|
|
|
Tập
I (Kinh số 1-16)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
Tập
II (Kinh số 17-34)
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
|
cÐại
Tạng Kinh Việt Nam
KINH TRƯỜNG
BỘ
Dìgha
Nikàya
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt - Phật Lịch 2535 - 1991
33. Kinh
Phúng tụng
(Sangìti sutta)
Như vầy
tôi nghe.
Tụng
phẩm I
1.
Một thời Thế Tôn du hành giữa dân tộc Mallà cùng với Ðại
chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Ngài đến tại thành của
dân chúng Mallà tên là Pàvà và trú tại đấy. Thế Tôn trú
tại Pàvà trong rừng xoài của thợ rèn Cunda.
2.
Lúc bấy giờ, một hội trường tên là Ubbhataka mới được
dựng lên giữa dân chúng Mallà, trú ở Pàvà, và hội trường
này chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác
an trú. Dân chúng Mallà ở Pàvà được nghe: "Thế Tôn du hành
giữa dân tộc Mallà, cùng với Ðại chúng Tỷ-kheo khoảng
năm trăm vị. Ngài đến tại Pàvà, trú tại đấy, trong rừng
xoài của thợ rèn Cunda". Rồi các vị Mallà ở Pàvà đến
chỗ Thế Tôn ở, sau khi đến, đảnh lễ Ngài rồi ngồi xuống
một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các vị Mallà ở Pàvà
bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, ở đây một hội trường tên là Ubbhataka mới được
dựng lên giữa dân chúng Mallà ở Pàvà, và hội trường này
chưa có vị Sa-môn, Bà-la-môn, hay một người nào khác an trú.
Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn là người đến dùng hội trường
này trước tiên. Nhờ Thế Tôn dùng trước tiên, dân chúng
Mallà ở Pàvà sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài.
Thế
Tôn im lặng nhận lời.
3.
Rồi các vị Mallà ở Pàvà, sau khi biết Thế Tôn đã nhận
lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân
phía hữu hướng đến Ngài, từ tạ đi đến hội trường.
Sau khi đến, liền dùng đệm trải khắp tất cả, sửa soạn
các ghế ngồi, đặt sẵn một ghè nước, treo cây đèn dầu,
rồi đến chỗ Thế Tôn ở. Sau khi đến, các vị này đảnh
lễ Ngài và đứng một bên. Sau khi đứng một bên, các vị
Mallà ở Pàvà bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, hội trường đã được trải nệm tất cả, các
ghế ngồi đã được sửa soạn, ghè nước đã được đặt
sẵn, cây đèn dầu đã được treo lên, Thế Tôn hãy làm gì
Ngài nghĩ là phải thời.
4.
Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát cùng với chúng Tỷ-kheo đến
tại hội trường. Khi đến xong Ngài rửa chân và vào hội
trường. Thế Tôn ngồi dựa trên cột chính giữa, mặt hướng
về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, vào hội trường,
ngồi dựa trên bức tường phía Tây, mặt hướng về phía
Ðông, sau lưng Thế Tôn. Các vị Mallà ở Pàvà cũng rửa chân,
đi vào hội trường, và ngồi xuống, dựa vào bức tường
phía Ðông, mặt hướng phía Tây, trước mặt có Thế Tôn.
Rồi Thế Tôn, cho đến đêm thật khuya, thuyết pháp cho dân
Mallà ở Pàvà, giảng dạy, giải thích, khích lệ, làm cho
hứng khởi rồi bảo các vị ấy về:
- Này
Vàsetthà, đêm đã quá khuya. Các Ngươi hãy làm những gì các
Ngươi xem là phải thời.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!
Các
vị Mallà ở Pàvà vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng
dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu hướng về Ngài và ra
đi.
5.
Thế Tôn, khi dân Mallà đi chưa bao lâu, nhìn chúng Tỷ-kheo
đang yên lặng, rồi bảo tôn giả Sàriputta:
- Này
Sàriputta, chúng Tỷ-kheo không có hôn trầm thụy miên. Này
Sàriputta, hãy thuyết pháp cho chúng Tỷ-kheo. Ta cảm thấy đau
lưng! Ta muốn nằm nghỉ.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn! - Tôn giả Sàriputta vâng lời Thế Tôn.
Rồi
Thế Tôn, xếp y Sanghàti (Tăng-già-lê) gấp bốn và nằm xuống
như cách nằm con sư tử, thân phía hữu, hai chân để trên
nhau, chánh niệm tỉnh giác, với tâm nghĩ đến lúc ngồi dậy.
6.
Lúc bấy giờ, Niganthà Nàthaputta vừa mới tạ thế ở Pàvà.
Sau khi vị này tạ thế, các vị Niganthà chia ra làm hai phái,
chia rẽ nhau, tranh chấp nhau, tranh luận nhau và sống tàn hại
nhau với binh khí bằng miệng: "Ngươi không biết Pháp và Luật
này, ta biết Pháp và Luật này. Sao Ngươi có thể biết Pháp
và Luật này? Người theo tà hạnh, ta theo chánh hạnh. Lời
nói ta tương ưng, lời nói Ngươi không tương ưng. Ðiều đáng
nói trớưc, Ngươi nói sau; điều đáng nói sau, Ngươi nói
trước. Ðiều Ngươi quan niệm trình bày đã bị đảo lộn.
Quan niệm của Ngươi đã bị thách đố. Ngươi đã bị đánh
bại. Hãy đi giải tỏa quan điểm của Ngươi! Hãy tự thoát
khỏi bế tắc nếu Ngươi có thể làm được". Hình như các
đệ tử của Niganthà Nàthaputta muốn tàn hại lẫn nhau. Chính
các đệ tử cư sĩ mặc đồ trắng của Nigantha Nàthaputta
cũng chán ngấy, cơ hiềm và phản đối các vị Nigantha, vì
Pháp và Luật của họ đã được trình bày, tuyên bố một
cách vụng về, không có hiệu năng hướng dẫn, không hướng
đến an tịnh, không do vị Chánh Ðẳng Giác tuyên thuyết,
tháp y chỉ đã bị đổ vỡ, không có chỗ y chỉ.
7.
Rồi tôn giả Sàriputta bảo các Tỷ-kheo:
- Này
Hiền giả, Niganthà Nàthaputta vừa mới từ trần không bao
lâu. Sau khi vị này từ trần, các Nigantha (Ni-kiền-tử) chia
làm hai phe... và không có chỗ y chỉ.
Nhưng
với chúng ta, này các Hiền giả, pháp này được Thế Tôn
khéo giảng dạy, khéo trình bày, một Chánh pháp có hiệu năng
hướng dẫn, hướng đến an tịnh, do vị Chánh Ðẳng Giác
trình bày. Ở đây, tất cả mọi người cần phải cùng nhau
tụng đọc, không cãi cọ nhau, để phạm hạnh này được
trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng
sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời,
vì lợi ích, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Này
các Hiền giả, thế nào là Pháp được Thế Tôn chúng ta khéo
giảng dạy, khéo trình bày, một pháp có hiệu năng hướng
dẫn, hướng đến an tịnh do vị Chánh Ðẳng Giác trình bày?
Ở đây, tất cả cần phải cùng nhau tụng đọc không cãi
cọ nhau, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Này
các Hiền giả, có một pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng
dạy, vị này đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Một
pháp
8.
Thế nào là một pháp? Tất cả loài hữu tình do các món ăn
(àhàra) mà an trú, tất cả loài hữu tình do các hành (samkhàrà)
mà an trú. Này các Hiền giả, đó là một pháp được Thế
Tôn, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác,
thuyết giảng một cách chơn chánh. Ở đây, mọi người cần
phải cùng nhau tụng đọc, không có tranh luận, để phạm
hạnh này được trường tồn, được duy trì lâu ngày, vì
hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
chư Thiên và loài Người.
Hai
pháp
9.
Này các Hiền giả, có hai pháp được Thế Tôn chơn chánh
giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế
nào là hai pháp?
i)
Danh và sắc.
ii)
Vô minh và hữu ái.
iii)
Hữu kiến và vô hữu kiến.
iv)
Vô tàm và vô quý.
v)
Tàm và quý.
vi)
Ác ngôn và ác hữu.
vii)
Thiện ngôn và thiện hữu.
viii)
Nhập tội thiện xảo và xuất tội thiện xảo.
ix)
Ðẳng chí thiện xảo và xuất khởi đẳng chí thiện xảo.
x)
Giới thiện xảo và tác ý thiện xảo.
xi)
Xứ thiện xảo và duyên khởi thiện xảo.
xii)
Thiện xảo về xứ và thiện xảo về phi xứ.
xii)
Chơn trực và tàm quý.
xiv)
Kham nhẫn và nhu hòa.
xv)
Lời nói nhu thuần và tiếp đón thân tình.
xvi)
Vô hại và từ ái.
xvii)
Thất niệm và bất chánh tri.
xvii)
Chánh niệm và tỉnh giác.
xix)
Các căn không được chế ngự và ăn uống không tiết độ.
xx)
Các căn được chế ngự và ăn uống có tiết độ.
xxi)
Tư duy lực và tu tập lực.
xxii)
Niệm lực và định lực.
xxiii)
Chỉ và quán.
xxiv)
Chỉ tướng và tinh cần tướng.
xxv)
Tinh cần và không dao động.
xxvi)
Giới thành tựu và kiến thành tựu.
xxvii)
Giới suy khuyết và kiến suy khuyết.
xxxiii)
Giới thanh tịnh và kiến thanh tịnh.
xxix)
Kiến thanh tịnh và tinh cần theo tri kiến ấy.
xxx)
Dao động đối với các pháp bị dao động và chánh tinh cần
của người bị dao động ấy.
xxxi)
Không tri túc với các thiện pháp và không thối thất trong
tinh cần.
xxxii)
Minh tri và giải thoát.
xxxiii)
Tận tri và vô sanh trí.
Này các
Hiền giả, hai pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy,
vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở
đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có
tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Ba
pháp
10.
Này các Hiền giả, có ba pháp được Thế Tôn chơn chánh giảng
dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác.
Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không
có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế
nào là ba pháp?
i)
Ba
bất thiện căn: Tham bất thiện căn, sân bất thiện căn,
si bất thiện căn.
ii)
Ba
thiện căn: Vô tham thiện căn, vô sân thiện căn, vô si
thiện căn.
iii)
Ba
ác hạnh: Thân ác hạnh, khẩu ác hạnh, ý ác hạnh.
iv)
Ba
thiện hạnh: Thân thiện hạnh, khẩu thiện hạnh, ý thiện
hạnh.
v)
Ba
bất thiện tầm: Dục tầm, sân tầm, hại tầm.
vi)
Ba
thiện tầm: Ly dục tầm, vô sân tầm, vô hại tầm.
vii)
Ba
bất thiện tư duy: Dục tư duy, sân tư duy, hại tư duy.
viii)
Ba
thiện tư duy: Ly dục tư duy, vô sân tư duy, vô hại tư
duy.
ix)
Ba
bất thiện tưởng: Dục tưởng, sân tưởng, hại tưởng.
x)
Ba
thiện tưởng: Ly dục tưởng, vô sân tưởng, vô hại tưởng.
xi)
Ba
bất thiện giới: Dục giới, sân giới, hại giới.
xii)
Ba
thiện giới: Ly dục giới, vô sân giới, vô hại giới.
xiii)
Ba
giới khác: Dục giới, sắc giới, vô sắc giới.
xiv)
Ba
giới khác: Sắc giới, vô sắc giới, diệt giới.
xv)
Ba
giới khác: Liệt giới, trung giới, thắng giới.
xvi)
Ba
ái: Dục ái, hữu ái, vô hữu ái.
xvii)
Ba
ái khác: Dục ái, sắc ái, vô sắc ái.
xviii)
Ba
ái khác: Sắc ái, vô sắc ái, diệt ái.
xix)
Ba
kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ.
xx)
Ba
lậu: Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu.
xxi)
Ba
hữu: Dục hữu, sắc hữu, vô minh hữu.
xxii)
Ba
cầu: Dục cầu, hữu cầu, phạm hạnh cầu.
xxiii)
Ba
mạn: Thắng mạn, đẳng mạn, ty liệt mạn.
xxiv)
Ba
thời: Quá khứ thời, vị lai thời, hiện tại thời.
xxv)
Ba
biên: Hữu thân biên, hữu thân tập biên, hữu thân diệt
biên.
xvi)
Ba
thọ: Lạc thọ, khổ thọ, phi khổ phi lạc thọ.
xvii)
Ba
khổ tánh: Khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.
xxviii)
Ba
tụ: Tà định tụ, chánh định tụ, bất định tụ.
xxix)
Ba
nghi: Ðối với vấn đề thuộc quá khứ nghi ngờ, do dự,
không quyết định, không hài lòng; đối với các vấn đề
thuộc tương lai, nghi ngờ, do dự, không quyết định, không
hài lòng; đối với các vấn đề hiện tại nghi ngờ, do dự,
không quyết định, không hài lòng.
xxx)
Ba
điều Như Lai không cần gìn giữ: Này các Hiền giả, Như
Lai thanh tịnh thiện hành về thân. Như Lai không có ác về
thân mà Như Lai phải gìn giữ: "Chớ để người khác biết
việc này về Ta". Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện
hành về miệng. Như Lai không có ác hạnh về miệng mà Như
Lai phải gìn giữ: "Chớ để người khác biết việc này về
Ta". Này các Hiền giả, Như Lai thanh tịnh thiện hành về ý.
Như Lai không có ác hạnh về ý mà Như Lai phải gìn giữ:
"Chớ để người khác biết việc này về Ta".
xxxi)
Ba
chướng: Tham chướng, sân chướng, si chướng.
xxxii)
Ba
loại lửa: Lửa tham, lửa sân, lửa si.
xxxiii)
Ba
loại lửa khác: Lửa của người hiếu kính, lửa của
người gia chủ, lửa của người cúng dường (cha mẹ, vợ
con và các vị xuất gia).
xxxiv)
Ba
loại sắc tụ: Hữu kiến hữu đối sắc, vô kiến hữu
đối sắc, vô kiến vô đối sắc.
xxxv)
Ba
hành: Phước hành, phi phước hành, bất động hành.
xxxvi)
Ba
loại người: Hữu học nhân, vô học nhân, phi hữu học
phi vô học nhân.
xxxvii)
Ba
vị trưởng lão: Sanh trưởng lão, pháp trưởng lão, nhập
định trưởng lão.
xxxviii)
Ba
phước nghiệp sự: Thí hành phước nghiệp sự, giới hành
phước nghiệp sự, tu hành phước nghiệp sự.
xxxix)
Ba
cử tội sự: Thấy, nghe và nghi.
xl)
Ba
dục sanh: Này các Hiền giả, có những loại hữu tình
do dục an trú. Ðối với các dục, họ chịu sự an trú, họ
bị chi phối phụ thuộc, như loài Người, một số chư Thiên,
một số tái sanh trong đọa xứ. Ðó là loại dục sanh thứ
nhất. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình có lòng
dục đối với những sự vật do họ tạo ra. Họ tạo hóa
ra các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc hóa ra
các sự vật và họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những
dục vọng ấy, như các loài chư Thiên Nimmàna-Rati (Hóa Lạc
thiên). Ðó là loại dục sanh thứ hai. Này các Hiền giả,
có những loại hữu tình có lòng dục đối sự vật do các
loài khác tạo ra. Họ sống bị chi phối phụ thuộc trong những
dục vọng đối với sự vật do các loại khác tạo ra. Như
các loài chư Thiên Para-nimmitava-savatti (Tha Hóa Tự tại thiên).
Ðó là hạng dục sanh thứ ba.
xli)
Ba
loại lạc sanh: Này các Hiền giả, có những loài hữu
tình (trong quá khứ) luôn luôn tạo ra (thiền định lạc) hay
sống trong sự an lạc, như các vị Brahma - Kàyikà (Phạm Chúng
thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ nhất. Này các Hiền giả,
có những loại hữu tình thấm nhuần, biến mãn, sung mãn,
hưng thịnh với an lạc. Thỉnh thoảng họ thốt ra những câu
cảm hứng: "Ôi an lạc thay! Ôi an lạc thay!", như chư Thiên
€bhassarà (Quang Âm thiên). Ðó là hạng lạc sanh thứ
hai. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình thấm nhuần,
biến mãn, sung mãn, hưng thịnh với an lạc. Họ sống mãn
túc với an lạc ấy, cảm thọ an lạc, như chư Thiên Subhakinnà
(Biến Tịnh thiên). Ðó là loại lạc sanh thứ ba.
xlii)
Ba
tuệ: Hữu học tuệ, vô học tuệ, phi hữu học phi vô
học tuệ.
xliii)
Loại
ba tuệ khác: Tư sanh tuệ, văn sanh tuệ, tu sanh tuệ.
xliv)
Ba
loại binh khí: Nghe, xả ly và tuệ.
xlv)
Ba
căn: Vị tri đương tri căn, dĩ tri căn, cụ tri căn.
xlvi)
Ba
nhãn: Nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn.
xlvii)
Ba
học: Tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng
thượng tuệ học.
xlviii)
Ba
sự tu tập: Thân tu, tâm tu, tuệ tu.
xlix)
Ba
vô thượng: Kiến vô thượng, hành vô thượng, giải thoát
vô thượng.
l)
Ba
định: Hữu tầm hữu tứ định, vô tầm hữu tứ định,
vô tầm vô tứ định.
li)
Lại
ba định khác: Không định, vô tướng định, vô nguyện
định.
lii)
Ba
thanh tịnh: Thân thanh tịnh, ngữ thanh tịnh, ý thanh tịnh.
liii)
Ba
tịch mặc: Thân tịch mặc, ngữ tịch mặc, ý tịch mặc.
liv)
Ba
thiện xảo: Tăng ích thiện xảo, tổn ích thiện xảo,
phương tiện thiện xảo.
lv)
Ba
kiêu: Vô bệnh kiêu, niên tráng kiêu, hoạt mạng kiêu.
lvi)
Ba
tăng thượng: Ngã tăng thượng, thế tăng thượng, pháp
tăng thượng.
lvii)
Ba
luận sự: Luận bàn về vấn đề quá khứ: "Sự việc
này xảy ra trong quá khứ"; luận bàn về vấn đề tương lai:
"Sự việc này xảy ra trong tương lai"; luận bàn về vấn đề
hiện tại: "Sự việc này xảy ra trong hiện tại".
lvii)
Ba
minh: Túc mạng trí minh, Hữu tình sanh tử minh, Lậu tận
trí minh.
lix)
Ba
trú: Thiên trú, Phạm trú, Thánh trú.
lx)
Ba
thần thông: Thần túc thần thông, tri tha tâm thần thông,
giáo giới thần thông.
Này các
Hiền giả, ba pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng dạy,
vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác. Ở
đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không có
tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Bốn
pháp
11.
Này các Hiền giả, có bốn pháp được Thế Tôn chơn chánh
giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là bốn?
i)
Bốn
niệm xứ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo quán
thân trên thân, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp
phục tham sân trên đời; quán các cảm thọ trên các cảm
thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để nhiếp phục tham
sân trên đời; quán các tâm trên các tâm, nhiệt tâm, tỉnh
giác, chánh niệm để nhiếp phục tham sân trên đời; quán
thân các pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm
để nhiếp phục tham sân trên đời.
ii)
Bốn
chánh cần: Ở đây, này các Hiền giả vị Tỷ-kheo, với
mục đích khiến cho các ác, bất thiện pháp từ trước chưa
sanh không cho sanh khởi, khởi lên ý muốn, cố gắng, tinh tấn,
sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các ác bất thiện
pháp đã sanh ra được trừ diệt, khởi lên ý muốn, cố gắng,
tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục đích khiến cho các
thiện pháp từ trước chưa sanh nay cho sanh khởi, khởi lên
ý muốn, cố gắng, tinh tấn, sách tâm, trì tâm. Với mục
đích khiến cho các thiện pháp đã được sanh có thể duy
trì, không có mù mờ, được tăng cường, được quảng đại,
được tu tập, được viên mãn, khởi lên ý muốn, cố gắng,
tinh tấn, sách tâm, trì tâm.
iii)
Bốn
thần túc: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập
thần túc, câu hữu với tinh tấn thực hiện Dục thiền định.
Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện Tâm thiền
định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh tấn thực hiện
Tinh tấn thiền định. Tu tập thần túc câu hữu với tinh
tấn thực hiện Tư duy thiền định (Dục như ý thần túc,
Tâm như ý thần túc, Tinh tấn như ý thần túc, Tư duy như
ý thần túc).
iv)
Bốn
thiền: Ở đây, vị Tỷ-kheo ly dục, ly ác pháp chứng và
trú thiền thứ nhất, một trạng thái hỷ lạc do ly dục sanh,
với tầm, với tứ. Diệt tầm và tứ, chứng và trú thiền
thứ hai, một trạng thái hỷ lạc do định sanh, không tầm
không tứ, nội tĩnh nhất tâm. Ly hỷ trú xả, chánh niệm
tỉnh giác, thân cảm sự lạc thọ mà các bậc Thánh gọi
là xả niệm lạc trú, chứng và an trú thiền thứ ba. Xả
lạc, xả khổ, diệt hỷ ưu đã cảm thọ trước, chứng và
trú thiền thứ tư, không khổ, không lạc, xả niệm thanh tịnh.
v)
Bốn
tu tập thiền định: Này các Hiền giả, có sự tu tập
thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến
lạc trú ngay trong hiện tại. Này các Hiền giả, có sự tu
tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần,
đưa đến chứng đắc tri kiến. Này các Hiền giả, có sự
tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần,
đưa đến chánh niệm tỉnh giác. Này các Hiền giả, có sự
tu tập thiền định, nhờ sự tu tập, nhờ hành trì nhiều
lần đưa đến sự diệt tận các lậu hoặc.
Này
các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ
tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong
hiện tại? Ở đây, này các Hiền giả, có vị Tỷ-kheo ly
dục, ly ác pháp, và trú thiền thứ nhất... thiền thứ hai...
thiền thứ ba... chứng và trú thiền thứ tư. Này các Hiền
giả, như vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ
hành trì nhiều lần đưa đến lạc trú ngay trong hiện tại.
Này
các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ
tu tập, nhờ hành trì nhiều lần đưa đến chứng đắc tri
kiến? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo, tác ý quang
minh tưởng, an trú tưởng ban ngày, ban ngày thế nào ban đêm
như vậy, ban đêm thế nào ban ngày như vậy. Và như vậy với
tâm mở rộng không có đóng kín, tạo ra một tâm có hào quang.
Này các Hiền giả, như vậy là tu tập thiền định, nhờ
tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến chứng đắc tri
kiến.
Này
các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ
tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, hướng đến chánh niệm,
tỉnh giác? Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo biết
được thọ khởi, biết được thọ trú, biết được thọ
diệt, biết được tưởng khởi, biết được tưởng trú,
biết được tưởng diệt, biết được tầm khởi, biết được
tầm trú, biết được tầm diệt. Này các Hiền giả, như
vậy là sự tu tập thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì
nhiều lần, đưa đến chánh niệm tỉnh giác.
Này
các Hiền giả, thế nào là sự tu tập thiền định, nhờ
tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa đến sự diệt tận
các lậu hoặc? Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo an
trú, quán tánh sanh diệt trên Năm Thủ uẩn - Ðây là sắc,
đây là sắc tập, đây là sắc diệt. Ðây là thọ... Ðây
là tưởng... Ðây là hành... Ðây là thức, đây là thức tập,
đây là thức diệt. này các Tỷ-kheo, như vậy là sự tu tập
thiền định, nhờ tu tập, nhờ hành trì nhiều lần, đưa
đến sự diệt tận các lậu hoặc.
vi)
Bốn
vô lượng tâm: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo
an trú, biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng
vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương
thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên dưới bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an
trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô
biên, không hận, không sân.
Lại
nữa, vị Tỷ-kheo an trú, biến mãn một phương với tâm câu
hữu với bi ... với tâm câu hữu với hỷ ... với tâm câu
hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương
thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế
giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp
vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với
xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.
vii)
Bốn
vô sắc: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo vượt
lên mọi sắc tưởng, diệt trừ mọi chướng ngại tưởng,
không tác ý đối với dị tưởng, vị Tỷ-kheo nghĩ rằng:
"Hư không và vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ. Vượt
lên mọi Không vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì",
chứng và trú Thức vô biên xứ. Vượt lên mọi thức vô biên
xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì", chứng và trú Vô sỡ hữu
xứ. Vượt lên mọi Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng
phi phi tưởng xứ.
viii)
Bốn
y chỉ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ-kheo sau khi suy
nghĩ, thọ dụng; sau khi suy nghĩ, nhẫn thọ; sau khi suy nghĩ,
viễn ly; sau khi suy nghĩ, khiển trừ.
ix)
Bốn
Thánh chủng: Này các Hiền giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tự
bằng lòng với bất cứ loại y nào, tán thán sự bằng lòng
với bất cứ loại y nào, không cố gắng tìm cầu y một cách
không xứng đáng, không có áo não nếu không được y, nhưng
khi được y, vị này, không nhiễm trước, không say mê, không
có phạm tội. Vị này dùng y, thấy các nguy hiểm và biết
rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với bất cứ loại y
nào, vị ấy không khen mình chê người. Ở đây, vị này khéo
léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm, này các Hiền giả,
vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã trung thành với
Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với
bất cứ món ăn khất thực nào, tán thán sự bằng lòng với
bất cứ món ăn khất thực nào, không cố gắng tìm cầu món
ăn khất thực một cách không xứng đáng, không có áo não
nếu không được món ăn khất thực. Nhưng khi được món
ăn khất thực, vị này không nhiễm trước, không say mê, không
có phạm tội. Vị này dùng các món ăn khất thực, thấy các
nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với
bất cứ món ăn khất thực nào, vị này không khen mình chê
người. Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, chánh niệm. Này
các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã
trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo tự bằng lòng với
bất cứ phòng xá nào, tán thán sự bằng lòng với bất cứ
phòng xá nào, không cố gắng tìm cầu phòng xá một cách không
xứng đáng, không có áo não nếu không được trú xứ. Nhưng
khi được phòng xá, vị này không nhiễm trước, không say
mê, không có phạm tội. Vị này dùng các phòng xá, thấy các
nguy hiểm và biết rõ sự giải thoát. Vì tự bằng lòng với
bất cứ phòng xá nào, vị này không khen mình chê người.
Ở đây, vị này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm.
Này
các Hiền giả, vị Tỷ-kheo ấy được gọi là một vị đã
trung thành với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ-kheo ưa thích đoạn trừ,
hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập, hoan hỷ tu tập. Nhờ
ưa thích đoạn trừ, hoan hỷ đoạn trừ, ưa thích tu tập,
hoan hỷ tu tập nên không khen mình chê người. Ở đây, vị
Tỷ-kheo này khéo léo, tinh cần, tỉnh giác, chánh niệm. Này
các Hiền giả, vị ấy được gọi là một vị đã trung thành
với Thánh chủng, theo truyền thống quá khứ.
x)
Bốn
tinh cần: Chế ngự tinh cần, đoạn trừ tinh cần, tu tập
tinh cần, hộ trì tinh cần.
Này
các Hiền giả, thế nào là chế ngự tinh cần? Này các Hiền
giả, ở đây vị Tỷ-kheo, khi mắt thấy sắc không nắm giữ
tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân
gì, vì nhãn căn không được chế ngực, khiến tham ái, ưu
bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo tự chế
ngự nguyên nhân ấy, hộ trì nhãn căn, thực hành sự chế
ngực nhãn căn. Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi
nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, vị ấy
nắm không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng.
Những nguyên nhân gì vì ý căn không được chế ngực, khiến
tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, vị Tỷ-kheo
chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự chế
ngự ý căn. Này các Hiền giả, như vậy gọi là chế ngự
tinh cần.
Này
các Hiền giả, thế nào là đoạn trừ tinh cần? Này các Hiền
giả, ở đây, vị Tỷ-kheo không chấp nhận dục tầm đã
khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt, không cho hiện
hữu; không chấp nhận sân tầm đã khởi lên... không chấp
nhận hại tầm đã khởi lên, từ bỏ, đoạn trừ, tiêu diệt,
không cho hiện hữu. Này các Hiền giả, như vậy gọi là đoạn
trừ tinh cần.
Này
các Hiền giả, thế nào là tu tập tinh cần? Này các Hiền
giả, ở đây, vị Tỷ-kheo tu tập Niệm Giác chi, pháp này
y xả ly, y ly dục, y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ;
tu tập Trạch pháp Giác chi... tu tập Tinh tấn Giác chi... tu
tập Hỷ Giác chi... tu tập Khinh an Giác chi... tu tập Ðịnh
Giác chi... tu tập Xả Giác chi, pháp này y xả ly, y ly dục,
y đoạn diệt, thành thục trong đoạn trừ. Này các Hiền giả,
như vậy gọi là tu tập tinh cần.
Này
các Hiền giả, thế nào là hộ trì tinh cần? Này các Hiền
giả, ở đây vị Tỷ-kheo hộ trì định tướng tốt đẹp
đã khởi lên, cốt tưởng, trùng hám tưởng, thanh ứ tưởng,
đoạn hoại tưởng, trương bành tưởng. Này các Hiền giả,
như vậy gọi là hộ trì tinh cần.
xi)
Bốn
trí: Pháp trí, loại trí, tha tâm trí, thế tục trí.
xii)
Lại
bốn trí khác: Khổ trí, tập trí, diệt trí, đạo trí.
xiii)
Bốn
Dự lưu hướng chi: Thiện nhân thân cận, diệu pháp thính
thọ, như lý tác ý, pháp tùy pháp hành.
xiv)
Bốn
Dự lưu quả chi: Ở đây Thánh đệ tử thành tựu lòng
tin tuyệt đối với Phật - "Ðây là Thế Tôn, bậc A-la-hán,
Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải,
Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật,
Thế Tôn". Vị này thành tựu lòng tin tuyệt đối đối với
Pháp - "Pháp được Thế Tôn khéo léo thuyết giảng, Pháp ấy
là thiết thực hiện tại, vượt ngoài thời gian, đến mà
thấy, có hiệu năng hướng thượng, chỉ người có trí mới
tự mình giác hiểu". Vị ấy thành tự lòng tin tuyệt đối
chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ
diệu hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ
trực hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ
như lý hạnh, chúng Tăng đệ tử của Thế Tôn là đầy đủ
chánh hạnh, tức là bốn đôi, tám vị. Chúng tăng đệ tử
của Thế Tôn này đáng cung kính, đáng tôn trọng, đáng được
cúng dường, đáng được chấp tay, là phước điền vô thượng
ở đời". Vị ấy thành tựu giới đức được các bậc Thánh
ái mộ, không bị hư hoại, không bị tỳ vết, được thực
hành liên tục, không bị khiếm khuyết khiến con người tự
tại, được bậc Thánh tán thán, không bị nhiễm ô, hướng
đến thiền định.
xv)
Bốn
Sa môn quả: Dự lưu quả, Nhứt lai quả, Bất lai quả,
A-la-hán quả.
xvi)
Bốn
giới: Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới.
xvii)
Bốn
thực: Ðoàn thực, thô hay tế; xúc thực là thứ hai; tư
niệm thực là thứ ba; thức thực là thứ tư.
xviii)
Bốn
thức trú: Này các Hiền giả, khi duyên sắc, thức khởi
lên và an trú, thức ấy lấy sắc làm cảnh, lấy sắc làm
sở y, lấy sắc làm căn cứ thọ hưởng, được tăng trưởng,
tăng thịnh, tăng quảng. Này các Hiền giả, hay duyên thọ,
thức... hay duyên tưởng... Này các Hiền giả, hay duyên hành,
thức khởi lên và an trú, thức ấy lấy hành làm cảnh, lấy
hành làm sở y, lấy hành làm căn cứ thọ hưởng, được
tăng trưởng, tăng thịnh, tăng quảng.
xix)
Bốn
bất hành xứ hạnh: Tham dục bất hành xứ hạnh, sân bất
hành xứ hạnh, si bất hành xứ hạnh, bố úy bất hành xứ
hạnh.
xx)
Bốn
ái sanh: Này các Hiền giả, do nhơn y phục, vị Tỷ-kheo
khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền giả, do nhơn đồ ăn
khất thực, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái. Này các Hiền
giả, do nhơn phòng xá, vị Tỷ-kheo khởi lên lòng tham ái.
Này các Hiền giả, do nhơn hữu và phi hữu, vị Tỷ-kheo khởi
lên lòng tham ái.
xxi)
Bốn
hành: Khổ hành trì chứng, khổ hành tốc chứng, lạc hành
trì chứng, lạc hành tốc chứng.
xxvii)
Bốn
lại hành khác: Bất kham nhẫn hành, kham nhẫn hành, điều
phục hành, tịch tịnh hành.
xxiii)
Bốn
pháp túc: Vô tham pháp túc, vô sân pháp túc, chánh niệm
pháp túc, chánh định pháp túc.
xxiv)
Bốn
pháp thọ: Này các Hiền giả, có pháp thọ, hiện tại
khổ và tương lai quả báo khổ. Này các Hiền giả, có pháp
thọ, hiện tại khổ và tương lai quả báo lạc. Này các Hiền
giả, có pháp thọ, hiện tại lạc và tương lai quả báo khổ.
Này các Hiền giả có pháp thọ, hiện tại lạc và tương
lai quả báo lạc.
xxy)
Bốn
pháp uẩn: Giới uẩn, định uẩn, công đức uẩn, giải
thoát uẩn.
xxvi)
Bốn
lực: Tinh tấn lực, niệm lực, định lực, tuệ lực.
xxvii)
Bốn
thắng xứ: Tuệ thắng xứ, đế thắng xứ, xả thắng
xứ, chỉ tức thắng xứ (Bốn nguyện).
xxviii)
Bốn
cách trả lời câu hỏi: Trả lời câu hỏi một cách dứt
khoát, trả lời câu hỏi bằng cách phân tích, trả lời câu
hỏi bằng cách cật vấn, trả lời câu hỏi bằng cách giả
lơ, bỏ qua.
xxix)
Bốn
nghiệp: Này các Hiền giả, có hắc nghiệp hắc báo. Này
các Hiền giả, có bạch nghiệp bạch báo. Này các Hiền giả,
có hắc bạch nghiệp, hắc bạch báo. Này các Hiền giả, có
phi hắc phi bạch nghiệp, phi hắc phi bạch báo, và đưa đến
sự tận diệt các nghiệp.
xxx)
Bốn
pháp cần phải chứng ngộ: Túc mạng cần phải chứng
ngộ bởi niệm. Sanh tử cần phải chứng ngộ bởi nhãn. Tám
giải thoát cần phải chứng ngộ bởi thân. Lậu tận cần
phải chứng ngộ bởi Tuệ.
xxxi)
Bốn
bộc lưu: Dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu,
vô minh bộc lưu.
xxxii)
Bốn
ách: Dục ách, hữu ách, kiến ách, vô minh ách.
xxxiii)
Bốn
ly ách: Ly dục ách, ly hữu ách, ly kiến ách, ly vô minh
ách.
xxxiv)
Bốn
hệ phược: Tham thân hệ, sân thân hệ, giới cấm thủ
thân hệ, thử thực chấp thân hệ.
xxxv)
Bốn
thủ: Dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ, ngã thuyết
thủ.
xxxvi)
Bốn
sanh: Noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh.
xxxvii)
Bốn
nhập thai: Này các Hiền giả, ở đây, có loài không tỉnh
giác nhập mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh
giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ nhất. Lại
nữa, này các Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập
mẫu thai, không tỉnh giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất
mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ hai. Lại nữa, này các
Hiền giả, ở đây, có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh
giác trú mẫu thai, không tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là
loại nhập thai thứ ba. Lại nữa, này các Hiền giả, ở đây,
có loại tỉnh giác nhập mẫu thai, tỉnh giác trú mẫu thai,
tỉnh giác xuất mẫu thai. Ðó là loại nhập thai thứ tư.
xxxviii)
Bốn
phương cách được tự thể mới: Này các Hiền giả, có
tự thể mới được, do ý chí của mình, không do ý chí của
người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới được,
do ý chí của người khác, không do ý chí của mình. Này các
Hiền giả, có tự thể mới được, do ý chí của mình và
ý chí của người khác. Này các Hiền giả, có tự thể mới
được không do ý chí của mình, không do ý chí của người
khác.
xxxix)
Bốn
sự cúng dường thanh tịnh: Này các Hiền giả, có sự
cúng dường, người cúng dường thanh tịnh, người nhận cúng
dường không thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường,
người nhận cúng dường thanh tịnh, người cúng dường không
thanh tịnh. Này các Hiền giả, có sự cúng dường, cả người
cúng dường và người nhận cúng dường đều không thanh tịnh.
Này các Hiền giả, có sự cúng dường, người cúng dường
và người nhận sự cúng dường đều thanh tịnh.
xl)
Bốn
nhiếp pháp: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự.
xli)
Bốn
phi Thánh ngôn: Vọng ngữ, lưỡng thiệt, ác khẩu, ỷ ngữ.
xlii)
Bốn
Thánh ngôn: Ly vọng ngữ, ly lưỡng thiệt, ly ác khẩu,
ly ỷ ngữ.
xliii)
Bốn
phi Thánh ngôn khác: Không thấy nói thấy, không nghe nói
nghe, không nghĩ nói nghĩ, không biết nói biết.
xliv)
Bốn
Thánh ngôn khác: Không thấy nói không thấy, không nghe nói
không nghe, không nghĩ nói không nghĩ, không biết nói không
biết.
xlv)
Bốn
phi Thánh ngôn khác: Thấy nói không thấy, nghe nói không
nghe, nghĩ nói không nghĩ, biết nói không biết.
xlvi)
Bốn
Thánh ngôn khác: Thấy nói thấy, nghe nói nghe, nghĩ nói
nghĩ, biết nói biết.
xlvii)
Bốn
loại người: Này các Hiền giả, ở đây, có người tự
làm khổ mình và siêng năng làm khổ mình. Này các Hiền giả,
ở đây, có loại người làm khổ người khác, siêng năng
làm khổ người khác. Này các Hiền giả, ở đây, có loại
người làm khổ mình, siêng năng làm khổ mình; làm khổ người,
siêng năng làm khổ người. Này các Hiền giả, ở đây, có
loại người không làm khổ mình, không siêng năng làm khổ
mình; không làm khổ người người, không siêng năng làm khổ
người. Vị này không làm khổ mình, không làm khổ người
ngay trong hiện tại sống ly dục, tịch tịnh, thanh lương,
an lạc, thánh thiện.
xlviii)
Lại
bốn loại người khác: Này các Hiền giả, ở đây, có
loại người hành tự lợi, không hành lợi tha. Này các Hiền
giả, ở đây, có loại người hành lợi tha, không hành tự
lợi. Này các Hiền giả, ở đây, có loại người, không hành
tự lợi và không hành lợi tha. Này các Hiền giả, ở đây,
có loại người hành tự lợi và hạnh lợi tha.
xlix)
Lại
bốn loại người khác: Sống trong bóng tối và hướng
đến bóng tối, sống trong bóng tối hướng đến ánh sáng,
sống trong ánh sáng hướng đến bóng tối, sống trong ánh
sáng hướng đến ánh sáng.
l)
Bốn
loại người khác: Bất động Sa môn, Xích liên hoa Sa môn,
Bạch liên hoa Sa môn, Diệu thiện Sa môn.
Này các
Hiền giả, bốn Pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng
dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la Hán, Chánh Ðẳng Giác.
Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không
có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Tụng
phẩm II
Năm
pháp
1.
Này các Hiền giả, có năm Pháp được Thế Tôn chơn chánh
giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
i)
Năm
uẩn: Sắc uẩn, thọ uẩn, tưởng uẩn, hành uẩn, thức
uẩn.
ii)
Năm
thủ uẩn: Sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn,
hành thủ uẩn, thức thủ uẩn.
iii)
Năm
dục công đức: Sắc do nhãn nhận thức. Sắc này khả
ái, khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp
dẫn. Tiếng do tai nhận thức... Hương do mũi nhận thức...
Vị do lưỡi nhận thức... Xúc do thân cảm xúc là khả ái,
khả hỷ, khả lạc, khả ý, kích thích lòng dục, hấp dẫn.
iv)
Năm
thú: Ðịa ngục, bàng sanh, ngạ quỷ, Người, chư Thiên.
v)
Năm
xan tham: Xan tham đối với trú xứ, xan tham đối với gia
đình, xan tham đối với các vật thâu hoạch, xan tham đối
với sắc, xan tham đối với pháp.
vi)
Năm
triền cái: Tham dục triền cái, sân triền cái, hôn trầm
thụy miên triền cái, trạo cử hối quá triền cái, nghi triền
cái.
vii)
Năm
hạ phần kiết sử: Thân kiến, nghi, giới cấm thủ, tham,
sân.
viii)
Năm
thượng phần kiết sử: Sắc tham, vô sắc tham, mạn, trạo
cử, vô minh.
ix)
Năm
học xứ: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm,
không vọng ngôn, không uống các loại rượu.
x)
Năm
bất năng xứ: Này các Hiền giả, một vị Lậu tận Tỷ
kheo không thể cố sát hại đời sống loài hữu tình. Một
vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý lấy của không cho
gọi là trộm cắp. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố
ý hành dâm. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể cố ý tự
mình biết mà nói láo. Một vị Lậu tận Tỷ kheo không thể
tiêu dùng các vật chứa cất vào các thú vui dục lạc như
khi còn là cư sĩ.
xi)
Năm
sự tổn thất: Thân thuộc tổn thất, tài sản tổn thất,
tật bệnh tổn thất, giới tổn thất, kiến tổn thất. Này
các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc
tổn thất, vì tài sản tổn thất, hay vì tật bệnh tổn thất,
sau khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa
xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, có loài hữu tình, vì
giới tổn thất hay vì kiến tổn thất, sau khi thân hoại mạng
chung sanh vào khổ giới, ác thú, đọa xứ, địa ngục.
xii)
Năm
sự thành tựu: Thân thuộc thành tựu, tài sản thành tựu,
vô bệnh thành tựu, giới thành tựu, kiến thành tựu. Này
các Hiền giả, không có loài hữu tình nào, vì thân thuộc
thành tựu, vì tài sản thành tựu hay vì vô bệnh thành tựu,
được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời này. Này các
Hiền giả, có các loài hữu tình, vì giới thành tựu hay vì
kiến thành tựu, được sanh lên thiện thú, Thiên giới, đời
này.
xiii)
Năm
điều nguy hiểm của người ác giới, phạm giới: Này
các Hiền giả, người ác giới, vì phạm giới luật, do phóng
dật thiệt hại nhiều tài sản. Ðó là điều nguy hiểm thứ
nhất của người ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này
các Hiền giả, với người ác giới, phạm ác giới, tiếng
xấu đồn khắp. Ðó là điều nguy hiểm thứ hai của người
ác giới, phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, với
người ác giới, phạm ác giới, khi vào hội chúng nào, hội
chúng Sát đế ly, hội chúng Bà la môn, hội chúng Cư sĩ hay
hội chúng Sa môn, người ấy vào một cách sợ sệt và dao
động. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba của người ác giới,
phạm ác giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới,
phạm ác giới, khi mệnh chung, chết một cách mê loạn. Ðó
là điều nguy hiểm thứ tư của người ác giới, phạm ác
giới. Lại nữa, này các Hiền giả, người ác giới, phạm
ác giới, khi thân hoại mạng chung sanh vào khổ giới, ác thú,
đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ năm của
người ác giới, phạm ác giới.
xiv)
Năm
điều lợi ích của người đủ giới, giữ giới: Này
các Hiền giả, ở đây người đủ giới, giữ giới, nhờ
không phóng dật nên được tài sản sung túc. Ðó là điều
lợi ích thứ nhất cho người đủ giới, giữ giới. Này các
Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới được
tiếng tốt đồn khắp. Ðó là điều lợi ích thứ hai cho
người đủ giới, giữ giới. Này các Hiền giả, với người
đủ giới, giữ giới, khi vào hội chúng nào, hội chúng Sát
đế ly, hội chúng Ba la môn, hội chúng Cư sĩ, hội chúng Sa
môn, vị ấy vào một cách đàng hoàng, không dao động. Ðó
là điều lợi ích thứ ba cho người đủ giới, giữ giới.
Này các Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới
khi mệnh chung chết một cách không mê loạn. Ðó là điều
lợi ích thứ tư cho người đủ giới, giữ giới. Này các
Hiền giả, lại nữa người đủ giới, giữ giới, sau khi
thân hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, Thiên giới,
cõi đời này. Như vậy là điều lợi ích thứ năm cho người
đủ giới, giữ giới.
xv)
Năm
pháp nội tâm: Này các Hiền giả, năm pháp nội tâm một
vị Tỷ kheo cần phải có nếu muốn chỉ trích một vị khác:
"Tôi nói đúng thời, không phải phi thời. Tôi nói đúng sự
thật, không sai sự thật. Tôi nói một cách từ tốn, không
nói lời ác khẩu. Tôi nói lời có lợi ích, không nói lời
không có lợi ích. Tôi nói lời có lòng từ, không phải lời
sân hận". Này các Hiền giả, như vậy là năm pháp nội tâm
một vị Tỷ kheo cần phải có, nếu muốn chỉ trích một
vị khác.
xvi)
Năm
cần chi: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo có lòng
tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai - "Ðây là Thế tôn,
bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ,
Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên
Nhân Sư, Phật, Thế Tôn". Vị ấy thiểu bệnh, thiểu não,
sự tiêu hóa được điều hòa, không lạnh quá, không nóng
quá, trung bình hợp với sự tinh tấn. Vị ấy không lường
đảo, dối gạt, nêu rõ tự mình như chơn đối với bậc
Ðạo Sư, đối với các vị sáng suốt hay đối với các vị
đồng phạm hạnh. Vị ấy sống siêng năng, tinh tấn, từ
bỏ các ác pháp, thành tựu các thiện pháp, cương quyết,
kiên trì nỗ lực, không tránh né đối với các thiện pháp.
Vị ấy có trí tuệ, thành tựu trí tuệ hướng đến sự
sanh diệt của các pháp, thành tựu Thánh quyết trạch, đưa
đến sự đoạn diệt chơn chánh các khổ đau.
xvii)
Năm
tịnh cư: Vô Phiền thiên, Vô Nhiệt thiên, Thiện Hiện
thiên, Thiện Kiến thiên, Sắc Cứu Cánh thiên.
xviii)
Năm
bất hoàn: Trung gian Bát Niết bàn, Sanh Bát Niết bàn, Vô
hành Bát Niết bàn, Hữu hành Bát Niết bàn, Thượng lưu thú
A-ca-ni-sá.
xix)
Năm
tâm hoang vu: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nghi
ngờ, do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với
vị Ðạo Sư. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo nào nghi ngờ,
do dự, không quyết đoán, không có thỏa mãn đối với vị
Ðạo Sư, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng
hái, kiên trì và tinh tấn. Khi tâm của vị ấy không hướng
về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn, như vậy gọi
là tâm hoang vu thứ nhất.
Này
các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo nghi ngờ ... đối với
Pháp... đối với Tăng... đối với học Pháp...
Lại
nữa vị Tỷ kheo tức giận đối với các vị đồng phạm
hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành hoang vu. Này
các Hiền giả, khi một vị Tỷ kheo tức giận đối với các
vị đồng phạm hạnh, không hoan hỷ, tâm dao động, trở thành
hoang vu, vị Tỷ kheo ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái,
kiên trì và tinh tấn. Như vậy gọi là tâm hoang vu thứ năm.
xx)
Năm
tâm triền phược: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ
kheo tâm không ly tham, không ly dục, không ly ái, không ly khao
khát, không ly nhiệt tình, không ly ái nhiễm đối với các
dục vọng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tâm không ly tham,
không ly dục, không ly ái, không ly khao khát, không ly nhiệt
tình, không ly ái nhiễm đối với ác dục vọng, tâm của
vị ấy không hướng về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh
tấn. Như vậy là tâm triền phược thứ nhất. Này các Hiền
giả, lại nữa vị Tỷ kheo, tâm không ly tham đối với các
thân... Như vậy là tâm triền phược thứ hai... Ðối với
các sắc, tâm không ly tham... Ðây là tâm triền phược thứ
ba. Này các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo không ăn quá
sức bao tử có thể chịu nổi, hưởng thọ sự sung sướng
về nằm ngủ, sự sung sướng về xúc chạm, sự sung sướng
về thụy miên... Ðây là tâm triền phược thứ tư. Này các
Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo sống đời sống phạm hạnh
với hy vọng mong được thành một loại chư Thiên: "Với nghi
thức này, với giới luật này, với khổ hạnh này hay với
phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại chư Thiên này hay
loại chư Thiên khác". Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo sống
đời sống phạm hạnh với hy vọng được thành một loại
chư Thiên: "Với nghi thức này, với giới luật này, với khổ
hạnh này hay với phạm hạnh này, tôi sẽ trở thành loại
chư Thiên này hay chư Thiên khác". Tâm của vị này không hướng
về nỗ lực, hăng hái, kiên trì và tinh tấn. Như vậy là
tâm triền phược thứ năm.
xxi)
Năm
căn: Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn.
xxii)
Lại
năm căn khác: Lạc căn, khổ căn, hỷ căn, ưu căn, xả
căn.
xxiii)
Lại
năm căn khác: Tín căn, tinh tấn căn, niệm căn, định căn,
tuệ căn.
xxiv)
Năm
xuất ly giới: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo,
có tác ý đối với dục vọng, tâm không hướng nhập dục
vọng, không tín lạc, không an trú, không bị chi phối bởi
dục vọng. Khi vị này có tác ý đối với ly dục, tâm hướng
nhập ly dục, tín lạc, an trú và bị chị phối bởi ly dục,
tâm của vị ấy khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát,
khéo ly hệ đối với các dục lạc. Và các lậu hoặc, các
tổn hại, các nhiệt não khởi lên do duyên các dục lạc,
vị ấy đối với chúng được giải thoát, không còm cảm
thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải thoát đối
với các dục vọng.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với
sân hận, tâm không hướng nhập sân hận, không tín lạc,
không an trú, không bị chi phối bởi sân hận. Khi vị này
có tác ý đối với vô sân, tâm hướng nhập vô sân, có tín
lạc, có an trú, có bị chi phối bởi vô sân, tâm vị ấy
khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối
với vô sân. Và các lậu hoặc, các tổn hoại, các nhiệt
não khởi lên do duyên với sân, vị ấy đối với chúng được
giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được
gọi là giải thoát đối với sân hận.
Này
các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, có tác ý đối với
hại tâm, tâm không hướng nhập hại tâm, không tín lạc,
không an trú, không bị chi phối bởi hại tâm. Khi vị này
có tác ý đối với ly hại tâm, tâm hướng nhập ly hại tâm,
tín lại, an trú, bị chi phối bởi ly hại tâm. Tâm vị ấy
khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ hại
tâm. Và các lậu hoặc, các tổn hại, các nhiệt não khởi
lên do duyên với hại tâm, vị ấy đối với chúng được
giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được
gọi là giải thoát đối với hại tâm.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, có tác ý đối với
sắc, tâm không hướng nhập vào sắc, không tín lạc, không
an trí, không bị chi phối bởi sắc. Khi vị này có tác ý
đối với vô sắc, tâm hướng nhập vô sắc, tín lạc, an
trú, bị chi phối bởi vô sắc. Tâm vị ấy khéo ly, khéo tu,
khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ đối với sắc. Và
các lậu hoặc, các tổn hại, cái nhiệt não khởi lên do duyên
với sắc, vị ấy đối với chúng được giải thoát, không
còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được gọi là giải
thoát đối với sắc.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo có tác ý đối với
tự thân, tâm không hướng nhập tự thân, không tín lạc,
không an trí, không bị chi phối bởi tự thân. Khi vị này
có tác ý đối với thân diệt, tâm hướng nhập thân diệt,
tín lạc, an trú, bị chi phối bởi thân diệt. Tâm vị ấy
khéo ly, khéo tu, khéo khởi, khéo giải thoát, khéo ly hệ thân
diệt. Và các lậu hoặc, các tôn hại, các nhiệt não khởi
lên do duyên với tự thân, vị ấy đối với chúng được
giải thoát, không còn cảm thọ cảm giác ấy. Như vậy được
gọi là giải thoát đối với tự thân.
xxv)
Năm
giải thoát xứ: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo,
khi nghe bậc Ðạo Sư, hay một vị đồng phạm hạnh đáng
kính nào thuyết pháp. Này các Hiền giả, khi vị Tỷ kheo nghe
bậc Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào
thuyết pháp, vị ấy, đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa
lý và hiểu cả văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu
cả văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ
hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh.
Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh. Ðó là giải thoát
xứ thứ nhất.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo không nghe bậc Ðạo
Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp.
Như vị ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết
pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Này các Hiền
giả, khi vị Tỷ kheo theo điều đã nghe, theo điều đã học,
thuyết pháp một cách rộng rãi cho các người khác, vị ấy
đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được
văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa lý và hiểu được văn cú,
khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái, hỷ sanh. Nhờ hỷ tâm, thân
khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ,
tâm được định tỉnh. Ðó là giải thoát xứ thứ hai.
Này
các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo, không được nghe bậc
Ðạo Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết
pháp, cũng không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết
pháp một cách rộng rãi cho các người khác. Vị ấy theo điều
đã nghe, theo điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ
ràng. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo, theo điều đã nghe,
theo điều đã học, tụng đọc pháp một các rõ ràng, do vậy
đối với pháp ấy, hiểu được nghĩa lý và hiểu được
văn cú, thân khinh an sanh. Nhờ thân khinh an, lạc thọ sanh.
Nhờ lạc thọ, tâm được định tỉnh. Ðó là giải thoát
xứ thứ ba.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo
sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính thuyết pháp, cũng
không theo điều đã nghe, điều đã học thuyết pháp một
cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo điều đã
nghe, điều đã học, tụng đọc pháp một cách rõ ràng. Vị
ấy, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm
cầu, suy tư, quán sát pháp ấp. Này các Hiền giả, vị Tỷ
kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm
cầu, suy tư, quán sát pháp ấy. Này các Hiền giả, vị Tỷ
kheo, theo điều đã nghe, theo điều đã học, dùng tâm tầm
cầu, suy tư, quán sát pháp ấy nên đối với pháp ấy hiểu
được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa
lý, hiểu được văn cú, khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái sanh,
hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ khinh an, lạc
thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tính. Ðó là giải
thoát xứ thứ tư.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, không nghe bậc Ðạo
Sư hay một vị đồng phạm hạnh đáng kính nào thuyết pháp,
cũng không theo điều đã nghe, theo điều đã học, thuyết
pháp một cách rộng rãi cho các người khác, cũng không theo
điều đã nghe, theo điều đã học dùng tâm tầm cầu, suy
tư, quán sát pháp ấy, vị Tỷ kheo đã khéo nắm giữ một
định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập
nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ khoe nắm giữ một
định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thể nhập
nhờ trí tuệ. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo tùy theo khéo
nắm giữ một định tướng nào, khéo tác ý, khéo thọ trì,
khéo thể nhập nhờ trí tuệ, nên đối với pháp ấy, hiểu
được nghĩa lý, hiểu được văn cú. Nhờ hiểu được nghĩa
lý, hiểu được văn cú, nên khoan khoái sanh. Nhờ khoan khoái
sanh, hỷ tâm sanh. Nhờ hỷ tâm, thân khinh an sanh. Nhờ thân
khinh an, lạc thọ sanh. Nhờ lạc thọ, tâm được định tĩnh.
Ðó là giải thoát xứ thứ năm.
xxvi)
Năm
giải thoát thành thục tưởng: Vô thường tưởng, khổ
tưởng trong vô thường, vô ngã tưởng trong khổ, đoạn trừ
tưởng, vô tham tưởng.
Này các
Hiền giả, năm pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng
dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.
Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không
có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Sáu
pháp
2.
Này các Hiền giả, có sáu pháp được Thế Tôn chơn chánh
giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là sáu?
i)
Sáu
nội xứ: Nhãn xứ, nhĩ xứ, tỷ xứ, thiệt xứ, thân xứ,
ý xứ.
ii)
Sáu
ngoại xứ: Sắc xứ, thanh xứ, hương xứ, vị xứ, xúc
xứ, pháp xứ.
iii)
Sáu
thức thân: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức,
thân thức, ý thức.
iv)
Sáu
xúc thân: Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc,
ý xúc.
v)
Sáu
thọ thân: Nhãn xúc sở sanh thọ, nhĩ xúc sở sanh thọ,
tỷ xúc sở sanh thọ, thiệt xúc sở sanh thọ, thân xúc sở
sanh thọ, ý xúc sở sanh thọ.
vi)
Sáu
tưởng thân: Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị
tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng.
vii)
Sáu
tư thân: Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp
tư.
viii)
Sáu
ái thân: Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp
ái.
ix)
Sáu
không cung kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ
kheo, sống không cung kính, không tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống
không cung kính, không tùy thuận Pháp; sống không cung kính,
không tùy thuận Tăng; sống không cung kính, không tùy thuận
học Pháp; sống không cung kính bất phóng dật, không tùy thuận
bất phóng dật; sống không cung kính, không tùy thuận sự
lễ phép xã giao.
x)
Sáu
cung kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo
sống cung kính, tùy thuận bậc Ðạo Sư; sống cung kính, tùy
thuận Pháp; sống cung kính, tùy thuận Tăng; sống cung kính
tùy thuận học Pháp; sống cung kính, tùy thuận bất phóng
dật; sống cung kính, tùy thuận lễ phép xã giao.
xi)
Sáu
sư tư đến hỷ: Khi mắt thấy sắc, hoan hỷ khởi lên,
sắc ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng... Khi mũi ngửi hương...
Khi lưỡi nếm vị... Khi thân chạm xúc... Khi ý nhận pháp,
hoan hỷ khởi lên, pháp ấy được suy tư.
xii)
Sáu
suy tư đến ưu: Khi mắt thấy sắc, ưu khởi lên, sắc
ấy được suy tư. Khi tai nghe tiếng... Khi mũi ngửi hương...
Khi lưỡi nếm vị... Khi thân chạm xúc... Khi ý nhận pháp,
ưu khởi lên, pháp ấy được suy tư.
xiii)
Sáu
suy tư đến xả: Khi mắt thấy sắc, xả khởi lên, sắc
ấy được suy tư... Khi tai nghe tiếng... Khi mũi ngửi hương...
Khi lưỡi nếm vị... Khi thân chạm xúc... Khi ý nhận pháp,
xả khởi lên, pháp ấy được suy tư.
xiv)
Sáu
hòa kính pháp: Này các Hiền giả, ở đây khi vị Tỷ kheo
thành tựu từ thân nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với
các vị đồng phạm hạnh, như vậy là một pháp hòa kính,
tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không
tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
Này
các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ khẩu
nghiệp, trước mặt hay sau lưng đối với các vị đồng phạm
hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo
ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp,
đồng tâm, ý hợp.
Này
các Hiền giả, lại nữa khi vị Tỷ kheo thành tựu từ ý
nghiệp trước mặt hay sau lưng, đối với các vị đồng phạm
hạnh, như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo
ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa hợp,
đồng tâm, ý hợp.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, đối với các đồ
vật được cúng dường một cách hợp pháp cho đến đồ
vật nhận trong bình bát, đều đem chia đồng đều giữa các
vị Tỷ kheo có giới hạnh, như vậy là một pháp hòa kính,
tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không
tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo, khi những giới luật
của vị này không bị phá hoại, không vi phạm, được kiên
trì tuân hành, không có tỳ vết, làm con người được giải
thoát, được người trí tán thán, không uế tạp, hướng
đến thiền định, vị Tỷ kheo ấy giữ giới hạnh Sa môn
như vậy, sống trước mặt hay sau lưng với các vị đồng
phạm hạnh như vậy là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái,
tạo ra cung kính, đưa đến đoàn kết, không tranh luận, hòa
hợp, đồng tâm, ý hợp.
Này
các Hiền giả, lại nữa, vị Tỷ kheo sống đời sống được
Chánh kiến hướng dẫn, chơn chánh, đoạn diệt khổ đau,
vị ấy sống thành tựu với Chánh kiến như vậy, sống với
các vị đồng phạm hạnh, trước mặt hay sau lưng, như vậy
là một pháp hòa kính, tạo ra từ ái, tạo ra cung kính, đưa
đến đoàn kết, trong tranh luận, hòa hợp, đồng tâm, ý hợp.
xv)
Sáu
tránh căn: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo phẫn
nộ, uất hận. Này các Hiền giả, vị này phẫn nộ, uất
hận, sống không cung kính, không tùy thuận vị Ðạo Sư, sống
không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính, không
tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học pháp.
Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo sống không cung kính không
tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp,
không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy
đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa chư
Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc,
khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích,
và khiến chư Thiên và loài Người không hạnh phúc, mà đau
khổ. Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh
căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố
gắng đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu
Hiền giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài
các vị, các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có
cơ hội làm hại trong tương lai. Như vậy là ngăn chặn nguy
hại ác tránh căn ấy trong tương lai.
Này
các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo che dấu và giả dối...
tật đố và xan tham... lừa đảo và lường gạt... ác dục
và tà kiến...
Này
các Hiền giả, lại nữa vị Tỷ kheo chấp trước sở kiến,
kiên trì gìn giữ rất khó rời bỏ. Này các Hiền giả, vị
Tỷ kheo chấp trước sở kiến, kiên trì gìn giữ, rất khó
rời bỏ, vị ấy sống không cung kính, không tùy thuận bậc
Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận Pháp, không cung kính,
không tùy thuận Tăng, không thành tựu đầy đủ các học
pháp. Này các Hiền giả, vị Tỷ kheo không cung kính, không
tùy thuận bậc Ðạo Sư, không cung kính, không tùy thuận
Pháp, không cung kính, không tùy thuận Tăng, không thành tựu
đầy đủ các học Pháp, vị ấy khởi lên tranh luận giữa
chư Tăng. Tranh luận như vậy khiến chúng sanh không hạnh phúc,
khiến chúng sanh không an lạc, khiến chúng sanh không lợi ích,
khiến chư Thiên vào loài Người không hạnh phúc, mà đau khổ.
Này các Hiền giả, nếu Hiền giả thấy được tránh căn
ấy giữa các vị hay ngoài các vị, Hiền giả phải cố gắng
đoạn trừ ác tránh căn ấy. Này các Hiền giả, nếu Hiền
giả không thấy tránh căn ấy giữa các vị hay ngoài các vị,
các vị hãy gìn giữ đừng cho ác tránh căn ấy có cơ hội
làm hại trong tương lai. Như vậy là sự đoạn trừ ác tránh
căn ấy, như vậy là ngăn chận nguy hại ác tránh căn ấy
trong tương lai.
xvi)
Sáu
giới: Ðịa giới, thủy giới, hỏa giới, phong giới, không
giới, thức giới.
xvii)
Sáu
xuất ly giới: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo
nói như sau: "Ta đã tu tập từ tâm giải thoát, làm cho sung
mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa
và khéo léo tinh cần. Tuy vậy sân tâm vẫn ngự trị tâm ta".
Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ
nói như vậy, Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống
Thế Tôn như vậy thật không tốt. Thế Tôn không nói như
vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy, trường
hợp không phải như vậy. Ai tu tập từ tâm giải thoát, làm
cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất
chứa và khéo léo tinh cần, mà sân tâm vẫn ngự trị, an trí,
sự kiện không thể xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, từ
tâm giải thoát có khả năng giải thoát sân tâm.
Này
các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu
tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm
thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy
vậy hại tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần phải được
nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại đức!
Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật
không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả,
sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như
vậy. Nếu tu tập bi tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành
cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh
cần, mà hại tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không xảy
ra như vậy. Này các Hiền giả, bi tâm giải thoát có khả
năng giải thoát hại tâm.
Này
các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu
tập hỷ tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe,
làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần.
Tuy vậy bất lạc tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần
phải được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy,
Ðại đức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn
như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy.
Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập hỷ tâm giải
thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ,
an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, bất lạc tâm vẫn
ngự trị an trú, sự kiện không xảy ra như vậy. Này các
Hiền giả, hỷ tâm giải thoát có khả năng giải thoát bất
lạc tâm.
Này
các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau: "Ta đã tu
tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe,
làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần.
Tuy vậy tham tâm vẫn ngự trị tâm ta". Vị ấy cần được
nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức!
Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy thật
không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả,
sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như
vậy. Nếu tu tập xả tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm
thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo
léo tinh cần mà tham tâm vẫn ngự trị an trú, sự kiện không
xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, xả tâm giải thoát, có
khả năng giải thoát tham tâm.
Này
các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau:
"Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn,
làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và
khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các
tướng". Vị ấy cần phải được nói như sau: "Chớ có như
vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế
Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không
nói như vậy". Này các Hiền giả, sự kiện không phải như
vậy. Trường hợp không phải như vậy. Nếu tu tập vô tướng
tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành
căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức
vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy.
Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm
thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo
léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện
không xảy ra như vậy. Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải
thoát có khả năng giải thoát tất cả tướng.
Này
các Hiền giả, lại nữa, ở đây vị Tỷ kheo nói như sau:
"Quan điểm "tôi có mặt" bị tôi từ khước. Quan điểm "tôi
là cái này" không được tôi chấp nhận. Tuy vậy mũi tên
nghi ngờ do dự vẫn ám ảnh an trú tôi". Vị ấy cần phải
được nói như sau: "Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại
Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy
không tốt. Thế Tôn không nói như vậy". Này các Hiền giả,
sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như
vậy. "Quan điểm "tôi có mặt" bị tôi từ khước. Quan điểm
"tôi là cái này" không được tôi chấp thuận. Tuy vậy nghi
ngờ, do dự vẫn ám ảnh an trú nơi tôi". Sự kiện không xảy
ra như vậy. Này Hiền giả, chính nhờ khước từ sự ngạo
mạn "tôi có mặt", mà mũi tên do dự nghi ngờ được giải
thoát.
xviii)
Sáu
vô thượng: Kiến vô thượng, văn vô thượng, lợi đắc
vô thượng, học giới vô thượng, hành vô thượng, ức niệm
vô thượng.
xix)
Sáu
niệm xứ: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới,
niệm Thí, niệm Thiên.
xx)
Sáu
hằng trú: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo mắt
thấy sắc, không có hoan hỷ, không có ưu phiền, an trú xả,
chánh niệm, giác tỉnh; tai nghe tiếng... mũi ngửi hương...
lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức pháp, không
có hoan hỷ, không có ưu phiền, trú xả, chánh niệm, tinh giác.
xxi)
Sáu
sanh loại: Này các Hiền giả, ở đây có người hắc sanh
và sống tạo hắc pháp. Này các Hiền giả, ở đây, có người
hắc sanh và sống tạo bạch pháp. Này các Hiền giả, ở đây,
có người hắc sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắn phi bạch
pháp. Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo bạch pháp.
Ở đây, có người bạch sanh và sống tạo hắc pháp. Ở đây,
có người bạch sanh và sống tạo Niết bàn, phi hắc phi bạch
pháp.
xxii)
Sáu
quyết trạch phần thưởng: Vô thường tưởng, khổ tưởng
trên vô thường, vô ngã tưởng trên khổ, đoạn tưởng, vô
tham tưởng, diệt tưởng.
Này các
Hiền giả, sáu pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng
dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.
Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không
có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Bảy
pháp
8.
Này các Hiền giả, có bảy pháp được Thế Tôn chơn chánh
giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là bảy?
i)
Bảy
tài sản: Tín tài, giới tài, tàm tài, quý tài, văn tài,
thí tài, tuệ tài.
ii)
Bảy
giác chi: Niệm Giác chi, Trạch pháp Giác chi, Tinh tấn Giác
chi, Hỷ Giác chi, Khinh an Giác chi, Ðịnh Giác chi, Xả Giác
chi.
iii)
Bảy
định cụ: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh
nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm.
iv)
Bảy
phi diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ
kheo bất tín, vô tàm, vô quý, thiểu văn, giải đải, thất
niệm, liệt tuệ.
v)
Bảy
diệu pháp: Này các Hiền giả, ở đây, có vị Tỷ kheo
có lòng tín, có tàm, có quý, đa văn, tinh tấn, niệm được
an trú, có trí tuệ.
vi)
Bảy
thượng nhân pháp: Này các Hiền giả, ở đây có vị Tỷ
kheo tri pháp, tri nghĩa, tự tri, tri lượng, tri thời, tri chúng
và tri nhân.
vii)
Bảy
thù diệu sự: Này các Hiền giả, ở đây vị Tỷ kheo
tha thiết hành trì học pháp và khát vọng hành trì học pháp
trong tương lai; tha thiết quán pháp và khát vọng quán pháp
trong tương lai; tha thiết điều phục các dục vọng và khát
vọng điều phục các dục vọng trong tương lai; tha thiết
sống an tịnh và khát vọng sống an tịnh trong tương lai; tha
thiết sống tinh tấn và khát vọng sống tinh tấn trong tương
lai; tha thiết quán sát tư niệm và khát vọng quán sát tư
niệm trong tương lai; tha thiết với kiến giải và khát vọng
hiểu biết sở kiến trong tương lai.
viii)
Bảy
tưởng: Vô thường tưởng, vô ngã tưởng, bất tịnh tưỡng,
hoạn nạn tưởng, đoạn tưởng, ly tham tưởng, diệt tưởng.
ix)
Bảy
lực: Tín lực, tinh tấn lực, tàm lực, quý lực, niệm
lực, định lực, tuệ lực.
x)
Bảy
thức trú: Này các Hiền giả, có các loại hữu tình, thân
sai biệt và tưởng sai biệt, như loài Người, một số chư
Thiên và một số thuộc đọa xứ. Ðó là loại thức trú
thứ nhất. Này các Hiền giả, có những loài hữu tình thân
sai biệt nhưng tưởng đồng loại, như các vị Phạm Chúng
thiên vừa mới sanh lần đầu tiên (hay do tu sơ thiền). Ðó
là loại thức trú thứ hai. Này các Hiền giả, có những loại
hữu tình, thân đồng loại, nhưng tưởng sai biệt, như chư
Quang Âm thiên. Ðó là loại thức trú thứ ba. Này các Hiền
giả, có những loại hữu tình thân đồng loại và tưởng
đồng loại, như chư Thiên Biến Tịnh thiên. Ðó là loại
thức trú thứ tư. Này các Hiền giả, có những loại hữu
tình, vượt khỏi mọi tưởng về sắc, điều phục mọi tưởng
về sân, không tác ý đến các tưởng sai biệt, chứng Không
vô biên xứ: "Hư không là vô biên". Ðó là loại thức trú
thứ năm. Này các Hiền giả, có những loại hữu tình, vượt
khỏi hoàn toàn hư không vô biên xứ, chứng thức vô biên
xứ: "Thức là vô biên". Ðó là loại thức trú thứ sáu. Này
các Hiền giả có những loại hữu tình vượt khỏi hoàn toàn
Thức vô biên xứ, chứng Vô sở hữu xứ: "Không có vật gì
cả". Ðó là loại thức trú thứ bảy.
xi)
Bảy
loại người đáng kính trọng: Câu phần giải thoát, Tuệ
giải thoát, Thân chứng, Kiến chí, Tín giải thoát, Tùy pháp
hành, Tùy tín hành.
xii)
Bảy
tùy miên: Dục ái tùy miên, sân tùy miên, kiến tùy miên,
nghi tùy miên, mạn tùy miên, hữu tham tùy miên, vô minh tùy
miên.
xiii)
Bảy
kiết sử: Ái kiết sử, sân kiết sử, kiến kiết sử,
nghi kiết sử, mạn kiết sử, hữu tham kiết sử, vô minh kiết
sử.
xiv)
Bảy
diệt tránh pháp: Có khả năng đình chỉ, trừ diệt các
tránh pháp đang khởi lên: Ưng dữ hiện tiền tỳ ni, ưng dữ
ức niệm tỳ ni, ưng dữ bất si tỳ ni, ưng dữ tự ngôn trị,
đa mích tội tướng, đa nhơn mích tội, như thảo phú địa.
Này các
Hiền giả, bảy pháp này được Thế Tôn chơn chánh giảng
dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác.
Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc, không
có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn, được
duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho
chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì
hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Tụng
phẩm III
Tám
pháp
1.
"Này các Hiền giả, có tám pháp được Thế Tôn chơn chánh
giảng dạy, vị đã biết, đã thấy, bậc A la hán, Chánh Ðẳng
Giác. Ở đây, mọi người cần phải cùng nhau tụng đọc,
không có tranh luận, để phạm hạnh này được trường tồn,
được duy trì lâu ngày, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an
lạc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi
ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho chư Thiên và loài Người.
Thế nào là tám?
i)
Tám
tà: Tà tri kiến, ta tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mạng,
tà tinh tấn, tà niệm, tà định.
ii)
Tám
chánh: Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp,
Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định.
iii)
Tám
người đáng cung kính: Hạng Dự lưu, hạng đã thành tựu
và chứng Dự lưu quả; hạng Nhất lai, hạng đã thành tựu
và chứng Nhất lai quả; hạng Bất lai, hạng đã thành tựu
và chứng Bất lai quả; hạng A la hán và hạng đã thành tựu
A la hán quả.
iv)
Tám
giải đãi sự: Này các Hiền giả, ở đây có việc vị
Tỷ kheo phải làm. Vị này nghĩ: "Có công việc ta sẽ phải
làm. Nếu ta làm việc, thời thân ta sẽ mệt mỏi. Vậy ta
nên nằm xuống". Vị ấy nằm xuống, không có tinh tấn để
đạt được điều chưa đạt được, để thành tựu điều
chưa thành tựu, để chứng ngộ điều chưa chứng ngộ được,
như vậy là giải đãi sự |