16. Kinh
Ðại Bát-Niết-Bàn
(Mahàparinibbàna
sutta)
Tụng
phẩm I
1.
Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn ở tại Ràjagaha (Vương
Xá), trên núi Gijjhakùta (Linh Thứu). Lúc bấy giờ, Ajàtasattu
Vedehiputta (A-xà-thế, con bà Vi-đề-hi), vua nước Magadha (Ma-kiệt-đà),
muốn chinh phục dân Vajjì (Bạc-kỳ). Vua tự nói: "Ta quyết
chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh;
ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta
sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong".
2.
Rồi Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha, nói với Bà-la-môn
Vassakara (Vũ-xá), đại thần nước Magadha:
- Này
Bà-la-môn, hãy đi đến Thế Tôn, và nhân danh ta, cúi đầu
đảnh lễ chân Ngài, vấn an. Ngài có thiểu bệnh, thiểu não,
khinh an, khỏe mạnh, lạc trú: "Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta,
vua nước Magadha cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn, vấn an
Ngài có thiểu bệnh, thiểu não, khinh an, lạc trú". Và khanh
bạch tiếp: "Bạch Thế Tôn, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước
Magadha muốn chinh phục dân Vajjì, vua tự nói: "Ta quyết chinh
phạt dân Vajjì này, dầu chúng có uy quyền, có hùng mạnh;
ta quyết làm cỏ dân Vajjì; ta sẽ tiêu diệt dân Vajjì; ta
sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại vong". Thế Tôn trả lời khanh
thế nào, hãy ghi nhớ kỹ và nói lại ta biết. Các bậc Thế
Tôn không bao giờ nói lời hư vọng.
- Ðại
vương, xin vâng!
3.
Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha vâng theo lời dạy
của Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cho thắng những
cỗ xe thù thắng, tự mình cỡi lên một chiếc, cùng với
các cỗ xe ấy đi ra khỏi Ràjagaha (Vương Xá), đến tại núi
Linh Thứu, đi xe đến chỗ còn dùng xe được, rồi xuống
xe đi bộ đến chỗ Thế Tôn, khi đến liền nói những lời
chào đón hỏi thăm xã giao với Thế Tôn rồi ngồi xuống
một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Vassakara, đại
thần nước Magadha, bạch Thế Tôn:
- Tôn
giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha cúi đầu
đảnh lễ chân Tôn giả Gotama, vấn an ngài có thiểu bệnh,
thiểu não, khinh an, khỏe mạnh, lạc trú. Tôn giả Gotama, Ajàtasattu
Vedehiputta, vua nước Magadha muốn chinh phục dân xứ Vajjì.
Vua tự nói: "Ta quyết chinh phạt dân Vajjì này, dầu chúng
có uy quyền, có hùng mạnh, ta quyết làm cỏ dân Vajjì, ta
sẽ tiêu diệt dân Vajjì, ta sẽ làm cho dân Vajjì bị hoại
vọng".
4.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Ananda đứng quạt sau lưng Thế Tôn.
Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ
họp đông đảo với nhau không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ
họp đông đảo.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajjì thường hay tụ họp và tụ họp đông
đảo với nhau, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì
tụ họp trong niệm đoàn kết giải tán trong niệm đoàn kết,
và làm việc trong niệm đoàn kết không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết,
giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn
kết.
- Này
Ananda, khi nào nghe dân Vajjì tụ họp trong niệm đoàn kết,
giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc trong niệm đoàn
kết, này Ananda dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị
suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không ban hành
những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ những
luật lệ đã được ban hành, sống đúng với truyền thống
của dân Vajjì như đã ban hành thời xưa không?
- Bạch
Thế Tôn, con nghe dân Vajjì không ban hành những luật lệ không
được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được
ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như
đã ban hành thuở xưa.
- Này
Ananda khi nào dân Vajjì, không ban hành những luật lệ không
được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã được
ban hành, sống đúng với truyền thống của dân Vajjì như
đã ban hành thuở xưa thời, này Ananda, dân Vajjì sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe
dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng dường các
bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của những vị
này không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời
dạy của những vị này.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng
dường các bậc trưởng lão Vajjì và nghe theo lời dạy của
những vị này, thời dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì không có bắt
cóc và cưỡng ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải
sống với mình không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì không có bắt khóc và cưỡng
ép những phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình.
- Này
Ananda, khi nào Vajjì không có bắt cóc và cưỡng ép những
phụ nữ và thiếu nữ Vajjì phải sống với mình thời, này
Ananda, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này Ananda, Ngươi có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ
trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp không?
- Bạch
Thế Tôn, con có nghe dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và
ngoài tỉnh thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ
trước, đã làm từ trước đúng với quy pháp.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajjì tôn sùng, kính trọng, đảnh lễ, cúng
dường các tự miếu của Vajjì ở tỉnh thành và ngoài tỉnh
thành, không bỏ phế các cúng lễ đã cúng từ trước, đã
làm từ trước đúng với quy pháp, thời này Ananda, dân Vajjì
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm. Này Ananda, Ngươi
có nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp các
vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa đến
sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến được
sống an lạc không?
- Bạch
Thế Tôn, con nghe dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng
pháp các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán
chưa đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán đã đến
được sống an lạc.
- Này
Ananda, khi nào dân Vajjì bảo hộ, che chở, ủng hộ đúng pháp
các vị A-la-hán ở tại Vajjì khiến các vị A-la-hán chưa
đến sẽ đến trong xứ, và những vị A-la-hán chưa đến
sẽ đến trong xứ và những vị A-la-hán đã đến được
sống an lạc, thời này Ananda, dân Vajjì sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
5.
Rồi Thế Tôn nói với Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước
Magadha:
- Này
Bà-la-môn, một thời Ta sống ở Vesàli tại tự miếu Sàrandada,
Ta dạy cho dân Vajjì bảy pháp bất thối này. Này Bà-la-môn,
khi nào bảy pháp bất thối được duy trì giữa dân Vajjì,
khi nào dân Vajjì được giảng dạy bảy pháp bất thối này,
thời Bà-la-môn, dân Vajjì sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Khi
được nói vậy, Bà-la-môn Vassakara, đại thần nước Magadha
bạch Thế Tôn:
- Tôn
giả Gotama, nếu dân Vajjì chỉ hội đủ một pháp bất thối
này, thời dân Vajjì nhất định được cường thịnh, không
bị suy giảm, huống nữa là đủ cả bảy pháp bất thối.
Tôn giả Gotama, Ajàtasattu Vedehiputta, vua nước Magadha không
thể đánh bại dân Vajjì ở chiến trận trừ phi dùng ngoại
giao hay kế ly gián. Tôn giả Gotama, nay chúng con phải đi, chúng
con có nhiều việc và có nhiều bổn phận.
- Này
Bà-la-môn, Người hãy làm những gì Người nghĩ là hợp thời.
Bà-la-môn
Vassakara, vị đại thần nước Magadha hoan hỷ, tán thán lời
dạy của Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy và từ biệt.
6.
Khi Bà-la-môn Vassakara đi chưa bao lâu, Thế Tôn nói với Tôn
giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy đi và tập họp tại giảng đường tất cả những
vị Tỷ-kheo sống gần Ràjagaha (Vương Xá).
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng theo lời dạy Thế Tôn, đi tập họp tất cả
những vị Tỷ-kheo sống gần Vương Xá rồi đi đến Thế
Tôn, đảnh lễ Ngài, đứng một bên và bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Tỷ-kheo Tăng đã tu họp. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy
làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
Rồi
Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến giảng đường,
ngồi trên chỗ ngồi đã soạn sẵn và nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối. Hãy nghe và
suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Những
vị Tỷ-kheo ấy trả lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
- Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thường hay tụ họp và
tụ họp đông đảo với nhau, thời này các Tỷ-kheo, chúng
Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ họp trong niệm đoàn
kết, giải tán trong niệm đoàn kết, và làm việc Tăng sự
trong niệm đoàn kết, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật
lệ không được ban hành, không hủy bỏ những luật lệ đã
được ban hành, sống đúng với những học giới được ban
hành, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tôn sùng, kính trọng, đảnh
lễ, cúng dường các bậc Tỷ-kheo thượng tọa những vị
này là những vị giàu kinh nghiệm, niên cao lạp trưởng, bậc
cha của chúng Tăng, bậc thầy của chúng Tăng và nghe theo lời
dạy của những vị này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bị chi phối bởi
tham ái, tham ái này tác thành một đời sống khác, thời này
các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo thích sống những chỗ nhàn
tịnh, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tự thân an trú chánh niệm,
khiến các bạn đồng tu thiện chí chưa đến muốn đến ở,
và các bạn đồng tu thiện chí đã đến ở, được sống
an lạc, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì
giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy
bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
7.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bày pháp bất thối khác, hãy
nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Những
vị Tỷ-kheo đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích làm thế
sự, không hoan hỷ làm thế sự, không đam mê làm thế sự,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích phiếm luận,
không hoan hỷ phiếm luận, không đam mê phiếm luận, thời
này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích ngủ nghỉ,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không ưa thích quần tụ,
không hoan hỷ quần tụ, không đam mê quần tụ, thời này
các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không có ác dục vọng,
không bị chi phối bởi ác dục vọng, thời này các Tỷ-kheo,
chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không bạn bè ác dục vọng,
không thân tín ác dục vọng, không cộng hành với ác dục
vọng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường
thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo không dừng ở nửa chừng,
giữa sự đạt đáo những quả vị thấp kém và những quả
vị thù thắng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được
cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì
giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy
bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
8.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy
nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Những
vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
- Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo có tín tâm, có tàm, có
quý, có nghe nhiều, có tinh tấn, có chánh niệm, có trí tuệ,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì
giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy
bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
9.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy
nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Chư
Tỷ-kheo đáp ứng. Thế Tôn nói:
- Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập niệm giác chi,
tụ tập trạch pháp giác chi, tu tập tinh tấn giác chi, tu tập
khinh an giác chi, tu tập định giác chi, tu tập xả giác chi,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh,
không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì
giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy
bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
10.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bảy pháp bất thối khác, hãy
nghe và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ nói.
- Xin
vâng bạch Thế Tôn!
Những
vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
- Này
các Tỷ-kheo, khi nào chúng Tỷ-kheo tụ tập vô thường tưởng,
tu tập vô ngã tưởng, tu tập bất tịnh tưởng, tu tập nguy
hiểm tưởng, tu tập xả ly tưởng, tu tập vô tham tưởng,
tu tập diệt tưởng, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào bảy pháp bất thối này được duy trì
giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy
bảy pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
11.
Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng sáu pháp bất thối, hãy nghe
và suy nghiệm kỹ. Ta sẽ giảng.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Những
vị Tỷ-kheo ấy đáp ứng Thế Tôn. Thế Tôn nói:
- Này
các, Tỷ-kheo khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng
tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn
giữ thân nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng
tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người gìn
giữ khẩu nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo đối với các vị đồng
tu phạm hạnh, tại chỗ đông người và vắng người, gìn
giữ ý nghiệp từ hòa, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo phân phối không thiên
vị, chung thọ hưởng với các bạn giới đức đồng tu, mọi
lợi dưỡng chơn chánh, hợp pháp, cho đến những vật thọ
lãnh trong bình bát khất thực, thời này các Tỷ-kheo, chúng
Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng
tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì
những giới luật đúng với Sa-môn hạnh, những giới luật
không bị gẫy vụn, không bị sứt mẻ, không bị tỳ vết,
không bị uế trược, những giới luật đưa đến giải thoát,
được người có trí tán thán, không bị ô nhiễm bởi mục
đích sai lạc, những giới luật hướng đến định tâm, thời
này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không
bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo sống với các bạn đồng
tu, tại chỗ đông người và vắng người, trong sự thọ trì
những tri kiến đúng với Sa-môn hạnh, những thánh tri kiến
đưa đến giải thoát, hướng đến sự diệt tận khổ đau
cho những ai thực hành theo, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
Này
các Tỷ-kheo, khi nào sáu pháp bất thối này được duy trì
giữa các vị Tỷ-kheo, khi nào các vị Tỷ-kheo được dạy
sáu pháp bất thối này, thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo
sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
12.
Trong thời gian Thế Tôn ở Vương Xá tại núi Linh Thứu, pháp
thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo: "Ðây là Giới,
đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với Giới sẽ
đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng tu với Ðịnh
sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tâm cùng tu với
Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các món lậu hoặc
tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu), vô minh lậu".
13.
Thế Tôn ở Vương Xá cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi
Ngài gọi tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Ambalatthikà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Ambalatthikà.
14.
Tại Ambalatthikà, Thế Tôn thân trú tại nhà nghỉ mát của
vua. Trong thời gian Thế Tôn ở Ambalatthikà, tại nhà nghỉ
mát của vua, pháp thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
15.
Thế Tôn ở Ambalatthikà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ,
rồi Ngài bảo tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Nalandà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Nalandà. Tại đây, Thế Tôn ở Pavarikambavana
(Ba-ba-lợi Âm-bà-lâm).
16.
Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn,
đảnh lễ Ngài và xuống một bên. Tôn giả Sàriputta bạch
Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng,
ở
quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có
một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng
suốt hơn Thế Tôn về phương diện chánh giác.
- Này
Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là
gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử: "Con
tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ,
ở tương lai cũng như ở hiện tại không thể có một Sa-môn,
một Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế
Tôn về phương diện chánh giác". Này Sàriputta, có phải Ngươi
đã biết tất cả những Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri
ở quá khứ, Ngươi đã biết tâm những Vị này nói với tâm
của Ngươi: "Những Thế Tôn này ở quá khứ có giới đức
như vậy, có thiền định như vậy, có trí tuệ như vậy,
có hạnh trú như vậy, có giải thoát như vậy"?
- Bạch
Thế Tôn, không!
- Này
Sàriputta, có phải Ngươi đã biết tất cả những Thế Tôn,
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở tương lai, Ngươi đã biết tâm
những vị này với tâm của Ngươi: "Những Thế Tôn này ở
tương lai có giới đức như vậy, có thiền định như vậy,
có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có giải thoát
như vậy"?
- Bạch
Thế Tôn, không!
- Này
Sàriputta, có phải Ngươi biết Ta là bậc Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri ở hiện tại, Ngươi đã biết tâm Ta với tâm của
Ngươi. "Thế Tôn có giới đức như vậy, có thiền định
như vậy, có trí tuệ như vậy, có hạnh trú như vậy, có
giải thoát như vậy"?
- Bạch
Thế Tôn, không!
- Này
Sàriputta, như vậy Ngươi không có tha tâm thông đối với
các vị Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và
hiện tại. Như vậy, này Sàriputta, vì sao Ngươi lại thốt
ra những lời đại ngôn, lời nói gan dạ, rống lên tiếng
rống con sư tử: "Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến
nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở
hiện tại không thể có một Sa-môn, một Bà-la-môn nào có
thể vĩ đại hơn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện
chánh giác"?
17.
- Bạch Thế Tôn, con không có tha tâm thông đối với các vị
Ứng Cúng, Chánh Biến Tri ở quá khứ, tương lai và hiện tại.
Nhưng con biết truyền thống về chánh pháp. Bạch Thế Tôn,
như vị vua có một thành trì tại Biên cảnh, thành này có
hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ
có một cửa ra vào. Tại đây có một người gác cửa thông
minh, biệt tài và nhiều kinh nghiệm, không cho vào các người
lạ mặt, chỉ cho vào những người quen mặt. Người này trong
khi đi tuần trên con đường chạy vòng quanh thành trì ấy
có thể không thấy các chỗ nối hay khe hở của tường, cho
đến chỗ một con mèo có thể lọt ra được, nhưng người
ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn vào hay ra thành
trì này tất cả đều đi vào hay đi ra bởi cửa này. Bạch
Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về chánh pháp.
Bạch Thế Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác
trong quá khứ, tất cả vị Thế Tôn này đã diệt trừ Năm
Triền cái, những nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã
an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác
chi, đã chứng được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế
Tôn, tất cả các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong tương
lai, tất cả Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những
nhiễm tâm khiến cho trí tuệ yếu ớt, đã an trú tâm vào
Bốn Niệm xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng
được Vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, Thế Tôn
hiện tại đã diệt trừ Năm Triền Cái, những nhiễm tâm
khiến cho trí tuệ yết ớt, đã an trú tâm vào Bốn Niệm
xứ, đã chân chánh tu tập Bảy Giác chi, đã chứng được
Vô thượng Chánh Ðẳng Giác.
18.
Trong thời gian Thế Tôn ở tại Nalandà, rừng Pavarikamba, pháp
thoại này được giảng cho chúng Tỷ-kheo.
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
19.
Thế Tôn ở Nalandà cho đến khi Ngài xem là vừa đủ, rồi
gọi tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Pàtaligàma.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Pàtaligàma.
20.
Lúc bấy giờ, các cư sĩ ở Pàtaligàma được nghe Thế Tôn
đã đến làng Pàtaligàma. Các cư sĩ ở Pàtaligàma đi đến
Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi
xuống một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma bạch Thế Tôn: "Bạch
Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy đến ở tại nhà nghỉ mát của
chúng con". Thế Tôn im lặng nhận lời.
21.
Các cư sĩ ở Pàtaligàma được biết Thế Tôn đã nhận lời,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu
hướng về Ngài và từ biệt. Các cư sĩ này đi đến nghỉ
mát, rải cát khắp tất cả sàn nhà, sắp đặt chỗ ngồi,
đặt ghè nước, chuẩn bị dầu đèn rồi đi đến Thế Tôn,
đảnh lễ Ngài và đứng một bên, các cư sĩ ở Pàtaligàma
bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, tất cả nhà nghỉ mát đã được rãi cát, các chỗ
ngồi đã được sắp đặt, ghè nước đã đặt sẵn, dầu
đèn đã được chuẩn bị. Bạch Thế Tôn, Ngài hãy làm những
gì Ngài nghĩ là phải thời.
22.
Rồi Thế Tôn đắp y, cầm y bát, cùng với đại chúng Tỷ-kheo
đi đến nhà nghỉ mát, sau khi đến liền rửa chân bước
vào nhà, ngồi xuống, lưng dựa và bức tường ở giữa, mặt
hướng về phía Ðông. Chúng Tỷ-kheo sau khi rửa chân, bước
vào nhà ngồi xuống, lưng dựa vào bức tường phía Ðông,
hướng mặt phía Tây, đối diện Thế Tôn.
23.
Thế Tôn nói với các cư sĩ ở Pataligama:
- Này
các Gia chủ, có năm sự nguy hiểm cho những ai phạm giới,
sống trái giới luật. Thế nào là năm?
Ở
đây, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới
luật sẽ bị tiêu hao tiền của rất nhiều vì sống phóng
dật. Ðó là điều nguy hiểm thứ nhất cho những ai phạm
giới, sống trái giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới
luật bị tiếng dữ đồn xa. Ðó là điều nguy hiểm thứ
hai cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới
luật khi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn,
hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần
sợ hãi, bối rối. Ðó là điều nguy hiểm thứ ba cho những
ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới
luật sẽ chết với tâm hồn rối loạn. Ðó là điều nguy
hiểm thứ tư cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người phạm giới, sống trái giới
luật sau khi thân hoại mạng chung, sẽ bị sanh vào khổ cảnh,
ác thú, đọa xứ, địa ngục. Ðó là điều nguy hiểm thứ
năm cho những ai phạm giới, sống trái giới luật.
Này
các gia chủ, đó là năm điều nguy hiểm cho những ai phạm
giới, sống trái giới luật.
24.
Này các Gia chủ có năm sự lợi ích cho những ai giữ giới,
sống theo giới luật. Thế nào là năm?
Ở
đây, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật
sẽ có tiền của dồi dào rất nhiều vì sống không phóng
dật. Ðó là sự lợi ích thứ nhất cho những ai giữ giới,
sống theo giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật
được tiếng tốt đồn xa. Ðó là sự lợi ích thứ hai cho
những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật
khi đi vào hội chúng nào, hoặc Sát Ðế Lỵ, hoặc Bà-la-môn,
hoặc gia chủ, hoặc Sa-môn, người ấy đi vào với tâm thần
không sợ hãi, không bối rối. Ðó là sự lợi ích thứ ba
cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật
sẽ chết với tâm hồn không rối loạn. Ðó là sự lợi ích
thứ tư cho những ai giữ giới, sống theo giới luật.
Lại
nữa, này các Gia chủ, người giữ giới, sống theo giới luật
sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh vào thiện thú,
thiên giới. Ðó là sự lợi ích thứ năm cho những ai giữ
giới, sống theo giới luật.
25.
Thế Tôn giảng pháp cho những cư sĩ ở Pàtaligàma cho đến
khuya, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi
bảo các cư sĩ ấy:
- Này
các Gia chủ, đêm đã khuya, nay các Ngươi hãy làm những gì
các Ngươi nghĩ là phải thời.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Các
người cư sĩ của Pàtaligàma vâng lời Thế Tôn, từ chỗ
ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng
về Ngài từ tạ ra về. Thế Tôn, sau khi các cư sĩ ở Pàtaligàma
đi không bao lâu, liền trở vào phòng riêng.
26.
Lúc bấy giờ Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha
đang dựng thành trì để ngăn chặn dân Vajjì. Một số rất
lớn các thiên thần tụ họp hàng ngàn tại các trú địa
ở Pàtaligàma. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ
họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần có
đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Tại
chỗ nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị này khiến
tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự
xây dựng các trú xá. Tại chỗ nào các thiên thần bậc hạ
đẳng tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại
thần bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá.
27.
Thế Tôn với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu nhân thấy hàng ngàn
các thiên thần tụ họp tại các trú địa ở Pàtaligàma,
Thế Tôn thức dậy khi đêm chưa tàn và nói với tôn giả
Ananda:
- Này
Ananda, ai đang xây dựng thành trì ở Pataligama?
- Sunidha
và Vassakara, bạch Thế Tôn, hai vị đại thần xứ Magadha,
đang xây dựng thành trì ở Pataligama để ngăn chận dân Vajjì.
28.
Này Ananda, thật giống như đã hỏi ý kiến các vị thiên
thần ở cõi trời Ba mươi ba, các đại thần ở Magadha, Sunidha
và Vassakara đang xây thành trì ở Pataligama để ngăn chận
dân Vajjì. Này Ananda ở đây với thiên nhãn, thanh tịnh, siêu
nhân Ta thấy hàng ngàn thiên thần tụ họp tại các trú địa
ở Pataligama. Chỗ nào có thiên thần có đại oai lực tụ
họp, các vị ấy khiến tâm các vua chúa, các đại thần có
đại oai lực, hướng đến sự xây dựng các trú xá. Chỗ
nào các thiên thần bậc trung tụ họp, các vị ấy khiến
tâm các vua chúa, các đại thần bậc trung hướng đến sự
xây dựng các trú xá. Chỗ nào các thiên thần bậc hạ đẳng
tụ họp, các vị này khiến tâm các vua chúa, các đại thần
bậc hạ đẳng hướng đến sự xây dựng các trú xá. Này
Ananda, chỗ nào các vị Ariyans an trú, chỗ nào các nhà thương
mãi qua lại, chỗ ấy sẽ thiết lập một thành thị bậc
nhất tên gọi là Pàtaliputta, một trung tâm thương mãi. Nhưng
này Ananda, Pàtaliputta sẽ bị ba hiểm nạn về lửa, về nước
hay chia rẽ bất hòa.
29.
Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần nước Magadha, đến tại
chỗ Thế Tôn ở, khi đến xong liền nói những lời chào đón
hỏi thăm xã giao rồi đứng một bên. Sau khi đứng một bên,
vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara bạch Thế Tôn:
"Mong Thế Tôn nhận lời mời dùng cơm tại nhà chúng con hôm
nay cùng với đại chúng Tỷ-kheo". Thế Tôn im lặng nhận lời.
30.
Hai vị đại thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara sau khi biết
Thế Tôn đã nhận lời liền đi về nhà ở, cho soạn tại
nhà của mình các món ăn thượng vị, loại cứng và loại
mềm, rồi cử người đến tin Thế Tôn: "Tôn giả Gotama, giờ
đã đến, cơm đã sẵn sàng".
Rồi
Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát cùng với đại chúng
Tỷ-kheo đi đến trú sở của hai vị đại thần xứ Magadha,
Sunidha và Vassakara, sau khi đi đến liền ngồi trên chỗ đã
soạn sẵn. Rồi hai vị thần xứ Magadha, Sunidha và Vassakara
tự tay mời chúng Tỷ-kheo với Thế Tôn là thượng thủ, các
món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm. Sau khi Thế
Tôn dùng cơm xong và cất tay khỏi bình bát, Sunidha và Vassakara,
hai vị đại thần xứ Magadha liền lấy chiếc ghế thấp khác
và ngồi xuống một bên.
31.
Sau khi Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần thứ Magadha đã
ngồi xuống một bên, Thế Tôn đọc bài kệ cảm tạ:
Tại
chỗ nào người sáng suốt lấy làm chỗ trú xứ.
Hãy
nuôi dưỡng người giữ giới và người phạm hạnh.
Và
san sẽ công đức với Chư Thiên trú tại chỗ ấy.
Ðược
tôn kính, chúng sẽ tôn kính lại.
Ðược
trọng vọng, chúng sẽ trọng vọng lại.
Chúng
sẽ mến thương người ấy như người mẹ thương mến con.
Và
những ai được thiên thần thân mến luôn luôn được thấy
may mắn.
Sau khi
Thế Tôn tán thán Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ
Magadha với bài kệ này, Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy và
ra về.
32.
Sunidha và Vassakara, hai vị đại thần xứ Magadha đi sau lưng
Thế Tôn và nói:
- "Hôm
nay Sa-môn Gotama đi ra cửa nào cửa ấy sẽ được đặt tên
là Gotama; Sa-môn Gotama lội qua sông từ bến nào, bến ấy
sẽ được đặt tên là Gotama. Và cửa Sa-môn Gotama đi ra được
đặt tên là cửa Gotama".
33.
Rồi Thế Tôn đi đến sông Gangà (sông Hằng). Lúc bây giờ,
sông Gangà tràn ngập nước đến bờ đến nỗi con quạ có
thể uống được. Có người đang đi tìm thuyền, có người
đang đi tìm phao, có người cột bè để qua bờ bên kia. Thế
Tôn mau lẹ như người lực sĩ duỗi cánh tay được co lại
hay co cánh tay đã duỗi ra, biến mất từ bờ bên này và hiện
ra trên bờ bên kia với chúng Tỷ-kheo.
34.
Thế Tôn thấy những người kia, người đang đi tìm thuyền,
người đang đi tìm phao, người đang đi cột bè để qua bờ
bên kia. Thế Tôn hiểu được ý nghĩa của cảnh này, lúc
ấy bèn ứng khẩu lời cảm khái:
"Những
ai làm cầu vượt biển trùng dương, bỏ lại đất sũng đầm
ao, trong khi người phàm phu đang cột bè.
Những
người ấy thật là những vị trí tuệ được giải thoát"
Tụng
phẩm II
1.
Rồi Thế Tôn gọi tôn giả Ananda: "Này Ananda, chúng ta hãy
đi đến Kotigàma"
- "Xin
vâng, bạch Thế Tôn". Tôn giả Ananda đáp ứng Thế Tôn. Rồi
Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến Kotigàma. Tại
đây, Thế Tôn ở tại Kotigàma.
2.
Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Bốn
Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi. Bốn Thánh đế ấy là gì?
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ
Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu năm,
Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ
Tập Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu
năm, Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ
Diệt Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi lâu
năm, Ta và các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không thông hiểu Khổ
Diệt Ðạo Thánh đế mà chúng ta phải lưu chuyển luân hồi
lâu năm,
Ta
và các Ngươi. Này các Tỷ-kheo khi Khổ Thánh đế này được
giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Tập Thánh đế này
được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Thánh đế
này được giác ngộ, được thông hiểu; khi Khổ Diệt Ðạo
Thánh đế này được giác ngộ, được thông hiểu, thời
hữu ái được diệt trừ, sự dắt dẫn đến một đời sống
được đoạn tuyệt, nay không còn hậu hữu nữa.
3.
Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ lại nói thêm:
- Chính
vì không thấy như thật Bốn Thánh đế nên có sự luân chuyển
lâu ngày trong nhiều đời. Khi những sự thực này được
nhận thức, nguyên nhân của một đời sống khác được trừ
diệt, khi khổ căn được đoạn trừ, sẽ không còn một đời
sống khác nữa.
4.
Trong thời gian Thế Tôn ở Kotigama, pháp thoại này được
giảng cho chúng Tỷ-kheo:
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
5.
Thế Tôn, sau khi ở Kotigama cho đến khi Ngài xem là vừa đủ,
liền bảo tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Nadika.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến. Nadika, tại ngôi nhà gạch (Ginjakàvasatha).
6.
Rồi Tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và
ngồi xuống một bên. Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Tỷ-kheo Salada mệnh chung tại Nadika đã được sanh
ở cõi nào, hậu thế trạng thái như thế nào? Tỷ-kheo ni
Nandà mệnh chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu
thế trạng thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Sudatta
mệnh chung tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, nữ cư sĩ Sujàtà mệnh
chung tại Nàdika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kakudha mệnh chung
tại Nàdika đã được sanh cõi nào, hậu thế trạng thái như
thế nào? Bạch Thế Tôn, cư sĩ Kàlinga... Bạch Thế Tôn, cư
sĩ Nikata... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Katissabha... Bạch Thế Tôn,
cư sĩ Tuttha... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Santuttha..., Bạch Thế
Tôn cư sĩ Bhadda... Bạch Thế Tôn, cư sĩ Subhadda đã mệnh
chung tại Nadika đã được sanh ở cõi nào, hậu thế trạng
thái như thế nào?
7.
Này Ananda, Tỷ-kheo Sàtha diệt tận các lậu hoặc, tự mình
với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú ngay hiện
tại vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Này Ananda, Tỷ-kheo
ni Nandà đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, hóa sanh (thiên
giới) và từ đó nhập Niết Bàn không còn trở lại đời
này nữa. Này Ananda, cư sĩ Sudatta, diệt trừ ba kiết sử làm
giảm thiểu tham, sân, si, chứng quả Nhứt lai sau khi trở lại
đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau. Này Ananda
nữ cư sĩ Sujata diệt trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu,
nhứt định không còn đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh
giác. Này Ananda cư sĩ Kakudha đoạn trừ năm hạ phần kiết
sử, hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết Bàn không
còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, cư sĩ Kalinga... Này
Ananda cư sĩ Nikata... Này Ananda, cư sĩ Katissabha... Này Ananda,
cư sĩ Tuttha... Này Ananda, cư sĩ Santuttha... Này Ananda, cư sĩ
Bhadada... Này Ananda, cư sĩ Subhadda đoạn trừ năm hạ phần
kiết sử, được hóa sanh (thiên giới), và từ đó nhập Niết
Bàn không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn năm
mươi cư sĩ mệnh chung tại Nàdita, đoạn trừ năm hạ phần
kiết sử, hóa sanh (thiên giới) và từ đó nhập Niết Bàn
không còn trở lại đời này nữa. Này Ananda, hơn chín mươi
chín nam nữ cư sĩ mệnh chung tại Nàdika, diệt trừ ba kiết
sử, làm giảm thiểu tham, sân si, chứng quả Nhứt lai, sau
khi trở lại đời này một lần nữa sẽ diệt tận khổ đau.
Này Ananda, hơn năm trăm cư sĩ, mệnh chung tại Nadika, diệt
trừ ba kiết sử, chứng quả Dự lưu, nhứt định không còn
đọa vào ác đạo, đạt đến Chánh giác.
8.
Này Ananda, thật không có gì lạ, vấn đề con người phải
mệnh chung. Nhưng mỗi lần có người mệnh chung lại đến
hỏi Như Lai về vấn đề này thời Ananda, như vậy làm phiền
nhiễu Như Lai. Này Ananda, vì vậy ta sẽ giảng Pháp kính (Gương
chánh pháp) để Thánh đệ tử, sau khi chứng đạt pháp nghĩa
này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình như sau: "Ðối
với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái sanh cõi
bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng quả Dự
lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt Chánh giác".
9.
Này Ananda, Pháp kính ấy là gì mà Thánh đệ tử, sau khi chứng
đạt pháp nghĩa này, nếu muốn, sẽ tự tuyên bố về mình
như sau: "Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không
còn tái sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta
đã chứng quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo,
sẽ đạt Chánh giác". Này Ananda, vị Thánh đệ tử có chánh
tín đối với đức Phật: "Thế Tôn là bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác, Minh hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô
Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế
Tôn". Vị ấy có chánh tín đối với chánh pháp: "Chánh pháp
được Thế Tôn khéo giảng dạy, thiết thực, vượt ngoài
thời gian chi phối, đến để mà thấy, có khả năng giải
thoát, được kẻ trí tự mình thâm hiểu". Vị ấy có chánh
tín đối với chúng Tăng: "Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân
chánh tu hành, chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trực tu hành,
chúng Tăng đệ tử Thế Tôn chân trí tu hành, chúng Tăng đệ
tử Thế Tôn chân tịnh tu hành, tức là bốn đôi tám vị.
Chúng Tăng đệ tử Thế Tôn đáng được nghênh đón, đáng
được cúng dường, đáng được chiêm ngưỡng, đáng được
chấp tay, là phước điền vô thượng ở trên đời, cụ túc
giới hạnh, được bậc Thánh mến chuộng, được viên mãn
không mảy mún, được vẹn toàn không sứt mẻ, không tỳ
vết, không ô nhiễm, những giới hạnh đưa đến giải thoát,
được người trí tán thán, không bị ảnh hưởng bởi đời
sau, hướng dẫn đến thiền định".
Này
Ananda, chính Pháp kính này mà Thánh đệ tử sau khi chứng đạt
pháp nghĩa này, nếu muốn sẽ tự tuyên bố về mình như sau:
"Ðối với ta, sẽ không còn địa ngục, sẽ không còn tái
sanh cõi bàng sanh, ngạ quỷ, đọa xứ, ác thú. Ta đã chứng
quả Dự lưu, nhứt định không đọa ác đạo, sẽ đạt chánh
giác".
10.
Khi Thế Tôn ở Nàdika, pháp thoại này được giảng cho chúng
Tỷ-kheo:
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
11.
Rồi Thế Tôn, sau khi ở Nàdika cho đến khi Ngài xem là vừa
đủ, liền bảo tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Vesàli.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Vasali. Ở đây, Thế Tôn trú tại vườn
Ambapàli.
12.
Thế Tôn bảo các vị Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, các Ngươi phải sống an trú chánh niệm, tỉnh
giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
Này
các Tỷ-kheo, thế nào là Tỷ-kheo an trú chánh niệm? Này các
Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đối với thân, quán thân, tinh tấn, tỉnh
giác, chánh niệm nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi ở trên đời,
đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các
pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục
mọi tham ái, ưu bi ở trên đời. Này các Tỷ-kheo, như vậy
gọi là chánh niệm.
13.
Này các Tỷ-kheo thế nào là Tỷ-kheo tỉnh giác? Này các Tỷ-kheo,
ở đây Tỷ Kheo tỉnh giác khi đi tới, đi lui, tỉnh giác khi
ngó tới, ngó lui; tỉnh giác khi co tay, duỗi tay, tỉnh giác
khi mang áo sanghati (tăng-già-lê) mang bát, mang y, tỉnh giác
khi ăn, khi uống, khi nhai, khi nếm, tỉnh giác khi đại tiện,
tiểu tiện; tỉnh giác khi đi; khi đứng, khi ngồi, khi nằm,
khi thức, khi nói, khi im lặng. Này các Tỷ-kheo, như vậy Tỷ-kheo
sống tỉnh giác. Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo phải sống an trú
chánh niệm tỉnh giác. Ðó là lời dạy của Ta cho các Ngươi.
14.
Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli được nghe: "Thế Tôn đã đến
Vesàli và ở tại vườn xoài của ta". Dâm nữ Ambapàli liền
cho thắng các cỗ xe thù thắng, tự leo lên một chiếc, cùng
với các cổ xe thù thắng xuất phát ra khỏi Vesàli và đi
đến vườn xoài. Nàng cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi
xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi
đến liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên, Thế Tôn
thuyết pháp cho dâm nữ Ambapàli đang ngồi một bên, giảng
dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Dâm
nữ Ambapàli sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ,
làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của
chúng con với chúng Tỷ-kheo.
Thế
Tôn im lặng nhận lời. Dâm nữ Ambapali được biết Thế Tôn
đã nhận lời, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài,
thân bên phải hướng về đức Phật và từ biệt.
15.
Các người Licchavi ở Vesàli được nghe: "Thế Tôn đến Vesàli
hiện ở vườn Ambapàli", liền cho thắng các cỗ xe thù thắng
leo lên xe rồi xuất phát ra khỏi Vesàli với những cỗ xe
ấy. Có những vị Licchavi toàn xanh, màu sắc xanh, mặc vải
màu xanh, mang đồ trang sức màu xanh. Có những vị Licchavi
toàn vàng, màu sắc vàng, mặc vải màu vàng, mang đồ trang
sức màu vàng. Có những vị Licchavi toàn đỏ, màu sắc đỏ,
mặc vải màu đỏ, mang đồ trang sức màu đỏ. Có những
vị Licchavi toàn trắng, màu sắc trắng, mặc vải màu trắng,
mang đồ trang sức màu trắng.
16.
Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapàli đánh xe va chạm với các thanh
niên Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với
bánh xe, gọng xe chạm với gọng xe. Các Licchavi nói với dâm
nữ Ambapàli:
- Này
Ambapàli, tại sao nàng lại đánh xe va chạm với các thanh niên
Licchavi, trục xe chạm với trục xe, bánh xe chạm với bánh
xe, gọng xe chạm với gọng xe?
- Này
quý Công tử của tôi, tôi vừa mới mời Thế Tôn cùng chúng
Tỷ-kheo ngày mai đến dùng cơm.
- Này
Ambapàli, hãy nhường cho chúng ta bữa cơm ấy đổi lấy một
trăm ngàn.
- Dầu
quý Công tử có cho tôi cả thành Vesàli cùng với các đất
phụ thuộc, tôi cũng không nhường bữa cơm quan trọng này.
Các
vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói:
- Chúng
ta bị cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu
nữ xoài này phổng tay trên. Và các vị Licchavi này cùng đi
đến vườn Ambapàli.
17.
Thế Tôn từ xa thấy các vị Licchavi liền nói với các Tỷ-kheo:
"Này các Tỷ-kheo nếu có vị Tỷ-kheo nào chưa thấy các chư
Thiên ở cõi Tam thập tam thiên, hãy ngó chúng Licchavi, hãy
nhìn chúng Licchavi. Này các Tỷ-kheo chúng Licchavi cũng giống
như chúng Tam thập tam thiên".
18.
Các vị Licchavi ấy cỡi xe cho đến chỗ còn có thể cỡi
xe được, rồi xuống xe đi bộ đến tại chỗ Thế Tôn, khi
đến, liền đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Thế
Tôn thuyết pháp cho những vị Licchavi đang ngồi một bên,
giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ.
Các
vị Licchavi sau khi được Thế Tôn giảng dạy, khích lệ, làm
cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ liền bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, mong Thế Tôn ngày mai nhận lời mời dùng cơm của
chúng con với chúng Tỷ-kheo.
- Này
các Licchavi, ngày mai Ta đã nhận lời mời dùng cơm của dâm
nữ Ambapàli rồi.
Các
vị Licchavi này tức tối búng ngón tay và nói: "Chúng ta bị
cô thiếu nữ xoài này đả thắng! Chúng ta bị cô thiếu nữ
xoài này phổng tay trên... "
Rồi
những vị Licchavi này, hoan hỷ tán thán lời dạy Thế Tôn,
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân bên hữu hướng
về đức Phật và từ biệt.
19.
Lúc bấy giờ dâm nữ Ambapali, đêm vừa tàn canh, liền cho
sửa soạn tại vườn của mình các món ăn thượng vị loại
cứng và loại mềm và cho báo tin Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn,
giờ đã đến, cơm đã sẵn sàng". Thế Tôn buổi sáng đắp
y, đem theo y bát, cùng với chúng Tỷ-kheo đến tại túc xá
của dâm nữ Ambapàli, sau khi đến liền ngồi xuống chỗ đã
soạn sẵn. Rồi dâm nữ Ambapàli tự tay thân hành mời chúng
Tỷ-kheo với đức Phật là vi thượng thủ, dùng các món ăn
thượng vị loại cứng và loại mềm.
Khi
Thế Tôn dùng xong, tay đã rời bát, dâm nữ Ambapàli lấy một
ghế thấp khác và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống
một bên, dâm nữ Ambapàli bạch Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn,
con xin cúng dường ngôi vườn này cho chúng Tỷ-kheo với đức
Phật là vị thượng thủ".
Thế
Tôn nhận lãnh khu vườn. Thế Tôn thuyết pháp cho dâm nữ
Ambapàli, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ,
rồi đứng dậy ra về.
20.
Trong thời gian Thế Tôn ở Vesàli, pháp thoại này được giảng
cho chúng Tỷ-kheo:
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ. Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
21.
Rồi Thế Tôn, sau khi ở Vesàli cho đến khi Ngài xem là vừa
đủ, liền bảo tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Baluvà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến làng Baluvà. Và Thế Tôn trú tại làng
này.
22.
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ Kheo hãy an cư trong mùa mưa xung quanh Vesàli tại chỗ
có bạn bè quen thuộc và thân tín. Còn Ta sẽ an cư ở đây,
tại làng Baluvà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Những
Tỷ Kheo này vâng đáp Thế Tôn và tìm chỗ an cư mùa mưa xung
quanh Vesàli tại chỗ có bạn bè quyến thuộc và thân tín.
Còn Thế Tôn an cư tại làng Baluvà.
23.
Trong khi Thế Tôn an cư trong mùa mưa, một cơn bệnh trầm trọng
khởi lên, rất đau đớn, gần như muốn chết. Nhưng Thế
Tôn giữ tâm chánh niệm, tỉnh giác, chịu đựng cơn đau ấy,
không một chút ta thán. Thế Tôn tự nghĩ: "Thật không hợp
lẽ nếu Ta diệt độ mà không có một lời với các đệ
tử hầu cận Ta, không từ biệt chúng Tỷ-kheo. Vậy Ta hãy
lấy sức tinh tấn, nhiếp phục cơn bệnh này, duy trì mạng
căn và tiếp tục sống". Và Thế Tôn với sức tinh tấn, nhiếp
phục bệnh ấy duy trì mạng căn.
24.
Rồi Thế Tôn lành bệnh. Sau khi lành bệnh không bao lâu, đức
Phật rời khỏi tịnh xá và ngồi trên ghế đã soạn sẵn,
trong bóng mát của ngôi tịnh xá. Lúc bấy giờ tôn giả Ananda
đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một
bên. Sau khi ngồi xuống một bên, tôn giả Ananda bạch Thế
Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, con được thấy Thế Tôn khỏe mạnh. Bạch Thế
Tôn, con được thấy Thế Tôn kham nhẫn, bạch Thế Tôn, thấy
Thế Tôn bệnh hoạn, thân con cảm thấy yếu ớt như lau sậy,
mắt con mờ mịt không thấy rõ phương hướng, dầu cho, bạch
Thế Tôn, con được một chút an ủi rằng, Thế Tôn sẽ không
diệt độ, nếu Ngài chưa có lời di giáo lại cho chúng Tỷ-kheo.
25.
Này Ananda, chúng Tỷ-kheo còn mong mỏi gì nữa ở Ta! Này Ananda,
Ta đã giảng Chánh pháp, không có phân biệt trong ngoài (mật
giáo và không phải mật giáo), vì này Ananda, đối với các
Pháp, Như Lai không bao giờ là vị Ðạo sư còn nắm tay (còn
giữ lại một ít mật giáo chưa giảng dạy). Này Ananda, những
ai nghĩ rằng: "Như Lai là vị cầm đầu chúng Tỷ-kheo"; hay
"chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Như Lai" thời này
Ananda, người ấy sẽ có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo. Này
Ananda, Như Lai không nghĩ rằng: "Ta là vị cầm đầu chúng
Tỷ-kheo; hay "chúng Tỷ-kheo chịu sự giáo huấn của Ta" thời
nay Ananda, làm sao Như Lai lại có lời di giáo cho chúng Tỷ-kheo?
Này Ananda, Ta nay đã già, đã thành bậc trưởng thượng, đã
đến tuổi lâm chung, đã đến tám mươi tuổi. Này Ananda,
như cỗ xe đã già mòn, sở dĩ còn chạy được là nhờ dây
thắng chằng chịt, cũng vậy thân Như Lai được duy trì sự
sống giống như chính nhờ chống đỡ dây chằng. Này Ananda,
chỉ trong khi Như Lai không tác ý đến tất cả tướng, với
sự diệt trừ một số cảm thọ, chứng và an trú vô tướng
tâm định, chính khi ấy thân Như Lai được thoải mái.
26.
Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình,
hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì
khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ
nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế
nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình,
tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác,
dùng
Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa,
không nương tựa một gì khác.
Này
Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh
tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu
bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm...
đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh
niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda,
như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình,
tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác,
dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương
tựa, không nương tựa một gì khác.
Này
Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn
cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương
tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh
pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì
khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng
trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học
hỏi.
Tụng
phẩm III
1.
Rồi Thế Tôn vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli
để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên
đường khất thực trở về Ngài nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy lấy tọa cụ. Ta muốn đi đến điện thờ Càpàla,
để nghỉ trưa.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn, lấy tọa cụ và đi theo sau
lưng Thế Tôn.
2.
Thế Tôn đi đến điện thờ Càpàla, khi đến Ngài ngồi trên
chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả Ananda đảnh lễ Thế Tôn và
ngồi xuống một bên. Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda đang
ngồi một bên:
- Này
Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả
ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sàttambaka,
khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada,
khả ái thay điện thờ Càpàla.
3.
Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần,
thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu
luyện, thiện xảo, thời nếu muốn người ấy có thể sống
đến một kiếp hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như
Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo.
Này Ananda, nếu muốn Như Lai có thể sống đến một kiếp
hay phần kiếp còn lại.
4.
Nhưng Tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá
rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn; tôn giả
không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở
lại cho đến trọn kiếp. Thiện Thệ hãy ở lại cho đến
trọn kiếp vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng
sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Vì tâm tôn
giả bị Ma vương ám ảnh.
5.
Lần thứ hai Thế Tôn... lần thứ ba Thế Tôn nói với tôn
giả Ananda:
- Này
Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena, khả
ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattambaka,
khả ái thay điện thờ Bahuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada,
khả ái thay điện thờ Capala!" Này Ananda, những ai đã tu bốn
thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc
chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu
người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp
còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập
nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền
vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như
Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại.
Nhưng
tôn giả Ananda không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng,
sự hiện tướng quá rõ ràng của Thế Tôn, Tôn giả không
thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn
kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Vì tâm của tôn
giả bị Ác ma ám ảnh.
6.
Rồi Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda hãy đi và làm những gì Ngươi nghĩ là phải thời.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh
lễ Ngài, thân bên hữu hướng về Thế Tôn và đi ra.
7.
Tôn giả Ananda đi ra chưa bao lâu, Ác ma liền đến chỗ Thế
Tôn, khi đến xong liền đứng một bên. Sau khi đứng một
bên, Ác ma nói với Thế Tôn.
- Bạch
Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt
độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma,
Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở
thành những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật,
sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp
và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi
học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình
bày, xác định, khai minh, phân tích, và giải thích rõ ràng
Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn
và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh
pháp thần diệu".
8.
Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế Tôn, đã trở thành
những vị đệ tử chân chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn
sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh,
sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý, đã có thể
tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân
tách và giải thích rõ ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi
lên đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo,
đã có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu. Như vậy, nay
Thế Tôn, hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch
Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ!
Bạch
Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ
không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta chưa trở
thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật...
khi nào những nam cư sĩ của Ta chưa trở thành những vị đệ
tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn
duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống
chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý,
chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định,
khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào
có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn và hàng phục
một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần
diệu". Bạch Thế Tôn, nay những nam cư sĩ của Thế Tôn đã
trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật,
sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, đầy đủ Chánh pháp
và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi
học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng, trình
bày, xác định, khai minh, phân tích và giải thích rõ ràng
Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất vấn
và hàng phục một cách khéo léo, và có thể truyền bá Chánh
pháp thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện
Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế
Tôn diệt độ.
Bạch
Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ
không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của Ta chưa trở
thành những vị đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật,
sẵn sàng, đa văn, duy trì, Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp
và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi
học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình
bày, xác định, khai minh, phân tách, và giải thích rõ ràng
Chánh pháp; khi nào có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất
vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền
bá chánh pháp một cách thần diệu". Bạch Thế Tôn, nay những
nữ cư sĩ của Thế Tôn đã trở thành những đệ tử chơn
chánh, sáng suốt, có kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì
Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh,
sống theo Chánh pháp, sau khi học hỏi giáo lý đã có thể
tuyên bố, diễn giảng, trình bày, xác định, khai minh, phân
tách, và giải thích rõ ràng Chánh pháp; khi nào có tà đạo
khởi lên, đã có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo
léo, có thể truyền bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như
vậy, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ.
Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch
Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ
không diệt độ khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa thành
tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là
được khéo giảng dạy cho loài người". Bạch Thế Tôn, nay
phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành tựu, thịnh
đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn, nghĩa là được khéo
giảng dạy cho loài người. Như vậy, nay Thế Tôn hãy diệt
độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến
thời Thế Tôn diệt độ.
9.
Khi được nói vậy Thế Tôn nói với Ác ma: "Này Ác ma hãy
yên tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt
đầu từ hôm nay, Như Lai sẽ diệt độ".
10.
Và tại điện thờ Capala, Thế Tôn chánh niệm, tỉnh giác,
từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu hơn nữa).
Khi Thế Tôn từ bỏ, không duy trì mạng sống thêm nữa, thời
đại địa chấn động, ghê rợn, tóc lông dựng ngược, sấm
trời vang dậy. Thế Tôn nhận hiểu ý nghĩa của sự kiện
ấy, liền thốt câu kệ cảm khái như sau:
Mạng
sống có hạn hay vô hạn,
Tu
sĩ từ bỏ, không kéo dài.
Nội
tâm chuyên nhất trú thiền định.
Như
tháo áo giáp đang mang mặc.
11. Lúc
bấy giờ, tôn giả Ananda suy nghĩ: "Thật là kỳ diệu! Thật
là hy hữu! Ðại địa chấn động, đại địa rung động
như vậy, ghê rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang
dậy. Do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?".
12.
Rồi tôn giả Ananda đến tại chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài
và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả
Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu!
Ðại địa chấn động, đại địa rung động như vậy, ghê
rợn, tóc lông dựng ngược và sấm trời vang dậy. Bạch Thế
Tôn, do nhân gì, do duyên gì, đại địa chấn động như vậy?
13.
- Này Ananda, có tám nhân, có tám duyên khiến đại địa chấn
động. Thế nào là tám? Này Ananda, đại địa này thiết lập
trên nước, nước ở trên gió và gió ở tại hư không. Này
Ananda, đến thời đại phong khởi lên, gió lớn khi thổi làm
nổi sóng nước, và khi nước nổi sóng thì quả đất rung
động. Ðó là nhân thứ nhất, duyên thứ nhất, đại địa
chấn động.
14.
Lại nữa này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông,
tâm được chế ngự, hay hàng chư Thiên có đại thần thông,
có đại uy lực; những vị này quán địa tánh có hạn, quán
thủy tánh vô lượng, vị ấy có thể khiến quả đất này
rung động, chuyển động mạnh. Ðó là nhân thứ hai, duyên
thứ hai khiến đại địa chấn động.
15.
Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát ở cõi Tusita (Ðâu suất)
từ bỏ thân, chánh niệm, tỉnh giác, nhập vào mẫu thai, khi
ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Ðó là nhân thứ ba, duyên thứ ba khiến đại địa chấn động.
16.
Lại nữa, này Ananda, khi vị Bồ-tát, chánh niệm, tỉnh giác,
ra khỏi mẫu thai, khi ấy quả đất này rung động, chuyển
động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ tư, duyên thứ
tư khiến đại địa chấn động.
17.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác, khi ấy quả đất rung động, chuyển động,
chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ năm, duyên thứ năm khiến
đại địa chấn động.
18.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp, khi ấy
quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Ðó là nhân thứ sau, duyên thứ sau, khiến đại địa chấn
động.
19.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai, chánh niệm, tỉnh giác, từ
bỏ, không duy trì mạng sống, khi ấy quả đất này rung động,
chuyển động, chấn động mạnh. Ðó là nhân thứ bảy, duyên
thứ bảy, khiến đại địa chấn động.
20.
Lại nữa, này Ananda, khi Như Lai nhập vô dư y Niết Bàn, khi
ấy quả đất này rung động, chuyển động, chấn động mạnh.
Ðó là nhân thứ tám duyên thứ tám, khiến đại địa chấn
động. Này Ananda, do tám nhân này, tám duyên này, khiến đại
địa chấn động.
21.
Này Ananda, có tám chúng. Thế nào là tám. Chúng Sát-đế-Lỵ,
chúng Bà-la-môn, chúng Cư sĩ, chúng Sa-môn, chúng Bốn Thiên
vương, chúng Tam thập tam thiên, chúng Ma, chúng Phạm thiên.
22.
Này Ananda, Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Sát -đế-lỵ hơn
một trăm lần. Tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta
nói chuyện, và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu, dung
sắc của chúng Sát-đế-lỵ như thế nào, dung sắc của Ta
cũng như vậy; giọng nói chúng như thế nào, giọng nói của
Ta cũng như vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích
lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói,
chúng không biết: "Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là
Người chăng?" sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn
khởi, khiến tâm hoan hỷ với bài pháp thoại, Ta biến mất.
Khi Ta biến mất, chúng không biết: "Kẻ biến mất ấy là
ai, là chư Thiên chăng, là Ngươi chăng?".
23.
Này Ananda. Ta nhớ lại Ta đã đến chúng Bà-la-môn hơn một
trăm lần... chúng Cư sĩ... chúng Sa-môn... chúng Bốn Thiên
vương... chúng Tam thập tam thiên... chúng Ma... chúng Phạm thiên
hơn trăm lần, tại đây trước khi Ta ngồi, trước khi Ta nói
chuyện và trước khi cuộc đối thoại bắt đầu dung sắc
của chúng Phạm thiên như thế nào, dung sắc của Ta cũng vậy;
giọng nói của chúng như thế nào, giọng nói của Ta cũng
vậy. Và với bài pháp thoại, Ta giảng dạy, khích lệ, làm
cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Khi Ta đang nói, chúng không
biết: "Kẻ nói ấy là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?"
Sau khi Ta giảng dạy, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến
tâm hoan hỷ, Ta biến mất. Khi Ta biến mất, chúng không biết:
"Kẻ biến mất đó là ai, là chư Thiên chăng, là Người chăng?"
Này Ananda, như vậy là tám chúng.
24.
Này Ananda, có tám thắng xứ. Thế nào là tám?
25.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc,
có hạn lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau
khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ
thứ nhất.
26.
Một vị quán tưởng nội sắc, thấy các loại ngoại sắc
vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp
thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ hai.
27.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc có hạn lượng đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức
rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là
thắng xứ thứ ba.
28.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc vô lượng, đẹp, xấu. Vị ấy nhận thức rằng:
"Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng
xứ thứ tư.
29.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng
xanh - như bông gai màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh,
ánh sáng xanh - như lụa Ba-la-nại, cả hai mặt láng trơn, màu
xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh, ánh sáng xanh. Như vậy
vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại
sắc màu xanh, tướng sắc xanh, hình sắc xanh ánh sáng xanh.
Vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết,
ta thấy", đó là thắng xứ thứ năm.
30.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc màu vàng, sắc màu vàng, tướng màu vàng, hình
sắc vàng, ánh sáng vàng - như bông Kanikàra màu vàng, tướng
sắc vàng, hình sắc vàng, ánh sáng vàng - như lụa sa Balanại,
cả hai mặt láng trơn màu vàng, tướng sắc vàng hình sắc
vàng - như vậy vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy
các loại ngoại sắc màu vàng, tướng sắc vàng, hình sắc
vàng, ánh sáng vàng, vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp
thắng chúng, ta biết, ta thấy", đó là thắng xứ thứ sáu.
31.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc màu đỏ, sắc màu đỏ, tướng sắc đỏ, hình
sắc đỏ, ánh sáng đỏ - như bông bandhujìvaka màu đỏ, sắc
màu đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ -
như lụa sa Balanại, cả hai mặt láng trơn màu đỏ, sắc màu
đỏ, tướng màu đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ. Như vậy
vị này quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại ngoại
sắc màu đỏ tướng sắc đỏ, hình sắc đỏ, ánh sáng đỏ,
vị ấy nhận thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết,
ta thấy", đó là thắng xứ thứ bảy.
32.
Một vị quán tưởng vô sắc ở nội tâm, thấy các loại
ngoại sắc màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc trắng,
ánh sáng trắng - như sao mai Osadhi màu trắng, tướng sắc trắng,
hình sắc trắng, ánh sáng trắng - như lụa sa Balanại, cả
hai mặt láng trơn màu trắng, tướng sắc trắng, hình sắc
trắng, ánh sáng trắng. Như vậy vị này quán tưởng vô sắc
ở nội tâm, thấy các loại ngoại sắc màu trắng, tướng
sắc trắng, hình sắc trắng, ánh sáng trắng, vị ấy nhận
thức rằng: "Sau khi nhiếp thắng chúng, ta biết, ta thấy",
đó là thắng xứ thứ tám. Này Ananda như vậy là tám thắng
xứ.
33.
Này Ananda, tám giải thoát. Thế nào là tám?
Tự
mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.
Quán
tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là
sự giải thoát thứ hai.
Quán
tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy; đó là
sự giải thoát thứ ba.
Vượt
khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối,
không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư "hư
không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ; đó là
sự giải thoát thứ tư.
Vượt
khỏi hoàn toàn Không vô biên xứ, với suy tư "thức là vô
biên", chứng và trú Thức vô biên xứ; đó là giải thoát
thứ năm.
Vượt
khỏi hoàn toàn Thức vô biên xứ, với suy tư "không có vật
gì", chứng và trú Vô sở hữu xứ; đó là sự giải thoát
thứ sáu.
Vượt
khỏi hoàn toàn Vô sở hữu xứ, chứng và trú Phi tưởng phi
phi tưởng xứ; đó là sự giải thoát thứ bảy.
Vượt
khỏi hoàn toàn Phi tưởng phi phi tưởng xứ, chứng và trú
Diệt thọ tưởng; đó là sự giải thoát thứ tám.
Này
Ananda, như vậy là tám giải thoát.
34.
Này Ananda, một thời Ta ở tại Uruvelà, trên bờ sông Neranjara,
dưới gốc cây Ajapàlanigrodha khi Ta mới thành đạo. Này Ananda,
lúc bấy giờ Ác ma đến tại chỗ Ta ở, khi đến xong liền
đứng một bên. Này Ananda, sau khi đứng một bên, Ác ma nói
với Ta: "Bạch Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện
Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn nay đã đến thời Thế
Tôn diệt độ".
35.
Này Ananda, khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:
- "Này
Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của ta
chưa thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật,
sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp
và Tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi
học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình
bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng
Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn
và hàng phục một cách khéo léo, chưa có truyền bá Chánh
pháp thần diệu.
Này
Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của
Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có
kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
Chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo Chánh pháp,
sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố, diễn giảng,
trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ
ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất
vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền
bá Chánh pháp thần diệu.
Này
Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nam cư sĩ của
Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có
kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp,
sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng
trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ
ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất
vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền
bá chánh pháp thần diệu.
Này
Ác ma, Ta sẽ không diệt độ khi nào những nữ cư sĩ của
Ta chưa trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có
kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
chánh pháp và tùy pháp, sống chơn chánh, sống theo chánh pháp,
sau khi học hỏi giáo lý chưa có thể tuyên bố diễn giảng
trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ
ràng Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất
vấn và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền
bá chánh pháp thần diệu.
Này
Ác ma, Ta không diệt độ khi nào phạm hạnh mà Ta giảng dạy
chưa được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá,
biến mãn, nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người.
36.
Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ác ma đến Ta, sau
khi đến liền đứng một bên. Này Ananda, Ác ma đứng một
bên nói với Ta như sau:
"Bạch
Thế Tôn, nay Thế Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt
độ. Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma,
Ta sẽ không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở
thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có kỷ luật,
sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu Chánh pháp
và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp, sau khi
học hỏi giáo lý, chưa có thể tuyên bố, diễn giảng, trình
bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ ràng
Chánh pháp; khi có tà đạo khởi lên, chưa có thể chất vấn
và hàng phục một cách khéo léo, chưa có thể truyền bá Chánh
pháp thần diệu". Bạch Thế Tôn, nay những Tỷ-kheo của Thế
Tôn đã trở thành những đệ tử chơn chánh, sáng suốt, có
kỷ luật, sẵn sàng, đa văn, duy trì Chánh pháp, thành tựu
Chánh pháp và tùy pháp, sống chân chánh, sống theo Chánh pháp,
sau khi học hỏi giáo lý đã có thể tuyên bố, diễn giảng,
trình bày, xác định, khai minh, phân tách và giải thích rõ
ràng Chánh pháp, khi có tà đạo khởi lên, đã có thể chất
vấn và hành phục một cách khéo léo, đã có thể truyền
bá Chánh pháp một cách thần diệu. Như vậy, nay Thế Tôn
hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn,
nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ.
Bạch
Thế Tôn đây là lời Thế Thôn đã nói: "Này Ác ma, ta sẽ
không diệt độ khi nào những Tỷ-kheo ni của Ta... ; khi nào
những cư sĩ của Ta... ; khi nào phạm hạnh Ta giảng dạy chưa
được thành tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến
mãn nghĩa là được khéo giảng dạy cho loài Người". Bạch
Thế Tôn, nay phạm hạnh Thế Tôn giảng dạy đã được thành
tựu, thịnh đạt, phổ biến, quảng bá, biến mãn nghĩa là
được khéo giảng dạy cho loài Người. Như vậy, nay Thế
Tôn hãy diệt độ, Thiện Thệ hãy diệt độ. Bạch Thế Tôn
nay đã đến thời Thế Tôn diệt độ".
37.
Khi được nói vậy, Ta nói với Ác ma:
"Này
Ác ma, hãy an tâm, không bao lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba
tháng bắt đầu từ hôm nay Như Lai sẽ diệt độ".
Này
Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Như Lai chánh niệm,
tỉnh giác, từ bỏ thọ, hành (không duy trì mạng sống lâu
hơn nữa).
38.
Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện
Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng
sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc cho loài Trời và loài Người.
- Thôi
đi, này Ananda, đừng có thỉnh cầu Như Lai nữa. Này Ananda,
nay thỉnh cầu Như Lai không còn kịp thời.
39.
Lần thứ hai, tôn giả Ananda... Lần thứ ba, tôn giả Ananda
bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện
Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng
sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho
đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời
và loài Người.
- Này
Ananda, Ngươi có tin sự giác ngộ Thế Tôn không?
- Bạch
Thế Tôn, con có tin!
- Vậy,
này Ananda, sao Ngươi lại làm phiền Như Lai đến ba lần.
40.
- Bạch Thế Tôn, chính con được tận mặt, đích thân nghe
Thế Tôn dạy như sau: "Này Ananda, những ai đã tu bốn thần
túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn,
người ấy có thể sống đến một kiếp, hay phần kiếp còn
lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc... Như Lai
có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại".
- Này
Ananda, Ngươi có tin tưởng không?
- Bạch
Thế Tôn, con có tin tưởng!
- Này
Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm
của Ngươi, đã không nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng,
sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không thỉnh
cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến
trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì
lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng
thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an
lạc cho loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi
thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh,
nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda
như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của
Ngươi.
41.
Này Ananda, một thời Ta ở tại Vương Xá, núi Linh Thứu (Gijjha
Kuta). Tại đấy Ta nói với ngươi: "Này Ananda, khả ái thay
thành Vương Xá! Khả ái thay núi Linh Thứu! Này Ananda, những
ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo
thời, nếu người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp,
hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần
túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu
muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp
còn lại". Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu
sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của
Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn,
Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy
ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì
hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì
lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người".
Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác
bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có
thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là lỗi của Ngươi, như
vậy là khuyết điểm của Ngươi".
42.
Này Ananda, một thời Ta ở thành Vương Xá, tại Nigrodhàràma...
Ta cũng ở thành Vương Xá tại Corapapàta... Ta cũng ở thành
Vương Xá, hang Sattapanni trên núi Vebhàra... Ta cũng ở thành
Vương Xá, tại hang đá Kàla, trên núi Isigili... Ta cũng ở
thành Vương Xá, tại khu rừng Sita trong hang đá Sappasondika...
Ta cũng ở thành Vương Xá, tại Tapodàràma... Ta cũng ở thành
Vương Xá, Trúc Lâm, hồ Kalandaka... Ta cũng ở thành Vương
Xá, tại rừng Jìvakambavana... Ta cũng ở thành Vương Xá tại
Maddakucchi ở Lộc Uyển.
43.
Này Ananda, tại đấy Ta nói: "Này Ananda, khả ái thay thành
Vương Xá, khả ái thay núi Linh Thứu, khả ái thay Nigrodhàràma,
khả ái thay Corapapàta, khả ái thay hang Sattapanni trên núi Vebhara,
khả ái thay hang đá Kàla trên núi Isigili, khả ái thay hang
đá Sappasondika trong rừng Sìta, khả ái thay suối nước nóng
Tapodàràma, khả ái thay hồ con sóc ở tại Trúc Lâm, khả
ái thay rừng Jìvakambavana, khả ái thay vườn Nai ở tại Maddakucchi"!
44.
"Này Ananda, những ai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần,
thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững, điêu
luyện, thiện xảo thời, nếu người ấy muốn, có thể sống
đến một kiếp, hay phần kiếp còn lại. Này Ananda, nay Như
Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện,
thật chắc chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo.
Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có thể sống đến một kiếp
hay phần kiếp còn lại". Dầu vậy, này Ananda, Ngươi không
thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ ràng, sự hiện tướng
quá rõ ràng của Thế Tôn. Ngươi không thỉnh cầu Thế Tôn:
"Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho đến trọn kiếp,
Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp, vì lợi ích cho
chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng thương tưởng
cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho loài Trời
và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi cầu thỉnh Như Lai,
Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh, nhưng đến lần
thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda, như vậy là
lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của Ngươi".
45.
Này Ananda, một thời Ta ở Vesàli tại điện thờ Udena. Tại
đấy, này Ananda, Ta cũng nói. "Này Ananda, khả ái thay Vesàli,
khả ái thay điện thờ Udena. Này Ananda, những ai đã tu bốn
thần túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc
chắn, thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu
người ấy muốn, có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp
còn lại. Này Ananda, nay Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập
nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền
vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn, Như Lai có
thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu vậy,
này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ
ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không
thỉnh cầu Như Lai: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại cho
đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn kiếp,
vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì lòng
thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an
lạc cho lời Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi
cầu thỉnh Như Lai, Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh,
nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda,
như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của
Ngươi.
46.
Này Ananda, một thời Ta ở thành Vesàli tại điện thờ Gotamaka...
ta cũng ở thành Vesàli tại điện thờ Sattambaka... Ta cũng
ở thành Vesàli tại điện thờ Bahuputta... Ta cũng ở thành
Vesàli tại điện thờ Sàrandada...
47.
Này Ananda, hôm nay tại điện thờ Càpàla, Ta nói với ngươi:
"Này Ananda, khả ái thay Vesàli, khả ái thay điện thờ Udena,
khả ái thay điện thờ Gotamaka, khả ái thay điện thờ Sattamba,
khả ái thay điện thờ Buhuputta, khả ái thay điện thờ Sàrandada,
khả ái thay đền Càpàla. Này Ananda, những ai đã tu bốn thần
túc, tu tập nhiều lần, thật lão luyện, thật chắc chắn,
thật bền vững, điêu luyện, thiện xảo thời, nếu muốn,
người ấy có thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn
lại. Này Ananda, Như Lai đã tu bốn thần túc, tu tập nhiều
lần, thật lão luyện, thật chắc chắn, thật bền vững,
điêu luyện, thiện xảo. Này Ananda, nếu muốn, Như Lai có
thể sống đến một kiếp hay phần kiếp còn lại". Dầu vậy,
này Ananda, Ngươi không thể nhận hiểu sự gợi ý quá rõ
ràng, sự hiện tướng quá rõ ràng của Như Lai, Ngươi không
thỉnh cầu Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy ở lại
cho đến trọn kiếp, Thiện Thệ hãy ở lại cho đến trọn
kiếp, vì lợi ích cho chúng sanh, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
vì an lạc cho loài Trời và loài Người". Này Ananda, nếu Ngươi
cầu thỉnh Như Lai; Như Lai có thể bác bỏ hai lần cầu thỉnh,
nhưng đến lần thứ ba, Như Lai có thể nhận lời. Này Ananda,
như vậy là lỗi của Ngươi, như vậy là khuyết điểm của
Ngươi.
48.
Này Ananda, phải chăng ngay từ ban đầu Ta đã từng tuyên bố
rằng mọi vật ưu ái, thân hình đều phải bị thay đổi,
trở về hư không, biến dịch? Này Ananda, làm sao có thể được
như vầy: Những gì sanh khởi, tồn tại, hữu vi, chịu sự
biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến diệt? Thật không
có sự trạng ấy. Này Ananda, những gì Như Lai đã từ bỏ,
dứt khoát, xả ly, phóng xả, khước từ, chính là thọ, hành.
Như Lai đã nói và nói một cách dứt khoát: "Không lâu, Như
Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu hôm nay, Như Lai sẽ
diệt độ". Nói rằng Như Lai vì muốn sống mà phản lại
lời tuyên bố trên thời thật không có sự trạng ấy.
Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến giảng đường Kùtagàra tại rừng
Ðại Lâm.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
49.
Rồi Thế Tôn cùng tôn giả Ananda đi đến giảng đường Kùtagàra
vườn Ðại Lâm, khi đi đến, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy đi mời tất cả Tỷ-kheo sống ở gần Vesàli tụ
họp tại giảng đường này.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đi mời tất cả vị Tỷ-kheo
sống ở gần Vesàli tụ họp tại giảng đường, rồi đi
đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và đứng một bên. Sau
khi đứng một bên, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, chúng Tỷ-kheo đã tụ họp. Bạch Thế Tôn, Ngài
hãy làm những gì Ngài nghĩ là hợp thời.
50.
Thế Tôn liền đi đến giảng đường và ngồi trên chỗ đã
soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn nói với các vị Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, nay những pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy
cho các Ngươi, các Ngươi phải khéo học hỏi, thực chứng
tu tập và truyền rộng để phạm hạnh được trường tồn,
vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng
sanh, vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh
phúc, vì an lạc cho loài Trời và loài Người. Này các Tỷ-kheo,
thế nào là các pháp do Ta chứng ngộ và giảng dạy, các Ngươi
phải khéo học hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng
để cho phạm hạnh được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh
phúc cho chúng sanh, vì an lạc cho chúng sanh, vì lòng thương
tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc, vì an lạc cho
loài Trời và loài Người? Chính là Bốn Niệm xứ, Bốn Chánh
cần, Bốn Thần túc, Năm Căn, Năm Lực, Bảy Bồ-đề phần,
Tám Thánh đạo phần. Này các Tỷ-kheo, chính những pháp này
do Ta chứng ngộ và giảng dạy, mà các Ngươi phải khéo học
hỏi, thực chứng, tu tập và truyền rộng để phạm hạnh
được trường tồn, vĩnh cửu, vì hạnh phúc cho chúng sanh,
vì lòng thương tưởng cho đời, vì lợi ích, vì hạnh phúc,
vì an lạc cho loài Trời và loài Người.
51.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, đây là lời Ta nhắn nhủ các Ngươi. Các hành
là vô thường. Hãy tinh tấn lên để tự giải thoát, không
lâu Như Lai sẽ diệt độ. Sau ba tháng bắt đầu từ hôm nay,
Như Lai sẽ diệt độ.
Ðó
là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại nói
thêm:
Ta
đã già, dư mạng chẳng còn bao,
Từ
biệt các Ngươi, Ta đi một mình.
Tự
mình làm sở y cho chính mình,
Hãy
tinh tấn, chánh niệm, giữ giới luật,
Nhiếp
thúc ý chí, bảo hộ tự tâm.
Ai
tinh tấn trong pháp và luật này
Sẽ
diệt sanh tử, chấm dứt khổ đau.
Tụng
phẩm IV
1.
Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, đem theo y bát, vào Vesàli
để khất thực. Sau khi khất thực ở Vesàli, ăn xong và trên
đường khất thực trở về, Thế Tôn nhìn Vesàli với cái
nhìn của con voi chúa rồi nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, lần này là lần cuối cùng, Như Lai nhìn Vesàli. Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến làng Bhandagàma.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Bhandagàma. Tại đây, Thế Tôn ở tại
Bhandagàma.
2.
Rồi Thế Tôn nói với Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt bốn
Pháp mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển
sanh tử. Thế nào là bốn? Này các Tỷ-kheo, chính vì không
giác ngộ không chứng đạt Thánh Giới mà Ta và các Ngươi
lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo,
chính vì không giác ngộ, không chứng đạt Thánh Ðịnh mà
Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong biển sanh tử.
Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không chứng đạt
Thánh Tuệ mà Ta và các Ngươi lâu đời phải trôi lăn trong
biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, chính vì không giác ngộ, không
chứng đạt Thánh giải thoát mà Ta và các Ngươi lâu đời
phải trôi lăn trong biển sanh tử. Này các Tỷ-kheo, khi Thánh
Giới được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Ðịnh
được giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Tuệ được
giác ngộ, được chứng đạt; khi Thánh Giải thoát được
giác ngộ, được chứng đạt, thời tham ái một đời sống
tương lai được trừ diệt, những gì đưa đến một đời
sống mới được dứt sạch, nay không còn một đời sống
nào nữa.
3.
Ðó là lời Thế Tôn dạy. Sau khi nói vậy, Thiện Thệ lại
nói thêm:
Giới,
Ðịnh, Tuệ và Giải thoát vô thượng
Gotama
danh xưng đã chứng ngộ.
Ðấng
Giác Ngộ giảng pháp chúng Tỷ-kheo.
Ðạo
Sư diệt khổ, pháp nhãn, tịnh lạc.
4. Trong
thời gian Thế Tôn ở tại Bhandagàma, pháp thoại này được
giảng cho chúng Tỷ-kheo:
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
5.
Rồi Thế Tôn, sau khi ở Bhandagàma cho đến khi Ngài xem là
vừa đủ, liền nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Hatthigam... Ambagama... Jambugama...,
hãy đi đến Bhoganagara.
6.
- Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Rồi Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Bhoganagara.
7.
Tại đây, Thế Tôn ở Bhoganagara tại đền Ananda, Ngài nói
với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng bốn Ðại giáo pháp, hãy nghe và
suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Các
Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, Thế Tôn giảng như sau:
8.
- Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: "Này Hiển giả,
tôi tự thân nghe từ miệng Thế Tôn, tự thân lãnh thọ, như
vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của
vị Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán,
không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán,
không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được
học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu
với Luật. Khi đem so sanh với Kinh, đối chiếu với Luật,
nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với Luật
thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời
này không phải là lời Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy đã thọ
giáo sai lầm. Và này các Tỷ kheo, các Ngươi hãy từ bỏ chúng.
Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật và nếu
chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật, thời các Ngươi
có thể kết luận: "Chắc chắn những lời này phải là lời
dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo chơn chánh".
Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp thứ nhất, các
Ngươi hãy thọ trì.
9.
Này các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nói: "Tại trú xứ kia, có
Tăng chúng ở với các vị Thượng tọa, với các Thủ chúng.
Tôi tự thân nghe từ miệng Tăng chúng, tự thân lãnh thọ,
như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy
của vị Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán
thán, không nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không
tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, phải
được học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đem đối
chiếu với Luật, nếu chúng không phù hợp với Kinh, không
tương ứng với Luật thời các Ngươi có thể kết luận:
"Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn, và
Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỷ-kheo, các
Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối
chiếu với Luật và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng
với luật, thời các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn
những lời này phải là lời dạy của Thế Tôn, và Tỷ-kheo
ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là
Ðại giáo pháp thứ hai, các Ngươi hãy thọ trì.
10.
Này các Tỷ-kheo, có thể có vị Tỷ-kheo nói: "Tại trú xứ
kia có nhiều Tỷ-kheo Thượng tọa ở, những vị này là bậc
đa văn, gìn giữ truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp
yếu. Tôi tự thân nghe từ miệng những vị Thượng tọa ấy,
tự thân lãnh thọ, như vậy là Pháp, như vậy là Luật, như
vậy là lời dạy của vị Ðạo Sư". Này các Tỷ-kheo, các
Ngươi không nên tán thán, không nên hủy báng lời nói của
Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không hủy báng, mỗi mỗi chữ,
mỗi mỗi câu, phải được học hỏi kỹ lưỡng và đem so
sánh với Kinh, đem đối chiếu với Luật. Khi đem so sánh với
Kinh, đối chiếu với Luật, và nếu không phù hợp với Kinh,
không tương ứng với Luật, và nếu chúng phù hợp với Kinh,
tương ứng với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận:
"Chắc chắn những lời này không phải là lời Thế Tôn và
Tỷ-kheo ấy đã thọ giáo sai lầm". Và, này các Tỷ-kheo, các
Ngươi hãy từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối
chiếu với Luật, thời các Ngươi có thể kết luận: "Chắc
chắn những lời ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo
ấy đã thọ giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là
Ðại giáo pháp thứ ba, các Ngươi hãy thọ trì.
11.
Này các Tỷ-kheo, có thể có Tỷ-kheo nói: "Tại trú xứ kia,
có một vị Thượng tọa, vị này là bậc đa văn, gìn giữ
truyền thống, trì pháp, trì luật, trì pháp yếu. Tôi tự
thân nghe từ Thượng tọa, tự thân lãnh thọ; như vậy là
Pháp, như vậy là Luật, như vậy là lời dạy của vị Ðạo
Sư". Này các Tỷ-kheo, các Ngươi không nên tán thán, không
nên hủy báng lời nói của Tỷ-kheo ấy. Không tán thán, không
hủy báng, mỗi mỗi chữ, mỗi mỗi câu, cần phải được
học hỏi kỹ lưỡng và đem so sánh với Kinh, đối chiếu
với Luật. Khi đem so sánh với Kinh, đối chiếu với Luật,
và nếu chúng không phù hợp với Kinh, không tương ứng với
Luật, thời các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những
lời này không phải là lời của Thế Tôn, và Tỷ-kheo ấy
đã thọ giáo sai lầm". Và này các Tỷ-kheo, các Ngươi hãy
từ bỏ chúng. Khi đem so sánh với Kinh, đem đối chiếu với
Luật, và nếu chúng phù hợp với Kinh, tương ứng với Luật,
thời các ngươi có thể kết luận: "Chắc chắn những lời
ấy phải là lời dạy của Thế Tôn và Tỷ-kheo ấy đã thọ
giáo chơn chánh". Này các Tỷ-kheo, như vậy là Ðại giáo pháp
thứ tư, các Ngươi hãy thọ trì.
Này
các Tỷ-kheo, bốn Ðại giáo pháp này, các Ngươi hãy thọ
trì.
12.
Trong khi Thế Tôn ở tại Bhoganagara, pháp thoại này được
giảng cho chúng Tỷ-kheo:
- Ðây
là Giới, đây là Ðịnh, đây là Tuệ, Ðịnh cùng tu với
Giới sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn. Tuệ cùng
tu với Ðịnh sẽ đưa đến quả vị lớn, lợi ích lớn.
Tâm cùng tu với Tuệ sẽ đưa đến giải thoát hoàn toàn các
món lậu hoặc, tức là dục lậu, hữu lậu (tri kiến lậu),
vô minh lậu.
13.
Rồi Thế Tôn, sau khi ở tại Bhoganagara cho đến khi Ngài xem
là vừa đủ, liền bảo tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta sẽ đi đến Pàvà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn. Và Thế Tôn cùng với đại
chúng Tỷ-kheo đi đến Pàvà, tại vườn xoài của Cunda, một
người thợ sắt.
14.
Thợ sắt Cunda nghe: "Nay Thế Tôn đã đến Pàvà và hiện đang
ở trong vườn xoài của ta". Rồi thợ sắt Cunda đến tại
chỗ Thế Tôn, khi đến xong liền đảnh lễ Ngài và ngồi
xuống một bên. Và Thế Tôn thuyết pháp cho thợ sắt Cunda
đang ngồi một bên, khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm
hoan hỷ.
15.
Và thợ sắt Cunda, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp, khích
lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoa hỷ, liền bạch Thế
Tôn: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn nhận lời mời của con
ngày mai đến dùng cơm với chúng Tỷ-kheo". Thế Tôn im lặng
nhận lời.
16.
Thợ sắt Cunda, sau khi biết Thế Tôn đã nhận lời, liền
từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Ngài, thân phía hữu
hướng về Ngài và từ biệt.
17.
Và thợ sắt Cunda, sau khi đêm đã mãn, liền cho sửa soạn
tại nhà các món ăn thượng vị, loại cứng và loại mềm
và nhiều thứ Sùkara-maddave (một loại mộc nhĩ), và báo tin
cho Thế Tôn: "Bạch Thế Tôn, giờ đã đến, cơm đã sẵn
sàng".
18.
Và Thế Tôn buổi sáng đắp y, mang theo y bát, cùng với chúng
Tỷ-kheo đến nhà thợ sắt Cunda, khi đến xong liền ngồi
trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi. Thế Tôn nói với thợ
sắt Cunda:
- Này
Cunda, loại mộc nhĩ đã soạn sẵn, hãy dọn cho ta. Còn các
món ăn khác đã soạn sẵn, loại cứng và loại mềm, hãy
dọn cho chúng Tỷ-kheo.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Thợ
sắt Cunda vâng lời Thế Tôn, dọn cho Thế Tôn các món mộc
nhĩ đã soạn sẵn, và dọn cho chúng Tỷ-kheo các món ăn khác,
loại cứng và loại mềm.
19.
Rồi Thế Tôn nói với thợ sắt Cunda:
- Này
Cunda, món ăn mộc nhĩ còn lại. Ngươi hãy đem chôn vào một
lỗ. Này Cunda, Ta không thấy một ai ở cõi Trời, cõi Người,
ở Ma giới, ở Phạm thiên giới, không một người nào trong
chúng Sa-môn và chúng Bà-la-môn, giữa những Thiên, Nhân, ăn
món mộc nhĩ này mà có thể tiêu hóa được, trừ Như Lai.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Thợ
sắt Cunda vâng theo Thế Tôn, đem chôn món ăn mộc nhĩ còn
lại vào một lỗ, đi đến chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài
và ngồi xuống một bên. Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho thợ
sắt Cunda đang ngồi xuống một bên, khích lệ, làm cho phấn
khởi, khiến tâm hoan hỷ rồi từ chỗ ngồi đứng dậy và
ra đi.
20.
Sau khi dùng cơm của thợ sắt Cunda, Thế Tôn bị nhiễm bệnh
nặng, bệnh lỵ huyết, đau đớn gần như đến chết, và
Thế Tôn chánh niệm tĩnh giác, nhẫn nại, chịu đựng cơn
bệnh.
Rồi
Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi đến Kusinàra.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Tôi
nghe: Sau khi dùng cơm tại nhà thợ sắt Cunda.
Cơn
bệnh khốc liệt bỗng khởi lên, gần như chết đến nơi.
Sau
khi cùng món ăn loại mộc nhĩ.
Kịch
bệnh khởi lên nơi bậc Ðạo Sư.
Ðiều
phục bệnh hoạn, Thế Tôn dạy rằng:
"Ta
đi đến thành Kusinàra".
21. Rồi
Thế Tôn bước xuống đường, đến một gốc cây và nói
với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy xếp tư áo Sanghàti. Ta cảm thấy mệt mỏi và muốn
ngồi nghỉ, này Ananda.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn và xếp tư áo Sanghàti lại.
22.
Thế Tôn ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả
Ananda:
- Này
Ananda, hãy đem nước cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát và muốn
uống nước.
Khi
được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do
bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động
và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây,
nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến
và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm
dịu mát chân tay.
23.
Lần thứ hai, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát
và muốn uống nước.
Lần
thứ hai tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, vừa mới có khoảng năm trăm cỗ xe chạy qua. Do
bánh xe khuấy lên, nước trở thành nông cạn, khuấy động
và vẩn đục. Bạch Thế Tôn, sông Kakutthà không xa ở đây,
nước thuần tịnh, dễ chịu, mát mẻ, trong sáng, dễ đến
và khả ái. Tại đó, Thế Tôn có thể uống nước và làm
dịu mát chân tay.
24.
Lần thứ ba, Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy đem nước uống cho Ta. Này Ananda, Ta nay đang khát
và muốn uống nước.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn, lấy bát và đi đến con sông
nhỏ. Con sông đang chảy nông cạn, khuấy động và vẩn đục,
khi tôn giả Ananda đến, liền trở thành trong trẻo, sáng lặng,
không vẩn đục.
25.
Tôn giả Ananda tự nghĩ: "Thật kỳ diệu thay, thật hy hữu
thay thần túc và uy lực của Như Lai. Con sông nhỏ đang chảy
nông cạn, khuấy động và vẩn đục này, khi ta đến, liền
trở thành trong trẻo, sáng lặng và không vẩn đục". Sau khi
dùng bát lấy nước, tôn giả Ananda đến chỗ Thế Tôn và
bạch với Ngài:
- Bạch
Thế Tôn, thật là kỳ diệu! Bạch Thế Tôn thật là hy hữu.
Bạch Thế Tôn, con sông nhỏ đang chảy nông cạn, khuấy động
và vẩn đục này, khi con đến, liền trở thành trong trẻo,
sáng lặng và không vẩn đục. Xin thỉnh Thế Tôn dùng nước.
Xin thỉnh Thiện Thệ dùng nước!
Và
Thế Tôn uống nước.
26.
Lúc bấy giờ, Pukkusa, dòng họ Mallà, đệ tử của ngài Alàra
Kàlàma đang đi trên con đường từ Kusinàra đến Pàvà.
Pukkusa,
dòng họ Mallà thấy Thế Tôn ngồi dưới gốc cây, liền đến
chỗ Thế Tôn, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau
khi ngồi xuống một bên, Pukkusa, dòng họ Mallà, bạch Thế
Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu,
trạng thái trầm tĩnh của một vị xuất gia!
27.
Bạch Thế Tôn, thuở xưa, ngài Alàra Kàlàma đang đi trên đường.
Rồi ngài bước xuống đường và ngồi xuống một gốc cây,
không xa con đường để nghỉ trưa. Bạch Thế Tôn, lúc ấy
có khoảng năm trăm cỗ xe đi ngang qua gần ngài Alàra Kàlàma.
Bạch Thế Tôn, có một người đi theo sau lưng đoàn xe ấy,
đễn chỗ ngài Alàra Kàlàma và nói với ngài: "Tôn giả có
thấy khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi qua không?" - "Này Hiền
giả, ta không thấy". - "Tôn giả có nghe tiếng không?" - "Này
Hiền giả, ta không nghe tiếng". - "Có phải Tôn giả đang ngủ
không?" - "Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ". - "Vậy
có phải Tôn giả đang thức tỉnh?" - "Này Hiển giả, ta đang
thức tỉnh". - "Tôn giả đang thức tỉnh nhưng không thấy
khoảng năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần một bên, cũng
không nghe thấy tiếng. Bạch Tôn giả, cái áo của Tôn giả
cũng bị lấm bụi". - "Này Hiền giả, phải, áo ta bị lấm
bụi".
Bạch
Thế Tôn, người ấy liền tự nghĩ: "Thật là kỳ diệu, thật
là hy hữu sự trầm tĩnh của vị xuất gia. Trong khi giác tỉnh,
còn thức nhưng không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua
gần một bên, cũng không nghe tiếng". Sau khi tỏ sự thâm tín
đối với ngài Alàra Kàlàma, vị ấy từ biệt.
28.
- Này Pukkusa, nhà ngươi nghĩ thế nào? Cái gì khó làm hơn,
cái gì khó thực hiện hơn? Một người trong khi giác tỉnh,
còn thức mà không thấy năm trăm cỗ xe vừa đi ngang qua gần
một bên, cũng không nghe tiếng. Hay một người đang giác tỉnh,
còn thức, trong khi trời đang mưa, mưa tầm tã ào ào, trong
khi điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, mà không thấy,
cũng không nghe tiếng?
29.
- Bạch Thế Tôn, nói gì đến năm trăm cỗ xe này, cho đến
hoặc sáu trăm, hoặc bảy trăm, hoặc tám trăm, hoặc chín
trăm, hoặc một ngàn, cho đến trăm ngàn cỗ xe, cũng không
thể so sánh được. Thật khó làm hơn, khó thực hiện hơn,
một người đang giác tỉnh, còn thức, trong khi trời đang
mưa, mưa tầm tã ào ào, trong khi điện quang chớp lòa, sấm
sét vang động, mà không thấy cũng không nghe tiếng.
30.
- Này Pukkusa, một thời, Ta ở Atumà, tại nhà đập lúa. Lúc
bấy giờ trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang chớp lòa,
sấm sét vang động, có hai anh em nông phu, và bốn con bò đực
bị sét đánh chết. Này Pukkusa, một số đông người từ
Atumà đi ra đến tại chỗ hai anh em nông phu và bốn con bò
đực bị sét đánh chết...
31.
Này Pukkusa, lúc bấy giờ Ta từ nhà đập lúa đi ra và đi
qua đi lại ngoài trời, trước cửa nhà đập lúa, Này Pukkusa,
có một người từ nơi đám đông ấy đi ra, đến chờ Ta,
đảnh lễ và đứng một bên. Và Ta nói với người ấy đang
đứng một bên:
32:
- "Này Hiền giả, vì sao có số đông người tụ họp như
vậy?" - Bạch Thế Tôn vừa rồi trời đang mưa, mưa tầm tã
ào ào, điện quang chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh
em nông phu, và bốn con bò đực bị sét đánh chết. Do vậy
mà có số đông người ấy tụ họp tại đây. Bạch Thế
Tôn, lúc ấy Ngài ở tại chỗ nào?" - "Này Hiền giả, lúc
ấy Ta ở tại đây". "Bạch Thế Tôn, Ngài không thấy gì cả
sao?" - "Này Hiền giả, Ta không thấy gì". - "Bạch Thế Tôn,
Ngài không nghe tiếng gì cả sao?" - "Này Hiền giả, Ta không
nghe tiếng gì?" - "Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang ngủ,
phải không?" - "Này Hiền giả, không phải ta đang ngủ". -
"Bạch Thế Tôn, có phải Ngài đang tỉnh thức phải không?"
- "Này Hiền giả, phải". - "Bạch Thế Tôn, Ngài đang tỉnh
thức, nhưng trong khi trời mưa, mưa tầm tã ào ào, điện quang
chớp lòa, sấm sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn
con bò đực bị sét đánh chết, nhưng Ngài không thấy, cũng
không nghe gì". - Này Hiền giả, phải như vậy".
33.
Này Pukkusa, người ấy liền tự nghĩ: "Thật là kỳ diệu,
thật là hy hữu sự trầm lặng của vị xuất gia, khi thức
tỉnh, dầu có mưa tầm tã ào ào, điện quang chói lòa, sấm
sét vang động, có hai anh em nông phu và bốn con bò đực bị
sét đánh chết mà không thấy gì, không nghe gì hết". Sau khi
nói lên lòng tin tưởng ở nơi Ta, người ấy đảnh lễ Ta,
thân phía hữu hướng về phía Ta và từ biệt.
34.
Khi được nói vậy, Pukkusa, dòng họ Mallà bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, sự tin tưởng của con đối với ngài Alàra, Kàlàma,
nay con đem rải rắc trước luồng gió lớn, nay con đem thả
trôi vào dòng nước cuốn. Kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn! Hy
hữu thay bạch Thế Tôn! Bạch Thế Tôn, như người dựng đứng
lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị
che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn
sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy
sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều
phương tiện trình bày. Bạch Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn,
quy y Pháp và Tỷ-kheo Tăng. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ
tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy
ngưỡng.
35.
Rồi Pukkusa, dòng họ Mallà nói với một người khác: "Này
bạn, hãy đem đến một cặp áo màu kim sắc, vàng chói và
sẵn sàng để mặc". - "Tôn giả, xin vâng". Người ấy vâng
lời Pukkusa, dòng họ Mallà và đem đến một cặp áo màu kim
sắc, vàng chói và sẵn sàng để mặc.
Rồi
Pukkusa, dòng họ Mallà đem dâng một cặp áo màu kim sắc, vàng
chói và sẵn sàng để mặc ấy cho Thế Tôn và nói:
- Bạch
Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để
mặc. Mong Thế Tôn vì thương xót con mà thâu nhận cho.
- Này
Pukkusa, hãy đắp cho Ta một áo và đắp cho Ananda một áo.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Pukkusa,
dòng họ Mallà vân lời Thế Tôn, đắp một áo cho Ngài và
đắp một áo cho tôn giả Ananda.
36.
Rồi Thế Tôn thuyết pháp cho Pukkusa, người dòng họ Mallà,
khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ. Và Pukkusa,
người dòng họ Mallà, sau khi được Thế Tôn thuyết pháp,
khích lệ, làm cho phấn khởi, khiến tâm hoan hỷ, liền từ
chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu
hướng về Thế Tôn và từ biệt.
37.
Khi Pukkusa, dòng họ Mallà đi chưa được bao lâu, tôn giả
Ananda đem cặp áo màu kim sắc, vàng chói và sẵn sàng để
mặc này đặt trên thân Thế Tôn, và khi cặp áo này được
đặt trên thân Thế Tôn, màu sắc sáng chói của áo như bị
lu mờ đi. Và Tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, thật là kỳ diệu, bạch Thế Tôn thật là hy hữu,
sự thanh tịnh và sáng chói màu da của Như Lai! Bạch Thế
Tôn, khi con đặt trên thân Thế Tôn, cặp áo màu kim sắc vàng
chói và sẵn sàng để mặc này, màu sắc sáng chói của áo
như bị lu mờ đi.
- Thật
vậy, này Ananda. Này Ananda, có hai trường hợp, màu da của
Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói. Thế nào là hai?
Này Ananda, trong đêm Như Lai chứng vô thượng Chánh Ðẳng
Giác và trong đêm Như Lai sắp diệt độ, nhập Niết-bàn giới,
không còn dư y sanh tử nữa. Này Ananda, đó là hai trường
hợp, màu da của Như Lai hết sức thanh tịnh và sáng chói.
38.
Này Ananda, hôm nay khi canh cuối cùng đã mãn, tại Upavattana
ở Kusinàrà, trong rừng Sàla của dòng họ Mallà, giữa hai
cây sàla song thọ, Như Lai sẽ diệt độ. Này Ananda, chúng
ta hãy đi đến sông Kakutthà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn:
Cặp
áo kim sắc này.
Pukkusa
mang đến.
Ðắp
áo kim sắc này,
Da
Ðạo Sư sáng chói.
39. Rồi
Thế Tôn cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến con sông Kakutthà,
xuống sông tắm và uống nước rồi lội qua bờ bên kia, đi
đến rừng xoài và tại đây, nói với đại đức Cundaka:
- Này
Cundaka, hãy xếp áo Sanghàti làm bốn cho Ta. Này Cundaka, Ta nay
mệt mỏi, muốn nằm nghỉ.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Ðại
đức Cundaka vâng lời Thế Tôn và xếp áo Sanghàti làm bốn.
40.
Rồi Thế Tôn nằm xuống phía hông bên mặt như dáng điệu
con sư tử, hai chân để trên nhau, chánh niệm, tỉnh giác,
suy tư, với ý niệm ngồi dậy lại khi phải thời. Và đại
đức Cundaka ngồi phía trước Thế Tôn.
41.
Ðức
Phật tự đi đến
Con
sông Kakutthà.
Con
sông chảy trong sáng.
Mát
lạnh và thanh tịnh.
Vị
Ðạo Sư mỏi mệt
Ði
dần xuống mé sông.
Như
Lai đấng Vô Thương
Ngự
trị ở trên đời
Tắm
xong, uống nước xong,
Lội
qua bên kia sông.
Bậc
Ðạo Sư đi trước,
Giữa
Tăng chúng Tỷ-kheo,
Vừa
đi vừa diễn giảng.
Chánh
pháp thật vi diệu.
Rồi
bậc Ðại Sĩ đến,
Tại
khu vực rừng xoài.
Cho
gọi vị Tỷ-kheo,
Tên
họ Cundaka:
"Hãy
gấp tư áo lại,
Trải
áo cho ta nằm.
Nghe
dạy, Cundaka
Lập
tức vâng lời dạy,
Gấp
tư và trải áo,
Một
cách thật mau lẹ.
Bậc
Ðạo Sư nằm xuống
Thân
mình thật mệt mỏi.
Tại
đây Cundaka,
Ngồi
ngay phía trước mặt.
42. Rồi
Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, rất có thể có người làm cho thợ sắt Cunda hối hận:
"Này Hiền giả Cunda, thật không lợi ích gì cho Ngươi, thật
là tai hại cho Ngươi, vì Như Lai dùng bữa ăn cuối cùng từ
Ngươi cúng dường, và nhập diệt". Này Ananda, cần phải làm
tiêu tan sự hối hận ấy của thợ sắt Cunda: "Này Hiền giả,
thật là công đức cho bạn, vì được Như Lai dùng bữa ăn
cuối cùng từ bạn cúng dường, và nhập diệt. Này Hiền
giả Cunda, tôi tự thân nghe, tự thân lãnh thọ lời nói này
của Thế Tôn: "Có hai sự cúng dường ăn uống đồng một
quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn hơn, lợi
ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác? Thế nào là hai?
Một là bữa ăn trước khi Như Lai chứng vô thượng Chánh
Ðẳng Chánh Giác, hai là bữa ăn trước khi Như Lai diệt độ
Niết-bàn giới, không còn di hưởng sanh tử. Hai bữa ăn này
đồng một quả báo, đồng một dị thục quả, quả báo lớn
hơn, lợi ích hơn các sự cúng dường ăn uống khác. Nhờ
hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng tuổi thọ;
nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng sắc
đẹp; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng
an lạc; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ được hưởng
danh tiếng; nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ đợưc
hưởng cõi trời, nhờ hành động này, đại đức Cunda sẽ
được hưởng uy quyền".
Này
Ananda, cần phải làm cho thợ sắt Cunda tiêu tan hối hận.
43.
Rồi Thế Tôn, sau khi hiểu ý nghĩa này, liền thốt lời cảm
khái như sau:
Công
đức người bố thí,
Luôn
luôn được tăng trưởng,
Trừ
được tâm hận thù.
Không
chất chứa, chế ngựa,
Kẻ
chí thiện từ bỏ.
Mọi
ác hạnh bất thiện,
Diệt
trừ tham, sân, si.
Tâm
giải thoát thanh tịnh.
Tụng
phẩm V
1.
Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, chúng ta hãy đi qua bờ bên kia sông Hirannavati, đến
ở Kusinàrà - Upavatama - rừng Sàlà của dòng họ Màllà.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
Rồi
Thế Tôn, cùng với đại chúng Tỷ-kheo đi đến bên kia sông
Hirannavati, tại Kusinàrà Upavattana, rừng Sàlà của dòng họ
Mallà, khi đi đến nơi liền nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, hãy trải chỗ nằm, đầu hướng về phía Bắc giữa
hai cây sàlà song thọ: này Ananda, Ta nay mệt mỏi, muốn nằm
nghỉ.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn, trải chỗ nằm, đầu hướng
về phía Bắc giữa hai cây sàlà song thọ. Và Thế Tôn nằm
xuống, về phía hông bên phải, như dáng nằm con sư tử, hai
chân để lên nhau chánh niệm và giác tỉnh.
2.
Lúc bấy giờ, cây sàlà song thọ trổ hoa trái mùa, tràn đầy
cành lá. Những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và tung vãi
trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Những thiên hoa Mandàrava
từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi
trên thân Như Lai để cúng dường Ngài. Bột trời chiên đàn
từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung vãi
trên thân Như Lai để cúng dường Ngài, nhạc trời trên hư
không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư
không vang lên để cúng dường Như Lai.
3.
Rồi Như Lai nói với tôn giả Ananda:
--
Này Ananada, các cây sàlà song thọ tự nhiên trổ hoa trái mùa
tràn đầy cành lá, những đóa hoa này rơi lên, gieo khắp và
tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Những thiên hoa
Mandàrava từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và
tung vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Bột trời chiên
đàn từ trên hư không rơi xuống, rơi lên, gieo khắp và tung
vãi trên thân Như Lai để cúng dường. Nhạc trời trên hư
không trổi dậy để cúng dường Như Lai. Thiên ca trên hư
không vang lên để cúng dường Như Lai.
Nhưng,
này Ananda, như vậy không phải kính trọng, tôn sùng, đảnh
lễ, cúng dường hay lễ kính Như Lai. Này Ananda, nếu có Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam hay cư sĩ nữ nào thành tựu Chánh pháp
và Tùy pháp, sống chơn chánh trong Chánh pháp, hành trì đúng
Chánh pháp, thời người ấy kính trọng, tôn sùng, đảnh lễ,
cúng dường Như Lai với sự cúng dường tối thượng. Do vậy,
này Ananda, hãy thành tựu Chánh pháp và Tùy pháp, sống chơn
chánh trong Chánh pháp và hành trì đúng Chánh pháp. Này Ananda,
các Người phải học tập như vậy.
4.
Lúc bấy giờ, tôn giả Upavàna đứng trước mặt Thế Tôn
và quạt Ngài. Thế Tôn liền quở trách tôn giả Upavàna: "Này
Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta."
Tôn
giả Ananda, liền tự suy nghĩ: "Ðại đức Upavàna này là thị
giả sống gần và hầu cận Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế
Tôn trong giờ phút cuối cùng lại quở trách đại đức Upavàna:
"Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước mặt
Ta". Do nhơn gì, do duyên gì, Thế Tôn quở trách đại đức
Upavàna: "Này Tỷ-kheo, hãy đứng một bên, chớ có đứng trước
mặt ta"?.
5.
Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
--
Ðại đức Upavàna này là thị giả, sống gần và hầu cận
Thế Tôn đã lâu ngày. Nay Thế Tôn trong giờ phút cuối cùng
lại quở trách đại đức Upavàna: "Này Tỷ-kheo, hãy đứng
một bên, chớ có đứng trước mặt Ta." Do nhơn gì, do duyên
gì, Thế Tôn quở trách đại đức Upavàna: "Này Tỷ-kheo hãy
đứng một bên, chớ có đứng trước mặt Ta"?
--
Này Ananda, rất đông các vị Thiên thần ở mười phương
thế giới tụ hội để chiêm ngưỡng Như Lai. Này Ananda, cho
đến mười hai do tuần xung quanh Kusinàrà, Upavattana, rừng
Sàlà thuộc dòng họ Mallà, không có một chỗ nào, nhỏ cho
đến đầu một sợi tóc có thể chích được mà không đầy
những Thiên thần có uy lực tụ họp. Này Ananda, các vị Thiên
Thần đang than phiền: "Chúng ta từ rất xa đến chiêm ngưỡng
Như Lai. Thật rất là hy hữu, các Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh
Ðẳng Giác xuất hiện ở đời, và tối hôm nay, trong canh
cuối cùng, Như Lai sẽ nhập diệt. Và nay Tỷ-kheo có oai lực
này lại đứng ngang trước Thế Tôn, khiến chúng ta không
thể chiêm ngưỡng Như Lai trong giờ phút cuối cùng". Này Ananda,
các chư Thiên than phiền như vậy.
6.
-- Bạch Thế Tôn, Thế Tôn đang nghĩ đến hạng chư Thiên
nào?
- Này
Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm tư
thế tục, những vị này khóc than, ới đầu bù tóc rối,
khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới
đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện
Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời
quá sớm".
Này
Ananda, có hạng Thiên thần ở trên đất với tâm tư thế
tục những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc than
với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới đất,
lăn lộn qua lại:
"Thế
Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm,
Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá sớm".
Có
chư Thiên đã diệt trừ ái dục, những vị này bình thản,
tỉnh giác chịu đựng, với tâm suy tư: "Các hành là vô thường,
làm sao sự kiện có thể khác được?"
7.
-- Bạch Thế Tôn, thuở trước các Tỷ-kheo sau khi thọ an cư,
từ các địa phương đến chiêm ngưỡng Như Lai, chúng con
được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận những Tỷ-kheo tu
hành điêu luyện. Bạch Thế Tôn, sau khi Thế Tôn nhập diệt,
chúng con sẽ không được sự lợi ích tiếp kiến, hầu cận
những Tỷ-kheo tu hành điêu luyện.
8.
- Này Ananda, có bốn Thánh tích kẻ thiện tín cần phải chiêm
ngưỡng và tôn kính. Thế nào là bốn?
"Ðây
là chỗ Như Lai đản sanh". Này Ananda, đó là thánh tích, kẻ
thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn kính.
"Ðây
là chỗ Như Lai chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác", này
Ananda, đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng
và tôn kính.
"Ðây
là chỗ Như Lai chuyển Pháp luân vô thượng", này Ananda, đó
là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng và tôn
kính.
"Ðây
là chỗ Như Lai diệt độ, nhập Vô dư y Niết-bàn", này Ananda,
đó là Thánh tích, kẻ thiện tín cần phải chiêm ngưỡng
và tôn kính.
Này
Ananda, đó là bốn Thánh tích, kẻ thiện tín cư sĩ cần phải
chiêm ngưỡng và tôn kính. Này Ananda, các thiện tín Tỷ-kheo,
Tỷ-kheo ni, cư sĩ nam, cư si nữ sẽ đến với niềm suy tư:
"Ðây là chỗ Như Lai đản sanh", "Ðây là chỗ Như Lai chứng
ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Chánh Giác", "Ðây là chỗ Như
Lai chuyển Pháp luân vô thượng", "Ðây là chỗ Như Lai diệt
độ, Nhập Vô dư y Niết-bàn".
Này
Ananda, và những ai, trong khi chiêm bái những Thánh tích mà
từ trần với tâm thâm tín hoan hỷ, thời những vị ấy,
sau khi thân hoại mạng chung sẽ được sanh cõi thiện thú,
cảnh giới chư Thiên.
9.
-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như
thế nào?
--
Này Ananda, chớ có thấy chúng.
--
Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế
nào?
--
Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.
--
Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải
như thế nào?
--
Này Ananda, phải an trú chánh niệm.
10.
-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải xử sự thân xá-lợi Như
Lai như thế nào?
--
Này Ananda, các Ngươi đừng có lo lắng vấn đề cung kính
thân xá-lợi của Như Lai. Này Ananda, các Người hãy nỗ lực,
hãy tinh tấn hướng về tự độ, sống không phóng dật, cần
mẫn, chuyên hướng về tự độ. Này Ananda, có những học
giả Sát-đế-lỵ, những học giả Bà-la-môn, những học giả
gia chủ thâm tín Như Lai, những vị này sẽ lo cho sự cung
kính cúng dường thân xá-lợi của Như Lai.
11.
-- Bạch Thế Tôn, cần phải xử sự thân Như Lai như thế
nào?
--
Này Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh Vương như thế nào,
hãy xử sự thân xá-lợi Như Lai như vậy.
--
Bạch Thế Tôn, người ta xử sự thân chuyển luân Thánh vương
như thế nào?
--
Này Ananda, thân của Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn
với vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại được vấn
thêm với vải gai bện. Sau khi vấn vải gai bệnh, lại vấn
thêm với vải mới, và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm
lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt vào trong một
hòm dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác
đậy kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được
xây dựng lên, thân của vị Chuyển luân Thánh vương được
đem thiêu trên giàn hỏa này và tại ngã tư đường, tháp
của vị Chuyển luân Thánh vương được xây dựng lên. Này
Ananda, đó là pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương.
Này
Ananda, pháp táng thân vị Chuyển luân Thánh vương như thế
nào, pháp táng thân Thế Tôn cũng như vậy. Tháp của Như Lai
phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và những ai đem
tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương bột nhiều màu, đảnh
lễ tháp, hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng trước mặt tháp),
thời những người ấy sẽ được lợi ích, hạnh phúc lâu
dài.
12.
Này Ananda, bốn hạng người sau này đáng được xây tháp.
Thế nào là bốn? Như Lai, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác xứng
đáng xây tháp. Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp. Ðệ
tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng xây tháp. Chuyển luân
Thánh vương xứng đáng xây tháp.
Này
Ananda, vì lý do gì, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng
đáng xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi
nghĩ đến: "Ðây là tháp của Thế Tôn, Ứng Cúng, Chánh Biến
Tri. " Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng
sẽ sanh lên thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì
lý do này, Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xứng đáng xây
tháp.
Này
Ananda, vì lý do gì, bậc Ðộc Giác Phật xứng đáng xây tháp?
Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến: "Ðây
là tháp của Thế Tôn Ðộc Giác Phật". " Do tâm hoan hỷ như
vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện
thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này, bậc Ðộc
Giác Phật xứng đáng xây tháp.
Này
Ananda, vì lý do gì, đệ tử Thanh Văn của Như Lai xứng đáng
xây tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ
đến: "Ðây là tháp đệ tử Thanh Văn của Thế Tôn, Ứng
Cúng, Chánh Biến Tri." Do tâm hoan hỷ như vậy, khi thân hoại
mạng chung, chúng sẽ được sanh thiện thú, cảnh giới chư
Thiên. Này Ananda, vì lý do này, đệ tử Thanh Văn của Như
Lai xứng đáng xây tháp .
Này
Ananda, vì lý do gì, Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây
tháp? Này Ananda, tâm của dân chúng sẽ hoan hỷ khi nghĩ đến:
"Ðây là tháp của vị Pháp vương trị vì đúng pháp." Do tâm
hoan hỷ như vậy, khi thân hoại mạng chung, chúng sẽ được
sanh thiện thú, cảnh giới chư Thiên. Này Ananda, vì lý do này,
Chuyển luân Thánh vương xứng đáng xây tháp.
Này
Ananda, đó là bốn hạng người xứng đáng xây tháp.
13.
Rồi tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên cột cửa
và đứng khóc: "Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học, còn phải
tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt độ, còn
ai thương tưởng ta nữa!"
Thế
Tôn nói với các Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, Ananda ở tại đâu?
--
Bạch Thế Tôn, tôn giả Ananda đi vào trong tịnh xá, dựa trên
cột cửa và đứng khóc: "Ta nay vẫn còn là kẻ hữu học,
còn phải tự lo tu tập. Nay bậc Ðạo Sư của ta sắp diệt
độ, còn ai thương tưởng ta nữa!"
Thế
Tôn liền nói với một Tỷ-kheo:
--
Này Tỷ-kheo, hãy đi và nhân danh Ta, nói với Ananda: "Này Hiền
giả Ananda, bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả."
--
Xin vâng, bạch Thế Tôn!
Vị
Tỷ-kheo ấy vâng lời Thế Tôn, đi đến chỗ tôn giả Ananda,
sau khi đến, liền nói với tôn giả: "Này Hiền giả Ananda,
bậc Ðạo Sư cho gọi Hiền giả." - "Thưa vâng, Hiền giả.
" Tôn giả Ananda vâng lời vị Tỷ-kheo ấy, đi đến Thế Tôn,
đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên.
14.
Thế Tôn nói với tôn giả Ananda đang ngồi một bên:
--
Thôi vừa rồi, Ananda, chớ có buồn rầu, chớ có khóc than.
Này Ananda, Ta đã tuyên bố trước với ngươi rằng mọi vật
ái luyến, tốt đẹp đều phải sanh biệt, tử biệt và dị
biệt. Này Ananda làm sao được có sự kiện này: "Các pháp
sanh, trú, hữu vi, biến hoại đừng có bị tiêu diệt?" Không
thể có sự kiện như vậy được. Này Ananda, đã lâu ngày,
ngươi đối với Như Lai, với thân nghiệp đầy lòng từ ái,
lợi ích, an lạc, có một không hai, vô lượng với khẩu nghiệp
đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc, có một không hai, vô
lượng với ý nghiệp đầy lòng từ ái, lợi ích, an lạc,
có một không hai, vô lượng. Này Ananda, ngươi là người tác
thành công đức. Hãy cố gắng tinh tấn lên, ngươi sẽ chứng
bậc Vô lậu, không bao lâu đâu.
15.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
--
Này các Tỷ-kheo, những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong
thời quá khứ, những bậc Thế Tôn này đều có những thị
giả tối thắng như Ananda của Ta. Này Tỷ-kheo, những vị
A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác thời vị lai, những bậc Thế Tôn
này cũng sẽ có những vị thị giả tối thắng như Ananda
của Ta vậy.
Này
các Tỷ-kheo, Ananda là người có trí và hiểu rõ: "Nay đúng
thời để các Tỷ-kheo yết kiến Thế Tôn, nay đúng thời
để các Tỷ-kheo ni, nay đúng thời để các nam cư sĩ, nay
đúng thời để các nữ cư sĩ, nay đúng thời để các vua
chúa, để các đại thần, để các ngoại đạo sư, để các
đệ tử các ngoại đạo sư yết kiến Thế Tôn!"
16.
Này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ cựu, hy hữu.
Thế nào là bốn?
Này
các Tỷ-kheo, nếu có chúng Tỷ-kheo đến yết kiến Ananda,
chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda, và
nếu Ananda thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài
thuyết pháp, và nếu Ananda làm thinh thời, này các Tỷ-kheo,
chúng Tỷ-kheo ấy sẽ thất vọng.
Này
các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo ni..., chúng nam cư sĩ... chúng
nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy sẽ được hoan
hỷ, vì được yết kiến Ananda, và nếu Ananda thuyết pháp,
chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp và nếu Ananda
làm thinh thời này các Tỷ-kheo, chúng nữ cư sĩ ấy sẽ thất
vọng.
Này
các Tỷ-kheo, vị Chuyển luân Thánh vương có bốn đức tánh
kỳ diệu, hy hữu.
Này
các Tỷ-kheo, nếu có chúng Sát-đế-lỵ... chúng Bà-la-môn...
chúng gia chủ... chúng Sa-môn đến yết kiến vị Chuyển luân
Thánh vương, chúng sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến
vị Chuyển luân Thánh vương và nếu vị Chuyển luân Thánh
vương nói chuyện, chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài nói
chuyện, và nếu vị Chuyển luân Thánh vương làm thinh thời
chúng Sa-môn ấy sẽ thất vọng.
Cũng
vậy, này các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ diệu,
hy hữu. Nếu có chúng Tỷ-kheo... chúng Tỷ-kheo ni... chúng nam
cư sĩ... chúng nữ cư sĩ đến yết kiến Ananda, chúng ấy
sẽ được hoan hỷ vì được yết kiến Ananda. và nếu Ananda
thuyết pháp chúng ấy sẽ được hoan hỷ vì bài thuyết pháp,
và nếu Ananda làm thinh, thời này các Tỷ-kheo chúng nữ cư
sĩ ấy sẽ thất vọng.
Này
các Tỷ-kheo, Ananda có bốn đức tánh kỳ diệu, hy hữu như
vậy.
17.
Khi được nói vậy, tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
--
Bạch Thế Tôn, Thế Tôn chớ có diệt độ tại đô thị nhỏ
bé này, tại đô thị hoang vu này, tại đô thị phụ thuộc
này. Bạch Thế Tôn, có những đô thị khác to lớn hơn như
Campà (Chiêm-bà), Ràjagaha (Vương Xá), Sàvatthi (Xá-vệ), Sàketa
(Sa-kỳ), Kosambi (Kiều-thương-di), Bàrànasi (Ba-la-nại). Thế
Tôn hãy diệt độ tại chỗ ấy. Tại chỗ ấy, có đại chúng
Sát-đế-lỵ, có đại chúng Bà-la-môn, có đại chúng gia chủ
rất tin tưởng Như Lai, các vị này sẽ cúng dường thân xá-lợi
Như Lai.
--
Này Ananda, chớ có nói như vậy, này Ananda, chớ có nói đô
thị này nhỏ bé, đô thị này hoang vu, đô thị này phụ thuộc.
18.
Này Ananda, thuở xưa có vị vua tên là Mahasudassana (Ðại Thiên
Kiến). Vị này là Chuyển luân vương, trị vì như pháp, là
vị pháp vương, thống lãnh bốn thiên hạ, chinh phục hộ
trì quốc dân, đầy đủ bảy báu. Này Ananda, đô thị Kusinàrà
này là kinh đô của vua Mahasudassana, tên là Kusàvatì (Câu-xá-bà-đề),
phía Ðông và phía Tây rộng đến mười hai do tuần, phía
Bắc và phía Nam rộng đến bảy do tuần.
Này
Ananda, kinh đô Kusàvatì này rất phôịn thịnh, phú cường,
dân cư đông đúc, dân chúng sung mãn, thực phẩm phong phú.
Này Ananda, cũng như kinh đô Alakamanda của chư thiên rất phồn
thịnh, phú cường dân cư đông đúc, Thiên chúng sung mãn,
thực phẩm phong phú, cũng vậy này Ananda, kinh đô Kusàvatì
này cũng rất phồn thịnh, phú cường, dân cư đông đúc,
nhân chúng sung mãn.
Này
Ananda, kinh đô Kusàvatì này, ngày đêm vang dậy chín loại
tiếng, tức là tiếng voi, tiếng ngựa, tiếng xe, tiếng trống
lớn, tiếng trống nhỏ, tiếng tỳ bà, tiếng hát, tiếng xập
xỏa, tiếng chuông và tiếng thứ mười là lời kêu gọi:
"Hãy uống đi, hãy ăn đi".
19.
Này Ananda, hãy đi vào Kusinàrà và nói với dân Mallà Kusinàrà:
"Này các Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng, Như Lai sẽ
diệt độ".
- Này
Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi hãy
đến. Về sau chớ có hối hận: "Như Lai đã diệt độ tại
làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng
Như Lai".
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn, đắp y, đem theo y bát và cùng
một vị khác làm bạn đồng hành đi vào Kusinàrà.
20.
Lúc bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng
đường vì một vài công sự. Tôn giả Ananda đến tại giảng
đường của dân Mallà ở Kusinàrà. Sau khi đến, tôn giả
liền nói vói dân Mallà ở Kusinàrà:
- Này
Vàsetthà, đêm nay, vào canh cuối cùng Như Lai sẽ diệt độ,
Này Vàsetthà, các Ngươi hãy đến. Này Vàsetthà, các Ngươi
hãy đến. Về sau chớ có hối hận: "Như Lai đã diệt độ
tại làng vườn chúng ta mà chúng ta không được chiêm ngưỡng
Như Lai".
21.
Dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả
Ananda nói như vậy, liền đau đớn, sầu muộn, tâm tư khổ
não. Kẻ thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc
than với cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài
dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm,
Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên
đời quá sớm".
Và
dân Mallà cùng với con trai, con gái và vợ đau đớn, sầu
muộn, tâm tư khổ não, đi đến Upavattana, khu rừng Sàlà của
dòng họ Mallà và đến chỗ tôn giả Ananda.
22.
Tôn giả Ananda tự nghĩ: "Nếu ta để dân Mallà ở Kusinàrà
đảnh lễ Thế Tôn từng người một, thời đêm sẽ tàn trước
khi Thế Tôn được tất cả dân Mallà đảnh lễ. Vậy ta hãy
để dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ theo từng gia tộc".
- Bạch
Thế Tôn, gia tộc Mallà này với vợ con, đồ chúng, bạn bè
đến cúi đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
Và
tôn giả Ananda, theo phương tiện này trong canh một, khiến
dân Mallà ở Kusinàrà đảnh lễ Thế Tôn.
23.
Lúc bấy giờ, du sĩ ngoại đạo Subhadda ở tại Kusinàrà.
Du sĩ ngoại đạo Subhadda được nghe: "Tối nay canh cuối cùng,
Sa-môn Gotama sẽ diệt độ".
Và
du sĩ ngoại đạo Subhadda suy nghĩ: "Ta nghe các du sĩ ngoại
đạo niên cao lạp lớn, sư trưởng và đệ tử nói rằng:
"Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri xuất hiện ra đời thật
là hy hữu. Và đêm nay, vào canh cuối cùng Sa-môn Gotama sẽ
diệt độ". Nay có nghi vấn này khởi lên trong tâm ta. Ta tin
Sa-môn Gotama có thể thuyết pháp và giải được nghi vấn
cho ta".
24.
Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đi đến Upavattana, khu rừng
Sàla của dân Mallà, đến tại chỗ tôn giả Ananda và thưa
với tôn giả:
- Hiền
giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cạo lạp lớn,
sư trưởng và đệ tử nói rằng: "Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay,
vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ". Nay có nghi
vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể
thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda,
hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
Khi
được nói vậy, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo
Subhadda:
- Thôi
đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn
đang mệt.
Lần
thứ hai, du sĩ ngoại đạo Subhadda ... Lần thứ ba, du sĩ ngoại
đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:
- Hiền
giả Ananda, tôi nghe các du sĩ ngoại đạo, niên cạo lạp lớn,
sư trưởng và đệ tử nói rằng: "Như Lai, Ứng Cúng, Chánh
Biến Tri xuất hiện ra đời thật là hy hữu, và đêm nay,
vào canh cuối cùng, Sa-môn Gotama sẽ diệt độ". Nay có nghi
vấn này khởi lên trong tâm tôi. Tôi tin Sa-môn Gotama có thể
thuyết pháp giải được nghi vấn cho tôi. Hiền giả Ananda,
hãy cho phép tôi được yết kiến Sa-môn Gotama.
Lần
thứ ba, tôn giả Ananda nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:
- Thôi
đi Hiền giả Subhadda, chớ có phiền nhiễu Như Lai. Thế Tôn
đang mệt.
25.
Thế Tôn nghe được câu chuyện của tôn giả Ananda với du
sĩ ngoại đạo Subhadda, Ngài liền nói với tôn giả Ananda:
- Thôi
Ananda, chớ có ngăn trở Subhadda, Ananda, hãy để cho Subhadda
được phép yết kiến Như Lai. Những gì Subhadda hỏi Ta là
hỏi để hiểu biết chớ không phải để phiền nhiễu Ta.
Và những gì ta trả lời các câu hỏi, Subhadda sẽ hiểu ý
nghĩa một cách mau lẹ.
Tôn
giả Ananda liền nói với du sĩ ngoại đạo Subhadda:
- Này
Hiền giả Subhadda, hãy vào. Thế Tôn đã cho phép Hiền giả.
26.
Rồi du sĩ ngoại đạo Subhadda đến chỗ Thế Tôn, nói lên
những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao, rồi ngồi xuống một
bên. Sau khi ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch
Thế Tôn:
- Tôn
giả Gotama, có những Sa-môn, Bà-la-môn là những vị hội chủ,
vị giáo trưởng, vị sư trưởng giáo hội, có tiếng tốt,
có danh vọng, khai tổ giáo phái, được quần chúng tôn sùng,
như các ngài Pàrana Kassapa, Makkhali Gosàla, Ajita Kesakambalì,
Pakadha Kaccàyana, Sanjaya Belatthiputta, Nigantha Nàthaputta, tất
cả những vị này có phải là giác ngộ như các vị đã tự
cho như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác
ngộ và một số chưa giác ngộ?
- Thôi
Subhadda, hãy để vấn đề này yên một bên: "Tất cả những
vị này có phải là đã giác ngộ như các vị đã tự cho
như vậy, hay tất cả chưa giác ngộ, hay một số đã giác
ngộ và một số chưa giác ngộ". Này Subhadda, Ta sẽ thuyết
pháp cho Ngươi. Hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
- Thưa
vâng, bạch Thế Tôn!
Du
sĩ ngoại đạo Subhadda vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn nói như
sau:
27.
- Này Subhadda, trong pháp luật nào không có Bát Thánh đạo,
thời ở đây không có (đệ nhất) Sa-môn, ở đây cũng không
có đệ nhị Sa-môn, cũng không có đệ tam Sa-môn, cũng không
có đệ tứ Sa-môn. Này Subhadda trong pháp luật nào có Bát
Thánh đạo thời ở đây có (đệ nhứt) Sa-môn, cũng có đệ
nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, ở đấy cũng có đệ
tứ Sa-môn. Này Subhadda, chính trong pháp luật này có Bát Thánh
Ðạo, thời này Subhadda, ở đây có đệ nhất Sa-môn, ở đây
cũng có đệ nhị Sa-môn, cũng có đệ tam Sa-môn, cũng có đệ
tứ Sa-môn. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có
những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những vị Tỷ-kheo này sống
chơn chánh, thời đời này không vắng những vị A-la-hán.
Này
Subhadda, năm hai mươi chín,
Ta
xuất gia hướng tìm chân thiện đạo.
Trải
năm mươi năm với thêm một năm
Từ
khi xuất gia, này Subhadda,
Ta
là du sĩ tu Trí, tu Ðức.
Ngoài
lãnh vực này, không có Sa-môn (đệ nhứt) cũng không có Sa-môn
đệ nhị, cũng không có Sa-môn đệ tam, cũng không có Sa-môn
đệ tứ. Những hệ thống ngoại đạo khác đều không có
những Sa-môn. Này Subhadda, nếu những Tỷ-kheo sống chơn chánh,
thì đời này không vắng những vị A-la-hán.
28.
Khi được nói vậy, du sĩ ngoại đạo Subhadda bạch Thế Tôn:
- Thật
hy hữu thay, bạch Thế Tôn! Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn!
Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống,
phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị
lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai
có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, chánh pháp đã được
Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch
Thế Tôn, con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng.
Mong con được xuất gia với Thế Tôn. Con xin thọ đại giới.
- Này
Subhadda, ai trước kia là ngoại đạo, nay muốn xuất gia muốn
thọ đại giới trong Pháp, Luật này phải sống bốn tháng
biệt trú. Sau khi sống bốn tháng biệt trú, các vị Tỷ-kheo
nếu đồng ý sẽ cho xuất gia, cho thọ đại giới để thành
vị Tỷ-kheo. Nhưng Ta nhận thấy cá tánh con người sai biệt
nhau.
29.
- Bạch Thế Tôn, nếu những người xưa kia là ngoại đạo
nay muốn xuất gia, muốn thọ đại giới trong Pháp và Luật
này phải sống bốn tháng biệt trú. Sau khi sống bốn tháng
biệt thú, các vị Tỷ-kheo nếu đồng ý sẽ cho xuất gia,
cho thọ đại giới, thời con sẽ xin sống biệt trú bốn năm,
sau khi sống biệt trú bốn năm, nếu các vị Tỷ-kheo đồng
ý, hãy cho con xuất gia, cho con thọ đại giới để thành vị
Tỷ-kheo.
Và
Thế Tôn nói với tôn giả Ananda:
- Này
Ananada, hãy xuất gia cho Subhadda.
- Xin
vâng, bạch Thế Tôn!
Tôn
giả Ananda vâng lời Thế Tôn.
30.
Du sĩ ngoại đạo Subhadda nói với tôn giả Ananda:
- Thật
là lợi ích, thưa Tôn giả Ananda, thật là thiện lợi, thưa
Tôn giả Ananda, được thọ lễ quán đảnh làm đệ tử trước
mặt bậc Ðạo Sư!
Và
du sĩ ngoại đạo Subhadda được xuất gia được thọ đại
giới với Thế Tôn. Thọ đại giới không bao lâu, đại đức
Subhadda ở một mình, an tịnh, không phóng dật, tinh tấn, sống
nhiệt tâm, cần mẫn. Và không bao lâu, vị này chứng được
mục đích tối cao mà con cháu các lương gia đã xuất gia,
từ bỏ gia đình, sống không gia đình hướng đến. Ðó là
vô thượng phạm hạnh ngay trong hiện tại, tự giác chứng
và an trú. Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những gì nên
làm đã làm, sau đời này sẽ không có đời sống khác nữa.
Và
đại đức Subhadda trở thành một A-la-hán nữa. Ðại đức
là vị đệ tử cuối cùng được Thế Tôn thế độ.
Tụng
phẩm VI
1.
Lúc bấy giờ, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:
- Này
Ananda, nếu trong các ngươi có người nghĩ rằng: "Lời nói
của bậc Ðạo sư không còn nữa. Chúng ta không có Ðạo sư
(giáo chủ)". Này Ananda, chớ có những tư tưởng như vậy.
Này Ananda, Pháp và Luật, Ta đã giảng dạy và trình bày, sau
khi Ta diệt độ, chính Pháp và Luật ấy sẽ là Ðạo Sư của
các Ngươi.
2.
Này Ananda, nay các vị Tỷ-kheo xưng hô với nhau là Hiền giả.
Sau khi Ta diệt độ, chớ có xưng hô như vậy. Này Ananda, vị
Tỷ-kheo niên lão hãy gọi vị Tỷ-kheo niên thiếu, hoặc bằng
tên, hoặc bằng họ, hoặc bằng tiếng Hiền giả. Vị Tỷ-kheo
niên thiếu, hãy gọi vị Tỷ-kheo niên lão là Thượng tọa
(Bhante) hay Ðại đức.
3.
Này Ananda, nếu chúng Tăng muốn, sau khi Ta diệt độ có thể
hủy bỏ những học giới nhỏ nhặt chi tiết.
4.
Này Ananda, sau khi Ta diệt độ, hãy hành tội Phạm đàn (Brahmadanda)
đối với Tỷ-kheo Channa.
- Bạch
Thế Tôn, thế nào là Phạm đàn?
- Này
Ananda, Tỷ-kheo Channa muốn nói gì thì nói. Chúng Tỷ-kheo sẽ
không nói, sẽ không giảng dạy, sẽ không giáo giới Tỷ-kheo
Channa.
5.
Rồi Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, nếu có Tỷ-kheo nào nghi ngờ hay phân vân gì
về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp, thời
này các Tỷ-kheo các Người hãy hỏi đi. Sau chớ có hối tiếc:
"Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng ta không tận
mặt hỏi Thế Tôn".
Khi
được nói vậy, các Tỷ-kheo ấy im lặng. Một lần thứ hai,
Thế Tôn.... Một lần thứ ba, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, nếu có một Tỷ-kheo có nghi ngờ hay phân vân
gì về đức Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp,
thời này các Tỷ-kheo, các ngươi hãy hỏi đi. Sau chớ có
hối tiếc: "Bậc Ðạo Sư có mặt trước chúng ta mà chúng
ta không tận mặt hỏi Thế Tôn".
Lần
thứ ba, các Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
Rồi
Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, nếu có vị nào vì lòng kính trọng bậc Ðạo
Sư mà không hỏi, thời này các Tỷ-kheo, giữa bạn đồng
tu, hãy hỏi nhau.
Khi
được nói vậy, những vị Tỷ-kheo ấy giữ im lặng.
6.
Rồi tôn giả Ananda bạch Thế Tôn:
- Bạch
Thế Tôn, thật kỳ diệu thay, bạch Thế Tôn, thật hy hữu
thay! Bạch Thế Tôn, con tin rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không
có một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với
Phật, Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp.
- Này
Ananda, ngươi có tín nhiệm nên nói vậy. Nhưng ở đây, này
Ananda, Như Lai biết rằng trong chúng Tỷ-kheo này, không có
một Tỷ-kheo nào có nghi ngờ hay phân vân gì đối với Phật,
Pháp, chúng Tăng, đạo hay phương pháp. Này Ananda, trong năm
trăm Tỷ-kheo này, Tỷ-kheo thấp nhất đã chứng được quả
Dự lưu, không còn đọa lạc, chắc chắn hướng đến Chánh
giác.
7.
Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:
- Này
các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi
là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".
Ðó
là lời cuối cùng Như Lai.
8.
Rồi Thế Tôn nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài
nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập Tam thiền. Xuất
Tam thiền, Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập
định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ, Ngài nhập
định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ, Ngài nhập
định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ, Ngài nhập định
Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng
xứ, Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.
Khi
ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:
- Thưa
Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.
- Này
Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập
Diệt thọ tưởng định.
9.
Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi
phi tưởng xứ định. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài
nhập Vô sở hữu xứ định. Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập
Thức vô biên xứ định. Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập
Hư không vô biên xứ định. Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài
nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định
Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền. Xuất
Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền, Ngài
nhập định Nhị thiền. Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định
Tam thiền. Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất
Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
10.
Khi Thế Tôn diệt độ, cùng với sự diệt độ, đại địa
chấn động khủng khiếp, râu tóc dựng ngược, sấm trời
vang động.
Khi
Thế Tôn diệt độ, Phạm thiên Sahampati, cùng lúc Ngài diệt
độ, thốt lên bài kệ này:
Chúng
sanh ở trên đời,
Từ
bỏ thân ngũ uẩn
Bậc
đạo sư cũng vậy,
Ðấng
Tuyệt luân trên đời.
Bậc
Ðại hùng Giác ngộ
Như
Lai đã diệt độ.
Khi Thế
Tôn diệt độ, Thiên chủ Sakka, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt
lên bài kệ này:
Các
hành là vô thường,
Có
sanh phải có diệt
Ðã
sanh, chúng phải diệt,
Nhiếp
chúng là an lạc.
Khi Thế
Tôn diệt độ, tôn giả Anuruddha, cùng lúc Ngài diệt độ,
thốt lên bài kệ này:
Không
phải thở ra vào
Chính
tâm trú chánh định
Không
tham ái tịch tịnh
Tu
sĩ hướng diệt độ
Chính
tâm tịnh bất động
Nhẫn
chịu mọi cảm thọ
Như
đèn sáng bị tắt
Tâm
giải thoát hoàn toàn.
Khi Thế
Tôn diệt độ, tôn giả Ananda, cùng lúc Ngài diệt độ, thốt
lên bài kệ này:
Thật
kinh khủng bàng hoàng,
Thật
râu tóc dựng ngược,
Khi
Bậc Toàn thiện năng,
Bậc
Giác ngộ nhập diệt.
Khi Thế
Tôn diệt độ, những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có
vị thì khóc than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than,
thân nằm nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập
diệt quá sớm, Thiện Thệt nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn
biến mất ở trên đời quá sớm". Còn những Tỷ-kheo đã
diệt trừ tham ái, những vị này an trú chánh niệm tỉnh giác,
nhẫn nại, suy tư: "Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi
sự kiện ấy?"
11.
Lúc bấy giờ, tôn giả Anuruddha nói với các Tỷ-kheo:
- Thôi
các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các
Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu
rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải sanh biệt, tử
biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể được
như vầy:"Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự biến
hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không có
sự trạng ấy". Này các Hiền giả, chính chư Thiên đang trách
đó.
- Thưa
Tôn giả Anuruddha, Tôn giả đang nghĩ đến hạng chư Thiên
nào?
- Hiền
giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên hư không nhưng có tâm
tư thế tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối,
khóc than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân bổ nhoài dưới
đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện
Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời
quá sớm".
Hiền
giả Ananda, có hạng chư Thiên ở trên đất với tâm tư thế
tục, những vị này khóc than với đầu bù tóc rối, khóc
than với cánh tay duỗi cao, khóc than thân nằm nhoài dưới
đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện
Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời
quá sớm". Còn những chư Thiên diệt trừ ái dục, những vị
này chánh niệm tỉnh giác, chịu đựng với tâm suy tư: "Các
hành là vô thường, làm sao có thể khác được?"
12.
Tôn giả Anuruddha và tôn giả Ananda luận bàn về Chánh pháp
suốt cả đêm còn lại. Rồi tôn giả Anuruddha nói với tôn
giả Ananda:
- Hiền
giả Ananda, hãy vào thành Kusinàrà: "Này Vàsetthà, Thế Tôn
đã diệt độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm".
- Tôn
giả, xin vâng!
Tôn
giả Ananda vâng lời tôn giả Anuruddha, buổi sáng đắp y, đem
theo y bát cùng một thị giả, vào thành Kusinàrà.
Lúc
bấy giờ, dân Mallà ở Kusinàrà đang tụ họp tại giảng
đường vì một vài công vụ. Tôn giả Ananda đến tại giảng
đường của dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đến liền nói
với dân Mallà ở Kusinàrà: "Này Vàsetthà, Thế Tôn đã diệt
độ, hãy làm những gì các ngươi nghĩ phải làm".
Dân
Mallà cùng với con trai, con gái và vợ, khi nghe tôn giả Ananda
nói như vậy liền đau đớn sầu muộn, tâm tư khổ não, kẻ
thì khóc than với đầu bù tóc rối, kẻ thì khóc than với
cánh tay duỗi cao, kẻ thì khóc than thân bổ nhoài dưới đất,
lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt quá sớm, Thiện Thệ
nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến mất ở trên đời quá
sớm".
13.
Rồi dân Mallà ở Kusinàrà ra lệnh cho những người làm: "Các
người hãy gom góp hương, tràng hoa và tất cả nhạc khí ở
Kusinàrà".
Rồi
dân Kusinàrà đem theo hương, tràng hoa, tất cả nhạc khí và
năm trăm cuộn vải đi đến Upavattana, tại rừng Sàlà của
dòng họ Mallà, đến tại chỗ thân xá lợi của Thế Tôn,
rồi chúng ở lại cả ngày tôn trọng, cung kính, đảnh lễ,
cúng dường thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát,
nhạc, tràng hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng
hoa Mandala.
Rồi
dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: "Hôm nay, nếu thiêu thân xá
lợi Thế Tôn thời quá sớm. Ngày mai, chúng ta sẽ làm lễ
thiêu thân xá lợi của Thế Tôn". Rồi dân Mallà ở Kusinàrà,
cả ngày thứ hai, tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường
thân xá lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng
hoa, hương, làm những bảo cái bằng vải và tràng hoa Mandala,
ngày thứ ba cũng như vậy, ngày thứ tư cũng như vậy, ngày
thứ năm cũng như vậy. Ngày thứ sáu cũng như vậy.
14.
Ðến ngày thứ bảy, dân Mallà ở Kusinàrà suy nghĩ: "Chúng
ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá
lợi Thế Tôn với các điệu múa hát, nhạc, tràng hoa, hương,
nay chúng ta hãy chở thân xác xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành
về phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy".
Lúc
bấy giờ tám vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc áo mới
với ý định khiêng nổi thân xá lợi Như Lai nhưng khiêng
không nổi được. Các vị Mallà ở Kusinàrà bạch Tôn giả
Anuruddha:
- Bạch
Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì tám vị tộc trưởng Mallà
này gội đầu, mặc áo mới với ý định khiêng nổi thân
xá lợi Như Lai, nhưng không khiêng nổi được?
- Này
Vàsetthà, vì ý định của các Ngươi khác, ý định của chư
Thiên khác.
15.
- Bạch Tôn giả, ý định của chư Thiên là gì?
- Này
các Vàsetthà, ý định của các Ngươi như sau:
"Chúng
ta đã tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá
lợi Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương.
Nay chúng ta hãy chở thân xá lợi Thế Tôn ra ngoài thành về
phía Nam và làm lễ thiêu thân tại chỗ ấy".
Này
các Vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: "Chúng ta đã
tôn trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi
Thế Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương hương
của Chư thiên nay chúng ta hãy khiêng thân xá lợi Thế Tôn
về hướng Bắc phía Bắc của thành. Sau khi khiêng qua cửa
phía Bắc, hãy khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về
phía Ðông, khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng
qua cửa phía Ðông, hãy khiêng đến phía Ðông của thành,
tại đền của dân Mallà tên là Makuta-bandhana và chúng ta sẽ
thiêu thân Thế Tôn tại chỗ ấy".
- Bạch
Tôn giả, ý định của chư Thiên thế nào, ý định của chúng
con cũng vậy.
16.
Lúc ấy, khắp cả Kusinàrà cho đến đống bụi, đống rác,
được rải la liệt lên đến đầu gối toàn hoa Mandaràva.
Rồi chư Thiên và các dân Mallà ở Kusinàrà, sau khi đã tôn
trọng, cung kính, đảnh lễ, cúng dường thân xá lợi Thế
Tôn với các điệu múa, hát, nhạc, tràng hoa, hương của chư
Thiên và loài Người, liền khiêng thân xá lợi Thế Tôn về
phía Bắc của Thành. Sau khi khiêng qua cửa phía Bắc, liền
khiêng qua Trung tâm của thành, rồi hướng về phía Ðông,
khiêng đến phía Ðông của thành. Sau khi khiêng qua cửa phía
Ðông, liền khiêng đến phía Ðông của thành, tại đền của
dân Mallà tên là Makuta-bandhana và đặt thân xá lợi của Thế
Tôn tại chỗ ấy.
17.
Rồi dân Mallà bạch tôn giả Ananda:
- Bạch
Tôn giả Ananda, chúng con nay phải xử sự như thế nào đối
với thân xá lợi Như Lai?
- Này
các Vàsetthà, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương như thế
nào, hãy xử sự thân xá lợi Như Lai như vậy.
- Bạch
Tôn giả Ananda, xử sự thân Chuyển luân Thánh vương phải
như thế nào?
- Này
cá Vàsetthà, thân Chuyển luân Thánh vương được vấn tròn
với vải mới. Sau khi vấn vải mới, lại được vấn thêm
với vải gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện, lại vấn
thêm với vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm
lớp cả hai loại vải. Rồi thân được đặt trong một hòm
dầu bằng sắt, hòm sắt này được một hòm sắt khác đậy
kín. Xong một giàn hỏa gồm mọi loại hương được xây dựng
lên, thân vị Chuyển luân Thánh vương được đem thiêu trên
giàn hỏa này, và tại ngã tư đường, tháp vị Chuyển luân
Thánh vương này được xây dựng lên. Này các Vàsetthà, đó
là pháp táng thân của vị Chuyển luân Thánh vương.
Này
các Vàsetthà, pháp táng thân của vị Chuyểb luân Thánh vương
như thế nào, pháp táng thân của Thế Tôn cũng như vậy. Tháp
của Như Lai phải được dựng lên tại ngã tư đường. Và
những ai đem đến tại chỗ ấy vòng hoa, hương, hay hương
bột nhiềumàu, đảnh lễ tháp hay khởi tâm hoan hỷ (khi đứng
trước mặt tháp) , thời những người ấy sẽ được lợi
ích, hạnh phúc lâu dài.
18.
Và các người Mallà ở Kusinàrà sai những người làm công:
- Hãy
đem lại tất cả vải gai bện của Mallà .
Rồi
những người Mallà ở Kusinàrà vấn tròn thân Thế Tôn với
vải mới. Sau khi vấn vải mới xong, lại vấn thêm với vải
gai bện. Sau khi vấn với vải gai bện lại vấn thêm với
vải mới và tiếp tục như vậy cho đến năm trăm lớp cả
hai loại vải. Rồi đặt thân Như Lai vào trong một hòm dầu
bằng sắt, đậy hòm sắt này vào một hòm sắt khác, dựng
lên một giàn hỏa gồm mọi loại hương và đặt thân Thế
Tôn trên giàn hỏa.
19.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mallà Kassapa đang đi giữa đường
từ Pàvà đến Kusinàrà với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm
trăm vị. Rồi Tôn giả Mallà Kassapa bước xuống đường và
đến ngồi tại một gốc cây.
Lúc
bấy giờ có một tà mạng ngoại đạo lấy một hoa Mandàrava
ở Kusinàrà và đang đi trên một con đường đến Pàvà.
Tôn
giả Mallà Kassapa thấy tà mạng ngoại đạo đi từ đàng xa
đến. Thấy vậy, tôn giả liền hỏi tà mạng ngoại đạo
ấy:
- Này
Hiền giả, Hiền giả có biết bậc Ðạo sư chúng tôi không?
- Này
Hiền giả, tôi có biết. Sa-môn Gotama đã diệt độ cách hôm
nay một tuần. Từ chỗ ấy, tôi được hoa Mandàrava này.
Lúc
ấy những Tỷ-kheo chưa giải thoát tham ái, có vị thì khóc
than với cánh tay duỗi cao, có vị thì khóc than, thân nằm
nhoài dưới đất, lăn lộn qua lại: "Thế Tôn nhập diệt
quá sớm, Thiện Thệ nhập diệt quá sớm, Pháp nhãn biến
mất ở trên đời quá sớm". Còn những Tỷ-kheo đã diệt
trừ tham ái, những vị bnày an trú chánh niệm, tỉnh giác
nhẫn nại suy tư: "Các hành là vô thường, làm sao tránh khỏi
sự kiện ấy?"
20.
Lúc bấy giờ, Subhadda được xuất gia khi đã lớn tuổi đang
ngồi trong hội chúng này. Subhadda được xuất gia khi đã lớn
tuổi nói với những Tỷ-kheo ấy:
- Thôi
các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Chúng ta
đã được thoát khỏi hoàn toàn vị Ðại Sa-môn ấy, chúng
ta đã bị phiền nhiễu quấy rầy với những lời: "Làm như
thế này không hợp với các Ngươi. Làm như thế này hợp
với các Ngươi". Nay những gì chúng ta muốn, chúng ta làm,
những gì chúng ta không muốn, chúng ta không làm.
Tôn
giả Mahà Kassapa mới nói với các vị Tỷ-kheo:
- Thôi
các Hiền giả, chớ có sầu não, chớ có khóc than. Này các
Hiền giả, phải chăng Thế Tôn đã tuyên bố ngay từ ban đầu
rằng mọi vật ưu ái thân tình đều phải bị sanh biệt,
tử biệt và dị biệt. Này các Hiền giả, làm sao có thể
được như vầy: Những gì sanh, tồn tại, hữu vi, chịu sự
biến hoại mà lại mong khỏi có sự biến dịch? Thật không
có sự trạng ấy.
21,
Lúc bấy giờ bốn vị tộc trưởng Mallà gội đầu, mặc
áo mới với ý định châm lửa thiêu giàn hỏa Thế Tôn nhưng
châm lửa không cháy.
Các
vị Mallà ở Kusinàrà bạch tôn giả Anuruddha:
- Bạch
Tôn giả, do nhân gì, do duyên gì, bốn vị tộc trưởng Mallà
này gội đầu, mặc áo mới với ý định châm lửa thiêu
giàn hỏa Thế Tôn, nhưng châm lửa không cháy?
- Này
các Vàsetthà, ý định của chư Thiên khác.
- Bạch
Tôn giả, ý định của chư Thiên như thế nào?
- Này
các vàsetthà, ý định của chư Thiên như sau: "Tôn giả Mahà
Kassapa nay đang đi giữa đường giữa Pàvà và Kusinàrà cùng
với đại chúng Tỷ-kheo khoảng năm trăm vị. Giàn hỏa Thế
Tôn chỉ được đốt cháy khi tôn giả Mahà Kassapa cúi đầu
đảnh lễ Thế Tôn".
- Bạch
Tôn giả, ý định chư Thiên như thế nào, hãy làm y như vậy.
22.
Rồi Tôn giả Mahà Kassapa đến tại đền Makuta Bandhana của
những vị Mallà tại giàn hỏa Thế Tôn, khi đến xong liền
choàng áo phía một bên vai, chấp tay, đi nhiễu phía tay phải
xung quanh giàn hỏa ba lần, cởi mở chân ra và cúi đầu đảnh
lễ chân Thế Tôn.
Năm
trăm vị Tỷ-kheo ấy choàng áo phía một bên vai, chấp tay,
đi nhiễu qua phía tay phải xung quanh giàn hỏa ba lần và cúi
đầu đảnh lễ chân Thế Tôn.
Và
khi tôn giả Mahà Kassapa và năm trăm vị Tỷ-kheo đảnh lễ
xong, thời giàn hỏa Thế Tôn tự bắt lửa cháy.
23.
Khi thân Thế Tôn đã cháy, từ da ngoài cho đến da mỏng, thịt,
dây gân hay nước giữa các khớp xương, thảy đều cháy sạch
không có tro, không có than, chỉ có xương xá lợi còn lại.
Như
sanh tô hay dầu bị cháy, tất cả đều cháy sạch không có
tro, không có than, cũng vậy khi thân Thế Tôn cháy, từ da ngoài
cho đến da mỏng, thịt, dây gân hay nước giữa khớp xương,
tất cả đều cháy sạch không có tro, không có than, chỉ có
xương xá lợi còn lại. Và năm trăm tầng lớp vải gai bện,
cả hai lớp trong nhất và lớp ngoài nhất đều bị cháy thiêu.
Khi
thân Thế Tôn bị thiêu cháy xong, một dòng nước từ hư không
chảy xuống tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn, và một dòng nước
từ kho nước (hay từ cây sàlà) phun lên tưới tắt giàn hỏa
Thế Tôn, và các người Mallà ở Kusinàrà dùng nước với
mọi loại hương tưới tắt giàn hỏa Thế Tôn.
Rồi
các người Mallà xứ Kusinàrà đặt xá lợi Thế Tôn trong
giảng đường, dùng cây thương làm hàng rào, dùng cây cung
làm bức thành xung quanh và trong bảy ngày tôn trọng, cung kính,
đảnh lễ, cúng dường với các điệu múa, hát, nhạc, vòng
hoa, hương.
24.
Vua nước Magadha tên là Ajàtasattu Vedehiputta nghe tin Thế Tôn
đã diệt độ ở Kusinàrà. Vua liền gởi một sứ giả đến
các người Mallà ở Kusinàrà "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ,
ta cũng là người Sát-đế-lỵ. Ta cũng xứng đáng được
một phần xá lợi Thế Tôn, ta cũng dựng tháp và tổ chức
nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn".
Những
người Licchavì ở Vesàli nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở
Kusinàrà liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở
Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng
là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được
phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng dựng tháp và tổ chức
nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn".
Các
người Sakyà ở Kapilavatthu nghe tin Thế Tôn đã diệt độ
ở Kusinàrà, liền gởi một sứ giả đến các người Mallà
ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng
là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được
một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp
và tổ chức các nghi lễ với xá-lợi Thế Tôn".
Những
người Buli ở Allakappa nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà,
liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà:
"Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người
Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần
xá-lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức
các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn".
Những
người Koli ở Rãmagãma nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở
Kusinàrà , liền gởi một sứ giả đến các người Mallà
ở Kusinàrà: "Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng
là người Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được
một phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp
và tổ chức các nghi lễ đối với xá lợi Thế Tôn."
Bà-la-môn
Vethadìpaka nghe tin Thế Tôn đã diệt độ ở Kusinàrà, liền
gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế
Tôn là người Sát-đế-lỵ, tôi là người Bà-la-môn. Tôi
cũng xứng đáng được một phần xá lợi Thế Tôn. Tôi cũng
sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối với xá-lợi
Thế Tôn".
Các
người Mallà ở Pàvà nghe tin Thế Tôn đã diệt độ liền
gửi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà: "Thế
Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người Sát-đế-lỵ.
Chúng tôi cũng xứng đáng được một phần xá-lợi Thế Tôn.
Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ đối
với xá-lợi Thế Tôn".
25.
Khi được nói vây các người Mallà ở Kusinàrà liền tuyên
bố giữa đại chúng:
- Thế
Tôn đã diệt độ tại làng vườn của chúng tôi, chúng tôi
sẽ không cho phần xá lợi nào của Thế Tôn.
Khi
nghe vậy. Bà-la-môn Dona nói với chúng:
Tôn
giả, hãy nghe lời tôi nói!
Phật
dạy chúng ta phải kham nhẫn.
Thật
không tốt nếu có tranh giành.
Khi
chia xá lợi bậc Thượng nhân.
Chúng
ta hãy đoàn kết nhất tâm,
Hoan
hỷ chia xá lợi tám phần.
Chúng
ta hãy dựng tháp mọi phương,
Ðại
chúng mười phương tin Pháp nhãn...
- Này
Tôn giả Bà-la-môn, Ngài hãy phân chia xá lợi ra tám phần
đồng đều.
- Xin
vâng, các Tôn giả.
Bà-la-môn
Dona vâng lời hội chúng ấy, phân chia xá-lợi Thế Tôn thành
tám phần đồng đều rồi thưa hội chúng:
- Các
Tôn giả, hãy cho tôi cái bình dùng để đông chia xá-lợi
này. Tôi sẽ dựng tháp và tổ chức các nghi lễ cho cái bình.
Và
hội chúng ấy tặng Bà-la-môn Dona cái bình.
26.
Và người Moriyà ở Pipphalivana nghe tin Thế Tôn đã diệt độ
liền gởi một sứ giả đến các người Mallà ở Kusinàrà:
"Thế Tôn là người Sát-đế-lỵ, chúng tôi cũng là người
Sát-đế-lỵ. Chúng tôi cũng xứng đáng được hưởng một
phần xá lợi Thế Tôn. Chúng tôi cũng sẽ dựng tháp và tổ
chức các nghi lễ đối với xá-lợi Thế Tôn". - "Nay không
còn phần xá-lợi Thế Tôn nào. Xá-lợi Thế Tôn đã được
phân chia, hãy lấy tro còn lại". Rồi các vị nầy lấy than
tro còn lại.
27.
Và vua nước Magadha tên là Ajàtasattu, con bà Videhi xây dựng
tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vương Xá và tổ chức lễ
cúng dường.
Những
người Licchavi ở Vesàli cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế
Tôn tại Vesàli và tổ chức lễ cúng dường.
Những
người Sakya ở Kapilavatthu cũng xây dựng trên xá-lợi Thế
Tôn tại Kapilavatthu và tổ chức lễ cúng dường.
Những
người Buli ở Allakappa cũng xây dựng tháp trên xá lợi Thế
Tôn tại Allakappa và tổ chức lễ cúng dường.
Những
người Koli ở Ràmagama cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế
Tôn tại Ràmagama và tổ chức lễ cúng dường.
Bà-la-môn
Vethadìpaka cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế Tôn tại Vethadìpa
và tổ chức lễ cúng dường.
Những
người Mallà ở Pàvà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi Thế
Tôn tại Pàvà và tổ chức lễ cúng dường.
Những
người Màllà ở Kusinàrà cũng xây dựng tháp trên xá-lợi
Thế Tôn tại Kusinàrà và tổ chức lễ cúng dường.
Bà-la-môn
Dona cũng xây dựng tháp trên bình (dùng để đong chia xá-lợi)
và tổ chức lễ cúng dường.
Những
người Moriyà ở Pipphalivana cũng xây dựng tháp trên những
than tro và tổ chức lễ cúng dường.
Như
vậy có tám tháp xá-lợi, tháp thứ chín trên bình (dùng để
đong chia xá-lợi) và tháp thứ mười trên tro (xá-lợi).
Ðó
là truyền thống thời xưa như vậy.
28.
Ðấng
Pháp Nhãn Vô Thượng
Xá-lợi
phân tám phần.
Bảy
phần được cúng dường.
Tại
Jambudìpa.
Một
phần Long vương cúng.
Tại
Ràmagàma.
Một
răng Phật được cúng,
Tại
cõi Tam Thiên giới,
Một
tại Gandhàra,
Một
tại Kalinga.
Một
răng, vua Long vương.
Tự
mình riêng cúng dường.
Quả
đất được chói sáng,
Với
hào quang xá-lợi,
Với
lễ vật cúng dường.
Hạng
thượng phẩm, thượng đẳng.
Xá-lợi
đấng Pháp Nhãn.
Như
vậy được cúng dường,
Bởi
những bậc tôn trọng
Cúng
kính lễ cúng dường,
Bởi
những bậc tôn trọng
Cúng
kính lễ cúng dường.
Bởi
Thiên, Long, Nhơn chủ,
Bởi
bậc Tối thượng nhơn.
Các
người hãy chắp tay,
Cung
kính lễ cúng dường.
Khó
thay sự chiêm ngưỡng.
Tôn
nhan bậc Như Lai.
Trải
nhiều nhiều trăm kiếp,
May
lắm được một phần.
Hòa
thượng Thích Minh Châu dịch Việt
Bản
dịch Anh ngữ