Phần
01
Một
người nghèo lạ
Hại
người trở lại hại mình
Bố
thí bất nghịch ý
Họa
tùng khẩu xuất
Người
mẹ
Một
người nghèo lạ
Chàng
nghèo thật hết chỗ nói, cả sự nghiệp của chàng chỉ có
một bà mẹ già mà thôi.
Lâu
lắm người ta mới biếu cho chàng một cái búa để đề ơn
cứu sống một em bé chết đuối.
Ðược
búa, chàng đưa mẹ vào núi, tìm một hang đá, chàng lót rơm
êm và có gió mát để mẹ ăn ở; như thế chàng an tâm lắm.
Ngày ngày đi kiếm củi rồi về chợ đổi gạo, mặc dù ít
tiền, chàng vẫn mua được thịt để mẹ xơi. Tu Lại tên
chàng chẳng những lan rộng với chữ hiếu, mà người ta còn
gọi chàng là tráng sĩ, vì chàng thường giúp đỡ nhân dân
trong vùng ấy, bất luận gặp một tai nạn
gì chàng thường giúp đỡ họ tận lực.
Vì
chàng ở núi, nên người ta đặt chàng những món tiền lớn
để bắt các thú rừng hiền lành như: nai, khỉ, chồn, thỏ
v.v… Tu Lại từ chối vì chàng là một Phật-tử chơn-chánh,
không bao giờ giết một sinh vật nào dù nhỏ. Chẳng những
chàng không bắt chúng mà còn yêu mến chúng nữa, nên lâu
ngày chúng quen và thường gần đến chỗ hai mẹ con chàng
ở. Cái hang ấy bao giờ thành vui, hoa lạ nở hai bên, những
tổ chim làm gần gũi đó.
Có
những đêm trăng sáng mẹ chàng mẹ Phật, chàng ngồi bên
kết mấy thứ cỏ khô thành áo để mặc mùa đông.
Nhưng
đã sáu ngày nay, trời mưa luôn không ngớt, gạo trong hang
đã hầu cạn, chàng lo ngại, nếu mưa cứ kéo dài. Hôm nay
trời bừng sáng, Tu Lại sung sướng quá, chàng chào mẹ rồi
vác búa ra đi, đến chỗ thường đốn củi, thì xa xa có bóng
ba thiếu nữ. Thấy có người, ba bóng kia bỏ đi nơi khác.
Chàng để bầu nước xuống và sửa soạn vào việc thì ồ
thật, một chiếc kim thoa óng ánh “nằm ngã nghiêng bên tảng
đá, không còn nghi vì nữa, chàng vội nhặt lấy, rồi chạy
theo ba thiếu nữ kia trả lại cho họ, người ta nhìn chàng
với cặp mắt cảm trọng. Nhưng người tráng sĩ không trả
ân bằng tiền gạo được, vì người ta biết tiếng chàng
nhiều lắm. Nhưng, từ độ ấy về sau, nơi hang mẹ chàng
thỉnh thoảng có người đem biếu gạo trắng thịt ngon, trong
lúc chàng đi làm củi vắng, cứ thế, rồi một ngày kia…
Một
sáng mai khi chàng còn mơ màng chưa tỉnh hẳn thì có một nàng
tiên đến ngồi bên chàng, nàng tiên ấy trên trời sa xuống
lâu hay mau không biết, hồi nào không hay, nhưng nàng là tiên
thật, vì nàng đẹp quá. Một tấm “voan” màu nước biển
phủ nhẹ toàn thân, trên mái tóc xanh là một tràng hoa tươi.
Chàng phải gượng với bộ áo sơ sài của mình. Tu Lại lại
ngồi phắt dậy: “Nàng là ai? Sao lại đến đây?”
Thiếp
là sương phụ đánh rơi chiếc kim thoa hôm nọ, được tráng
sĩ cho lại, về nhà thiếp suy nghĩ: “Ở đời giàu sang không
phải chơn hạnh phúc, được gần bậc hiền nhân mới chắc
chắn sống một lối sống của con người biết sống! Tiếng
nay giàu có, của cải dư dật, cha mẹ không, chồng chết,
chỉ có hai con thơ, nay thiếp đến đây nguyện theo chàng,
mong chàng đừng phụ, thiếp xin thay chàng hầu hạ mẹ già,
và giúp chàng học hành để thành danh đức, hầu sau làm lợi
ích cho đời, nếu chàng cố chấp không nghe, thiếp rất tiếc
tài ba đức độ của chàng vùi sâu trong hang thẳm”.
Tiếng
nàng trong và êm quá, trong như tiếng suối chảy, êm như tiếng
chim kêu, nàng nói với một vẻ thiết tha thành thật. Câu
chuyện mới cắc cớ làm sao, mỗi lời nói của nàng như rót
vào tai tráng sĩ.
Tu
Lại mơ màng như người trong mộng. Chàng suy nghĩ: “Không
biết ta chiêm bao hay thật, mà nàng là người thật hay ma”.
Bỗng chàng nghiêm nét mặt và bảo: “Tôi xem nàng là người
đoan chính lại giàu sang là do phước báu của đời trước
đã gây tốt nhiều, còn tôi chỉ là một kẻ nghèo khổ, làm
sao xứng đáng với nàng và, theo tôi, một người sương phụ
cần phải thờ chồng, nuôi con, dạy vẽ cho con nên người,
xứng với ý nghiã con người mới phải. Thiết thật hơn,
tôi nay còn mẹ già, nếu tôi lập gia đình, tình yêu mẹ sẽ
san sớt, nàng còn có con thơ, nếu nàng lập gia đình tình
yêu con sẽ không còn nguyên vẹn, mẹ tôi cần có tôi mới
vui, con nàng cần có nàng mới sống. Vì vậy tôi khuyên nàng
trở về nuôi con và dứt bỏ câu chuyện này. Còn nàng sợ
đức độ tài ba của tôi sẽ mai một, nếu tôi quả có đức
độ như nàng tặng, thì trong rừng sâu các loài cầm thú cũng
cần có đức độ để che chở cho chúng, như thế có đức
độ thì ở đâu mà lại không dùng được?
Nàng
tiên ấy bay đi, trời đương sáng bổng tối hẳn, người
tráng sĩ cũng thấy nao nao trong lòng, nhưng rồi chàng lại
vui lên nhiều, vì chàng đã chiến thắng. Song không hiểu vì
sao, những chuyện kỳ lạ lại hay đến với người nghèo
lạ ấy.
Một
hôm, có một người lạ mặt hốt hoảng chạy đến lôi ra
một thoi vàng thắm, rồi thưa với Tu Lại: “Thưa tráng sĩ,
tôi xin biếu chút quà mọn nầy, nhờ tráng sĩ giúp cho tôi
một lời nói. Ngày mai đây, nếu có ai hỏi: Có một đoàn
người đi qua đây không? Thì tráng sĩ nói cho một tiếng
“có”, ở đây chỉ có tráng sĩ và tôi, ngoài ra không
còn ai hay chuyện này cả; vả lại tráng sĩ chỉ nói cho một
tiếng cũng không sao.”. Nói xong , người bỏ vàng lại đó,
rồi chạy mất, Tu Lại chưa kịp suy nghĩ gì cả, nhưng chàng
vội lượm vàng rồi chạy theo thật nhanh mới kịp. Tu Lại
kéo tay người kia: “Không, không, vàng ông hãy cầm lấy,
tôi không thể theo lời ông được, tôi là một người Phật
tử không bao giờ làm việc ám muội, một lời nói của người
quân tử trọng hơn nghìn vàng, nhưng một lời nói còn trọng
hơn cả thân mạng, nếu ông đem nghìn vàng hay dùng uy thế
để hại mạng tôi, bảo tôi nói dối, thà chết chứ không
bao giờ phạm giới cấm của Phật”, nói xong Tu Lại bỏ
vàng rồi chạy thẳng.
Tiếng
tốt của người tráng sĩ bay xa như ngọn gió mát vô tình
thổi từ rừng sâu vào đến thâm cung. A Dục Vương là
người hiếu kỳ, muốn thử chàng, nên những chuyện bỏ rơi
và người cơn gái đến tận hang chàng chính là cung nhơn của
vua A Dục Vương. Sau mấy lần thử thách, nhà vua biết Tu Lại
là bậc hiền nhân nên đem lòng đố kỵ sai người đến hại
chàng. “Tôi vâng lệnh nhà vua đến giết tráng sĩ” người
đao phủ cầm gươm sáng bảo thế.
- Ồ,
thế thì tốt quá, tôi rất cám ơn Ngài đã vì tôi mà hủy
giùm cái thân ô uế đầy tội lỗi này. Song tôi còn chút
mẹ già nhờ ngài chiếu cố cho… Tên đao phủ ngạc nhiên
trước thái độ thản nhiên củaTu Lại.
- Ông
là vô tội, nhà vua vì lòng đố kỵ sai tôi đến hại ông,
vậy ông không giận nhà vua sao?
- Không,
tôi không giận mà còn thương hại nhà vua đã gây nhiều nghiệp
ác, trước khi chết tôi xin cầu Ðức Phật cho nhà vua phát
Bồ Ðề tâm hồi hướng thiện niệm.
Tên
đao phủ mím môi, đỏ mặt đưa gươm lên cao dán xuống đầu
chàng… nhưng lưỡi gươm kia xuống từ từ rồi chui thẳng
vào vỏ kiếm…
Sáng
hôm sau vua A Dục lên tận hang chàng ở, đến nơi, chàng đi
làm củi sớm, vua chờ trọn ngày mới gặp. Vua A Dục từ
tốn bảo: “Trẩm làm vua, trong nước có hiền tài mà Trẩm
biết chậm thật là đáng tiếc! Ngày nay nước nhà loạn lạc
Trẫm mong tráng sĩ về triều cùng Trẫm chăm lo việc nước,
được vậy thật là hạnh cho nhân dân”. Chàng từ chối
năm bảy dạo, vua nài nỉ đôi ba phen, cuối cùng chàng hẹn
trong bảy ngày sẽ trả lời.
Trong
bảy ngày, ba lần vua đến thăm ba lần vua cho người lên thăm
hỏi. Tu Lại hỏi ý kiến mẹ, mẹ chàng bảo:
“Hiện
nay mẹ trong nước, nhà vua thì lãng mạn, hoang hung, hà khắc
dân tình, nhân dân oán thán đến nổi họ đặt tên nhà vua
là Chiên Ðà La A Dục (ông vua hung tợn như người hàng thịt).
Triều đình nịnh thần ô lại; ngoài thì vua hung tàn, con ngỗ
nghịch, vợ bất chánh, chồng bất lương… đạo đức hầu
như mất hẳn tất cả tâm niệm xấu xa độc ác kết hợp
lại do đó giặc cướp nổi lung tung. Con nay chấp kinh cũng
phải tùng quyền, vậy nhân cơ hội này con có dịp đem giáo
lý của Ðức Phật để cảm hóa quần sanh hầu mong cứu vãn
nhân tâm, đưa lại sự an ninh cho nhân loại”.
Vâng
lời mẹ Tu Lại về triều, vua A Dục lấy hai chữ Quốc Bửu
(vật quí của nước) tặng chàng làm tên.
Trước
hết Quốc Bửu đem ba pháp quy y, năm điều cấm giới cảm
hóa vua. Vua A Dục từ khi biết quy đầu về Phật không bao
lâu trở thành một vị minh quân. Ông đổi hẳn chính
sách, lấy đức độ trị dân, không dùng oai thế tàn bạo
như trước nữa. Vì thế mà nhân dân trong nước trở lại
cảm phục vua, từ đó đặt tên vua là Thích Ca A Dục (ông
vua hay làm đìều nhân từ).
Trong
nước nhà vua trọng những người hiền hiếu, trừng trị
kẻ hoang dâm, cấm hẳn sự xa hoa cờ bạc, săn bắn, triệt
để không rựợu chè đàng điếm, người già cả bệnh hoạn
được săn sóc chu đáo, nhà nhà đều thờ Phật, trọng Tăng
tu Pháp “Thập thiện”*. Nếu ai phạm một trong năm đìều
răn phải bị trục xuất ra khỏi nước. Nhờ vậy, không bao
lâu trong nước trở lại thái bình an lạc.
Thuật
giả: Thể Quán
*Thập
thiện: Mười điều lành. Thân không giết hại, không trộm
cướp, không tà dâm. Miệng không nói dối, không nói thêu
dệt, không nói hai lưỡi, không nói độc ác. Ý không tham
lam, không giận dữ và không si mê.
“Thắng
lợi chân chánh là ở Phật-giáo chứ không phải vũ khí”
A Dục.
Hại
người trở lại hại mình
Thuở
xưa, trong hàng Bà La Môn có một người dâm phụ đương lúc
tuổi còn xuân xanh, sắc duyên đằm thắm, mà trong lòng đã
mang một khối tình rất lai láng. Mặc dầu nàng đã có chồng,
nhưng thường có tính lẳng lơ, vì thế hằng ngày mơ tưởng
việc ngoại tình. Tuy cái ý tưởng của nàng muốn như vậy,
nhưng ngặt trong nhà còn mẹ chồng, nên nàng còn kiêng nể
và phải đè nén lòng dục vọng của mình.
Một
hôm nàng bèn nghĩ ra một mưu kế rất hiểm độc, bề ngoài
thì nàng thường giả mượn điều hiếu thảo mà đối với
mẹ chồng, nên hằng ngày thường lo sắm những thức ăn ngon
vật lạ cho bà ăn uống, nhưng trong lòng chờ cơ hội để
hại bà.
Người
chồng của nàng thấy vậy, thì có ý mừng thầm mà nghĩ rằng:
“Ngày nay mẹ ta đã tuổi cao sức yếu, mà lại may mắn gặp
được một người vợ hiền, biết lo hết bổn phận làm
dâu mà chăm sóc mẹ ta được ăn no ngủ khẻo trong khi đầu
bạc da nhăn như vậy, thật là một điều hết sức vui mừng.”
Người
dâm phụ biết chồng đã lầm kế của mình rồi, bèn thừa
cơ nói với chồng rằng: “Thưa chàng! Tuy thiếp đã hết
lòng nuôi dưỡng mẹ như thế, nhưng sự ấy chẳng qua là
điếu ở thế gian mà thôi, nên sự hiếu dưỡng cũng chưa
lấy gì đáng gọi là mỹ mãn cho lắm!
Vậy
chàng cũng nên tìm một phương pháp chi khác, đặng hóa sanh
độ tử cho mẹ được siêu thoát linh hồn và được vãng
sanh về cõi Trời mà hưởng những hạnh phúc thần tiên, thì
chúng ta mới trọn đạo làm con; chớ những vật chất ở
đời này cũng chỉ là giả dối trong lúc còn sống mà thôi!”
Người
chồng nghe vợ nói những lời tha thiết như thế, liền đáp
rằng: “Nếu chúng ta muốn cho mẹ được mau siêu thăng lên
cõi Trời, thì chỉ một pháp của đạo Bà La Môn, là phải
dùng hầm chất củi mà đốt mẹ. Nhưng ta không nở làm như
vậy.”
Người
dâm phụ nghe chồng đáp thì biết đã trúng kế của mình
nên nói thêm rằng: “Phải lắm! Trong đạo hạnh của mình
đã có pháp giải thoát siêu thăng như vậy thì chúng ta cũng
nên thi hành liền, đặng cho mẹ được lên chốn thiên đường
hưởng lộc Trời, mà chúng ta cũng đền đáp được ân sanh
thành nữa”.
Nghe
qua mấy lời của vợ, người chồng liền tin, chớ chẳng
ngờ vợ xúi đốc làm như thế là có ý quyết hại mẹ mình,
nên chàng ra ngoài đồng ruộng đào một cái hầm rất lớn
mà lại thật sâu, và chở củi đem chất dưới hầm, rồi
đốt lửa hừng lên đỏ lòm.
Ðoạn
chàng lại lập một tiệc ở gần cái hầm, rồi trở về
nhà dẫn mẹ ra đó đứng làm chủ tiệc và mời cả thảy
những bà con tân khách cùng các chúng Bà La Môn đến dự và
uống rượu nghe đờn.
Sau
khi yến tiệc vừa xong, các tân khách đều lui về nhà, hai
vợ chồng người dâm phụ bèn dẫn mẹ ra mé hầm xem, rồi
thình lình xô mẹ xuống hầm.
Người
vợ tưởng chắc rằng xác thịt của mẹ chồng đã tiêu ra
tro rồi, còn người chồng lại tin rằng mẹ mình đã tiêu
diêu tự tại nơi cõi Trời, nên dắt nhau trở về nhà.
Ngờ
đâu trong hầm ấy lại có một khoảng trống không có lửa,
khiến bà sa vào đó mà chẳng có điều gì hại đến tánh
mạng, nên bà có thể tìm đường chui ra được.
Khi
bà ra khỏi chốn hiểm nguy rồi, thì trời đã về khuya, bốn
bề tĩnh mịch, bà lần mò theo đường cũ trở về nhà. Nhưng
vì đường xa và trời lại tối đen như mực nên bà mới
gắng leo lên một nhành cây to và rậm để ẩn thân.
Trong
khi bà ngồi trên cây, bổng đâu có một lũ ăn trộm vừa
đến nghĩ tại dưới gốc. Bà liền tằng hắn một tiếng
lớn, bọn trộm hoảng kinh lật đật bỏ chạy tứ tán, để
lại những đồ của chúng nó đã lấy của người.
Ðến
khi trời vừa tảng sáng, bà liền leo xuống, thì thấy những
đồ châu báu và bạc tiền đầy dưới gốc nên bà lựa nhũng
món quý giá như: vàng, bạc, ngọc, ngà, xuyến, bông tai…rồi
lần lượt đem về nhà.
Con
dâm phụ thấy mẹ chồng trở về, liền kinh hãi và tưởng
rằng bà đã hiện hồn về nhà, nên nhắm mắt và lánh mặt
cúi đầu, chẳng dám chào hỏi. Còn chồng của nàng thì lại
tưởng mẹ của mình đã được siêu sanh nơi cõi Trời, nay
về thăm mình, nên lật đật chấp tay lại mẹ mà nói rằng:
“Con nhờ vợ của con khuyên bảo dùng phương pháp “Hóa
sanh độ tử, thoát kiếp siêu hồn”. Nên nay mẹ được lên
cõi Trời mà về thăm con, thì con rất vui mừng”.
Bà
mẹ nghe con nói như vậy mới biết dâu mình đã muốn hại
mình, nên bà “nhân kế tựu kế”, nghĩa là bà dùng cái
kế của người dâu đã hại bà đó mà trở lại hại nó.
Bà bèn nói lại rằng: “Mẹ nhờ hai vợ chồng con làm phép
siêu thăng cho mẹ, nên nay mẹ được giải thoát mà sanh về
cõi Trời, hưởng được nhiều điều phước báo. Hai vợ
chồng con ăn ở như vậy mới được trọn phần hiếu thảo”.
Bà
lại day qua mặt người dâu, và đưa mấy món báu cầm nơi
tay mà nói rằng: “Những món: ngọc, bông tay, vòng, vàng,
xuyến nầy là vật của ông bà con cậy mẹ đem về cho con.
Nhưng vì mẹ chân yếu gối đùn, thân gầy sức mỏng, nên
xách đem về chẳng đặng nhiều. Vả lại mấy người ấy
nhắn với mẹ bảo con cũng làm phép siêu thăng như con đã
làm mẹ vậy, đặng con lên Thiên đường mà lãnh lấy những
đồ châu báu ấy còn rất nhiều”.
Người
dâm phụ nghe mẹ chồng mình nói như vậy, tưởng là sự thật,
nên vui mừng mà nói với chồng rằng: “Ngày nay mẹ có duyên
sa xuống hầm lửa mà được lên cõi Trời hưởng những vật
lạ của báu; nhưng tiếc vì thân mẹ già yếu, nên chẳng
đem hết của cải về được. Vậy nếu chàng bằng lòng cho
phép thiếp làm phép siêu thăng như mẹ vậy, thì chắc thiếp
đem tất cả những đồ châu báu ấy về hết, khi
ấy chúng ta sẽ trở thành đại phú gia, mặc sức cùng nhau
hưởng sự sung sướng!”
Người
chồng nghe vợ tỏ ý như thế, thì cũng vui vẻ bằng lòng,
liền đào một cái hầm làm y theo cách đã thiêu mẹ mình
ngày trước.
Nhưng
than ôi! Khi hầm lửa vừa sắp đặt xong, con dâm phụ kia liền
gieo mình xuống, của cải châu báu đâu chẳng thấy trái lại
phải bị ngọn lửa thiêu đốt nóng không thể tưởng tượng
và kết quả tội lỗi tiêu tan thành tro bụi. Thật là một
quả báo rùng rợn đáng làm gương cho những nàng dâu bất
hiếu với mẹ chồng.
Trích
sách: Gương nhân quả
Hại
người sẽ bị người hại,
Oán
người sẽ bị người oán,
Mắng
người sẽ bị người mắng,
Ðánh
người sẽ bị người đánh.
Bố
thí bất nghịch ý
Thuở
xưa, có một nước hiệu là Diệp Ba, vua tên là Thi Tí, lấy
phép chơn chánh trị vì, chẳng hề làm tổn lê dân. Vua có
4.000 quan thượng thơ, 500 thớt voi bạch, cai quản 60 tiểu
bang và 800 thôn xã. Vua tuy có hai muôn vương phi mỹ nữ, song
không có bà nào có con. Ngài khẩn cầu chư Thánh chúng, Thần
núi, Thần nước.
May
thay! Một bà bỗng có thai.
Thiên
tử bổn thân săn sóc chánh cung rất chu đáo. Ngài lại ra
lệnh lo nào nệm thúy gối loan cho bà an nghỉ, nào món ăn
cho mỹ vị, thức uống cho tinh khiết đặng bà dùng. Sau chín
tháng đến ngày mãn nguyệt khai hoa, bà sanh đặng một hoàng
nam đặt tên là Tu Ðại Noa. Hay tin này, cả thảy quý phi trong
cung điện đều hớn hở vui mừng.
Thời
gian qua, Thái tử Tu Ðại Noa đã được 16 tuổi. Ngoài văn
võ kiêm toàn, lại thêm lễ nhạc cung đàn cũng là tột chúng.
Ngài phụng kính Hoàng-phụ và Mẫu-hậu chẳng khác chi như
thánh. Vua cha lại dựng riêng cho Hoàng-tử một đài các nguy
nga rực rỡ. Tuy trẻ tuổi, song Ðông cung lại quý sự phước
thiện, bố thí cho nhân loại, thượng cầm hạ thú. Ý Ngài
chỉ muốn cho tất cả chúng sanh được an vui tự tại.
Khi
đến tuổi trưởng thành, vua cha đính hôn cho Ngài với nàng
Mạn Trà, con một vị Thiên tử. Công chúa sắc đẹp tuyệt
trần và đức hạnh không ai sánh kịp.
Ngày
tháng qua, vợ Ðông cung sinh được một trai, gái. Thuở ấy
Hoàng tử nhớ pháp bố thí Ba La Mật. Ngài xin phép vua cha
dạo chơi và xem cảnh vật, Ngài thấy những người nghèo,
đui, điếc, câm, đi dọc đường, trong lòng ưu ái, không hân
hoan chút nào. Vua cha hỏi, Ðông cung nói: “Tâu Hoàng phụ,
con ra thành thấy người nghèo, điếc, đui, câm; con động
mối từ tâm, xót lòng trắc ẩn. Con muốn tâu Hoàng phụ biết
ý muốn của con, song con còn ngần ngại e Hoàng phụ không
nhận lời”.
Hoàng
thượng nói: “Con muốn điều gì, cha cũng hoan hỷ ban cho
như ý”. Ðông cung nói: “Con muốn lấy tất cả trong kho
tàng của Hoàng phụ, đem bố thí cho mọi người, bất luận
ai xin vật chi thì con cho vật ấy”, Hoàng phụ đáp: “Hay
thay con cứ thi hành theo bổn nguyện, cha không cấm cản”.
Ðông
cung xin các quan hầu cận đem đồ châu báu ra bày biện nơi
bốn cửa thành và ngoài chợ đặng bố thí cho tất cả nhân
loại. Tám phương trời đất đều hay việc lành của Hoàng
tử. Bốn hướng xa xôi ngàn dặm, đua nhau lặn suối trèo
non, đến chịu thọ thí. Người đói rách, Hoàng tử cho ăn
mặc, kẻ xin bạc vàng châu báu, Hoàng tử lại cấp cho, ai
ai cũng được lòng hả dạ.
Thời
ấy có một ông vua nghịch sanh lòng nham hiểm, hay tin Hoàng
tử bố thí bất luận là ai cùng vật gì, mới hội các đình
thần và các vị Bà La Môn trong nước bàn bạc rằng: “Ta
nghe vua nước Diệp Ba có một thớt tượng bạch, tên là Tu
Ðàn Diên chạy bay được trên liên hoa. Voi ấy đã dõng mãnh
lại mạo hiểm trong việc chiến tranh, trăm trận trăm thắng,
chả biết chư khanh có ai chịu đi xin voi ấy chăng?”. Các
quan văn võ lắc đầu trương mắt nhìn nhau; song trong hàng
Bà La Môn có tám ông tâu rằng: “Chúng tôi nguyện làm như
ý, cúi xin Hoàng thượng ban cho chúng tôi ít đồ hành lý”.
Vua dạy cấp đồ đi đường và nói rằng: “Ta rất tin cậy
các ngươi, nếu các ngươi xin được voi ấy, ta sẽ trọng
thưởng”.
Tám
ông Bà La Môn tay cầm tích trượng lên đường, khi lên thác
khi xuống ghềnh, lần hồi đã tới nước Diệp Ba. Chúng hỏi
thăm đến trước cửa đền Hoàng tử, thảy đều chống gậy
kim cương, chân đứng chân treo, day mặt vô cửa. Người giữ
cửa vào báo cho Ðông cung, Ngài liền ra thi lễ một cách tôn
trọng, chẳng khác chi nghĩa cha con. Ðoạn thái tử hỏi: “Bạch
quý Ngài, quý Ngài ở đâu đến đây? Ði đường sá xa xôi
có cực khổ chăng? Cảm phiền quý Ngài cho tôi biết có việc
chi quan hệ mà phải chịu nhọc nhằn treo chân như thế này?”.
Tám vị Bà La Môn đáp: “Thưa Hoàng tử Ðông cung, chúng tôi
mạn nghe Ðông cung mở đường phước thiện, bố thí bất
luận là ai cùng bất cứ của cải gì, nên danh thơm của Ngài
truyền khắp tám phương, công đức của Ngài quả thật vô
lượng vô biên, xa gần đều chúc tụng, không còn một ai
không biết. Chúng bần đạo lấy đó tin chắc chắn như lời.
Thưa Hoàng tử Ðông cung, thật Ngài là con cõi thượng thiên,
thế thì lời nói Ngài còn hơn kim thạch. Vậy nếu Ngài thành
tâm bố thí, chúng bần đạo xin Ngài hoan hỷ cho chúng tôi
bạch tượng bay trên liên hoa”.
Ðông
cung liền đến chuồng ngựa dắt ra một con voi bạch song các
vị Bà La Môn lại nói: “Thưa Hoàng tử Ðông cung, không phải
thớt voi này, chúng tôi xin đây là xin bạch tượng chạy được
trên hoa sen, tên nó là Tu Ðà Diên”. Hoàng tử đáp: “Cha
tôi thương mến voi ấy lắm, chẳng khác chi tôi, tôi không
thể tự quyền cho các Ngài. Nếu tôi cho thì cha tôi hết thương
tưởng tôi, lại còn đuổi tôi ra khỏi nước nữa”. Nhưng
Ðông cung lại nghĩ rằng: “Trước kia ta đã lập trọng nguyện
Bố Thí Bất Nghịch Ý, nếu ta từ chối thì ta tự bác đại
nguyện của ta, ta nên cho voi ấy mới có thể đạt được
pháp Ba La Mật”. Ðông cung không còn ngần ngại nói: “Bạch
quý Ngài, tôi không dám làm quý Ngài bận lòng vì một sự
nhỏ nhen đó” Hoàng tử dạy tùy tùng thắng bành vàng và
dắt tượng ra tức tốc. tay trái Ngài bưng nước rửa tay
cho các vị Bà La Môn, tay mặt dắt voi trao cho quý khách. Vừa
được voi bạch, tám ông Bà La Môn liền ca tụng “Bồ đề
tâm” và cảm tạ Ðông cung, lộ vẻ hân hoan, và vội vã
lên đường. Ðông cung lại còn nói vói: “Xin quý Ngài hãy
đi cho chóng, kẻ Hoàng phụ tôi biết lại cho người theo bắt
voi”. Trong nháy mắt, tám ông Bà La Môn biệt dạng.
Vừa
nghe Hoàng tử cho kẻ nghịch tượng báu, các quan văn võ đều
sững sốt, lo sợ rằng: “Nước ta nhờ có voi ấy mà dẹp
nạn can qua”.Quần thần liền vào tâu với vua: “Muôn tâu
bệ hạ, Ðông cung đã đem voi báu mà cho kẻ thù nhà, Bệ
hạ dựng nên bờ cõi cũng nhờ có voi ấy oai phong lẫm liệt,
một mình có thể chống cự 60 thớt voi khác như chơi; nay
Ðông cung lại cho kẻ nghịch, chúng hạ thần cho đó là điềm
mất nước. Chúng tôi tâm hồn rối loạn, cúi xin Hoàng thượng
định đoạt. Bố thí bất nghịch ý của Ðông cung theo thiên
kiến của chúng tôi thì chẳng kíp thì chầy, Hoàng tử chẳng
những vét sạch cả của cải trong kho tàng mà thôi, lại chúng
tôi sợ e Ngài còn cho cả nước và vợ con Ngài nữa”.
Vua
nghe tâu không bằng lòng, liền cho đòi một vị Ðại thượng
thơ đến hỏi: “Khanh cho Trẫm biết có phải Thái tử bắt
bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”.
Muôn
tâu Bệ hạ quả thật như lời.
Vua
hội nghị tất cả đình thần để thẩm án Ðông cung. Một
quan thượng thơ tâu: “Kẻ nào vào chuồng tượng thì chặt
chân, kẻ nào dắt tượng thì cắt tay, kẻ nào thấy dắt
tượng thì móc mắt”. Một quan thượng thơ khác lại tâu:
“Xin Hoàng thượng cho công án tử hình cho cả thảy thủ
phạm và đồng lõa”. Thấy quần thần phân vân và ý kiến
không đồng, Vua lại thêm tha thiết và phán với triều đình:
“Con Trẫm chẳng những ham tu tuệ mà thôi, lại còn mộ đường
phước thiện. Ðối với mấy điều ấy Trẫm không thể ngăn
cản, huống chi nay Trẫm nỡ đành bắt buộc hành hình cùng
hạ ngục”. Một vị Ðại Thượng thơ bác bẻ ý kiến cả
thảy triều đình, rồi quỳ xuống tâu: “Theo thiển kiến
của tôi, Ngài nên đuổi Thái tử ra khỏi nước và đày người
ở chốn lâm sơn 12 năm hòng người ăn năn hối ngộ”.
Vua
theo ý kiến ấy, dạy đòi Ðông cung vào hỏi: “Có phải
ngươi bắt bạch tượng cho kẻ nghịch chăng?”
- Muôn
tâu Hoàng phụ, quả thật vậy.
Vua
lại hỏi: “Sao ngươi lại dám bắt bạch tượng cho kẻ nghịch
mà không trình cho ta hay trước ?”
- Thưa
Hoàng phụ, trước kia Hoàng phụ cho phép con bố thí như ý
mà không ngăn cấm một việc chi. Bởi thế nên con không tâu
lại với Hoàng phụ việc con làm phước.
Thánh
Hoàng nói: “Lệnh ta ban thuộc về ngọc ngà châu báu, chớ
không can hệ với tượng bạch”.
Thái
tử đáp: “Muôn tâu Hoàng phụ, các vật ấy đều là của
cải của Hoàng phụ tất cả, con không ngờ phải ngoại trừ
tượng bạch”. Hoàng thượng phán: “Ngươi phải tức tốc
ra khỏi nước này, ta đày ngươi tại núi Ðàn Ðặc 12 năm.
Thái
tử tâu: “Con không cải lệnh Hoàng phụ, song con xin Hoàng
phụ cho phép con ở lại thêm bảy ngày đặng bố thí thêm
cho mãn nguyện”.
Thiên
tử phán: “Ta dạy ngươi cũng vì sự bố thí của ngươi
thái quá, chẳng những làm tiêu tan kho báu của ta, lại làm
cho nước mất một linh vật. Ngươi không được ở lại đây
thêm bảy ngày, hãy ra khỏi nước bây giờ, ta không cho phép
đâu”.
Thái
tử tâu: “Con không dám trái lệnh Hoàng phụ, nhưng vì con
còn chút ít của cải riêng, muốn đem bố thí cho trọn vẹn
chớ con không dám đá động đến kho tàng của nước nữa…”
Hai
muôn cung phi đồng xin vua để cho Hoàng tử ở lại bảy ngày
rồi sẽ đày đi cũng chẳng muộn.
Vua
nhận lời.
Thái
tử dạy cho gia dịch truyền cho thập phương hay: ai muốn của
cải, thì đến Ngài cung cấp cho.
Nhân
dân ở bốn phương trời nghe đồn đều tới cửa đền; Hoàng
tử rất ân cần thiết đãi thức ăn uống, chăm nom phân phát
của cải, mọi người đều được vui vẻ. Trong bảy ngày,
bố thí hết của cải. Người hàn vi trở nên phú quí; cả
muôn người đều nhờ đó được no ấm hân hoan.
Ðông
cung vào từ tạ Công chúa Mạn Trà và nói rằng: “Vì tôi
bố thí thái quá, đã vét sạch kho tàng lại còn cho kẻ nghịch
tượng bạch kỳ tài, nên Hoàng phụ và triều đình đày tôi
12 năm lên núi Ðàn Ðặc”.
Bà
Mạn Trà nói: “Muốn nước thạnh nhà an, tôi xin cầu chúc
Ðức Thánh hoàng, các thượng quan cùng quân nhân lớn nhỏ
trong nước, thảy đều được giàu sang, an vui vĩnh viễn.
Còn tôi thì nguyện theo cùng Thái tử vào chốn thâm sơn mà
tu hành pháp Bát nhã”.
Ðông
cung nói: “Người nam tử ở núi non hiểm địa còn khó giữ
được bình tĩnh với cọp hùm cùng các loài thú dữ khác;
Vương phi đã quen thanh nhàn, làm sao chịu nổi với cảnh khó
khăn và đời vô vị. Công chúa ở thì đài các nguy nga, mặc
ròng tơ lụa, nghỉ toàn nệm gối, ăn uống tinh đồ mỹ vị;
còn trên sơn lâm, nghỉ toàn màn trời chiếu đất, nệm gối
bằng cỏ rơm, thức ăn toàn là hoa quả. Lại thêm mưa, gió,
sấm sét, sương, tuyết làm cho vỡ mặt kinh tâm. Khi lạnh
thì lạnh thấu xương, khi nóng thì nóng phỏng trán. Nơi cây
cối không bề nương dựa, dưới đất thì cỏ gai, đá sỏi
cùng loài sâu bọ độc địa, làm sao Vương phi lại chịu
nổi cảnh Khổ ấy?”
Bà
Mạn Trà đáp: “Nếu thiếp xa cách Hoàng tử thì cần gì
nệm thúy gối loan, sơn hào hải vị. Hôm nay đứng trước
hoàn cảnh này thì lẽ đương nhiên chàng đâu thiếp đó cho
trọn đạo vợ chồng. Nước lấy cờ làm biểu hiệu, khói
thì có lửa, vợ thì có chồng. Thiếp chỉ biết gởi thân
cho lang quân, mặc dầu mưa tối nắng chiều. Thiếp tưởng:
lang quân chẳng khác chi thần thức của thiếp, nếu thần
thức xa lìa thì thân kia tan rã. Vả lại lúc lang quân lập
đàn bố thí, thiếp cũng dự vào, khi lang quân lìa quê hương
nếu có người đến xin thọ thí, Thiếp biết nói làm sao
với họ? Lúc thiếp nghe ai khẩn cầu với thí chủ, thiếp
quá cảm động có thể chết đặng vậy”.
Ðông
cung nói: “Tôi mở đường bố thí, không từ chối một ai,
nếu có người đến xin hai con, tôi rất hoan hỷ nhận lời.
Khi ấy Công chúa không vui lòng hưởng ứng, có phải làm rối
loạn tâm từ thiện của tôi không? Tốt hơn là Công chúa
đừng theo tôi làm chi”.
Mạn
Trà đáp: “Hoàng tử chớ có lo xa, tôi xin tán thành mọi
việc phước thiện. Lang quân ôi! “Trong trời đất không
còn ai nhân đức hơn lang quân!”
Ðông
cung nói: “Nếu quả Vương Phi đồng tình thì không gì quý
hóa bằng!”.
Ðông
cung dắt vợ con vào viếng mẹ và từ giả lên đường. Thái
tử thưa: “Cúi xin Mẫu hậu hãy năng nhắc nhở Thánh hoàng;
lấy luật chân chánh trị nước chăn dân, chớ để tà đạo
sang nhập nước nhà”.
Nghe
lời Ðông cung, Hoàng hậu bồi hồi cảm động âu sầu. Bà
nói giữa cung phi: “Ta đem thân cứng cỏi như sắc đá, lấy
lòng bền bỉ hơn gang thép mà phò Hoàng thượng không chút
chi lỗi lầm. Nay ta có một mụn con vỏn vẹn, nó lại bỏ
ta mà đi, tưởng tới chừng nào thì tâm bào ta đứt từng
đoạn! Nhớ khi con còn trong bụng mẹ, chẳng khác chi lá trên
nhành, càng ngày càng lớn, ta nuôi con đến tuổi trưởng thành,
nó lại đi xa, bỏ ta hiu quạnh! Các Vương phi khác sẽ được
thú vui chơi, còn ta thì Hoàng thượng sẽ hết yêu vì ta nữa.
Ta xin thành tâm chú nguyện cùng cao xanh cho con ta mau được
trở về xứ sở”.
Ðông
cung cùng vợ con đồng lạy mẹ rồi lui ra.
Hai
muôn quý phi mỗi bà đều đem ngọc trân châu đặng hiến
cho Ðông cung; bốn ngàn Thượng thơ đem tràng hoa và báu dâng
cho Hoàng tử.
Hoàng
tử ra cửa thành hướng Bắc, Ngài lấy cả thảy bảy vật
báu, ngọc và bông hoa bố thí cho mọi người. Cả thảy quan
dân lớn nhỏ vô số đến đưa đón chật đường, chen nhau
dâng lễ vật cùng chúc từ cho Hoàng tử. Họ bàn luận cùng
nhau và nói: “Ðông cung thái tử là người trọn lành, là
bậc vĩ nhân trong nước. Vì sao Hoàng thượng lại xua đuổi
một vị Hoàng tử quý nhất và hiếm có trong đời này?”.
Cả thảy mọi người đều hoài tâm thương tiếc.
Ra
khỏi thành, Hoàng tử xin thần dân trở gót đặng Ngài lên
đường. Lúc quay lưng, quan dân lớn nhỏ đều bi cảm và khóc
nức nở.
Thái
tử lên xe với vợ con, tự cầm cương dục ngựa. Ði một
khoảng đường xa xa. Thái tử dừng xe dưới bóng cây nghĩ
mát. Bỗng có một người Bà La Môn đến xin Ngài con ngựa.
Thái tử mở ngựa ra cho, rồi để hai con lên xe, mang gọng
xe vào kéo thế cho ngựa, Công chúa thì ở sau xe đẩy tới.
Ði thêm được một khúc đường, lại gặp một người Bà
La Môn, đón xin cái xe. Ðông cung liền nhận lời. Ði một
khúc xa hơn nữa, lại gặp người Bà La Môn xin bố thí. Thái
tử nói: “Tôi không muốn từ chối, song của cải tôi đã
hết”. Người Bà La Môn đáp: “Nếu Ngài không còn của
cải gì khác, nhờ Ngài cho tôi y phục của Ngài đang mặc
trong mình”. Ðông cung lấy quần áo tốt của mình cho, rồi
mặc đồ cũ. Ði một đổi xa nữa, lại gặp một người
Bà La Môn đến thọ thí, Ngài cho quần áo của hai con. Ðông
cung đã bố thí cả xe, ngựa, của cải và áo quần mà không
buồn không tiếc một chút nào. Bấy giờ Ðông cung thì cõng
con trai, Công chúa thì bồng con gái, đi bộ lên đường. Cả
thảy vợ chồng con cái đều hân hoan, nhắm non thẳng dặm.
Núi
Ðàn Ðặc xa lắm, cách châu thành hơn 6.000 dặm. Muốn đi
đến nơi, phải trải qua không biết bao nhiêu hầm hố bùn
lầy, phải nhịn đói chịu khát nữa.
Cứ
ngày đi đêm nghỉ, xuân qua thu lại, hè mãn đông sang, tội
nhân đã đến núi Ðàn Ðặc. Hoàng tử ngắm xem phong cảnh
thấy núi cao chơm chởm oai nghi, cây cỏ sầm uất thạnh mậu.
Các thứ chim ca hót với giọng véo von, hồ trong hoa nở nước
ngon trái ngọt với vô số ngỗng, hạc, vịt, chài cùng các
loài chim ăn dưới nước.
Hoàng
tử nói với vợ: “Ở đây cây mọc thẳng bằng, cao sừng
sựng tận trời xanh mà không lay động. Chúng ta sẽ được
uống nước ăn trái ngọt, ở trong hang đá; chúng ta sẽ tu
hành pháp Bát nhã (Phương pháp dùng trí tuệ để quan sát
chiêm nghiệm, tìm tòi sự thật của sự vật). Ðông cung vô
núi, cả thảy thượng cầm hạ thú đều vui mừng đến nghinh
tiếp Ngài.
Trên
chóp núi có một vị tu hành tên là A Châu Ðà. Ngài được
500 tuổi và đức hạnh dung thông. Ðông cung đến thi lễ rồi
lui ra đứng dậy và nói: “Bạch Ngài hiện giờ chúng tôi
chưa biết phải ở nơi nào có thức ăn uống?”.
Ông
A Châu Ðà đáp: “Toàn núi này là cảnh thiên thai, Ngài ở
đâu lại không được? Núi này chỗ nào cũng tinh sạch và
thanh tịnh, Ngài muốn hành pháp Bát nhã lại còn đem vợ con
theo làm chi”.
Hoàng
tử chưa kịp trả lời, bà Mạn Trà chận hỏi: “Ngài tu
được bao lâu?”
- Tôi
ở núi này được đâu 400 hay là 500 năm.
- Một
người như tôi ước tu bao nhiêu năm mới đắc huệ? Giả
tỷ tôi ở núi này lâu hơn cổ thọ cũng khó tính cho ra đến
chừng nào đạt được đạo Bồ đề.
Ông
tiên đáp: “Kỳ thật mấy câu chuyện ấy, tôi cũng không
biết được”.
Ðông
cung hỏi: “Ngài có nghe nói đến tên Thái tử Tu Ðại Noa,
con của vua nước Diệp Ba chăng?”.
Vị
tu sĩ đáp: “Tôi thường nghe nói đến tên, song không biết
mặt”.
Thái
tử nói: “Ðông cung ấy là tôi đây”.
Vị
tu sĩ hỏi: “Ngài muốn tu pháp môn nào?”.
Thái
tử đáp: “Tôi muốn tu theo Ðại thừa”.
Vị
tu sĩ nói: “Ðối với công đức của Ngài, tôi tưởng chẳng
bao lâu Ngài đạt được mục đích viên mãn: Chừng Ngài đắc
đạo vô thượng, hoàn toàn sang suốt, tôi sẽ là đệ tử
thứ nhất của Ngài có phép siêu phàm nhập thánh”. Rồi
ông chỉ cho Thái tử một chổ ở. Thái tử bắt chước ông
tròng cương vào đầu và vấn tóc, lượm nhánh và lá cây
cất bốn lều tranh cho mình, vợ và con.
Con
trai tên là Ða Ly 7 tuổi, mặc quần áo bằng cỏ rơm theo cha,
con gái tên là Kê Na Diên mặc quần áo bằng da nai theo
mẹ.
Trên
núi chim chóc và cầm thú vui cười tỏ lòng tín ngưỡng và
sùng bái Hoàng tử. Khi Thái tử đi tới đâu thì ở đó hang
hóc nội mạch nước, cây khô lại đơm bông trổ lá, loài
sâu bọ và ác thú thảy đều trốn mất: loài thú ăn thịt
trở lại ăn cỏ, cây sai trái, chim đồng tình kêu hót. Bà
Mạn Trà lo hái trái cho Hoàng tử và con ăn. Còn hai trẻ khi
thì đi chơi với cầm thú nơi mé rạch, khi lại ở đó suốt
đêm. Lần kia đuổi thú chơi, con trai Ða Ly cởi sư tử, sư
tử nhảy, Ða Ly té xuống đất trầy mặt chảy máu. Một
con khỉ thấy, leo lấy lá cây chùi máu, rồi dắt lại bờ
ao rửa. Hoàng tử thấy tấn tuồng ấy, thầm nói: “Loài
cầm thú cũng có lòng thương nhân loại như vậy”.
Trong
thời kỳ ấy, tại xứ Câu Lưu có một người Bà
La Môn nghèo khổ, bốn mươi tuổi, không con, có vợ, Vợ chàng
thì yểu điệu, đẹp đẽ, phương phi; còn chàng thì xấu
xa, mình mẫy đen điu, diện mạo quá dị tướng, chẳng khác
chi yêu ma quỷ mị. Vợ chàng gớm ghét mong sao chàng chết
phứt cho rồi. Ngày kia cô ta đi múc nước gặp một đám trai
tráng nhạo báng chồng nàng và nói: “Bà thì ví tợ thiên
kim, cớ sao lại làm vợ một người như thế?”.
Cô
ta trả lời: “Cái đầu già nua ấy bạc trắng như sương,
sớm tối tôi hằng trù rủa cho nó chết, chẳng biết sao nó
không nhúc nhích”. Ðáp rồi tự than thân trách phận, về
nhà khóc lóc với chồng. “Thiếp đi múc nước gặp một
lũ trai tơ xúm nhau diễu cợt. Vậy chàng phải kiếm cho thiếp
một con đòi, chừng nào có đứa ở thiếp khỏi đi xách nước,
bọn ấy mới hết chọc ghẹo thiếp”.
Người
chồng trả lời: “Tôi nghèo xác da xác chiếu, nàng lại muốn
tôi mọi ở đâu?”
Vợ
đáp: “Nếu không có, tôi tình nguyện bỏ nhà ra đi.” Nàng
lại tiếp lời: “Tôi có nghe Hoàng tử Tu Ðại Noa, vì bố
thí thái quá nên bị vua cha đày tại núi Bàn Ðặc. Ngài có
một trai, một gái, chàng nên thân hành đến đó xin hai trẻ”.
Chồng
bác lời rằng: “Núi Bàn Ðặc xa hơn 6.000 dặm, khó đi đến
nơi huống nữa là xin Thái tử một việc mà Ngài không thể
cho!”.
Vợ
lên tiếng: “Nếu chàng còn dụ dự, tôi sẽ mượn con dao
tự tử ngay”.
Chồng
xuống giọng: “Thôi đừng vội giận, nàng coi sắp cho tôi
ít đồ hành lý gì?”.
Vợ
nói: “Ði thì đi đi, nhà ta thiếu trước hụt sau, còn đòi
đồ hành lý gì?”.
Người
Bà La Môn cụ chuẩn bị ít món ăn rồi lên đường, Ðến
xứ Diệp Ba đi ngay lại cửa thành, chàng ta mới hỏi người
giữ cửa: “Xin ông thi ân cho tôi biết Hoàng tử Ðông cung
Tu Ðại Noa ở đâu hiện giờ?”.
Người
giữ cửa không dám trả lời vào báo Hoàng thượng hay. Vua
nghe tức giận và phán rằng: “Cũng vì lũ này mà ta đày
Thái tử, sao chúng nó còn đến đây làm chi?”
Người
Bà La Môn được đòi vào quỳ tâu: “Muôn tâu Thánh hoàng
tôi ở xứ xa lại, vì cái thanh danh của Hoàng tử Ðông cung
đâu đâu đều biết, trên thấu cửu thiên, dưới tận cửu
tuyền, Ðông cung có lòng bác ái không hề để một ai thất
vọng. Bởi vậy nên ở xa, tôi cũng lặn lội đến đây chú
ý thành tâm yêu cầu một việc cùng Hoàng tử”.
Vua
nói: “Ðông cung ở chốn quạnh hiu, trong thâm sơn và quá
nghèo khổ, người còn có vật chi nữa mà bố thí”.
Người
Bà La Môn tâu: “Muôn tâu Hoàng thượng, tuy biết Ðông cung
khiếm khuyết mọi vật, song tôi cũng chỉ nguyện đến tận
nơi ra mắt Ngài”.
Vua
dạy người chỉ đường.
Người
Bà La Môn nhắm núi Bàn Ðặc thẳng dặm băng ngàn. Chàng vào
núi gặp người thợ săn liền đón hỏi: “Xin ông thi ân
cho tôi biết Hoàng tử Tu Ðại Noa có ở trên núi này không?”.
Thợ
săn tuy biết Ðông cung bị đày ở đây cũng vì bố thí cho
dòng Bà La Môn, song không chỉ chỗ lại còn bắt chàng trói
vào gốc cây đánh một trận nhừ tử, mắng nhiếc quá lời
và nói: “Ta muốn cho ngươi vài mũi tên và ăn thịt ngươi,
ngươi còn thiếu vật chi mà đến đây hỏi thăm Thái tử”.
Người
Bà La Môn nghĩ: “Ta sẽ bị tay người này giết, vậy ta phải
thiết kế đánh lừa người mới mong toàn tánh mạng”. Nghĩ
rồi liền nói: “Theo lẽ phải Ngài phải hỏi tôi nguyên
nhân trước khi hành phạt tôi cho đáng”.
Thợ
săn đáp: “Ngươi muốn nói việc chi?”.
Người
Bà La Môn nói: “Thưa Ngài đức Thánh hoàng hồi tâm thương
nhớ Thái tử Ðông cung, dạy tôi đi tìm Hoàng tử đặng thỉnh
về nước”.
Nghe
vậy, thợ săn hối hận liền mở trói thả ra, nhận lỗi
và nói: “Tôi thật vô lễ, xin ông miễn chấp, cũng bởi
không hay không biết có chỉ Thánh hoàng nên mới lỗi lầm
như hôm nay”. Nói rồi chỉ chỗ ở của Ðông cung.
Người
Bà La Môn đi thẳng đến lều trang của Ðông cung, Hoàng tử
thấy đặng vui mừng, ra tiếp rước, thi lễ và hỏi thăm:
“Ông ở đâu lại? Có lẽ ông đi đường mệt nhọc thì
phải? Ông đến tôi có việc chi chăng?”.
Người
Bà La Môn thưa: “Tôi ở xa lắm, thân tôi khốn đốn không
cùng, đương giờ tôi đói khát nữa”.
Hoàng
tử lật đật thỉnh vào cốc mời ngồi, đem trà nước và
trái cây dâng người Bà La Môn nói: “Thưa Ðông cung Thái
tử, tôi gốc ở nước Câu Lưu, đã lâu tôi nghe lòng từ
thiện của Ngài, thập phương thế giới đều mến danh thơm
và đức hạnh của Ngài. Tôi quá nghèo khổ nhưng Ngài thương
tưởng tôi, cho tôi một vài vật”.
Thái
tử đáp: “Kính ông chẳng có việc gì tôi từ chối nhưng
rủi cho ông, hiện giờ tôi không còn món gì”.
Người
Bà La Môn nói: “Thưa Ðông cung, nếu Ngài không có gì, xin
Ngài cho tôi hai trẻ con của Ngài để phụng dưỡng tôi lúc
tuổi về già”.
Hoàng
tử đáp: “Ông ở xa lại chú tâm xin hai con tôi, tôi không
lẽ từ chối”.
Lúc
đó hai trẻ đi chơi, Thái tử kêu lại, và nói: “Có một
người Bà La Môn ở xa đến xin hai con, cha đã hứa lời ưng
chịu, hai con hãy đi với người”.
Hai
trẻ chạy đến một bên cha khóc rằng: “Chúng con đã từng
biết nhiều người Bà La Môn, song chúng con không hề thấy
người nào dị tướng như thế. Chắc người này không phải
trong họ của Bà La Môn đâu, người ấy là quỷ yêu! Nay mẹ
con đi hái trái chưa về, cha lại bắt con cho yêu tinh ăn thịt
chúng con phải chết mất. Ðến chừng mẹ con về kêu con chẳng
thấy, thì chẳng khác gì bò mẹ kiếm con, người sẽ bi lụy,
than van, đau khổ”.
Thái
tử nói: “Hai con chớ quá bịn rịn, cha đã hứa lời không
thể thất tín. Người Bà La Môn này không phải là tà ma quỷ
mị chi, không ăn thịt con đâu mà ngại gì, hai con hãy đi
đi”.
Hoàng
tử lấy nước rửa tay cho người Bà La Môn, rồi kéo tay hai
con cho người Bà La Môn dắt đi.
Hai
trẻ không chịu đi, chừng trở lại trước mặt cha quỳ xuống
và nói: “Thưa cha chẳng hay chúng con phạm tội gì trong kiếp
trước mà ngày nay chúng con phải chịu lắm điều thống khổ.
Chúng con là dòng vua, nay phải làm tôi tớ cho kẻ phàm phu.
Trước mặt cha, chúng con xin sám hối các tội lỗi, có lẽ
nhờ đó sự phiền não và nghiệp chướng của chúng con sẽ
được tiêu trừ và hạnh phúc lại đặng phát khởi, mong
sao đời này sang đời khác chúng con không còn gặp phải bước
gian truân như thế nữa”.
Ðông
cung nói với hai con: “Cả thảy ái tình đều là ảo mộng,
một ngày kia phải hủy hoại vạn vật đều vô thường, mấy
ai giữ trọn vẹn một vật chi nơi trần thế. Hai con hãy đi,
chẳng nên dùng dằng, chừng nào cha đắc đạo Bồ Ðề, cha
sẽ độ hai con”.
Hai
trẻ, đôi mắt đỏ ngầu nói với cha: “Xin cha trao lời vĩnh
biệt của hai con lại cho mẹ con, chúng con quá đau lòng vì
nghĩa mẹ con xa cách đời đời, lại không giáp mặt tỏ phân
một lời trong khi mẹ bắc con nam. Chẳng còn nghi vì nữa,
cũng bởi tiền căn nghiệp báo của chúng con, nên nay chúng
con phải chịu như vậy. Chúng con nghĩ đến khi mẹ chúng con
về thấy mất hai con, người sẽ khổ tâm, đau đớn sầu
não chẳng cùng, lo cho thân chúng con phải chịu đói rách phiêu
lưu nơi đất khách.”
Người
Bà La Môn nói: “Tôi già yếu, hai trẻ chạy bỏ tôi theo mẹ
chúng nó, tôi lụm cụm theo bắt chúng nó sao được. Xin Ðông
cung trói nó giùm tôi.”
Thái
tử liền trói hai con giao cho người Bà La Môn dắt đi, nhưng
hai đứa nhỏ cưỡng lại chẳng chịu, người Bà La Môn mới
đánh chảy máu. Ðau đớn thay cho Ðông cung, thấy tình cảnh
như vậy động lòng sa nước mắt. Cả trái đất đều rung
động, Hoàng tử và cầm thú theo sau đưa đón hai trẻ, tới
chừng biệt dạng mới trở về. Các loài lục súc trở lại
chỗ cũ hai trẻ thường chơi thấy cảnh chẳng thấy người,
xúc động rên than thảm thiết, lăn lộn dưới đất.
Người
Bà La Môn dẫn hai đứa nhỏ đi được xa xa, dọc đường
đứa trai vấn dây trói vào cây không chịu đi, chú ý chờ
mẹ chúng nó đến cứu. Người Bà La Môn nổi giận, lấy
cây đánh nhừ tử, đến chừng chúng nó xin thôi đánh, chịu
đi, mới nới tay.
Hai
đứa nhỏ ngước mắt lên trời vái rằng:
Thần
linh ôi! Hởi thần linh ôi!
Hoan
hỷ mách giùm mẹ chúng tôi.
Xét
dạ con đi sầu chất chứa.
Ðau
lòng mẹ ở lụy quên thôi.
Chạnh
tình nuôi dưỡng chưa thù đáp.
Ðoái
nghĩa cưu mang chẳng đắp bồi.
Ở
biết bao giờ cho rảnh nghiệp?
Cuộc
đời thiết tưởng bạc hơn vôi.
Cũng
ngay lúc đó, Công chúa ở trên núi, nháy mắt khó chịu, bà
lấy làm lạ và nghĩ: “Thuở giờ tôi chẳng hề có cảm
động thái quá như hôm nay, chắc hai trẻ mắc phải tai nạn
rồi.” Bà liền bỏ giỏ trái lại đó, hối hả ra về.
Khi
Công chúa về thấy Ðông cung ngồi một mình không có hai con,
bà vô lều tranh kiếm không có, bà lại trở ra mé rạch-chỗ
chúng nó hay chơi giỡn cũng không thấy. Bà chỉ thấy mang,
sư tử, khỉ, mấy thứ thường chơi với nó mà thôi. Bà Mạn
Trà trở lại chỗ Thái tử ngồi và hỏi hai con ở đâu? Thái
tử không nói.
Bà
lại hỏi nữa: “Khi hai con ở xa thấy tôi đem trái về chúng
nó chạy nhào lăn dưới đất, rồi lồm cồm ngồi dậy nhảy
nhót: Mẹ về; khi chúng nó thấy tôi ngồi ở đâu thì đến
ngồi kế một bên, thấy bụi bặm dính mình tôi liền phủi.
Bây giờ tôi không thấy con tôi và chúng nó không lại gần
tôi, nó ở đâu? Ai bắt nó? Không thấy con tôi, lòng tôi đứt
từng đoạn! Chỉ cho tôi biết con tôi đi đâu và đừng làm
cho tôi phải cuồng tâm”.
Bà
nói đi nói lại ba lần, Hoàng tử vẫn điềm nhiên không thốt
một lời. Bà lại càng đau đớn hơn nữa. Bà nói chua cay
như vầy: “Mất con tôi còn chịu được song sự lặng thinh
của lang quân làm cho tôi thêm rối loạn”.
Ðông
cung nói: “Có người Bà La Môn ở xứ Câu Lưu đến xin hai
con và tôi đã cho rồi”.
Công
chúa thoạt nghe quá cảm động, vụt té xuống đất, bà đau
đớn không cùng.
Ðông
cung nói: “Công chúa hãy nguôi lòng. Phu nhân hãy nhớ lại
việc xưa, hồi thuở Phật Ðề Hòa Kiệt La ra đời. Lúc đó
tôi là một người Bà La Môn, tên là Ba Sô Vệ, còn Công tước
phu nhân là con gái Bà La Môn tên là Tu La Ðà, Công chúa cầm
bảy liên hoa, còn tôi thì nắm trong tay 100 bạc. Tôi mua năm
bông sen của Công chúa đặng cúng dường Phật, còn Vương
phi thì đem thêm hai bông khác cho tôi dâng cúng Phật. Phu nhân
lại lập nguyện như vậy: “Tôi nguyện cầu sao trong những
kiếp vị lai tôi cứ được làm vợ chàng, dầu lịch sự,
dầu xấu xa tôi không hề xa chàng”.
Tôi
có nói với Công chúa rằng: “Nếu nàng muốn làm vợ tôi
thì phải tuân theo chánh ý tôi, tôi sẽ đem hết tâm lực
hành pháp bố thí, không hề thối chuyển cùng trái ý một
ai. Trừ cha mẹ tôi, ai xin vật chi tôi đều hoan hỷ. Công
chúa ưng chịu bằng lòng. Nay tôi cho hai con, Vương phi lại
làm rối loạn đến mối từ tâm của tôi”.
Nghe
Ðông cung nói, bà liền tỉnh ngộ; bà nhớ lại trong kiếp
quá khứ kia, bà có hứa hẹn và nhận các việc bố thí của
Thái tử.
Ðế
Thích thấy Thái tử hành pháp bố thí Ba La Mật Ða, cố ý
thử lòng Thái tử. Ngài hóa thân làm người Bà La Môn xấu
xa và cũng dị tướng như người trước, đến trước mặt
Thái tử và thốt rằng. “Ðông cung ơi! Tôi hằng nghe Ðông
cung rất hoan hỷ làm các việc phước thiện và không hề
từ chối việc chi. Vậy tôi đến đây xin bà Vương nữ, vợ
của Ðông cung”.
Hoàng
tử đáp: “Công chúa là người của Ngài”.
Công
chúa nói: “Nếu Thái tử cho tôi rồi, lấy ai mà giúp đỡ
Thái tử”.
Ðông
cung nói: “Nếu tôi không cho Công chúa thì tôi không đạt
được đạo vô thượng Ba La Mật”.
Thái
tử múc nước rửa tay cho người Bà La Môn và dắt vợ cho
người.
Ðế
Thích đã nhận được lòng Thái tử không còn tiếc việc
chi. Các thiên thần lại ca tụng lòng từ bi bác ái của Ðông
cung, tức thì trời đất tối tăm, thế giới đều rung động.
Người
Bà La Môn dắt Công chúa ra đi, được bảy bước, trở lại
trả Công chúa cho Thái tử.
Thái
tử hỏi: “Sao Ngài không giữ Công chúa cho Ngài? Công chúa
nết na tánh hạnh xấu chăng? Trong cả Hoàng nữ, Công chúa
là cực phẩm phu nhân, nàng là Công chúa của một nhà vua
kim thời. Cũng vì tôi mà nàng phải nhảy vào vạc dầu sôi,
trong đống lửa đỏ, phải chịu ăn uống kham khổ không hề
than thở vì đau khổ phong trần; trong mỗi sự hành động,
nàng rất ân cần chú ý và gương mặt vẫn thư thái tươi
cười. Ngài nên đem nàng đi, tôi mới được an vui”.
Người
Bà La Môn nói với Ðông cung: “Ta không phải là Bà La Môn,
ta là Thiên Ðế Thích. Ta đến thử lòng Ngài. Nhưng bổn nguyện
của Ngài là chi?” Nói xong Ðế Thích hoàn nguyên hình diện
mạo oai nghi dung nhan tuyệt mỹ.
Công
chúa đảnh lễ Ðế Thích và cầu xin ba điều: “Trước nhất
xin Ngài làm sao cho người Bà La Môn đem lại hai con tôi về
bán tại bổn xứ, cho chúng tôi được về nước cho chóng”.
Ðế
Thích đáp: “Bà sẽ như nguyện”.
Ðông
cung nói: “Kính ngài, tôi nguyện sao cho cả thảy chúng sanh
đều được giải thoát và hết khổ về sự sanh, già, bệnh,
chết.”
Ðế
Thích: “Lời nguyện của Ngài thật vĩ đại cao thượng không
chi hơn. Nếu muốn sanh cõi trời, làm vua Thượng thiên, làm
đại Hoàng đế tại cõi trần, trường thọ như bá, như tùng,
thì tôi có thể làm được như ý; chớ cái oai linh tối yếu
trong ba giới ta ngoài bản năng tôi.”
Ðông
cung tiếp: “Tôi tạm xin cho được giàu có muôn xe đặng
bố thí hơn xưa. Tôi mong sao cho Hoàng phụ cùng các quan đại
thần hoài tâm sum hiệp cùng tôi”.
Ðế
Thích đáp: “Bản nguyện của Ngài sẽ được thành tựu.”
Dứt lời Ðế Thích biến mất.
Ðồng
thời khi ấy người Bà La Môn dẫn mấy đứa nhỏ về tới
nhà. Vợ chàng ra đón và nhiếc rằng: “Thật chàng quả lớn
mật to gan mới đem mấy trẻ này về đây. Nó là dòng dõi
vua chúa, sao chàng lại tàn nhẫn đánh đập đến nỗi vết
tích máu mủ đầy mình. Hãy tức khắc đem bán đi và kiếm
đứa khác cho tôi”. Chồng nghe lời vợ đem bán trẻ con.
Ðế
Thích thể theo lời nguyền của Công chúa liền đổi ý cho
người Bà La Môn đưa qua nước Diệp Ba.
Ðến
xứ ấy, các quan và dân nhìn biết con của Ðông cung cháu
nội của đức Kim Thượng, lớn nhỏ đều động lòng thương
xót liền vào tâu vua.
Vua
nghe nói lấy làm ngạc nhiên, cho đòi vào. Xa xa vừa chợt
thấy Hoàng tôn, Thiên tử, Hoàng hậu, quần thần và cung phi
đều khóc nức nở. Vua hỏi người Ba La Môn làm sao mà có
mấy đứa trẻ này? Nó tâu: “Tôi xin Ðông cung Thái tử”.
Vua
kêu cháu đến và muốn ôm, nhưng nó khóc không chịu lại
gần. Vua hỏi giá cả. Người Bà La Môn chưa kịp trả lời,
Hoàng tôn mạn tâu: “Trai định giá một ngàn bạc với một
trăm bò cái, gái định giá hai ngàn bạc với hai trăm bò cái”.
Vua
nói rằng: “Lẽ thường thì người ta yêu chuộng con trai
hơn con gái, sao trai lại rẻ giá hơn gái?”
Hoàng
tôn nói: “Tâu Bệ hạ những cung phi mỹ nữ của Bệ hạ
không phải là quyến thuộc của Ngài, người thì hèn hạ
kẻ lại hoa đời; nhưng ai được Hoàng thượng yêu vì thì
được tăng phẩm tước, trang điểm mỹ lệ, ăn uống sung
sướng! Ngài chỉ có một mụn con trai mà Ngài đày chốn non
rừng rậm, còn Ngài thì sớm tối sung sướng với cung phi,
chẳng chút đoái hoài tới nghĩa cha con. Ðó rõ ràng biểu
thị trai ít có giá trị hơn gái”.
Thoạt
nghe, vua liền tỉnh ngộ, khóc than rằng: “Ta tội cùng cháu,
lẽ nào cháu chẳng chịu lại gần ta? Ghét ta hay sợ người
Bà La Môn?”. Hoàng tôn vội tâu: “Chúng con đâu dám tự
phép ghét Hoàng thượng và chúng con cũng chẳng sợ gì người
Bà La Môn này. Xưa chúng con là con vua, cháu chúa, nay lại tôi
tớ kẻ phàm phu. Làm sao đứa nô bộc lại dám lòn dưới
tay Hoàng thượng? Bởi vậy nên chúng con không thể tự tiện
làm việc ấy”.
Hoàng
tôn dứt lời, vua thêm sầu muộn. Liền đó Thánh hoàng trả
theo giá định của người Bà La Môn, rồi kêu hai cháu hai
trẻ chạy vào lòng Ngài. Vua ôm cháu vuốt ve và hỏi: “Cha
con ăn mặc những gì trên núi?”.
Hai
cháu nói: “Cha con ăn toàn lê hoắc (tên trái cây) mễ cốc,
mặc áo vải quần nâu, có trăm thứ chim làm cho cha con được
giải khuây và không chút chi phiền.”
Vua
cho người Bà La Môn về.
Hoàng
tôn tâu: “Người Bà La Môn đói khát, xin Thánh hoàng cho một
bửa cơm”.
Vua
nói: “Vậy chớ cháu không giận nó sao, lại còn cho nó ăn
uống nữa?”.
Hoàng
tôn tâu: “Cha con ham tu phước huệ, đến nỗi không còn vật
chi bố thí nên đem hai con cho người, người là chủ của
hai con, chúng con rất tiếc chưa làm nô lệ cho người, hòng
khỏi phụ lòng bác ái của cha con. Chúng con sao đành để
người đói khát. Cha chúng con còn cho chúng con được thay,
huống chi bố thí một bửa cơm có lẽ nào Hoàng thượng từ
chối?”.
Vua
lại sai sứ giả đi triệu Ðông cung về. Ðược lệnh, sứ
thần đi tìm Hoàng tử; tới núi Ðàn Ðặc liền tuyên đọc
Thánh chỉ và xin Ðông cung lập tức về cung.
Ðông
cung đáp: “Hoàng thượng đã đày ta ở núi này 12 năm và
còn một năm nữa mới mãn hạn, chừng nào khâm kỳ viên mãn
ta sẽ về chẳng muộn”.
Sứ
giả về tâu lại cho vua nghe, rồi Thánh hoàng tự tay hạ bút
đề thơ cho Thái tử như vầy: “Con thật đáng vị hiền
nhân, nên lấy dạ khoan hồng quên chuyện đã qua. Con giận
dữ có ích lợi gì, không trở về Tổ quốc. Cha đợi con
về đặng đoàn viên cộng hưởng sự an vui”.
Khâm
sứ mang bức thơ đem đưa cho Ðông cung.
Tiếp
chiếu, Hoàng tử liền quỳ lại trước mật chiếu, đoạn
lui lại, đi vòng mật chiếu bảy vòng rồi mới khai thơ ra
đọc.
Hay
tin Hoàng tử sắp hồi trào, các loài cầm thú nhảy nhót cảm
động, kêu gào tha thiết, suối khe bỗng cạn, thú cái dứt
sữa, chim chóc hót tiếng như than như sầu.
Hy
hữu thay loài cầm thú cũng biết đau thương trong khi vĩnh
biệt!
Ðông
cung và Công chúa đổi y phục lên đường.
Nghe
tin Ðông cung về nước, vua địch dạy thám tử bắt bành
vàng cho bạch tượng, lại đem theo một ô vàng đựng bạc,
một ô bạc đựng vàng đón đường Thái tử xin trả lại
và tỏ dấu ăn năn hối ngộ cùng Hoàng tử như vầy: “Trước
kia bởi mê muội tôi cố ý xin Ngài voi báu, vì tôi nên Ngài
phải bị đày ở thâm sơn rừng rậm. Nay nghe tin về nước,
tôi rất vui mừng cho khâm sứ đưa bạch tượng trả lại
cho Ngài cùng dâng chút lễ bạc vàng, rất trông mong được
Ngài hạ cố thứ lỗi cho tôi.”
Ðông
cung nói: “Giá như một người kia sắm sửa các thức ăn
đủ mùi vị và dâng cho ai dùng, người ấy ăn vô rồi nhả
ra, thức ăn đó còn hương vị thanh khiết chăng? Các việc
bố thí của tôi chẳng khác chi đồ ăn kia, thế thì tôi không
thể bắt voi lại. Các quan hãy lên tượng mà về và nói tôi
có lời cảm tạ nhà vua.”
Thám
tử lên voi về tâu lại nhà vua. Cũng nhờ câu chuyện con voi
mà vua địch được tỉnh ngộ, trở nên người hiền, thành
bậc trượng phu. Vua quan và dân lại tín ngưỡng đạo Bồ
đề và bắt đầu hành pháp vô thượng Ba La Mật Ða.
Hoàng
thượng, cha Ðông cung ngồi đón con. Hoàng tử chợt thấy,
vội trổi bước đảnh lễ sát đất rồi theo sau vua cha. Cả
thảy văn quan, võ tướng và lê dân rất hoan hỷ đồng rải
bông, đốt hương trầm treo cờ lọng, rưới nước thơm dưới
đất, làm lễ tiếp rước Ðông cung một cách long trọng linh
đình.
Ðông
cung đã về tới thành, liền vào lạy và vấn an Hoàng hậu.
Hoàng
thượng giao cho Ðông cung hết thảy kho tàng trong nước. Thái
tử đem ra bố thí cho thập phương và còn nhân đức hơn xưa.
Sự bố thí của Ngài viên mãn nên sau này Ngài sẽ chứng
quả Niết bàn (Cảnh giới hoàn toàn an vui, sung sướng, không
còn phiền não, đau khổ.)
Ðức
Phật nói với ông A Nan: “Ðó là cách ta hành pháp bố thí
trong một tiền kiếp của ta. Ðông cung Tu Ðại Noa tức là
ta đó vậy.
Thuật
giả: Minh Châu
Họa
tùng khẩu xuất
Thuở
xưa ở trong một cái hồ kia có một con rùa và hai con cò trắng
thường lui tới làm bạn với nhau.
Năm
ấy trời đại hạn, suốt một năm trời ròng rã như không
có cơn mưa nào cả. Nước ở trong hồ cứ cạn dần vì thiêu
đốt gay gắt của mặt trời. Cỏ lát trong hồ cũng vàng úa
tàn tạ. Có thể nước nóng như một chảo nước sôi, vì
thế loài thủy tộc chết lần chết hồi…
Ở
trong tình trạng đó, chàng rùa ta ngồi đứng không yên và
trong đầu óc luôn luôn suy nghĩ một phương kế thoát thân
khỏi cái địa ngục nóng này.
Thì
may thay! Trong lúc ấy có hai vợ chồng cò đến chơi. Thấy
bộ dáng thiểu não của chàng rùa, hai vợ chồng cò ân cần
hỏi thăm:
- Chắc
có chuyện gì buồn chăng? Mà trông bác có dáng lo nghĩ thế?
Rùa
rầu rầu đáp:
- Hai
bác ôi, tôi đang gặp phải đại hoạn, phen này chắc chết
mà không còn trông gặp mặt hai bác nữa.
Chàng
cò chận lời:
- Chúng
ta là bạn bè thân thiết với nhau, sung sướng cùng chia thì
hoạn nạn cùng chịu. Vậy bác hãy cho chúng tôi biết nguyên
nhân nào làm cho bác phiền muộn, họa may chúng tôi có thể
tìm phương giải quyết và giúp đỡ bác chăng! Chớ chưa chi
mà bác đã than van thất vọng như thế.
Rùa
trả lời với một giọng lâm ly thống thiết:
- Không
biết hai bác này làm ăn thế nào, chứ tôi hai hôm nay chưa
có lót dạ nữa con tép chứ đừng nói tôm cá, vì chúng đã
hết trọi! Mà nước thì cạn dần thế này, thì trước sau
thế nào cũng không thoát khỏi bàn tay độc ác của lũ chăn
trâu. Cách đây 5 năm tôi đã bị chúng bắt một lần, may
nhờ một bà già mua và đem đến chùa phóng sanh nên mới sống
sót đến ngày hôm nay. Vì thế mỗi lần nghĩ đến tai nạn
chết chóc, tôi bắt rùng mình…
Trong
lúc chàng cò đang ra dáng suy nghĩ thì chị cò thương hại
hỏi:
- Sao
bác không đi ở nơi khác một phen xem thế nào?
- Bác
thử nghĩ, xưa nay tôi có từng đi đâu, đường sá thì xa
xôi nguy hiểm mà sự đi lại của tôi quá chậm chạp, nên
tôi nghĩ thà chết nơi chôn nhau cắt rún còn hơn.
Bỗng
chàng cò ngóng cổ nói lớn lên với một niềm hy vọng:
- Thôi
bác khỏi lo! Cách đây mười dặm, có một hồ sen không khi
nào cạn, mặc dù là lúc trời hạn hán. Chúng tôi sẽ đem
bác đến đấy, trước là giải quyết sinh kế mà sau nữa
được gần gũi nhau trong lúc tối lửa tắt đèn…
Nhưng
chàng rùa vẫn lo ngại nói vẻ thất vọng:
- Trời
ơi! Mười dặm. Một dặm mà tôi đã đi đến chưa, huống
nữa là mười dặm, thôi tôi đành chịu chết vậy!
- Ðiều
ấy bác cũng không nên lo, chàng cò tin tưởng nói. Chúng tôi
đã có phương pháp; nhưng có điều hơi khó là bác cần phải
bình tĩnh và can đảm.
- Bác
nói thử xem, chàng rùa vội vàng hỏi, khó thế nào tôi cũng
cố gắng.
Chàng
cò giải thích với một điều bộ quan trọng:
- Phương
pháp như thế này: Hai vợ chồng tôi tha một cái cây mỗi
người một đầu. Còn bác thì ngậm ngay chặng giữa, chúng
tôi sẽ tha bác đến cái hồ kia. Nhưng có một điều tối
quan trọng và nguy hiểm bác nên nhớ. Trong lúc chúng tôi bay
bác phải ngậm chặt vào cây và không được nói năng hỏi
han gì cả mặc dù gặp phải trường hợp thế nào đi nữa.
Chỉ trong vòng nữa giờ là chúng ta đến nơi. Bác nhớ nhé!
Tôi dặn lại: Dầu gặp trường hợp nào bác cũng phải ngặm
miệng không được nói năng.
Chàng
rùa ra dáng hiểu biết:
- Thôi
tôi nhớ rồi, hai bác xem tôi chẳng bằng con nít, dặn đi
dặn lại mãi.
Sau
khi sửa soạn xong, chàng cò lại thiết tha căn dặn lần cuối
cùng:
Ðó,
bác bây giờ bác muốn ho hen hay nói gì thì nói đi. Chớ chốc
nữa mà mở miệng thì nguy hiểm lắm đấy!
Xong
câu đấy, cả ba làm theo ý định bốn cánh vỗ mạnh, hai
cặp chân cò duỗi thẳng, chàng rùa hỏng mặt đất rồi từ
lên cao, chẳng khác nào chiếc máy bay hai động cơ…
Bay
được một lát mặc dù lần đầu tiên thấy những cảnh
kỳ lạ hiện ra trước mắt: đây cánh đồng xanh rì gợn
sóng như tấm nhung xanh, kia con sông trắng phau nằm quằn quèo
như con bạch xà lượn khúc, và cây cối, nhà cửa v.v… bao
nhiêu là cảnh đẹp mắt… Ðã bao lần chàng rùa định mở
miệng để hỏi cho thỏa tính tò mò, nhưng may thay! Mỗi lần
định hỏi, chàng lại sực nhớ đến lời dặn quan trọng
của anh chàng cò trắng.
Nếu
sự đời yên ổn thì nói làm chi, rủi thay, trên đường hành
trình của chàng rùa không qua khỏi cặp mắt tinh quái của
lũ trẻ.
Một
đứa la lớn:
- Anh
em ơi! Ra đây coi nè! Hai con cò tha một con rùa! A ha! Vui quá!
Bọn
trẻ đồng la ầm lên. Một thằng lớn nhất trong bọn hét
lớn:
- A
ha! Thật giống hai thằng mổng dắt một anh thầy bói. A ha!
Thầy bói! Thầy bói!
Không
dằn được tức giận, chàng rùa định bụng trả lời: “Mặc
kệ chúng tao, mắc mớ gì chúng mày. Ðồ nhảy con!”. Nhưng
tội nghiệp thay, vừa mới mở miệng, rùa ta đã rơi xuống
và tan thân vì đụng nhằm một tảng đá…
Ðức
Phật dạy: “Ở đời đã biết bao nhiêu người vì không
giữ cái miệng, nói không đúng thời mà phải mang họa như
trường hợp con rùa trên đây. Này các đệ tử! Họa từ
miệng phát sanh, vậy các con hãy giữ gìn cái miệng”.
Thuật
giả: Hoàng Minh
Người
Mẹ
Nắng
hồng bắt đầu tươi thắm trên muôn ngàn cây cỏ. Những
tiếng chim ríu rít hòa lên khúc nhạc tưng bừng. Ðàng xa,
một dáng điệu oai nghiêm bệ vệ trong chiếc y vàng, hào quang
chói lọi, khoan thai lần bước với chiếc gậy trúc tẩm màu
sương nắng.
Ðây
chính Ðức Phật.
Như
thường lệ mọi lần nắng lên Ngài đi khất thực. Ngài chỉ
sống bằng những hạt cơm cúng dường của những tâm hồn
mộ đạo; nhân đó để giáo hóa mọi người, quay về đường
thiện.
Ðức
Phật đến nhà ông Ðế Ðô, một nhà có tiếng giàu sang nhất,
nhưng cũng không kém phần ích kỷ. Chủ đi vắng, con chó nằm
trước cửa đôi mắt đỏ ngầu cau lại như phóng ra những
tia lửa hung ác. Nanh nhe khỏi mồm như sẵn sàng một thứ
khí giới trắng nhọn vô cùng ghê tởm. Nó gừ một hơi rồi
nhảy chồm đến Ngài theo một tiếng “Gầu” dữ dội. Không
chút sợ hãi hay hoảng hốt, Ngài thản nhiên ôn tồn nói:
“Ngươi hãy im”. Chó ta chỉ đưa mình lui để lấy thế,
rồi nhanh như chớp chồm lên cao, lanh tay nhưng rất dịu dàng
Ngài đỡ lấy hai chân trước, âu yếm thốt ra những lời
đầy thương hại: “Ngươi hãy bớt nóng, Ta hiểu… Ngươi
chính là mẹ của chủ nhà này, kiếp trước ngươi rất hung
ác tham lam. Lâu đài nguy nga đây, tất cả châu báu đây, chính
ngươi đã xây dựng trên bao nhiêu mồ hôi nước mắt của
mọi người. Ngươi đã không chút thương tâm thẳng tay đục
khoét tận tủy tận xương từ những người giàu cho đến
kẻ bần cùng. Mãi đến giờ phút, trước khi tắt thở ngươi
vẫn còn tâm niệm độc ác và tiếc nuối những của cải,
nên…ngươi bị đọa, đầu thai vào kiếp chó và trở lại
đây bo bo giữ lấy tài sản ấy. Thế mà ngươi không lo tu
tỉnh còn mãi tham lam tàn ác!”
Oai
đức của Phật đã nhiếp phục được tâm hồn đen tối,
chó im lặng, buồn bã gục đầu xuống đất. Ðức Phật nhẹ
nhàng lui bước. Ðôi mắt chó tắt hẳn những tia lửa
hung tàn, đọng lại trên đôi mi những ngấn lệ đau thương,
chán nản nhìn theo Ngài cho đến khi khuất dạng sau màn cây.
Từ
đó chó bỏ ăn uống và không còn muốn nhếch bước đi đâu.
Cử chỉ ấy làm cho Ðế Ðô phải ngạc nhiên và lo sợ. Trước
kia chó rất mạnh mẽ, giữ nhà cẩn thận; mỗi lần người
lạ mặt vào không khỏi hết hồn với nó. Thế mà nay nó
chỉ nằm trong xó không một hơi sủa.
Ðế
Ðô tìm cách tra hỏi đứa ở của ông, nó kể lại chuyện
Ðức Phật đến khất thực: “Không hiểu Ngài làm gì chó
ta mà từ đấy nó buồn đau đớn”.
Ông
đỏ bừng mặt lên, vô cùng căm tức, la hét vang nhà như một
kẻ điên dại, rồi chạy tìm ngay Ðức Phật để nhiếc mắng
và đòi thường.
Trước
cử chỉ hung hăng tàn bạo của ông ta, Ðức Phật vẫn vui
vẻ điềm đạm bảo:
- “Ta
sẽ nói cho ngươi hay, nhưng ngươi phải dịu lòng đi đã.
Nhờ công năng tu tập ta đã chứng được Túc mạng minh, thấy
rõ kiếp trước của mọi người, nên ta biết chó kia chính
là mẹ ngươi kiếp trước, vì quá tham lam tàn bạo nên nay
phải hóa thân vào kiếp chó để trở lại giữ của cải
cho nhà ngươi.” Ðế Ðô cướp lời:
- “Những
lời nói của ông đều là huyễn hoặc vu khống tôi không
thể tin được”.
- “Sự
thật chính là thế. Vì thương mẹ con ngươi nên ta mới nói
cho ngươi rõ. Ngươi không tin về đào lên phía dưới giường
nơi chó thường nằm, sẽ thấy một lọ vàng.” Lòng tham
lam của Ðế Ðô đã dằn được cơn giận, vội vàng hỏi:
- “Thật
không ông? Sao ông biết?”
- “Lọ
vàng ấy trước kia mẹ ngươi chôn, nhưng vì khi lâm chung không
kịp trối lại, nay mẹ kia-chính chó ấy thường nằm trên
đó để giữ cho ngươi. Ngươi làm theo lời ta sẽ hiểu ta
nói đúng hay sai”.
Từ
nét mặt sung sướng, ông ta trở thành đau đớn vì đã có
một nguồn tin bé nhỏ len qua con người sân hận tham lam thấm
vào trái tim hồng.
Quả
nhiên, bới lên, một lọ lớn đầy cả vàng với vàng, nhưng
vàng không còn gợi được lòng tham của Ðế Ðô. Nguồn tin
đã hòa mạnh trong tim hồng làm tiêu tan tất cả những tham
luyến hung tàn. Ông ôm lấy chó khóc nức nở vô cùng ăn năn.
Ðoạn đến quỳ bên Ðức Phật đôi mắt đầm đìa dịch
cảm, run lên những lời cầu khẩn thiết tha, xin sám hối
tội lỗi và nhờ Phật chỉ phương cứu mẹ thoát khỏi những
cảnh giới khổ đau. Ðức Phật liền bảo:
- “Nay
ngươi đã biết ăn năn, thế là ngươi đã có thể trở lại
con đường lành. Ngươi là một người con có hiếu. Nhưng
nghiệp chướng của mẹ ngươi quá nặng. Ngươi hãy phát tâm
quy y Tam bảo, thọ trì ngũ giới và đem hết lòng thành kính
sám hối cho mẹ ngươi; đem tiền của bố thí cho mọi người,
và cúng dường Tăng chúng. Nhờ công đức ấy, mới mong cứu
khổ cho mẹ ngươi được. Khổ hay sướng là do mình tự gây
lấy, ta chỉ là người giác ngộ, chỉ lại cho chúng sanh con
đường giải thoát”. Ðế Ðô vâng lời Phật dạy, ngoài
sự chí thành cầu nguyện, còn đem gia sản bố thí cúng dường…
Không
lâu, một hôm, chó duỗi mình khoe khoắn tấm thảm rồi buông
ra một hơi thở dài. Không còn là hơi thở đầy luyến tiếc
tham lam muốn bám víu lấy sự sống mà lại là một hơi thở
đầy sung sướng và thỏa mãn.
Chó
đã chết.
Nhưng,
chó ấy-mẹ của Ðế Ðô-sẽ về đâu. Kiếp sau như thế
nào?
Tối
hôm sau, trong giấc mộng, Ðế Ðô thấy trên nền trời xanh
cuộn lên những vòm mây trắng, uốn dòn đến trước mặt
người. Từ trong đó hiện ra một dáng người đàn bà hiền
dịu, ân cần vỗ nhẹ lên vai Ðế Ðô và nói:
- “Từ
lâu vì lầm lỗi, mẹ đã tham lam độc ác quá nhiều nên bị
đọa vào những cảnh giới khổ sở, đau đớn vô cùng. Chó
ta hôm trước chính là mẹ đây con. Con ơi, con nghĩ đến đời
sống con chó, con sẽ hình dung được nỗi khổ của mẹ hồi
ấy. Nay nhờ Ðức Phật cứu độ và lòng hiếu thảo của
con, mẹ đã thoát khỏi kiếp đau thương, được vãng sanh
vào thế giới đầy sung sướng an vui. Thật cái luật nhân
quả không ai tránh khỏi. “Gieo nhân gì gặt quả ấy”. Tham
lam tàn ác bị lầm than; tu nhân tích đức sẽ được an vui
tự tại. Từ đây con hãy vâng lời Phật dạy, gắng công
tu học. Thôi mẹ từ biệt con…”
Thuật
giả: Ðức Thương