THƯ VIỆN HOA SEN
Search| English| Mirrorsite
c
Home Kinh Ðiển Giới Luật Luận Giải Phật Học  Thiền Nguyên Thủy Tổ Sư Thiền  Niệm Phật Sử Phật Giáo Pháp Luận Tự Ðiển Phật Học  Dinh Dưỡng Chay Truyện Ngắn Diễn Ðàn  Index Tác-Giả
Dinh Dưỡng Chay
Tin Tức Về Ăn Chay và Sức Khỏe

 
.
TRƯỜNG TRAI
(Niềm tri ân sâu thẳm vô bờ xin gởi về Bổn-sư và Phàp-sư kính mến. 
Xin hồi hướng công đức này về nhứt thiết chúng sinh trong mùa xá tội vong nhân) . 
Nhuận-Bảo
 

Anh Tuệ-Tường thân mến.

Nhân chuyến đi du lịch, anh Nguyên-Trạc có đến nhà thăm tôi. Trong lúc hàn huyên tâm sự, tôi không quên hỏi thăm sức khoẻ của anh và được anh Nguyên-Trạc cho biết, gia đình anh vẫn bình ổn an lạc, riêng anh thì bắt đầu trường trai, khiến lòng tôi vui mừng không xiết. 

Anh Tuệ-Tường thân mến. 

Anh có biết tại sao tôi lại vui mừng không? Có mấy nguyên do. 

Vui vì được chia xẻ diệu lạc cùng anh khi Bồ đề tâm trong anh đã bắt đầu tăng trưởng rộng lớn, khiến anh dõng mãnh phát nguyện trường trai, có lẽ vì đã tự nhận biết như thật, mình cùng nhất thiết chúng sanh đồng một tánh. Nghĩa là dù ở bất cứ thân tướng hữu tình nào, thì cũng đều do tánh duyên khởi duyên sinh, cũng từ bất giác một "niệm" chơn không hốt nhiên diệu hữu. 

Mừng vì cái lòng Từ, tâm Bi trong anh đã đủ duyên lành và điều kiện chín muồi để bộc phát, thăng hoa. Vì Từ và Bi là nhân tố trợ đạo trọng yếu bậc nhất, luôn gắn kết và đồng hành cùng ta trên bước đường tu học, từ lúc sơ cơ cho đến thành tựu công đức viên mãn. Từ và Bi không bao giờ có thể rời lìa người Phật tử chơn chính một giây phút nào. Cho nên, người tu Phật mà thiếu tâm Từ-Bi thì biết đến đời kiếp nào mới có thể chung cùng làm một trong ánh sáng bình đẳng của Tứ vô lượng tâm, cũng là cữa ngõ vào Phật địa, là điều kiện có thể gọi là tiên quyết cho những ai tình nguyện đi theo con đường vị tha, vô ngã của đức Phật cho đến rốt ráo Niết-bàn. 

Mừng là mừng cho những chúng sanh bị con người dùng làm thức ăn hàng ngày, có cơ hội được sống an vui hơn nhờ sự trai lạt của chúng ta. Nghĩa là, trong thực tế trước mắt, cứ mỗi một ngày ta nhịn (không) ăn sinh vật hữu tình, là một ngày hữu tình cũng có đức hiếu sinh như chúng ta, cũng có tánh tham sống sợ chết như chúng ta, được hạnh phúc; sanh mệnh của những hữu tình kia được an-toàn, bầy đàn (gia đình) cật ruột của những hữu tình đó được yên ổn sống trọn tuổi trời trong cảnh giới riêng của chúng mà không phải bị tan đàn xẻ nghé, không phải bị tử biệt sanh ly để làm miếng ăn cho chúng ta. 

Do con người cùng các chúng sanh kia khác loài, nên chúng ta mới không thể cảm nhận được thế nào là sự khổ đau, sợ hãi, rên siết của chúng, khi chúng phải đối diện với dao thớt, nước lửa. Chứ thật ra, đã làm thân hữu tình thì cái đau đớn, sợ hãi, chết chóc nào của mọi loài cũng đều như nhau cả. 

Hãy thử tưởng tượng mà xem, những khi chúng ta vô tình chỉ mới dẫm phải cái đinh, bốc nhằm cục than lửa, hoặc gọt trái cây bị đứt tay, chảy máu …vv… mà chúng ta đã cảm thấy đau đớn, khổ sở và rên siết đến thế nào rồi, huống là phải bị chặt đầu, lột da, thọc huyết, mổ bụng, băm vằm, nướng, luộc. Chẳng lẽ trong suốt cuộc đời mà chúng ta không có một lúc nào đó bình tâm nghĩ lại, rằng chỉ vì cái miệng của mình mà những chúng sanh khác loài kia, cũng có da thịt, máu mủ, cũng có con cái bầy đàn, cũng biết vui biết khổ, cũng biết tham sống sợ chết như chúng ta phải bị khổ đau, chết chóc một cách oan uổng hay sao? Chẳng lẽ không bao giờ có được một lần trong đời, chúng ta biết giâït mình mà nghĩ lại cho cái thân phận làm người nhỏ nhoi, bèo bọt và đầy khổ đau của chúng ta cũng chẳng khác gì những thân phận chúng sanh đáng thương kia sao? Có gì khác đâu nào? 

Mặc dù khoa học hiện đại giúp con người có cơ hội thụ hưởng một đời sống vật chất sung túc, tiện nghi thật đấy, nhưng nếu biết bình tâm nhìn kỹ lại hệ quả từ mặt trái của sự tích cực đó, ắc chúng ta không khỏi bàng hoàng khi nhận ra rằng cái lòng từ tâm bi của chúng ta hình như đã dần trở nên chai sạn, vô cảm khi mà hằng ngày phải tận mắt chứng kiến những sự đau lòng vì bất công trong đối đãi mà không có một chút phản ứng của con tim nhân đạo. Bỡi cớ sao? Sự công nghiệp hoá phát triển nhanh đến chóng mặt đã khiến cho rừng biển, ao hồ, suối đầm, sông lạch cũng là môi trường sống của các loài chúng sanh khác, bị loài người bao vây, tấn công và lấn chiếm không thương tiếc. Cuộc sống của các loài chúng sanh ấy ngày càng trở nên khó khăn, môi trường sống càng bị co hẹp, bị dồn vào chỗ sẵn sàng có thể bị tiêu diệt bất cứ lúc nào. Vì cuộc sống của con người mà các loài chúng sanh khác phải bị thiệt thòi và bất công như thế còn chưa đủ hay sao, mà chúng ta còn vui thích ăn thịt chúng. 

Hãy tưởng tượng mà xem, đến một ngày nào đó trái đất này không còn rừng, biển, ao hồ, sông suối mà thay vào đó là những cơ ngơi đầy tiện nghi và hoành tráng của con người khiến các loài chúng sanh khác bị tiêu diệt gần hết, một phần vì không còn môi trường sống, một phần thì bị loài người ăn thịt. Đến lúc ấy, không biết chừng sự ham thích ăn sanh mạng sẽ khiến chủng tộc này săn đuổi và ăn thịt chủng tộc kia cũng là điều có thể xảy ra lắm chứ. Tới chừng ấy, biết đâu vì nghiệp nhân quả đeo mang mà những người ham thích ăn mạng chúng sanh bây giờ lại phải bị làm thức ăn cho những chủng loài, chủng tộc khác. Vì nghiệp trả vay trong cảnh giới nhơn quả là luật tắt bất biến,  nên không có việc gì là không thể xảy ra. 

Chẳng lẽ chúng ta không có một lúc nào đó biết nghĩ lại rằng, việc chúng ta ăn thịt những sanh vật kia là quá bất công hay sao? Trong khi chúng ta phát tâm theo đuổi con đường vị tha, bình đẳng, từ bi, bác ái của đức Phật, mà lại đối xử với các sanh vật khác như thế, sẵn sàng ăn thịt chúng nếu có điều kiện, thì thử hỏi, điều ấy có thể gọi là bình đẳng, bác ái, từ bi được chăng? Hằng ngày vì sự ngon miệng của chúng ta mà chúng ta đã xâm phạm vào sự bình đẳng được sống an vui của các loài, thì làm sao, biết tới bao giờ chúng ta mới có cơ hội thăng hoa, thâm nhập bình đẳng tánh để mà cứu cánh giải thoát trói buộc nhơn quả đây? 

Người tu Phật chúng ta không nên vì cái miệng, cái lưỡi của mình mà khiến những hữu tình kia phải tan tác bầy đàn, khổ đau, chết chóc. 

Cho nên, sở dĩ tôi nói vui là vì được chia xẻ cùng với niềm vui của những chúng sanh hữu tình kia được thoát nạn nước sôi, lửa đốt, hết phải nơm nớp lo sợ ngày đêm, nhờ lòng từ bi và sự hy sinh trong việc ăn uống của con người. 

Bỡi thế, khi nghe anh phát nguyện trường trai, làm sao lòng tôi không vui mừng cho được. Đó là niềm diệu lạc vô biên, bất tận, vị tha, bất vụ lợi, là tất cả mọi niềm vui của thế gian cộng lại. 

Tôi không phải là nhà nghiên cứu về thực phẩm cũng chẳng phải là nhà y học chuyên lo cho sức khoẻ con người để có thể nói rằng nên hay không nên ăn mặn (ăn mạng) hoặc ăn mặn có lợi hay có hại cho con người. Tôi chỉ là một người bình thường tin theo và làm theo giáo lý từ bi của đức Phật. Trong tôi chỉ ôm ấp một lòng thương. Lại nữa, nhờ tu hành nên tôi biết rõ ràng thế nào là cái khổ của việc làm thân chúng sanh cũng như biết một cách mộc mạc, giản đơn và rất phàm tình, rất người, từ cái đau của đứt tay chảy máu, sứt trán u đầu, cho tới cái đau đớn bị chặt đầu lột da, từ cái khổ của sự sanh ly cho đến nỗi đau của sự tử biệt, nên tự thân thường mong làm nhiều điều thiện lành cũng như thường khuyên người nên làm điều thiện lành trong khả năng và từng điều kiện của mỗi người. Tôi thường trăn trở và thầm nhủ mình, những việc thiện lành nhỏ nhoi hằng ngày như từ chối những miếng ăn được làm bằng sanh mạng của các chúng hữu tình mà ta còn chưa làm được, thì nói chi tới những hy sinh to lớn khác trong tương lai mà khi đó tự thân phải hoàn toàn thể hiện vô ngã tuyệt đối, khiến có thể đem cả "đầu, mục, thủ, túc, huyết, nhục, thân phần thí lai cầu giả" mà không chút ngần ngại, e dè hay lo sợ, khổ đau. Không làm được những việc thiện lành nhỏ nhoi trong đời này mà đáng lẽ ra ta hoàn toàn có thể làm được, thì làm sao ta có thể đảm đương những việc thiện lành lớn hơn gấp bội lần của hàng Bồ-tát trong tương lai sẽ làm, mà nếu có nói ra thì chắc rằng không ai trong đời này có thể tin được. Việc thiện nhỏ hôm nay còn chưa làm được thì lấy gì đảm bảo sẽ chắc chắn làm được việc thiện lớn ở ngày mai. Cho nên, với những người cận sự vừa tu trì vừa hộ pháp như chúng ta, sự "thật tu" cũng là "tri hành hợp nhất - biết và làm là  một", phải nên được bắt đầu từ những việc thiện lành nhỏ nhất, đơn giản nhất mà cũng là thiết thực nhất trong cuộc sống hằng ngày. Những việc thiện lành mà mới nhìn vào ai cũng tưởng nhỏ nhoi, ai cũng tưởng như dễ dàng ấy, cần nên được khuyến khích. Bỡi những việc thiện lành tưởng chừng nhỏ nhoi, dễ dàng ấy (nhưng cũng thật khó làm, nếu chẳng quyết tâm) lại chính là những viên đá đầu tiên đặt làm nền móng cho ngôi Pháp-bảo trong tâm cách chắc chắn, trường cửu, khó gì có thể lay chuyển nổi, là công đức ắc có để tự trang nghiêm cõi Phật của mình trong tương lai. Bỡi vì "tri hành hợp nhất" là điều kiện căn bản phải có của một người tu Phật, dù tại gia hay xuất gia, để cứu cánh giải thoát, hoàn toàn khác biệt với cái tu bằng hình thức. Nghĩa là trong việc tu hành, do nói thì dễ mà làm thì rất khó, nên người tu thường giải đãi, vờ quên, bỏ qua, không chịu khó thực hành được cái điều mình biết, mình nói. Điều ấy chẳng khác, nếu không chú trọng tới nền móng của ngôi nhà, tức nền móng kia được xây dựng cách hời hợt, cẩu thả, không vững chắc thì có khác gì chúng ta đang mơ về một lâu đài nguy nga, nhưng lại được xây trên  thảm cát. 

Những người như anh, như tôi, đến tuổi này rồi thì đều tự biết rõ, dù tu theo Pháp môn nào, chúng ta cũng chỉ có một con đường, là đi theo con đường Đại-thừa của đức Phật, với tâm nguyện tuỳ thuận nhân duyên hành Bồ-tát đạo. Tuy thân tại gia mà tâm hằng xuất gia tự thuở nào, nên không lúc nào không hết lòng phát nguyện cứu độ và hộ trì chánh pháp trong từng khả năng theo duyên phước của mỗi người. Nhờ tự biết rõ ràng như thế và với sự kiên định không gì có thể lay chuyển nổi Bồ-đề tâm, nên chỉ mỗi một việc ăn uống để bảo dưỡng cho cái thân tu hành của mình, mà nếu cùng lúc có thể phát huy được thiên đức hiếu sinh, làm lợi lạc được cho tự thân và hàm linh hữu tình, thì tại sao ngay trong đời này ta lại không làm, vì đó cũng là một pháp tu kia mà?. 

Vả lại, ăn chay cũng có gì là khó khăn, khổ sở lắm đâu? Có ai vì ăn chay mà phải bị chết chóc đâu? Một khi loại trừ được cái tâm tham dục trong việc ăn uống, thì ăn chay hay ăn mặn chẳng qua cũng chỉ là một thói quen. Tất cả cũng chỉ từ một cái "tập" ban đầu mà thôi. 

Vì thế cho nên, tôi tin chắc rằng, nếu cảm nhận ra được cái điều, nhờ mình trai lạt mà những loài hữu tình kia được sống yên ổn hạnh phúc, thì cái tâm tu này ắc sẽ càng thêm kiên cố hơn, Phật tâm này ắc sẽ càng được diệu lạc hơn, thanh tịnh hơn gấp bội lần. Trong lục độ giải thoát của nhà Phật, ba trong sáu phương tiện đầu tiên để cứu cánh giải thoát, thì bố thí, trì giới và tinh tấn đều sẵn chứa đức hiếu sinh, đó là bố thí sanh mạng. Trai lạt, không ăn mạng (mặn) cũng là một pháp bố thí, tức xá mạng chúng sanh, cũng tức là trì giới, không phạm sát, và lẽ tất nhiên thân tâm mình ắc được trong trẻo, nhẹ nhàn và tinh tấn hơn, đó là điều không ai có thể chối cãi. 

Đó là những lý do khiến tôi vui mừng khi biết anh trường trai. Bỡi cớ sao? Vì suy cho cùng, tánh thật của mọi loài cùng thật tánh của ta chỉ một, là Phật tánh, hoàn toàn không sai biệt. Chỗ sai biệt nếu có chăng, cũng chỉ là do sự mê mờ trong nghiệp thức nhơn quả, nên không tự thấy biết chính mình như thật mà thôi. Hoặc cũng có người thấy biết đó nhưng mà vẫn cố phạm, vì một là khó cưỡng lại cái tâm tham dục trong ăn uống, hai là nghiệp vô minh sâu dày còn phải đeo mang vay trả, khiến ác tâm nặng nề khó bề giũ bỏ được ngay trong đời này, nên dẫu có tu hành thì công đức cũng chẳng thành tựu bằng người biết hoan hỉ bố thí sanh mạng (ăn chay).

Theo chỗ tôi biết, có những người lương, không biết tu hành là gì, nhưng trong đạo lý đối đãi thường nhựt, vẫn còn biết coi cái đau thương của mọi loài như cái đau thương của chính bản thân mình, thường sợ sát sanh, hại vật, rất dè dặt trong việc ăn uống. Sở dĩ được như vậy là vì những người ấy chưa quên mất cái tánh thiện trời ban, cái lòng nhân từ thiên phú, cũng là đức hiếu sinh. Người bình thường còn làm được như vậy, huống là những người theo đuổi giáo lý từ bi của đức Phật như anh em chúng ta. 

Theo tôi, việc ăn chay đối với người tu Phật là chuyện đương nhiên, không cần phải bàn cãi. Tuy vậy, cũng có trường hợp như phải tuỳ thuộc vào sức khoẻ hay hoàn cảnh đặc biệt của từng mỗi người mà nên có sự linh động cho phù hợp, chứ cũng không nên cứng nhắc quá. Cứng nhắc cũng là thể hiện cái tâm chấp đó. 

Còn nếu không vì bệnh tật bắt buộc phải tuân thủ theo chế độ ăn uống của thầy thuốc, hoặc vì một điều kiện ngặt nghèo nào đó không thể cưỡng lại được, thì, những người như anh em ta nên ăn chay là tốt nhất, được rất nhiều lợi lạc mà không cần phải nói ra. Sự ăn chay mà tôi đề cập ở đây là cả thân lẫn tâm cùng nên ăn chay một lúc vậy. Không biết anh có đồng ý với tôi như vậy không?

Anh Tuệ-Tường thân mến ! Những gì tôi muốn nói với anh đều rất thành thật, tuông chảy từ cái tâm từ bi của chủng tánh Phật, từ thiên tánh của trời ban cho loài người, nói sao cũng được, cũng chỉ một nó, mà không sợ bị lên án là chấp tướng. Tuy nhiên cũng có không hiếm người hằng chấp ngã, chấp pháp mà không tự biết rằng mình có chấp. Chẳng hạn, có thể có một bạn đạo nào đó đang tu theo Thiền-Tông, bảo rằng "tu Phật là cốt để giải thoát trói buộc của nhơn quả hai bên (cả thiện lẫn ác đều cần phải buông hết thì mới có thể trực chỉ Trung-đạo, giải thoát nhơn quả) mà sao ở đây người viết còn nói có tánh trời, tánh đất, tánh thiện, tánh ác thì biết tới bao giờ mới có thể vô sự được đây? Hoặc nói, người viết còn tối tăm, ngu si, mê mờ quá; bỡi chư Tổ Thiền-tông đã từng dạy rằng không tu không chứng, không thiện không ác, không tội không phước, tất thảy pháp đều "Không"; thế mà ở đây người viết còn có chỗ thấy biết thiện ác và khuyên người khác nên làm thiện, không nên làm ác, tức là còn chấp hai bên (Hữu-Vô), tức còn chưa sáng tỏ được cái lý tánh "Không" của vạn pháp, như thế là người viết còn ngu tối, tu hành chưa được gì cả".

Anh Tuệ-Tường thân mến ! Thiệt ra, nếu có ai bảo tôi như thế, thì, A-Di-Đà Phật, tôi đồng ý ngay, cũng như tán thán sự nhắc nhở, chỉ bảo của người ấyï. Bỡi cớ sao? Vì tôi tự biết tôi còn đang nghĩ và đang sống "rất người", biết việc tu hành của mình thật sự chưa là gì cả, biết mọi thứ chưa được hoàn toàn "Không" như anh bạn ở trên. Tôi cũng lại biết rất rõ những gì là của tôi thì luôn là cũa tôi, kể cả thiện nghiệp lẫn ác nghiệp mà tôi đang "hành" trong từng giây từng phút trong cuộc sống thực tại trước mắt. Tôi cũng tự biết, do có được nhơn lành từ lâu xa mà trong đời này tôi mới biết phân biệt thiện ác, biết thích thiện ghét ác, biết chăm làm điều lành và sợ hãi điều ác, nên mới có được duyên lành để nói chuyện thiện ác với anh bây giờ. Chỉ vì tâm trí còn ngu mê, phước đức ít ỏi nên trong việc tu hành, tôi phải tự bước đi từng bước một, tuy chậm rãi nhưng chắc chắn, và cũng thường khuyên bạn bè thân thiết nên biết tự lượng sức mình trong việc trạch pháp (chọn pháp tu thích hợp căn cơ, duyên phước của từng người để hành trì cho có kết quả). 

Còn đối với những người có được đại phước như ông bạn vừa đề cập ở trên, chỉ cần tu học trong đôi ba mươi năm (cũng không biết thực tu pháp gì !) , thiện ác đều không làm (thiện thì có thể không làm, chứ ác thì có chắc là không làm chăng?), nhưng mà mọi thứ đều đã được "Không" rồi, đã giải thoát rồi thì, A-di Đà Phật, tôi không có phần ở đây vậy. Tuy nhiên, cũng cần dò xét lại cả trong lẫn ngoài, xem anh bạn kia có phải thiệt tất cả đều "Không" chăng, hay chỉ là "Không" ngoài cữa miệng! 

Nghe một người vừa qui hướng Phật đạo, biết một người vừa phát tâm trì tụng kinh điển Đại thừa, hay tham thiền học đạo hoặc phát nguyện trường trai xá mạng là tôi mừng trong bụng như chính mình đã làm để thành tựu công đức cho mình. Vì sao thế? Vì chỗ phát tâm kia chính là một cái mày (cái mầm rất nhỏ, rất vi tế vừa mới phát sinh) của chủng tử Như-lai vừa trở mình, vừa bắt đầu trổi dậy trong một thân chúng sanh, sau một giấc mê mờ nhiều đời nhiều kiếp trôi nổi bất định trong vọng nghiệp nhơn quả tối tăm. Chỉ cần cái mày ấy sau một thời gian dài trôi nổi miên man không biết đâu là bến bờ, nay gặp duyên lành chợt bừng tỉnh; đầu tiên là biết dùng cái thức biết trong nhơn quả sanh diệt nhưng vẫn sẵn chứa tánh Phật để phân biệt thiện ác, rồi biết ghét ác ưa thiện, ham thiện sợ ác, rồi tuỳ căn cơ duyên nghiệp mà biết tự chọn cho mình một pháp tu, và nhứt tâm y pháp mà hành trì, thì cái chủng tử ấy sẽ là một vị Phật đương lai đang trên con đường từng bước tự trang nghiêm cõi Phật của mình ở vị lai vậy. Những người như thế hoàn toàn có khả năng thành Phật hơn là những người mù mờ, tu chưa tới đâu là đâu, lại chẳng từng biết trai lạt là gì mà cứ tưởng mình đã thành Tổ, thành Phật trong đời này. Những người ấy thường ngộ nhận cái tâm vô phân biệt của các bậc thánh trí như Tuệ-Trung Thượng-sĩ làm tâm của mình, thường miệng mồm trí trá để che lấp cái tâm tham dục, cái miệng thích mặn ghét chay của mình. Những người như thế thường hí luận, nào là tâm này vô phân biệt rồi, nên chay mặn đều như nhau cả, nào là không còn biết chay mặn cũng không thấy có người thọ chay mặn, hoặc lớn tiếng rằng, còn biết chay biết mặn, biết thiện, biết ác, biết tội, biết phước là còn vướng mắc tri-kiến sanh diệt, còn phân biệt trói buộc nhơn quả hai đường, hoặc đại ngôn rằng chỉ cần một cái tâm "chay" này là đủ thành Phật rồi vv…và vv. Nói cho sướng miệng, nói để thoả mãn bản ngã chẳng khác tự dẫn mình vào tam đồ nhanh như tên bắn. Những người huyênh hoang ấy, lục dục thất tình còn lẫy lừng như than đỏ, tâm trí còn u ám mịt mờ, đang tự  nhắm mắt lần bước đưa chân vào chỗ tối tăm của ba đường khổ mà không hề hay biết, lại dám đại ngôn đem mình sánh với Tuệ-Trung Thượng-sĩ, thì thật là tội lỗi.

Không biết những người như vừa nói trên có phải thiệt hành "Chơn-Thiền" không, hay chỉ là Thiền ngoài cữa miệng? Rõ là không biết tội lỗi là gì. 

Thật ra không phải là trong đời này không có những bậc chơn tu đã đạt ngộ và hoà làm một lý tánh chơn không, tức tâm thể hoàn toàn vô phân biệt. Có đó, họ là những Thiền-sư đắc pháp, nhưng thật hiếm thay. Với những vị ấy, cả thân lẫn tâm đều đạt đến trạng thái bảo hoà trong tánh Phật, trọn ngày đêm sống trong tánh Phật, đi đứng nằm ngồi uống ăn ngủ nghỉ không từng rời lìa tánh Phật, là tri và hành chỉ một. Các Ngài biết như thật vạn pháp là "Không", không có tự tánh, chỉ do từ một niệm bất giác mà chơn không hốt nhiên thành có, tức cái có "diệu" từ duyên khởi, như thật, như hư, như không, như có. Còn phàm tình chúng ta lại chấp chỗ có này làm thật có. Chỗ biết như thật cái lý tánh "Không" thường hằng, tự tại hay duyên sanh vạn pháp, cùng tâm thể "chơn không" như như bất động mà các Ngài đang-là chỉ "một". Và cái tánh "Không" này hoàn toàn khác với cái tướng "Có, Không" huyễn hoặc của chúng sanh tâm. Và sở dĩ chúng sanh từ bao đời nay mặc nhiên chấp nhận và tưởng cái tướng "Có, Không" kia làm thật có, là do từ cái biết mê lầm đầu tiên, cái sự nhận biết bị lầm lạc từ tận cùng gốc rễ của sự sơ khai tri thức sanh diệt, hệ luỵ khái niệm nhơn quả mà ra. Cái biết mê lầm này là cái thức biết của (và do) tập nhiễm vô minh, trói buộc nhơn quả. Và cũng vì chấp vào cái biết lầm lạc, câu hữu vô minh  này mà chúng sanh phải đời đời trôi lăn trong cảnh giới của vọng thức "Hữu-Vô", nhị nguyên trói buộc. 

Còn các Thiền-sư thì biết như thật cái tướng "Có" ấy là có giả, huyễn hoặc, không phải thật có; cũng như biết như thật cái tướng "Không" tương đối (đối lập) với "có" kia là "Không" cũng chẳng phải thật, tức đều là "có, không" giả danh do sự đặt tên (giả lập) theo khái niệm huyễn sanh huyễn diệt của vọng chấp nhơn quả mà thôi. 

Vì biết như thật vạn pháp thật "Không", cũng là pháp pháp phô bày thật tướng, tánh không tự tánh, nên các Ngài mới thấy rằng, trong chỗ chơn "Không" mà các Ngài ngay ấy "đang-là", thiệt là không mặn, không chay, không tu, không chứng, không thánh, không phàm, không tội, không phước, không vọng, không chơn ….vì tánh tự nhiên chơn thật của nó là như thế, chơn không, không một vật, tự tại, thường hằng.  Lời của các Ngài tuông chảy từ tự tánh, vô ngã, hoàn toàn chơn thật, không có gì sai cả, nếu chúng ta cũng ngay ấy đang-là, thì liền biết như thật. 

Còn sự tu hành của chúng ta ngày nay thiệt chưa tới đâu cả, trí huệ chưa khai mở, tâm thể chưa thật sự "không" như các Ngài mà dám đại ngôn rằng không chay, không mặn, không thánh, không phàm, không tu, không chứng, không tội, không phước ….thì rõ là ếch ngồi đáy giếng coi trời bằng vung, không biết tội lỗi là gì ! 

Một đàng đã thật sự chứng-ngộ tánh không, "đang-là" một lý tánh chơn không, vượt ngoài nhơn quả, nhơn quả không thể trói buộc, nên mới có thể dõng dạc tuyên bố nhứt thiết pháp không, không chay không mặn, không tội không phước. 

Còn một đàng chưa chưa là gì cả, thân tâm nặng nề đen đúa còn đang câu hữu vô minh, thiện ác trong ngoài còn trói buộc, thì làm sao có thể vượt ngoài nhơn quả mà dám nói không tu không chứng, không phước không tội, không mặn không chay? 
 
Những người như thế, đối với sự đạt ngộ lý tánh chơn không thì chưa là gì cả, nhưng có thể nhờ kinh nghiệm tu học nên, tuy có người chỉ mới "giải ngộ" được tánh "Không" bằng tri thức (tức cái chỗ Biết này và cái Không kia còn đối đãi) nhưng vì cái tâm cống cao ngã mạn nên mới lầm tưởng mình đã "chứng ngộ" tánh "Không". Vì chỗ lầm tưởng này mà thời nay không hiếm người tự nhận là Phật này thánh nọ, thậm chí có người còn tự cho mình thánh trí hơn cả đức Phật, rồi vọng ngữ bài xích kinh điển và các pháp tu của Phật, của Tổ.  Thật là chẳng biết tội lỗi là gì ! 

Đối với các Thiền sư, những vị đắc pháp, do các Ngài biết như thật cái lý tánh không của vạn pháp, thường tự "một" trong nó, nên lời chân thật của các Ngài là thế, vì biết như thật thật tướng các pháp đều không. Còn phàm phu như chúng ta, do tu hành chưa đến nơi đến chốn, chơn tánh còn bị vô minh (cái biết lầm tự thuở ban sơ) che lấp, nên mới không nhận ra được như các Ngài mà thôi.

Cho nên "không tu không chứng, không mặn không chay, không phàm không thánh, không tội không phước…vv" cũng chỉ là một cách nói của các Thiền sư, không ngoài mục đích minh xác thật tướng các pháp để khích lệ những người tu theo pháp đốn giáo không còn chỗ nghi khi vừa chợt sáng mắt. Chợt sáng mắt thì liền biết như thật, những lời của các Thiền sư, của chư Tổ là hoàn toàn chơn thật, là chân lý. Vì một khi đã đạt tới cái lý tánh chơn-không thì tự nhiên nó là vậy, không tu không chứng, không mặn không chay, vì ngay đó hành giả đã đạt ngộ bổn tâm, không còn phân biệt. Tới chỗ này mà còn động tâm phân biệt, có khác nào da thịt mình đang lành lặng lại lấy dao rạch cho đứt ra hay sao? Còn nếu tuệ nhãn chưa khai mở, tâm thể chưa thật "Không" như tánh "Không" nhứt niệm đang-là, mà bắt chước nói vẹt những lời của các bậc thánh trí, thì tội lỗi không biết đến chừng nào.

 Anh Tuệ-Tường thân mến. 

Nếu tôi nhớ không lầm thì khởi đầu bài học nhập môn, đức Phật có dạy: 
"-Hãy làm tất cả các thiện pháp dù nhỏ nhất.
-Hãy lìa tất cả các bất thiện pháp dù nhỏ nhất".

Do tự biết duyên phước nhỏ nhoi, căn trí kém cõi, tự biết chưa thông đạt, thấu suốt lý tánh "Không", nên bản thân tôi còn biết làm thiện, cho dù là cái thiện nhỏ nhất, tầm thường nhất, ít công quả nhất, không ai muốn làm, nhưng tôi vẫn làm. Đồng thời cũng không quên khuyến khích, nhắc nhở những người quen thân nên cố gắng làm điều thiện lành. 

Không hiếm người tu Phật đời này cứ vọng tưởng mình đã "qua bờ kia", ấy thế mà, với những lời Phật dạy ở trên, những việc làm nhỏ nhất như trai lạt thì đã có mấy ai nhất tâm làm được như anh? 

Anh đã từng bước thực hiện được những lời dạy cơ bản của đức Phật. Tôi cúi đầu tán thán việc làm ấy, cũng như ước mong sao ngày càng có thêm nhiều người hơn nữa biết làm như anh để vừa đem công đức ấy tự trang nghiêm cõi Phật của mình ở vị lai, vừa mở ra con đường sống cho mọi loài chúng sanh cùng được an vui, hạnh phúc trong đời này. 

Thân mến.
 

05-17-2007 10:37:23

c
Links Phật Giáo Thế Giới Thơ và Nhạc Phật Giáo Pháp Thoại Cảnh Chùa Việt Nam  Văn Học Phật Giáo E-mail Sitemap