Hằng
năm, vào ngày Rằm tháng Mười Một âm lịch, Phật tử khắp
nơi trong đảo quốc Sri Lanka hành lễ tưởng niệm Trưởng
lão ni Sanghamitta, là vị nữ tu sĩ cùng với anh trai của bà
là ngài Trưởng lão Mahinda đã mang Phật giáo truyền vào đảo
quốc hơn 2300 năm trước, trong triều đại vua Davanampiya Tissa.
Một điều quan trọng đáng ghi nhận là khi Ngài Mahinda hoằng
pháp tại vùng Anuradhapura, đa số cư sĩ lắng tâm chuyên chú
thính pháp là phụ nữ, trong hàng hoàng gia lẫn hàng thường
dân. Sự kiện đó vẫn tiếp tục cho đến ngày nay, số nữ
cư sĩ tham gia vào các cuộc lễ Phật giáo bao giờ cũng đông
hơn số nam cư sĩ.
Sau
khi nghe Ngài Trưởng lão Mahinda thuyết giảng, Hoàng hậu Anula,
vợ của Phó vương Mahanaga, phát tâm tín thành nơi lời dạy
của Đức Phật, và ngỏ ý muốn xuất gia để trở thành
một vị Tỳ khưu ni. Khi được biết ý định nầy, Ngài Mahinda
nói với vua rằng theo đúng giới luật tu sĩ, Ngài không thể
truyền giới cho phụ nữ. Ngài đề nghị nhà vua gửi văn
thư đến vua Asoka (A-dục) của xứ Maurya, Ấn Độ, yêu cầu
vua Asoka gửi con gái của vua là Trưởng lão ni Sanghamitta sang
đảo quốc, và đem theo một nhánh của cây bồ đề tại Bồ
đề Đạo tràng, nơi Đức Phật đã thành đạo.
Lúc
bấy giờ, bang giao giữa hai triều đình rất tốt đẹp, nên
vua Devanampiya Tissa không ngần ngại gửi một vị quan là ngài
Arittha đến thành phố Pataliputra (bây giờ là Patna) của xứ
Ấn Độ, để gặp vua Asoka, chuyển đạt lời thỉnh cầu
ấy.
Lúc
đầu, vua Asoka ngần ngại, không muốn gửi con gái mình ra
đi truyền giáo ở nước ngoài, nhưng vì Trưởng lão ni Sanghamitta
cương quyết yêu cầu nhà vua cho phép Bà xuất dương đi hoằng
đạo, nên sau cùng, vua Asoka đồng ý cho phép. Một đoàn Tỳ
khưu ni cùng lên thuyền đi với Bà Sanghamitta, vượt biển
sang đảo quốc, mang theo nhánh cây bồ đề, với sự hướng
dẫn của quan Arittha. Đây là một việc làm dũng cảm của
Bà Sanghamitta, vì vào thời đó, khi người ta vẫn còn có thành
kiến xem thường phụ nữ, bà Sanghamitta đã có đủ nghị
lực và can đảm để thực hiện cuộc hành trình vượt biển
đầy nguy hiểm, mà không có người trong hoàng tộc cùng đi
để bảo vệ Bà.
Tại
cảng Jambukolapattana (nay là cảng Pedro, bán đảo Jaffna), vua
của đảo quốc cùng với Trưởng lão Mahinda và rất đông
các tín đồ Phật tử đã ra nghênh đón Trưởng lão ni cùng
với Ni chúng từ Ấn Độ sang, mang theo nhánh cây bồ đề.
Nhà vua tổ chức buổi lễ tiếp rước rất long trọng, và
rất đông dân chúng tham gia cùng với phái đoàn truyền giáo
đưa nhánh cây nầy về kinh đô Anuradhapura, cuộc hành trình
kéo dài 14 ngày bằng đường bộ. Nhánh cây bồ đề được
trồng trong vườn Mahamegha tại một nơi tôn nghiêm. Từ ngày
ấy cho đến nay, trong suốt 23 thế kỷ qua, vua chúa và dân
chúng đảo quốc Sri Lanka tiếp tục gìn giữ, bảo vệ và
tôn quý cây bồ đề này, như là một bảo vật quốc gia.
Cỗ thụ bồ đề ngày nay được xem như là một trong những
cỗ thụ lâu năm nhất trên thế giới.
Trưởng
lão ni Sanghamitta đã thực hiện một công tác quan trọng nhất
tại đảo quốc là truyền giới và hướng dẫn tu tập cho
Hoàng hậu Anuladevi và các thị nữ sau khi các vị nầy xuất
gia với Bà. Từ đó, Ni đoàn Sri Lanka được thành lập và
kéo dài khoảng 1000 năm. Theo các nguồn sử liệu Trung quốc,
Ni đoàn nầy cũng đã gửi các vị Tỳ khưu ni vượt đại
dương, đi thuyền đến Trung quốc để tạo lập Ni đoàn tại
xứ sở đó; và từ Trung quốc, đã mở rộng đến các quốc
gia khác trong vùng Đông Á cho đến ngày nay.
Trưởng
lão ni Sanghamitta lưu lại tại đảo quốc, tiếp tục công
trình hoằng pháp, truyền bá đạo Phật, và viên tịch tại
đó. Bà là tấm gương dũng cảm cho các vị nữ tu sĩ, đã
không ngần ngại lên đường mạo hiểm nơi xa xôi để hoằng
dương Chánh pháp. Bà cũng là một vị nữ đại sứ đầu
tiên trong lịch sử ngại giao cận đại, đã được một vị
quốc trưởng gửi đi theo lời mời của một vị quốc trưởng
khác. Cho đến ngày nay, phụ nữ Sri Lanka nói riêng, và Phật
giáo Sri Lanka nói chung, đều thành tâm ghi ân và tán thán công
đức của Bà.