồng đã lên cao.
Trên
con đường lớn quanh co hướng dẫn vào thành, một đoàn Sa
môn có hơn nghìn người, đi nối tiếp nhau như con rồng lượn
khúc. Các Tăng sĩ, vị nào cũng có vẻ điềm tĩnh đoan trang,
nhìn xuống lặng lẽ bước, dáng đi xem tự tại thoát trần.
Dẫn đầu là một bực Tôn túc, thân xác vàng ánh, tướng
tốt trang nghiêm, đi chậm rãi oai nghi như voi chúa. Sau đấng
ấy một vị Tỳ kheo trẻ tuổi ôm bát theo hầu. Ðấy là
Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni cùng thị giả A Nan và chư Tăng
vào thành khất thực. Bấy giờ, những người có lòng tin
ngôi Tam Bảo, muốn gieo trồng giống phước, đem thức ngon
vật lạ cúng dường Phật và chúng Tăng. Lại có kẻ không
dâng cúng, nhưng thấy dáng điệu trang nghiêm siêu thoát của
đấng Ðiều Ngự và các Ðại Ðức Tỳ kheo, cũng họp nhau
đứng nơi cửa trông ra, hoặc đứng bên đường để nhìn
ngắm.
Từ
nơi cửa sổ trên lầu cao, nàng Ma Ðăng Dà một bậc tài sắc
trong thành Thất La Phiệt, nghe tiếng động, khẽ vén bức
màn thêu, đưa mặt nhìn xuống. Nhưng sống với hương tình
vị ái của tuổi xuân, nàng làm sao nhận thức được sự
giải thoát đức thanh cao nơi các nhà tu sĩ. Trông qua lớp
áo hoại sắc của những vị Sa môn, nhìn lại y phục sa hoa
lộng lẫy nơi thân mình, nàng tự thấy phong lưu sang trọng.
Rồi kêu hãnh, nàng điểm trên môi một nụ cười. Nhưng bỗng
ngạc nhiên, Ma Ðăng Dà chăm chú nhìn vị Tỳ kheo trẻ tuổi
đứng hầu sau Ðức Phật. Ôi! giữa trần gian này sao lại
có trang nam nhân đẹp đến thế? Nàng tự nghĩ thầm nếu
được cùng người này chung hưởng được trăm năm, dù phải
nghèo nàn, khổ nhọc, ta cũng ưng lòng, không còn ước mong
gì hơn nữa! Mắt vẫn nhìn, trí mãi suy nghĩ, Ðức Phật và
chư Tăng đi khuất từ lúc nào, nàng Ma Ðăng Dà còn ngồi
ngơ ngẩn dường như không hay. Ðến chừng định thần lại,
nhìn ra khoảng đường vắng vẻ, nàng buông một hơi thở
dài, trên mặt lộ đầy vẻ bâng khuâng nhớ tiếc…
Không
rõ A Nan xinh đẹp thế nào, mà Ðức Phật không cho ông mặc
áo trần vai, vì sợ hàng phụ nữ trông thấy động tình.
Và Ngài Văn Thù Bồ Tát từng khen tặng ông rằng: “Mặt
như vầng nguyệt sáng, mắt tợ cánh sen tươi”. Thế thì
cô mỹ nữ kia yêu mến ông, điều ấy cũng không lấy chi
làm lạ.
Nàng
Ma Ðăng Dà từ khi trông thấy A Nan mối tình si dường như
vấn vương khó dứt. Mỗi ngày, nàng thường lên lầu, trông
ra cửa sổ, chờ chư Tăng đi khất thực, mong sao cho được
thấy mặt người yêu. Sống trong tình khát ái khó tỏ nỗi
lòng, Ma Ðăng Dà tâm thần ngơ ngẩn, quên ăn uống, biếng
nói cười, gương mặt xinh tươi lần lần hóa ra tiều tụy.
Thân mẫu nàng thấy con có những trạng thái bất thường
như thế, sinh nghi đôi ba phen gạn hỏi. Không thể che giấu,
nàng phải đem sự thật tỏ bày và van xin mẹ làm thế nào
cho mình khỏi thất vọng. Nghe xong, mẹ nàng lộ vẻ ngậm
ngùi bảo: “Con ơi! Ðiều con muốn khó thể thực hiện được.
A Nan là người hầu cận thân tín của ông Cù Ðàm ông ấy
và những Sa môn đệ tử của ông có nhiều phép thần thông
kỳ diệu. Những bậc cao đức trong hàng lục sư còn phải
nhường họ, thì mẹ đâu có tài gì làm thỏa nguyện cho con.
Hơn nữa, A Nan là người thuộc dòng tôn quý, con của ông
Hộc Phạn Vương, nếu không xuất gia, có lẽ y thay thế cho
thái tử Tất Ðạt Ða là vua trong một nước, mẹ con ta là
phận thấp đâu mong gì sánh được với người. Thôi con hãy
xóa bỏ những ý nghĩ ấy và khuây khỏa nỗi sầu khổ để
cho mẹ vui lòng. Mất A Nan này sẽ có A Nan khác, trong bốn
phương thiên hạ lẽ không tìm được một người đẹp như
thế hay sao?”. Nghe mẹ nói, tuy lặng yên không đáp, song nàng
Ma Ðăng Dà thật trăm phần đau đớn. Trước kia, một tia
hy vọng lập loè trong trí, nay hiểu qua mọi nổi khó khăn,
nàng tự cảm thấy như rơi vào cõi âm u ghê sợ.
Tâm
tư tràn ngập nổi buồn thương thất vọng, nàng thầm than:
“Thôi, thế là hết! Ðời ta đã đến giai đoạn kết cuộc
từ hôm nay…”
Thế
là bệnh của Ma Ðăng Dà mỗi ngày một nặng. Trong cơn mơ
thấy A Nan đi đến, nàng vô cùng mừng rỡ, vội chạy đến
choàng vai, nhưng vị Tỳ kheo trẻ tuổi nhẹ nhàng thoát khỏi
tay nàng rồi biến mất; nàng cất tiếng khóc to lên thì vừa
thức giấc… Thân mẫu nàng thấy con khi mê khi tỉnh, thoạt
khóc thoạt cười, lấy làm buồn rầu lo lắng, một mặt khuyên
dỗ, một mặt chạy chữa đủ thứ thuốc thang, song vẫn không
hiệu quả.
Một
buổi sáng tà dương đang tiết trời dìu dịu, gió bên ngoài
nhẹ thổi động bức rèm thêu đùa không khí trong mát vào
phòng; cơn sốt như được giảm bớt, Ma Ðăng Dà lặng lẽ
thức tỉnh. Nhìn lạy thân hình vỏ vàng gầy héo, lộ vẻ
chua cay, nàng nhẹ nhếch một nụ cười. Nhưng vừa khi ấy
nàng bỗng ngạc nhiên, vì nhận thấy hôm nay trong phòng trang
hoàng rất sạch sẽ. Ðối diện nàng bức họa: “Vườn xuân
dưới nắng mai” được treo lên với vẻ mỹ thuật. Và,
chiếc lọ thủy tinh cắm đầy hoa tươi, ai đã đem đến đây
để ngay ngắn giữa mặt bàn như tấm thảm màu xanh da tươi.
Ðể ý trông qua khe cửa, Ma Ðăng Dà thấy mẹ đang ngồi tiếp
chuyện với một vị đạo sĩ râu tóc bạc phơ, vầng trán
sáng suốt, nét mặt trầm ngâm. Hai người nói gì nàng không
nghe rõ, nhưng hình như xem mẹ nàng có vẻ chú trọng lắm,
Ma Ðăng Dà chưa hiểu, còn đang nằm yên suy nghĩ, thì nghe
có tiếng giày của mẹ đi nhẹ vào phòng. Nàng nhắm mắt
giả vờ như không hay biết, tiếng giày đi lại bên giường
chợt im bặt hồi lâu, thốt nhiên nàng cảm thấy bàn tay từ
mẫu đặt lên trán mình và tiếp theo đấy, nối liền một
giọng đều đều êm dịu: “Con ơi! Chớ nên buồn rầu! Con
là lẽ sống duy nhất của mẹ; với lòng quý mến con, mẹ
có thể hy sinh tất cả hạnh phúc trên đời. Vì thế vừa
rồi mẹ có mời được một đạo sĩ danh tiếng, ông đã
truyền cho mẹ bài mật ngữ “Ta Tì La Phạm Thiên chú”.
Theo lời ông mật ngữ có năng lực mê hoặc người, dù người
ấy đạo hạnh đã đến mức cao siêu. Nếu học thuộc thần
chú này, con có thể thực hiện nguyện vọng của mình bằng
cách mê hoặc A Nan, khiến cho y mất sức tự chủ và hoàn
toàn bị sai sử tùy theo ý con muốn”. Máu nóng chảy rần
rật trong huyết quản, Ma Ðăng Dà như cảm thấy có một nguồn
sinh lực mầu nhiệm làm cho nàng mạnh mẽ hơn hồi chưa bệnh,
sau khi nghe được mấy lời ấy; gương mặt tươi tỉnh hẳn
lên, nàng nói với giọng run run vì sung sướng, cảm động:
“Thật thế hở mẹ? Nếu vậy bệnh con sẽ lành và con không
còn lo buồn gì nữa!”. Rồi nàng trỗi dậy gọn gàng như
người vô sự.
Nửa
tháng sau, khi sức khẻo gần bình phục, Ma Ðăng Dà đã thuộc
làu làu bài mật ngữ. Nàng còn chờ một thời gian ngắn cho
trong người thật mạnh sẽ thi hành ý nguyện, lòng chứa chan
hy vọng, tin chắc thế nào mình cũng đắc thắng bằng hai
lợi khí: nhan sắc và thần chú nhiệm mầu. Rồi, một buổi
sớm mai, nàng trang sức rất đẹp, sắm sẵn những thức cúng
dường để gợi ý trung nhân. Nhưng bóng ác càng cao, Ma Ðăng
Dà càng nhìn trông mỏi mắt và cuối cùng phải thất vọng,
vì đã quá ngọ mà vẫn vắng bóng hành khất của chư Tăng.
Hoài công chờ đón như thế đến bốn năm hôm, hỏi ra nàng
mới biết lúc này vào đầu mùa mưa, chư Tăng theo lệ thường
mỗi năm phải ăn cư một chỗ trong vòng ba tháng. Nghe được
tin ấy, nàng âu sầu khổ não, song cũng phải dằn lòng đợi
dịp, không biết phải làm thế nào.
Lá
tươi rồi héo, hoa nở rồi tàn, cảnh vật âm thầm biến
chuyển mau lẹ theo cánh thời gian, thấm thoát đã đến ngày
chư Tăng mãn hạ. Ðối với nàng Ma Ðăng Dà, ba tháng thật
là mấy năm trường đằng đẳng! Nhưng việc sẽ đến tất
phải đến, hôm nay nàng sẽ cảm thấy sống dậy một mùa
xuân tươi đẹp mùa xuân ở cõi lòng. Từ sáng sớm, những
thức cúng dường đã được sắp đặt đâu vào đấy. Công
việc xong xuôi, Ma Ðăng Dà đến trước gương trang điểm,
vừa đọc nhẩm mấy câu Phạm chú. Vẻ vui tươi đắc ý hiện
rõ trên mặt nàng. Giai nhân lồng bóng trong gương, hai dáng
xinh đẹp in nhau, phưởng phất như cành hoa Tịnh Ðế. Khi
ánh nắng mai chiếu vào song cửa, trên con đường vào thành,
hình dáng của đoàn Sa Môn đi khất thực lần lần lộ rõ
và cũng lại gần, Ma Ðăng Dà vô cùng mừng rỡ, định thỉnh
riêng ông A Nan đến trước nhà để tiện bề dùng huyển
thuật. Nhưng lần này nàng rất ngạc nhiên, vì không thấy
vị Tỳ kheo trẻ tuổi theo hầu Ðức Phật. Thêm một điều
lạ: chư Tăng cùng đi thẳng, không dừng lại từng nhà để
thọ cúng như mọi khi. Ma Ðăng Dà để ý nhìn từng vị Sa
Môn lần lượt đi qua, nhưng cũng không thấy người mình muốn
gặp. Mỗi nỗi buồn vô tả xâm chiếm tâm nàng, khi vị Sa
Môn cuối cùng vừa đi khuất. Nàng để rơi mình xuống ghế,
hai tay bưng mặt, choáng váng cả tâm thần. Không biết ngồi
như thế được bao lâu, khi ngước đầu lên, Ma Ðăng Dà chợt
thấy từ xa tiến đến một hình dáng quen thuộc. Nàng mở
to đôi mắt nhìn kỹ người ấy không ai đâu lạ, chính là
vị Tỳ kheo trẻ tuổi mà nàng đã thương nhớ từ lâu. Lòng
rạo rực, nỗi vui mừng không thể tưởng tượng, nàng vội
vả đứng dậy đón chờ.
Tại
sao lại có việc như thế?
Nguyên
vào lúc các thầy Tỳ kheo mãn hạ, nhân ngày kỵ phụ vương
Ba Tư Nặc sắm những thức ăn quí lạ, mời Phật và chư
Tăng thọ trai trong hoàng cung. Ðức Thế Tôn thân lãnh các
vị Tỳ kheo thẳng đến cung vua để ứng cúng, nên không theo
thường lệ đi từng nhà khất thực. Duy có ông A Nan trước
đã chịu người mời riêng, đi xa chưa về, không kịp dự
hàng trai chung. Vì về trễ, ông đi giữa đường một mình.
Nhớ lời Ðức Phật đã quở Tôn Giả Ma Ha Ca Diếp và Tu
Bồ Ðề làm A La Hán tâm không quân bình, ông kính vâng lời
dạy vô giá của đấng Ðiều Ngự, ôm bát theo thứ lớp ghé
vào từng nhà, kính giữ phép hoá trai.
Khi
A Nan đi đến, nàng Ma Ðăng Dà đem thức ăn ra cúng dường
đồng thời gọi thầm tên vị Tỳ kheo trẻ tuổi và đọc
mấy câu Phạm chú, đoạn nàng xây lưng trở vào nhà.
Tay
chân bủn rủn, thần trí không định, A Nan cũng nối gót theo
sau. Lúc hai người đã vào đến phòng, như cây héo gặp mùa
xuân, Ma Ðăng Dà giở đủ trò khêu gợi quyết tâm làm nổi
dậy ngọn sóng tình trong con người tịnh hạnh. Trong giờ
phút nguy hiểm ấy; tuy bất lực, song cũng còn tỉnh trí, A
Nan tha thiết tưởng nghĩ: “Hỡi Ðức Từ Nghiêm! Nay con bị
nạn, Ngài đành bỏ con sao?”.
Khi
ấy Ðức Như Lai thọ trai xong, đã về đến tịnh xá và đang
ngồi thuyết pháp giữa vô số thính chúng. Ðấng Từ Nghiêm
trí tuệ thần thông nghe thấy ông A Nan mắc nạn, liền từ
nơi nhục kế trên đảnh, phóng ánh sáng trăm thứ báu rất
tự tại nhiệm mầu. Trong ánh sáng có vô số hóa Phật, mỗi
vị đều ngồi trên toà sen nghìn cánh, đồng thời nói ra
thần chú bí mật. Ðức Như Lai khiến Ngài Văn Thù phụng
trì chú ấy, đến dẹp trừ tà chú đem ông A Nan về. Ngài
Văn Thù vâng lời đến, phóng áng sáng nói lại thần chú
bí mật. Bấy giờ ông A Nan tâm trí sáng suốt, như cá đã
thoát khỏi lướt, vụt chạy ra ngoài. Chưa được thỏa nguyện,
bỗng mất người yêu, Ma Ðăng Dà cũng chạy theo A Nan tâm
trạng như người cuồng dại. Khi ba người đã đến Tịnh
xá, lòng si ái quá nặng, Ma Ðăng Dà sầu khổ bạch với Phật:
“Xin Ngài trả ông A Nan lại cho tôi”. Ðức Phật mĩm cười,
dùng phương tiện bảo: “A Nan là kẻ xuất gia, nàng là thế
tục, hình thức và đời sống của đôi bên đều khác, thế
thì làm sao gần gũi nhau được? Nếu nàng chịu cạo tóc,
mặc áo cà sa, ta sẽ giao A Nan lại cho”. Trước tiên, Ma Ðăng
Dà còn dùng dằng, nhưng bị ái tình làm mù quáng, đã thương
trót phải liều, nàng nghĩ thầm: “Nếu Phật không giữ lời
hứa, ta sẽ nắm áo Ngài và ông A Nan”.
Nghĩ
như thế nàng liền ưng thuận, sau khi đã thành hình thức
xuất gia, Ma Ðăng Dà lập lại yêu cầu khi trước, Ðức Phật
không đáp hỏi lại:
- Nàng
thương A Nan vì chỗ nào?
- Tôi
thương đôi mắt xinh đẹp của ông.
- Mắt
của A Nan chỉ là hai khối thịt hôi, trong ấy chứa những
nước mắt, ghèn dơ, có chỗ nào tinh sạch đặng cho nàng
mến?
- Tôi
thương cái mũi ông A Nan.
- Mũi
của ông ấy có những chất nhớp bên trong và thường chảy
ra thứ nước không sạch, nàng chẳng nên ưa thích.
- Tôi
thương cái miệng ông A Nan.
- Miệng
của A Nan có những nước miếng, đờm, dãi, nếu ông ấy
không năng súc rửa, nơi đó sẽ đóng cáu bợn và tiết ra
mùi hôi. Thế thì không đáng cho nàng yêu chuộng.
Sau
khi đánh tan những chỗ ái chấp của Ma Ðăng Dà, Ðức Phật
lại vì nàng giải thích, chỉ rõ thân người không sạch,
mong manh chóng suy tàn, là nguyên nhân của sự đau buồn trong
hiện tại và vô lượng nỗi khổ về sau.
Nghe
lời chánh chơn hợp lý của Ðức Phật, như người trong bóng
tối chợt bắt gặp ánh sáng, Ma Ðăng Dà đứng lặng suy nghĩ.
Trước kia nàng lầm tưởng ái tình là vườn hoa tươi đẹp,
đầy màu sắc rực rỡ, hương vị thơm tho, nơi ấy hẳn hứa
hẹn cho thế gian một diễm phúc tuyệt trần. Nhưng hôm nay
nhìn sâu vào thực tế, nàng mới biết nó là một mũi gai
độc ẩn núp dưới lớp lá xanh; một sợi dây vô hình lôi
kéo người vào ngục tối đau khổ, Tỉnh Giấc Mơ Hoa, nàng
quan sát những lý: bất tịnh, khổ không, vô thường, vô ngã
của Ðức Phật vừa khai thị, liền chứng được quả A Na
Hàm. Vừa mừng rỡ vừa tủi thẹn, nàng cúi xuống đảnh
lễ Ðức Thế Tôn, xin trọn đời làm đệ tử và phát nguyện
sẽ dẫn dắt chúng sanh thoát khỏi vòng hoa mộng, vào bản
thể an vui trong sạch…
Thuật
giả: Trí Hiền
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Chỉ Mang: Vì chặt ngón tay người làm chuỗi đeo nên gọi
là Chỉ Mang.