25 Kinh
Ưu-Đàm-Bà-La Sư Tử Hống
(Udumbarikà-Sìhanàda sutta)
Như vầy
tôi nghe.
1.
Một thời, Thế tôn ở tại Ràjagaha (Vương Xá), núi Gijjhakùta
(Kỳ-xà-quật). Lúc bấy giờ du sĩ Nigrodha (Ni-câu-đà) ở
tại vườn của nữ hoàng Udumbarikà (Ưu-đàm-bà-la) dành cho
du sĩ đoàn, cùng với đại hội chúng du sĩ, khoảng ba ngàn
người. Gia chủ Sandhana (Tán-đà-na), vào buổi chiều đi ra
khỏi thành Vương Xá để yết kiến Thế Tôn. Rồi gia chủ
Sandhana suy nghĩ: "Nay không phải thời để yết kiến Thế
Tôn, Thế Tôn đang an lặng tịnh cư. Cũng không phải thời
để yết kiến chúng Tăng, vì chúng Tăng đang tu tập thiền
định. Vậy ta hãy đi đến vườn của nữ hoàng Udumbarika
dành cho du sĩ đoàn, để thăm du sĩ Nigrodha." Và gia chủ Sandhana
đi đến vườn của nữ hoàng Undumbarika dành cho du sĩ đoàn
để thăm du sĩ Nigrodha.
2.
Lúc bấy giờ du sĩ Nigrodha đang ngồi với đại hội chúng
du sĩ, tất cả đều ồn ào nói chuyện, cao giọng lớn tiếng,
bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về
vua chúa, câu chuyện về ăn trộm, câu chuyện về đại thần,
câu chuyện về binh lính, các câu chuyện hãi hùng, câu chuyện
về chiến tranh, câu chuyện về đồ ăn, câu chuyện về đồ
uống, câu chuyện về vải mặc, câu chuyện về giường nằm,
câu chuyện về vòng hoa, câu chuyện về hương liệu, câu chuyện
về bà con, câu chuyện về xe cộ, câu chuyện về làng xóm,
câu chuyện về thị tứ, câu chuyện về thành phố, câu chuyện
về quốc độ, câu chuyện về đàn bà, câu chuyện về đàn
ông, câu chuyện về vị anh hùng, câu chuyện bên lề đường,
câu chuyện tại chỗ lấy nước, câu chuyện về người đã
chết, các câu chuyện tạp thoại, câu chuyện về hiện trạng
thế giới, hiện trạng đại dương, câu chuyện về hiện
hữu và không hiện hữu.
3.
Dũ sĩ Nigrodha thấy gia chủ Sandhana từ đàng xa đến, liền
dặn hội chúng của mình:
- Các
Tôn giả hãy giữ im lặng, các Tôn giả chớ có làm ồn! Ðệ
tử Sa môn Gotama, gia chủ Sandhana đang đi đến. Trong hàng đệ
tử Sa môn Gotama, các hàng cư sĩ, mặc áo trắng, trú tại
Vương Xá, gia chủ Sandhana là một vị trong đoàn thể ấy.
Các vị này ưa sự an tịnh, các vị này được huấn luyện
trong sự an tịnh, các vị này tán thán sự an tịnh. Nếu được
biết hội chúng này an tịnh, Sandhana có thể đến đây.
Khi
nghe nói vậy, các vị du sĩ đều giữ yên lặng.
4.
Rồi gia chủ Sandhana đến tại chỗ của du sĩ Nigrodha, khi
đến nơi, nói lên những lời chúc tụng, viếng thăm xã giao
rồi ngồi với du sĩ Nigrodha:
- Thật
sự khác thay, khi các Tôn giả ngoại đạo, các du sĩ này hội
họp lại, quy tụ lại, ồn ào, cao giọng lớn tiếng, họ
sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích như câu chuyện
về vua chúa... câu chuyện về sự hiện hữu và sự không
hiện hữu. Thật sai khác thay, Thế Tôn an trú các nhàn tịnh
xứ, núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng động, có gió
đồng thổi, lánh xa mắt người đời, thích hợp cho sự tịnh
tu.
5.
Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha nói với gia chủ Sandhana:
- Gia
chủ có biết không? Sa môn Gotama luận đàm với ai? Ðối thoại
với ai? Với ai đạt được tuệ trí? Trí tuệ của Sa môn
Gotama bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không
giỏi điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối
thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Cũng
như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi phía bên ngoài.
Cũng vậy, trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống
với không xứ. Sa môn Gotama không giỏi điều khiển một hội
chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập đến
vấn đề ngoại biên. Này gia chủ, nếu Sa môn Gotama đến
tại hội chúng này, chỉ có một câu hỏi chúng tôi có thể
chận đứng ngay; chúng tôi nghĩ, chúng tôi có thể lăn tròn
Sa môn Gotama như lăn tròn một cái bình không.
6.
Thế Tôn, với thiên nhĩ thanh tịnh hơn người, nghe được
câu chuyện giữa gia chủ Sandhana với du sĩ Nigrodha. Rồi Thế
Tôn từ núi Gijjhakùtà bước xuống, đi đến vườn nuôi dưỡng
chim khổng tước, bên bờ sông Sumàgaghà, khi đến nơi liền
đi qua lại giữa trời. Du sĩ Nigrodha thấy Thế Tôn đi qua
lại giữa trời, tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước,
trên bờ sông Sumàgadhà, khi thấy vậy liền dặn dò hội chúng:
- Các
Tôn giả hãy giữ im lặng; các Tôn giả chớ có làm ồn; Sa
môn Gotama này đang đi lại giữa trời, tại vườn nuôi dưỡng
chim khổng tước trên bờ sông Sumàgadhà. Vị tôn giả này
ưa an tịnh, tán thán sự an tịnh, nếu biết được hội chúng
này an tịnh, chúng tôi nghĩ, Sa môn Gotama có thể đến đây.
Nếu Sa môn Gotama đến tại hội chúng này, chúng ta sẽ hỏi
câu hỏi này: "Bạch Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn?
Với Pháp nào Thế Tôn muốn dạy các đệ tử, với Pháp nào
các đệ tử của Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh
lạc, và xác nhận là căn bản phạm hạnh?"
Khi
được nói vậy, các vị du sĩ ấy giữ im lặng.
7.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn đến tại chỗ du sĩ Nigrodha ở. Và
du sĩ Nigrodha nói với Thế Tôn như sau:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy đến đây; xin đón mừng Thế Tôn;
bạch Thế Tôn, đã lâu Thế Tôn mới có dịp đến đây; bạch
Thế Tôn, xin mời Thế Tôn ngồi. Ðây là chỗ ngồi đã soạn
sẵn.
Thế
Tồn ngồi xuống chỗ ngồi đã soạn sẵn. Du sĩ Nigrodha lấy
một ghế ngồi thấp khác và ngồi xuống một bên. Thế Tôn
nói với du sĩ Nigrodha đang ngồi xuống một bên:
- Này
Nigrodha, Quí vị đang ngồi bàn luận vấn đề gì? Vấn để
gì đang nói giữa quí vị thì bị dừng lại?
Khi
được nói vậy, du sĩ Nigrodha bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, ở đây chúng con thấy Thế Tôn đang đi qua lại,
tại vườn nuôi dưỡng chim khổng tước, trên bờ sông Sumagadha.
Khi thấy vậy, chúng con nói: "Nếu Sa môn Gotama đến tại hội
chúng này, chúng ta sẽ hỏi câu hỏi:" Bạch Thế Tôn, Pháp
gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào Thế Tôn huấn dạy
các đệ tử? Với Pháp nào các đệ tử Thế Tôn được huấn
dạy, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn bản phạm
hạnh?" Bạch Thế Tôn, đó là vấn đề đang được bàn luận
giữa chúng con, thì được dừng lại khi Thế Tôn đến.
- Này
Nigrodha, thật khó cho Ngươi, khi Ngươi theo các kiến giải
sai khác, kham nhẫn các sự việc sai khác, theo dõi những mục
tiêu khác, theo đuổi những mục đích sai khác, được huấn
luyện theo các phương pháp sai khác để hiểu được Pháp
nào Ta huấn dạy các đệ tử của Ta, đạt đến tịnh lạc
và xác nhận là căn bản phạm hạnh. Này Nigrodha, hãy hỏi
về tối thắng khổ hạnh theo truyền thống của Ngươi: "Bạch
Thế Tôn, thế nào là sự thành tựu của khổ hạnh, thế
nào là sự không thành tựu?"
Khi
nghe nói vậy, các Du sĩ ngoại đạo liền lớn tiếng, cao giọng
la: "Thật là kỳ diệu, thật là hy hữu, đại thần lực và
đại uy lực của Sa môn Gotama! Ngài không đề cập đến giáo
lý của mình, lại đề nghị thảo luận giáo lý của người
khác."
8.
Du sĩ Nigrodha bảo các du sĩ ấy im lặng rồi bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, chúng con sống thuyết giảng về khổ hạnh, xem khổ
hạnh là căn bản, chấp trì khổ hạnh. Bạch Thế Tôn, thế
nào là sự thành tựu khổ hạnh? Thế nào là sự không thành
tựu khổ hạnh?
- Này
Nigrodha, ở đây có người tu khổ hạnh, sống lõa thể, sống
phóng túng không theo lễ nghi, liếm tay cho sạch, đi khất thực
không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không
nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận lời mời
đi ăn, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ
ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn từ hai
người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có
thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú,
không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không
nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó
đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn
cá, ăn thịt, không uống nước nấu rượu men. Vị ấy chỉ
nhận ăn tại một nhà hay chỉ nhận ăn một miếng, chỉ nhận
ăn tại bảy nhà hay chỉ nhận ăn bảy miếng. Vị ấy nuôi
sống chỉ với một bát, nuôi sống chỉ với hai bát, nuôi
sống chỉ với bảy bát. Vị ấy chỉ ăn một ngày một bữa,
hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy vị ấy sống
theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một
lần. Vị này chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức,
ăn hột vải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, ăn nước bột gạo,
ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây
trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Vị ấy mặc vải
gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các khác vải khác, mặc
vải tẩm liệm đã quăng đi, mặc vải phấn tảo y, mặc vải
vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo
bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm
gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng
đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Vị ấy là người
sống nhổ râu tóc, là người sống theo tập tục sống nhổ
râu tóc, là người theo hạnh thường đứng, không ngồi, là
người ngồi chỏ hỏ; sống theo hạnh ngồi chỏ hỏ một
cách tinh tấn, là người dùng gai làm giường, thường ngủ
nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống
nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống
để bụi và nhớp che kín thân mình, sống và ngủ ngoài trời;
theo hạnh bạ đâu nằm đầy, sống ăn các uế vật; theo hạnh
ăn các uế vật, sống không uống các nước lạnh, theo hạnh
không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh
xuống nước tắm. Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Như vậy
có phải là thành tựu các pháp khổ hạnh hay không thành tựu?
- Bạch
Thế Tôn, như vậy là thành tựu các pháp khổ hạnh, không
phải không thành tựu.
- Này
Nigrodha, sự thành tựu khổ hạnh như vậy, Ta nói rằng sẽ
đưa đến nhiều loại cấu uế.
- Bạch
Thế Tôn, có phải Thế Tôn nói rằng sự thành tựu khổ hạnh
như vậy sẽ đưa đến nhiều loại cấu uế?
- Này
Nigrodha, ở đây một vị khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ
tu khổ hạnh này, vị ấy hoan hỷ tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha,
vị khổ hạnh do siêng tu khổ hạnh, phát sanh hoan hỷ, tâm
tư thỏa mãn. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người
khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh, do khổ
hành này, vị này khen mình chê người. Này Nigrodha, vị khổ
hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy khen mình chê
người. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh, do khổ
hạnh này trở thành mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này
Nigrodha, vị tu hành khổ hạnh nào, do khổ hạnh ấy mê say,
nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế
cho người khổ hạnh.
10.
Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do
khổ hạnh này, được thọ lãnh cúng dường, cung kính, danh
vọng. Do được cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành
hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn. Này Nigrodha, vị khổ hạnh tu hành
khổ hạnh nào; do khổ hạnh ấy được thọ lãnh cúng dường,
cung kính, danh vọng, trở thành hoan hỷ, tâm tư thỏa mãn.
Này Nigrodha, như vậy đó là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ
hạnh này, được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được
cúng dường, cung kính, danh vọng, nên khen mình chê người.
Này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh nào, do khổ
hạnh ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được
cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được cúng dường, cung
kính, danh vọng này, nên khen mình chê người. Này Nigrodha,
như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh. Do khổ
hạnh này, được cúng dường, cung kính, danh vọng. Do được
cúng dường, cung kính, danh vọng, trở thành mê say, chấp trước,
phóng dật. Này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh
nào, do khổ hạnh ấy được cúng dường, cung kính, danh vọng.
Do được cúng dường, cung kính, danh vọng này, trở thành
mê say, chấp trước, phóng dật. Này Nigrodha, như vậy là cấu
uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh, phân
biệt các thức ăn: "Món này thích hợp với ta, món này không
thích hợp với ta." Ðối với các thức ăn không thích hợp
thì cố ý từ bỏ. Ðối với các thức ăn thích hợp thì
nắm giữ, tham đắm, chấp trước, không thấy các sự nguy
hiểm, không phân biệt chúng là không giải thoát, thọ hưởng
chúng... Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh tu hành khổ hạnh, nhân
vì mong mỏi được cúng dường cung kính danh vọng, nghĩ rằng:
"Các vua chúa sẽ cung kính ta, cũng vậy các vị đại thần,
các vị Sát đế lỵ, các vị Bà la môn, các vị Gia chủ,
các vị Giáo chủ các giáo phái". Này Nigrodha, như vậy là
cấu uế cho người khổ hạnh.
11.
Lại nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh chống báng một Sa
môn hay Bà la môn khác như sau: "Người này sống ăn uống đủ
mọi thứ. Như hạt giống từ rể sanh, hạt giống từ nhánh
cây sanh, hạt giống từ đốt sanh, hạt giống từ chiết cây
sanh và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh, nhai nghiền
chúng tất cả với tầm sét không bánh xe được gọi là xương
quai hàm và người ta gọi vị ấy là một vị Sa môn. Này
Nigrodha, như vậy, là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa này Nigrodha, người khổ hạnh thấy một Sa môn hay Bà
la môn được các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái,
cúng dường. Thấy vậy vị ấy nghĩ rằng: "Các gia đình cung
kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường người sống ăn uống
đủ mọi thứ. Các gia đình ấy không cung kính, kính trọng,
lễ bái, cúng dường ta, một người tu khổ hạnh. Do vậy
sanh tật đố, ganh ghét đối với các gia đình. Này Nigrodha,
như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh trở thành người ngồi
giữa công chúng. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người
khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh, khi đi giữa các gia đình
(để khất thực) không cho người ta thấy mình: "Như vậy
là khổ hạnh của ta, như vậy là khổ hạnh của ta.". Này
Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh làm bộ có vẻ bí mật.
Khi được hỏi: "Có chấp nhận việc này không?", tuy không
chấp nhận nhưng trả lời: "Có chấp nhận"; tuy chấp nhận,
nhưng trả lời: "Không chấp nhận." Như vậy, vị này cố
tình nói láo. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người
khổ hạnh.
12.
Lại nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết
pháp và dùng một phương pháp đáng được chấp nhận thì
người khổ hạnh không chấp nhận. Này Nigrodha, như vậy là
cấu uế cho người khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh hay tức giận và ôm lòng
oán thù. Này Nigrodha, vì người khổ hạnh hay tức giận và
ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người
khổ hạnh.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh thường hay giả dối lừa
đảo, tật đố và hà tiện, giảo hoạt và ngụy trá, cứng
cỏi và quá mạn, có ác ý và bị ác ý cho phối, có tà kiến
và tư tưởng cực đoan, chấp trước kinh nghiệm tự thân,
cứng đầu và khó giải thoát. Này Nigrodha, vì một người
khổ hạnh chấp trước kinh nghiệm tự thân, cứng đầu và
khó giải thoát. Này Nigrodha, như vậy là cấu uế cho người
khổ hạnh.
Này
Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự thật là như vậy thì những
khổ hạnh có phải là cấu uế hay không cấu uế?
- Bạch
Thế Tôn, những khổ hạnh như vậy thật là cấu uế, không
phải cấu uế. Sự tình này có thể xảy ra, có người khổ
hạnh có đầy đủ tất cả sự cấu uế trên, nói gì đến
câu có cấu uế này hay cấu uế khác.
13.
- Này Nigrodha, ở đây người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh.
Nhờ tu khổ hạnh này, vị ấy không hoan hỷ, tâm tư không
thỏa mãn. Này Nigrodha người khổ hạnh, tu khổ hạnh này,
vì khổ hạnh này, vị ấy không hoan hỷ, tâm tư không thỏa
mãn. Như vậy vị ấy đưựoc thanh tịnh trong trường hợp
này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ
tu khổ hạnh này, vị ấy không khen mình chê người... Như
vậy vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ
tu khổ hạnh này, vị ấy không mê say, không nhiềm trước,
không phóng dật. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong
trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Nhờ
tu khổ hạnh này, vị ấy được cúng đường, cung kính, danh
vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy
không hoan hỷ; tâm tư không thỏa mãn. Này Nigrodha, người
khổ hạnh... Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường
hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Do
khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh
vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy
không khen mình chê người. Này Nigrodha, người khổ hạnh...
Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Do
khổ hạnh này, vị ấy được cúng dường, cung kính, danh
vọng. Dầu được cúng dường, cung kính, danh vọng, vị ấy
không mê say, nhiễm trước, phóng dật. Này Nigrodha, người
khổ hạnh... Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường
hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh, không
phân biệt các thức ăn: "Món này thích hợp với ta, món này
không hợp với ta." Ðối với các thức ăn không thích hợp,
vị ấy không cố ý từ bỏ. Ðối với các thức ăn thích
hợp, vị ấy không nắm giữ, tham đắm, chấp trước, thấy
các sự nguy hiểm, phân biệt chúng là không giải thoát, không
thọ hưởng chúng. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong
trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, người khổ hạnh siêng tu khổ hạnh. Vị
ấy không nghĩ rằng: "Vì mong mỏi được cúng dường, cung
kính, danh vọng, các vua chúa sẽ cung kính ta; cũng vậy các
vị đại thần, các vị Sát đế lỵ, các vị Bà la môn, các
vị Gia chủ, các vị Giáo chủ các giáo phái." Như vậy, vị
ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
14.
Lại nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không chống báng một
vị Sa môn hay Bà la môn khác: "Người này sống ăn đủ mọi
thứ. Như hạt giống từ rễ sanh, hạt giống từ nhành cây
sanh, hạt giống từ đốt sanh, hạt giống từ chiết cây sanh
và thứ năm là hạt giống từ hạt giống sanh, nhai nghiền
chúng tất cả, với tầm sét không bánh xe được gọi là
xương quai hàm. Và người ta gọi vị ấy là vị Sa môn. Như
vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh thấy một Sa môn hay Bà là
môn được các gia đình cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng
dường. Thấy vậy, vị ấy không nghĩ rằng: "Các gia đình
cung kính, kính trọng, lễ bái, cúng dường người sống ăn
uống đủ mọi thứ. Các gia đình ấy không cung kính, kính
trọng, lễ bái, cũng dường ta, một người tu khổ hạnh."
Do vậy vị ấy không sanh tật đố, ganh ghét đối với các
gia đình. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường
hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không trở thành người ngồi
giữa công chúng. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong
trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh, khi đi giữa các gia đình
(để khất thực), không dấu diếm mà để cho người ta thấy
mình: "Như vậy là khổ hạnh của ta, như vậy là khổ hạnh
của ta." Như vậy, vị ấy được thanh tịnh trong trường
hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không làm bộ có vẻ bí mật.
Khi được hỏi: "Có chấp nhận điều này không?" Nếu không
chấp nhận thì trả lời: "Không chấp nhận."; nếu có chấp
nhận thì trả lời: "Có chấp nhận." Như vậy, vị ấy được
thanh tịnh trong trường hợp này.
15.
Lại nữa, này Nigrodha, khi Như Lai hay đệ tử Như Lai thuyết
pháp và dùng một phương pháp đáng được chấp nhận, thì
vị khổ hạnh chấp nhận. Như vậy, vị ấy được thanh tịnh
trong trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không tức giận và không
ôm lòng oán thù. Này Nigrodha, vì người khổ hạnh không tức
giận và không ôm lòng oán thù, như vậy vị ấy được thanh
tịnh trong trường hợp này.
Lại
nữa, này Nigrodha, vị khổ hạnh không giả dối và lừa đảo,
không tật đố và hà tiện, không giảo hoạt và ngụy trá,
không cứng cỏi và quá mạn, khôg có ác ý và bị ác ý chí
phối, không có tà kiến và tư tưởng cực đoan, không chấp
trước kinh nghiệm tự thân, không cứng đầu và khó giải
thoát. Vì người khổ hạnh không chấp trước kinh nghiệm
tự thân và không cứng đầu khó giải thoát, nên vị ấy
được thanh tịnh trong trường hợp này.
Này
Nigrodha,
Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thì các khổ hạnh
ấy là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
- Bạch
Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì các khổ hạnh ấy là
thanh tịnh, không phải phải không thanh tịnh; các khổ hạnh
ấy đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.
- Này
Nigrodha, những khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng,
chưa đạt đến căn bản, chúng chỉ mới đạt đến vỏ bên
ngoài mà thôi.
16.
- Bạch Thế Tôn, như thế nào các khổ hạnh đạt đến tối
thượng và đạt đến căn bản? Bạch Thế Tôn, thật tốt
đẹp thay, nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của chúng
con đạt đến tối thượng, đạt đến căn bản.
- Này
Nigrodha, ở đây, có vị khổ hạnh tu bốn pháp chế ngự.
Và này Nigrodha, thế nào là bốn pháp chế ngự? Này Nigrodha,
vị khổ hạnh không có tự sát sanh, không có bảo người
khác sát sanh, không có tùy hỷ sát sanh; không có lấy của
không cho, không có khiến người khác lấy của không cho, không
có tùy hỷ lấy của không cho, không có nói láo, không có
khiến người khác nói láo, không có tán thán nói láo; không
có tham vọng dục tình, không có khiến người khác có tham
vọng dục tình, không có tán thán tham vọng dục tình. Như
vậy, này Nigrodha người khổ hạnh ấy tu hành bốn pháp chế
ngự. Này Nigrodha, do người khổ hạnh tu hành bốn pháp chế
ngự như vậy, sự khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như
vậy, vị ấy tiến lên, chớ không rơi xuống hạ phẩm.
Vị
ấy lựa một chỗ thanh vắng, tịch mịch, như ngôi rừng,
gốc cây, trên khe núi, trong hang đá, bãi tha ma, lùm cây, ngoài
trời, hay đống rơm. Sau khi ăn xong đi khất thực về, vị
ấy ngồi kiết già, lưng thẳng và an trú chánh niệm trước
mặt. Vị ấy từ bỏ tham ái ở đời, an trú với tâm thoát
ly tham ái, gột sạch tâm hết tham ái. Từ bỏ sân tâm, an
trú với tâm thoát ly sân tâm, khởi lòng thương tưởng mọi
loài chúng sanh, gột sạch tâm hết sân hận. Từ bỏ hôn trầm
thụy miên, an trú với tâm thoát ly hôn trầm thụy miên, tưởng
niệm đến ánh sáng, chánh niệm, tỉnh giác, gột sạch tâm
hết hôn trầm thụy miên. Từ bỏ trạo hối, an trú tâm thoát
ly trạo hối, nội tâm an tịnh, gột sạch tâm hết trạo hối.
Từ bỏ nghi hoặc, an trú với tâm thoát ly nghi ngờ, không
còn nghi hoặc, gột sạch tâm không còn nghi ngờ đối với
các thiện pháp.
17.
Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho các tâm cấu
uế giảm nhẹ, vị ấy an trú, biến mãn một phương với
tâm câu hữu với từ; cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy
phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp
thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng
khắp vô biên giới, vị ấy an trú với tâm câu hữu với
từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy an
trú với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ...
biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả; cũng vậy
phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương
thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang,
hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an
trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại vô biên,
không hận, không sân. Này Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự
kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh
tịnh?
- Bạch
Thế Tôn, sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh,
không phải không thanh tịnh, đạt đến tối thượng và đạt
đến căn bản.
- Này
Nigrodha, các khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng,
chưa đạt đến căn bản, chỉ đạt đến ngoài vỏ thôi.
18.
- Bạch Thế Tôn, những khổ hạnh phải như thế nào mới
đạt đến tối thượng và đạt đến căn bản? Lành thay,
nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của con đạt đến
tối thượng và đạt đến căn bản.
- Này
Nigrodha, ở đây một vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn
pháp chế ngự. Và như thế nào... như vậy, này Nigrodha, vị
khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự. Này Nigrodha,
do vị khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, sự
khổ hạnh của vị ấy là như vậy, vị ấy tiến lên chớ
không rơi xuống hạ phẩm. Vị ấy lựa một chỗ thanh vắng...
Từ bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm cho các tâm cấu
uế giảm thiểu, vị ấy an trú với tâm câu hữu với từ...
quảng đại vô biên, không hận, không sân. Vị ấy dẫn tâm
hướng đến Túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời quá
khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời,
mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời,
năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời,
một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp,
nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ
kia, ta có tên như thế này, giòng họ như thế này, giai cấp
như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến
mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh
tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, giòng
họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như
thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại
chỗ ấy, ta được sanh ra ở đây." Như vậy vị ấy nhớ
đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương
và các chi tiết.
Này
Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Sự kiện là như vậy thì các
khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
- Bạch
Thế Tôn, sự kiện là như vậy, thì các khổ hạnh là thanh
tịnh, không phải không thanh tịnh, và đạt đến tối thượng,
đạt đến căn bản.
- Này
Nigrodha, các khổ hạnh như vậy chưa đạt đến tối thượng,
chưa đạt đến căn bản, chúng chỉ đạt đến phía gỗ xung
quanh lõi mà thôi.
19.
- Bạch Thế Tôn, các khổ hạnh phải như thế nào mới đạt
đến tối thượng và đạt đến căn bản? Bạch Thế Tôn,
lành thay nếu Thế Tôn khiến cho các khổ hạnh của con đạt
được tối thượng và đạt đến căn bản.
- Này
Nigrodha, ở đây vị khổ hạnh sống chế ngự bởi bốn pháp
chế ngự. Và thế nào... Như vậy, này Nigrodha, vị khổ hạnh
sống chế ngự bởi bốn pháp chế ngự, Này Nigrodha, do vị
khổ hạnh tu hành bốn pháp chế ngự như vậy, vị ấy tiến
lên chứ không rơi xuống hạ phẩm. Vị ấy lựa một chỗ
thanh vắng... Tà bỏ năm triền cái ấy, với trí tuệ làm
cho tâm cấu uế giảm thiểu, vị ấy an trú với tâm câu hữu
với từ... Vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với
xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân. Vị ấy dẫn
tâm hướng đến Túc mạng minh, vị ấy nhớ đến các đời
sống quá khứ như một đời, hai đời... Như vậy vị ấy
nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại
cương và các chi tiết. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh,
siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy
biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người
đẹp đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh đều
do hạnh nghiệp của họ. "Này các Hiền giả, những chúng
sanh làm những ác hạnh về thân, ngữ và ý, phê phán các
bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những
người này, sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi
dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn
những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, ngữ
và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo
các nghiệp theo chánh kiến. Những người này, sau khi thân
hoại mạng chung được sanh lên thiện thú, cõi Trời, trên
đời này". Như vậy vị ấy với Thiên nhãn thuần tịnh, siêu
nhân, thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ
rằng chúng sanh, người hạ liệt, kẻ cao sang, người đẹp
đẽ, kẻ thô xấu, người may mắn, kẻ bất hạnh, đều do
hạnh nghiệp của họ.
Này
Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Nếu sự kiện là như vậy, các
khổ hạnh là thanh tịnh hay không thanh tịnh?
- Bạch
Thế Tôn, sự kiện là như vậy, các khổ hạnh là thanh tịnh,
không phải không thanh tịnh, đạt đến tối thượng, đạt
đến căn bản.
- Này
Nigrodha, các khổ hạnh như vậy đạt đến tối thượng và
đạt đến căn bản. Này Nigrodha, như Ngươi hỏi Ta: "Bạch
Thế Tôn, Pháp gì là Pháp của Thế Tôn? Với Pháp nào, Thế
Tôn muốn dạy các đệ tử? Với Pháp nào các đệ tử của
Thế Tôn được huấn dạy, đạt đến tịnh lạc và xác nhận
là căn bản phạm hạnh?" Này Nigrodha, Ta nói rằng thật là
một vấn đề cao thượng hơn và thuần nhất hơn mà Ta huấn
dạy các đệ tử, đạt đến tịnh lạc và xác nhận là căn
bản phạm hạnh.
Khi
được nghe nói vậy, các du sĩ ngoại đạo ấy lớn tiếng
cao giọng ồn ào nói lớn:
- Ở
đây, các Tôn sư của chúng hoàn toàn bất lực. Chúng ta không
biết gì tốt hơn và cao hơn lời dạy của họ.
20.
Khi gia chủ Sandhàna biết được: "Nay các du sĩ ngoại đạo
ấy đã bất đầu nghe, đã bắt đầu để tai, đã bắt đầu
chú tâm vào lời Thế Tôn dạy", liền nói với du sĩ Nigrodha:
- Này
Tôn giả Nigrodha, Tôn giả nói với tôi như sau: "Gia chủ có
biết không? Sa môn Gotama luận đàm với ai. Ðối thoại với
ai? Với ai đạt được tuệ trí? Trí tuệ của Sa môn Gotama
bị hư hoại vì sống với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi
để điều khiển một hội chúng, không đủ sức để đối
thoại, chỉ đề cập đến những vấn đề ngoại biên. Cũng
như con bò một mắt, đi vòng tròn và chỉ đi phía bên ngoài.
Cũng vậy, trí tuệ của Sa môn Gotama bị hư hoại vì sống
với không xứ, Sa môn Gotama không giỏi để điều khiển một
hội chúng, không đủ sức để đối thoại, chỉ đề cập
đến những vấn đề ngoại biên. Này Gia chủ, nếu Sa môn
Gotama đến tại hội chúng này, chỉ có một câu hỏi, chúng
tôi có thể chận đứng ngay; chúng tôi nghĩ chúng tôi có thể
lăn tròn Sa môn Gotama như lăn tròn một cái bình không." Này
Tôn giả, nay Thế Tôn, bậc A la hán, Chánh Ðẳng Giác đã
đến đây. Hãy nêu rõ Thế Tôn không thể điều khiển hội
chúng, hãy chứng tỏ Thế Tôn như con bò một mắt, chỉ biết
đi vòng xung quanh, với một câu hỏi, hãy chận đứng Thế
Tôn lại, và làm cho Thế Tôn lăn tròn, như Tôn giả nghĩ,
như một cái bình không.
Khi
nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha ngồi im lặng, ủ rũ, vai sụp xuống,
gục đầu, ưu tư, câm miệng.
21.
Thế Tôn khi biết được du sĩ Nigrodha im lặng, ủ rũ, vai
sụp xuống, gục đầu, ưu tư, câm miệng như vậy, liền nói
với du sĩ Nigrodha:
- Này
Nigrodha, có phải Ngươi nói như vậy chăng?
- Bạch
Thế Tôn, thật sự con có nói như vậy, thật là ngu ngốc,
si ám và bất thiện.
- Này
Nigrodha, Ngươi nghĩ thế nào? Ngươi có bao giờ nghe các vị
du sĩ niên cao, trưởng thượng, bậc Tổ sư truyền thống
nói như sau: "Các vị A la hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời
quá khứ, các vị Thế Tôn này khi nào hội họp lại, quy tụ
lại, ồn ào, cao giọng, lớn tiếng, chung sống bàn cãi về
những phiếm luận vô ích, như câu chuyện về vua chúa, câu
chuyện về ăn trộm... câu chuyện về hiện hữu và không
hiện hữu, như Ngươi và Sư trưởng của Ngươi hiện nay đang
làm? Hay là những bậc Thế Tôn ấy an trú các nhàn tịnh xứ,
núi rừng tịch mịch, xa vắng, ít tiếng, ít động, có gió
đồng thổi, lánh xa mắt của người đời, thích hợp cho
sự tĩnh tu, như hiện Ta đang sống chăng?
- Bạch
Thế Tôn, con được nghe các vị du sĩ niên cao, trưởng thượng,
bậc Tổ sư truyền thống nói như sau: "Các vị A la hán, Chánh
Ðẳng Giác, trong quá khứ, các vị Thế Tôn này khi nào hội
họp lại, quy tụ lại, thời không ồn ào, cao giọng, lớn
tiếng, chung sống bàn cãi về những phiếm luận vô ích, như
câu chuyện về vua chúa... câu chuyện về hiện hữu và không
hiện hữu", như con và Sư trưởng của con đang làm. Những
bậc Thế Tôn ấy an trú các nhàn tịnh xứ, núi rừng tịch
mịch, xa vắng, ít tiếng, ít động, có gió đồng thổt, lánh
xa mắt của người đời, thích hợp cho sự tịnh tu, như hiện
nay Thế Tôn đang sống.
- Này
Nigrodha, Ngươi là bậc có trí và niên trưởng, có bao giờ
Ngươi suy nghĩ như sau: "Ðức Phật, bậc Giác Ngộ, thuyết
giảng giáo pháp đưa đến giác ngộ; Thế Tôn là vị đã
điều phục, thuyết giảng giáo pháp đưa đến sự điều
phục; Thế Tôn bậc An Chỉ, thuyết giảng giáo pháp đưa đến
An Chỉ; Thế Tôn là bậc đến bờ bên kia, thuyết giảng giáo
pháp đưa đến bờ bên kia; Thế Tôn bậc Tịnh Lạc, thuyết
giảng giáo pháp đưa đến sự tịnh lạc.
22.
Khi nghe nói vậy, du sĩ Nigrodha, bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, con đã phạm tội một cách ngu si, mờ ám, bất thiện,
khi con nói về Thế Tôn như vậy. Bạch Thế Tôn, mong Thế
Tôn chấp thuận cho tội ấy là phạm tội, để con ngăn ngừa
về sau.
- Này
Nigrodha, thật sự Ngươi đã phạm tội một cách ngu sĩ, mờ
ám, bất thiện, khi Ngươi nói về Ta như vậy. Này Nigrodha,
khi Ngươi đã thấy phạm tội là phạm tội và phát lộ đúng
với hành động, Ta chấp nhận tội của Ngươi. Này Nigrodha,
như vậy là thông lệ giới luật của bậc Thánh, là ai thấy
phạm tội là phạm tội và phát lộ đúng với hành động,
thời tương lai sẽ được ngăn ngừa. Này Nigrodha, Ta nói cho
Ngươi như sau: "Người có trí hãy đến đây, trung thực, không
lừa đảo, chân trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp".
Nếu vị ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy
sẽ tự biết mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm
hạnh và mục tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các Thiện
nam tử, từ bỏ gia đình xuất gia tu đạo. Vị ấy cần có
bảy năm. Này Nigrodha, đâu cần phải bảy năm! Nếu vị ấy
thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết
mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại phạm hạnh và mục
tiêu vô thượng mà vì lý tưởng này các Thiện nam tử từ
bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, chỉ cần có sáu năm, năm
năm, bốn năm, ba năm, hai năm, một năm... chỉ cần bảy tháng,
một tháng, nửa tháng. Này Nigrodha, đâu cần có nửa tháng!
Người có trí hãy đến đây, trung thực, không lừa đảo,
chơn trực, Ta sẽ huấn dạy, Ta sẽ thuyết pháp. Nếu vị
ấy thực hành đúng như điều đã dạy, vị ấy sẽ tự biết
mình và chứng ngộ ngay trong hiện tại, phạm hạnh và mục
tiêu vô thượng, mà vì lý tưởng này các thiện nam tử từ
bỏ gia đình, xuất gia tu đạo, vị ấy chỉ cần có bảy
ngày.
23.
Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: "Sa môn Gotama nói vậy
là muốn có đệ tử." Này Nigrodha, Ngươi chớ có hiểu như
vậy. Bổn sư Ngươi là ai, hãy giữ nguyên vị Bổn sư ấy
cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: "Sa môn Gotama
nói vậy là muốn chúng tôi từ bỏ kinh tụng của chúng tôi".
Này Nigrodha, Ngươi chớ có hiểu như vậy. Kinh tụng của Ngươi
là gì, hãy giữ nguyên kinh tụng ấy cho Ngươi. Này Nigrodha,
Ngươi có thể nghĩ rằng: "Sa môn Gotama nói như vậy là muốn
chúng tôi từ bỏ nghề sống của chúng tôi." Này Nigrodha,
chớ có hiểu như vậy. Nghề sống của Ngươi là gì, hãy
giữ nguyên nghề sống ấy cho Ngươi. Này Nigrodha, Ngươi có
thể nghĩ rằng: "Sa môn Gotama nói vậy là muốn xác tín cho
chúng tôi đối với các pháp bất thiện mà truyền thống
Tổ sư chúng tôi đã xem là bất thiện." Này Nigrodha, chớ
có hiểu như vậy. Những pháp thiện gì của Ngươi và được
xem là bất thiện do Tổ sư truyền thống, hãy giữ chúng nguyên
như cũ. Này Nigrodha, Ngươi có thể nghĩ rằng: "Sa môn Gotama
nói vậy là muốn cho chúng tôi từ bỏ những thiện pháp mà
truyền thống Tổ sư chúng tôi đã xem là thiện pháp". Này
Nigrodha, chớ có hiểu như vậy. Những thiện pháp của Ngươi
và được xem là thiện pháp do Tổ sư truyền thống, hãy giữ
chúng nguyên như cũ. Này Nigrodha, Ta nói vậy không phải vì
muốn có đệ tử; Ta nói vậy không phải vì mốn khiến các
Ngươi từ bỏ kinh tụng, Ta nói vậy không phải vì muốn khiến
các Ngươi từ bỏ nghề sống; Ta nói vậy không phải vì muốn
xác tín cho các Ngươi đối với các pháp bất thiện mà truyền
thống Tổ sư đã xem là bất thiện; Ta nói vậy không phải
vì muốn cho các Ngươi từ bỏ những thiện pháp mà truyền
thống Tổ sư đã xem là thiện pháp.
Và
này Nigrodha, có những pháp bất thiện không được từ bỏ,
làm cho cấu uế, đưa đến tái sanh, đem lại đau khổ, đưa
lại quả khổ, đem lại già, bệnh, chết trong tương lai. Những
pháp ấy, Ta thuyết giảng để diệt trừ chúng. Nếu các Ngươi
thực hành đúng theo lời giảng dạy, thời các pháp cấu uế
của ngươi được trừ diệt, các pháp thanh tịnh được tăng
trưởng, và các ngươi sẽ tự chứng biết, chứng ngộ, đạt
đến an trú ngay trong hiện tại, trí tuệ cụ túc, viên mãn.
24.
Khi được nói vậy, các du sĩ ấy đều ngồi im lặng, ủ
rũ, vai sụp xuống, cúi đầu, ưu tư, câm miệng, như tâm của
họ bị Ma vương chi phối.
Lúc
bấy giờ, Thế Tôn tự nghĩ: "Tất cả kẻ ngu si này bị ác
ma xâm nhập, không có một ai có ý nghĩ: "Hãy đến, chúng
ta hãy sống đời sống phạm hạnh dưới sự hướng dẫn
của Sa môn Gotama". Còn nói gì đến thời gian bảy ngày!"
Rồi
Thế Tôn rống tiếng rống con sư tử trong ngôi vườn của
nữ hoàng Udumbarikà dành cho hàng du sĩ, bay trên hư không, và
hạ xuống núi Kỳ xà quật. Còn gia chủ Sandhàna trở vào
thành Vương Xá.
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt