CHƯƠNG
XXVII: QUÁN TÀ KIẾN
Hỏi:
Đã nghe pháp Đại thừa phá tà kiến, nay muốn nghe pháp Thanh
văn phá tà kiến.
Đáp:
Tôi
ở đời quá khứ,
Là
có hay là không?
Thế
gian thường, các kiến,
Đều
y đời quá khứ.[1] [1]
Tôi
ở đời vị lai,
Là
tác, là vô tác.
Chấp
hữu biên, vô biên,
Đều
y đời vị lai. [2]
Nay
tôi ở đời quá khứ là có hay là không? Là vừa có vừa
không? là chẳng phải có chẳng phải không? Đó gọi là những
kiến chấp thường v.v.. ;đều y đời quá khứ. Tôi ở đời
vị lai là tạo tác hay không tạo tác? Là vừa tạo tác vừa
không tạo tác? chẳng phải tạo tác chẳng phải không tạo
tác? Ấy là những tà kiến hữu biên, vô biên v.v.. căn cứ
đời vị lai. Những tà kiến như thế, bởi nhân duyên gì
mà gọi tà kiến? Điều ấy nay sẽ nói:
Đời
quá khứ có tôi,
Điều
ấy không thể được.
Tôi
trong đời quá khứ,
Không
làm tôi đời nay. [3]
Nếu
nói ngã tức thị,
Mà
thân có tướng khác.
Nếu
như lìa thân này,
Chỗ
nào riêng có ngã?[2] [4]
Lìa
thân không, có ngã,
Điều
ấy là đã thành.
Nếu
nói thân tức ngã,
Hoặc
đều không có ngã.[3] [5]
Nhưng
thân không là ngã,
Vì
thân tướng sanh diệt.
Làm
sao cho cái thọ,
Mà
làm thành Thọ giả? [6]
Nếu
lìa thân có ngã,
Điều
ấy tất không đúng.
Không
thủ mà có ngã,
Nhưng
thật không thể được. [7]
Nhưng
nay không lìa thủ,
Mà
chẳng phải chính thủ.
Chẳng
không thủ chẳng không,
Đây
tức nghĩa quyết định. [8]
Tôi
có mặt trong đời quá khứ; điều ấy tất không đúng. Vì
sao? Tôi trong đời trước, không phải là tôi hiện nay. Vì
có lỗi về thường hằng. Nếu chấp thường có thì vô lượng
lỗi. Vì sao? Như người do nhân duyên tu phước làm trời sau
đó làm người; nếu tôi đời trước tức là tôi đời nay
thì trời tức là người. Lại, vì người bởi nhân duyên
gây nghiệp tội lỗi làm Chiên-đà-la, sau làm Bà-la-môn; nếu
tôi đời trước tức là tôi hiện nay thì Chiên-đà-la tức
là Bà-la-môn. Thí như người Bà-la-môn ở nước Xá-vệ tên
là Đề-đạt đi đến thành Vương xá nó cũng gọi là Đề-đạt,
không vì đến thành Vương xá mà có tên khác. Nếu trước
làm trời sau làm người, thời trời tức là người, Chiên-đà-la
tức Bà-la-môn. Song điều ấy không đúng. Vì sao? Trời không
phải là người, Chiên-đà-la không phải là Bà-la-môn. Có
những lỗi về sự thường hằng như vậy.
Nếu
nói tôi đời trước không trở thành tôi hiện nay, như người
khi giặt áo gọi là người giặt, khi cắt cỏ gọi là người
cắt; nhưng người giặt cùng người cắt tuy hành động có
khác nhưng thân không khác. Như thế, tôi khi thọ thân trời
gọi là trời, tôi lúc thọ thân người gọi là người, tôi
không khác mà thân có khác. Điều ấy không đúng. Vì sao?
Nếu chính là người, không thể nói trời làm người. Nay
người giặt y và người cắt cỏ là khác hay là không khác?
Nếu không khác người giặt y tức là người cắt cỏ, như
thế trời đời trước chính là người, Chiên-đà-la, chính
là Bà-la-môn, nếu thế tôi cũng có lỗi thường. Nếu là
khác, người giặt y, tức không trở thành người cắt cỏ,
như thế, trời không trở thành người, tôi cũng vô thường.
Vô thường thì không có tướng tôi; thế nên không được
nói “chính là” (tức thị).
Hỏi:
Tôi chính là một, song vì nhơn bởi thủ mà phân biệt là
trời, là người. Thủ là thân ngũ ấm; vì nhân duyên nghiệp
cho nên phân biệt là trời, là người, là Chiên-đà-la là
Bà-la-môn mà tôi thật chẳng phải trời, người, Chiên-đà-la,
Bà-la-môn. Thế nên, không có những sai lầm như vậy.
Đáp:
Điều ấy không đúng. Vì sao? Nếu thân là là trời, là người,
là Chiên-đà-la là Bà-la-môn chứ chẳng phải là tôi, tất
khi lìa thân mà có ngã riêng biệt. Nay tạo tội phước, sanh
tử qua lại, đều chính là thân ấy mà chẳng phải là tôi.
Vì nhân duyên tạo tội bị đọa trong ba nẽo. Là do nhân duyên
làm phước được sanh vào ba đường lành. Nếu những buồn,
vui, giận, mừng, lo sợ v.v.. đều là thân ấy mà chẳng phải
là tôi thì cần có tôi làm gì? Như trị tội kẻ thế tục,
không liên hệ người xuất gia. Nhơn duyên ngũ ấm tương tục
tội phước không mất cho nên có giải thoát. Nếu đều là
thân ấy nhưng chẳng phải là tôi, thì cần có tôi làm gì?
Hỏi:
Tội phước v.v.. là y chỉ ở ngã; vì ngã có sở tri, thân
không sở tri, tri tức là ngã. Nhơn duyên khởi nghiệp tội,
phước là pháp tạo, nên biết phải có tác giả. Tác giả
là ngã, thân là sở dụng của ngã cũng là nơi sở trú của
ngã. Thí như ông chủ nhà dùng cỏ, nước, đất, bùn, gạch
v.v.. làm nhà, tùy theo sự ưa thích của mình mà xây dựng
ngôi nhà có tốt hay xấu; ngã cũng như thế, tùy theo sự tạo
tác, tu thiện v.v.. mà có thân tốt, xấu. Sáu đường sanh
tử đều do ngã tạo nên, thế nên, thân tội phước đó đều
thuộc ở ngã. Ví như ngôi nhà chỉ thuộc của ông chủ nhà,
không thuộc người khác.
Đáp:
Dụ ấy không đúng. Tại sao? Vì ông chủ nhà có hình tướng,
có xúc chạm, có khí lực cho nên có thể sửa sang nhà. Ngã
mà ông nói không có hình dáng, xúc chạm nên không có sức
tạo tác. Tự nó không có sức tạo tác cũng không thể bảo
người khác tạo tác. Nếu trong thế gian có một pháp nào
không hình tướng, không xúc chạm mà có thể tạo tác được
thì tôi có thể tin nhận, biết có tác giả; song điều ấy
không đúng. Nếu ngã là tác giả thì lẽ ra không nên tự
tạo những việc khổ; nếu là người nghĩ nhớ, nên nghĩ
điều vui thích không thể quên mất. Nếu ngã không tạo khổ
mà khổ miễn cưỡng sanh; thì ngoài ra tất cả cũng tự phát
sanh, chẳng phải cái do tôi tạo. Nếu người thấy là tôi,
thì khi mắt nhìn thấy sắc; mắt tức là ngã. Nếu mắt thấy
sắc nhưng nó không phải là tôi thì trái với lời trước
của ông, nói rằng người thấy là ngã. Nếu người thấy
là ngã; ngã tất không thể nghe ra tiếng v.v.. Tại sao? Vì
mắt là người thấy, không thể nghe tiếng vậy. Thế nên
nói rằng ngã thấy, điều ấy không đúng. Nếu nói như người
cắt cỏ dùng liềm để cắt cỏ, ngã cũng như thế, dùng
tay v.v.. để làm các công việc như vậy. Dụ ấy không đúng.
Vì sao? Nay rời liềm, riêng có người cắt cỏ; nhưng lìa
thân tâm, các căn, không thể riêng có tác giả. Nếu nói,
tác giả tuy chẳng phải sở đắc các thứ mắt, tai v.v…nhưng
cũng có tạo tác, thì người thạch nữ có thể sinh con. Như
thế tất cả các căn đều nên không có ngã. Nếu nói, mắt
bên hữu nhìn thấy sự vật mà mắt bên trái nhận biết,
nên biết riêng có người thấy; điều ấy không đúng. Tại
sao? Nay, tay bên hữu quen làm, mà tay bên trái thì không thể;
thế nên không riêng có tác giả. Nếu riêng có tác giả thì
điều mà tay mặt quen làm, tay trái cũng làm được, mà thật
không thể; thế nên không có tác giả. Lại nữa, người chủ
trương ngã có tạo tác[4] nói rằng thấy người khác ăn quả
me, trong miệng chảy nước miếng; đó là tướng ngã, điều
ấy không đúng. Tại sao? Vì đó là niệm lực, không phải
sức của ngã vậy; do không phải sức của ngã, lại cũng
tức là nhơn duyên phá ngã. Như người ở trong đám đông
biết hổ thẹn lúc chảy nước miếng mà nước miếng vẫn
chảy; không được tự tại, nên biết không có ngã.
Lại
nữa, nếu có tội lỗi điên đảo. Đời trước là cha đời
nay là con, thì cha và con, ngã là một, nhưng thân có khác.
Như từ một nhà đến một nhà, cha vẫn là cha, không do vào
nhà khác mà có khác. Nếu có ngã thì cả hai (cha và con) tức
là một; như thế thì có đại lỗi.
Nếu
nói, vô ngã trong năm ấm tương tục; cũng có lỗi ấy. Điều
đó không đúng. Vì sao? Năm ấm tuy tương tục, nhưng có khi
hữu dụng, hoặc có lúc vô dụng. Như nước nho, người giữ
giới nên uống; nhưng cũng nuớc ấy đem làm rượu, không
nên uống; nếu là rượu thuốc để trị bịnh thì được
uống. Năm ấm tương tục cũng vậy, có lúc hữu dụng, có
lúc vô dụng. Nếu thủy chung một ngã, có lỗi như vậy; nhưng
năm ấm tương tục không có lỗi như thế. Song ngũ ấm hòa
hiệp giả danh là ngã, không có quyết định. Như kèo và đòn
tay phối hợp làm nhà, ngoài đòn tay và kèo không riêng có
nhà.. Cũng vậy, năm ấm hòa hợp cho nên có ngã. Nếu lìa
năm ấm, thật không riêng có ngã. Thế nên ngã chỉ có giả
danh, không quyết định có thật.
Ông,
trước nói, lìa thủ, riêng có người chấp thủ[5]. Do thủ
mà phân biệt kẻ chấp thủ là trời, là người; ấy đều
không đúng. Nên biết, chỉ có thủ, không riêng người chấp
thủ. Nếu lìa thủ, riêng có ngã, điều ấy không đúng. Nếu
lìa thủ có ngã, làm thế nào có thể được nói đó là tướng
của ngã? Nếu không có tướng để có thể nói, thì lìa thủ
không có ngã. Nếu nói, lìa thân không có ngã, nhưng chính
thân là ngã; điều đó cũng không đúng. Vì sao? Thân có tướng
sanh diệt, ngã không phải thế.
Laị
nữa, làm sao cho rằng thủ tức là người chấp thủ? Nếu
bảo, lìa thủ có người chấp thủ; điều ấy cũng không
đúng. Nếu không chấp thủ năm ấm mà có người chấp thủ
thì nên lìa năm ấm riêng có người chấp thủ. Nhãn căn v.v..
khả đắc (có ngã) mà thật bất khả đắc; thế nên ngã
không lìa thủ, không tức là thủ, cũng chẳng phải không
thủ, cũng lại chẳng phải là không. Đây là nghĩa quyết
định. Thế nên, phải biết, đời quá khứ có ngã, điều
ấy không đúng. Vì sao?
Ngã
quá khứ không tạo,
Điều
ấy tất không đúng.
Ngã
trong đời quá khứ,
Khác
nay cũng không đúng. [9]
Nếu
nói ngã có khác,
Lìa
kia nên có nay.
Ngã
trú ở quá khứ,
Mà
ngã nay tự sanh. [10]
Như
thế thì đoạn diệt,
Mất
hết nghiệp quả báo.
Kia
tạo mà đây thọ,
Có
những lỗi như thế. [12]
Trước
không mà nay có,
Trong
đây cũng có lỗi.
Ngã
tất là tác pháp,
cũng
chính là vô nhơn. [13]
Ngã
trong đời quá khứ không tạo ra ngã hiện nay, điều ấy không
đúng. Vì sao? Ngã đời quá khứ và ngã hiện nay không khác.
Nếu ngã ngày nay ngã đời quá khứ khác thì
nên lìa ngã kia, có ngã này. Lại ngã đời quá khứ cũng nên
trú ở đó, còn thân này thì tự sinh ra. Nếu thế, rơi vào
cực đoan đoạn diệt, mất những quả báo
của nghiệp. Lại người kia tạo tội, người này chịu quả
báo; có những vô lượng lỗi như thế. Lại, ngã ấy, là
trước không nay có, cũng có lỗi. Ngã tất là tác pháp (tự
tạo ra) cũng là không nhơn mà sanh. Thế nên ngã quá khứ không
tạo ngã hiện nay; điều ấy không đúng.
Lại
nữa:
Như
trong đời quá khứ,
Chấp
có ngã không ngã.
Hoặc
cộng hoặc bất cộng,
Điều
ấy đều không đúng. [14]
Như
thế, suy tìm tà kiến liên hệ đời quá khứ: có, không; vừa
có vừa không; chẳng phải có, chẳng phải không; những tà
kiến đó, trước dùng mọi cách đã nói sai lầm rồi, nên
đều không đúng.
Ngã
ở đời vị lai,
Có
tạo hay không tạo;
Kiến
chấp như thế đó,
Đều
đồng thời quá khứ. [15]
Ngã
trong đời vị lai là tạo hay không tạo, bốn cú nghĩa như
thế cũng như lỗi trong đời quá khứ, cần phải hiểu theo
đó.
Lại
nữa:
Nếu
trời tức là người,
Đó
là cực đoan thường.
Trời
như vậy không sanh;
Vì
pháp thường, không sanh. [16]
Nếu
trời tức là người; như thế là thường. Nếu trời không
sanh vào loài người, làm sao được gõi là người? Vì pháp
thường, là không sanh. Như vậy, là không đúng.
Nếu
trời khác với người,
Như
thế là vô thường.
Nếu
trời mà khác người,
Thì
tất không tương tục. [17]
Nếu
trời và người là khác, như thế là vô thường. Vô thường
thì phạm các sai lầm của cực đoan đoạn diệt. Lỗi như
trước đã nói. Nếu trời và người có khác, như thế thì
không tương tục. Nếu có tương tục, không được nói là
khác. Lại nữa:
Nếu
nữa trời, nữa người,
Thì
rơi vào nhị biên,
Thường
cùng với vô thường;
Điều
ấy thì không đúng. [18]
Nếu
chúng sanh, phân nữa thân là trời, nữa thân là người; nếu
thế, tất là vừa thường vừa vô thường: phân nữa trời
là thường, phân nữa người là vô thường, song điều ấy
không thể. Tại sao? Vì có lỗi một thân mà hai tướng.
Lại
nữa:
Nếu
thường và vô thường,
Hai
sự thể mà thành;
Như
thế thì nên thành,
Phi
thường, phi vô thường. [19]
Nếu
thường và vô thường, cả hai đều tựu thành, nhiên hậu
mới tựu thành phi thường phi vô thường, vì cùng với thường
vô thường trái nhau. Nay thật sự thường và vô thường không
thành, thế nên phi thường phi vô thường, cũng không thành.
Lại nữa, hiện nay sanh từ vô thỉ, ấy cũng không thành.
Vì sao?
Pháp
quyết định có đến,
Và
quyết định có đi;
Sanh
tử tất vô thủy.
Mà
thật không việc này. [20]
Pháp
nếu quyết định có chỗ đến và có chỗ đi thì sanh tử
hẳn là vô thủy. Pháp ấy, bằng trí tuệ mà suy tìm, không
thể có từ chỗ nào đến và sẽ đi về đâu; cho nên sanh
tử vô thỉ; điều ấy không đúng.
Lại
nữa:
Nay
nếu không có thường,
Làm
sao có vô thường?
Vừa
thường vừa vô thường?
Phi
thường phi vô thường? [21]
Nếu
vậy, bằng trí tuệ mà tìm kỹ, không có pháp nào có thể
được nhận thức như là thường, thế thì ai sẽ có cái
vô thường? Vì nhân bởi thường mà có vô thường; nếu cả
hai đều không, làm thế nào có vừa thường vừa vô thường?
Nếu không có thường và vô thường, làm sao có phi thường
phi vô thường? Vì nhơn vừa thường vừa vô thường mà có
phi hữu thường phi vô thường. Thế nên căn cứ đời quá
khứ với bốn cú nghĩa thường v.v.. là bất khả đắc. Y
chỉ đời vị lai với bốn cú nghĩa hữu biên, vô biên v.v..;
điều ấy không thể được. Vì sao? Nay sẽ nói:
Hoặc
thế gian hữu biên,
Làm
sao có đời sau?
Nếu
thế gian vô biên,
Làm
gì có đời sau? [22]
Nếu
thế gian hữu biên, không thể có đời sau. Nhưng nay thật
có đời sau. Vậy nên, thế gian hữu biên, không đúng. Nếu
thế gian vô biên, cũng không thể có đời sau, mà thật có
đời sau; vậy nên, thế gian vô biên, cũng không đúng. Lại
nữa, hai biên ấy là bất khả đắc. Vì sao?
Năm
ấm thường tương tục,
Cũng
như ngọn đèn cháy.
Vì
vậy, nên thế gian,
Không
hữu biên, vô biên. [23]
Từ
năm ấm lại sanh năm ấm. Năm ấm ấy thứ tự tiếp nối
nhau, như các duyên hòa hợp có ngọn đèn cháy; nếu các duyên
không hết thì ngọn đèn không tắt; nếu các duyên hết thì
đèn tắt. Thế nên, không thể nói, thế gian hữu biên hay
vô biên.
Lại
nữa:
Nếu
năm ấm trước hoại,
Không
nhơn năm ấm này,
Lại
sanh năm ấm khác,
Thế
gian tất hữu biên. [24]
Nếu
ấm trước không hoại,
Cũng
không nhơn ấm này,
Mà
sanh năm ấm sau,
Thế
gian tất vô biên. [25]
Nếu
năm ấm trước hoại diệt, không nhơn năm ấm này để sanh
năm ấm sau; như vậy, tất thế gian là hữu biên. Nếu năm
ấm trước hoại diệt rồi lại không sanh năm ấm khác, ấy
gọi là biên tế. Biên tế là thân cuối cùng. Nếu năm ấm
trước không hoại diệt thì không nhơn năm ấm này mà sanh
năm ấm sau, thế gian tất vô biên, ấy là thường. Nhưng thật
không phải. Thế nên, thế gian vô biên. Điều ấy không đúng.
Thế gian có hai thứ, quốc độ thế gian và chúng sanh thế
gian. Ở đây, là chúng sanh thế gian.
Lại
nữa: Như trong Luận “Tứ bách quán”[6] nói:
Pháp,
người nói, người nghe,
Ba
chân thật, khó có.
Như
thế tất sanh tử,
Phi
hữu biên vô biên. [26]
Vì
nhân duyên không được pháp chân thật, nên sanh tử qua lại
không có biên tế. Hoặc giả có khi được nghe chân pháp,
đắc đạo; không thể nói không biên tế. Nay sẽ lại phá
vừa hữu biên vừa vô biên.
Thế
gian nữa hữu biên,
Thế
gian nữa vô biên;
Thế
gian vừa hữu biên
Vừa
vô biên, không đúng. [27]
Nếu
thế gian nữa hữu biên, nữa vô biên thì có thể vừa hữu
biên vừa vô biên. Nếu vậy, thì một pháp có hai tướng;
điều ấy không đúng. Vì sao?
Kia
chấp thủ năm ấm,
Làm
sao một phần phá,
Và
một phần không phá?
Điều
ấy tất không đúng. [28]
Thủ
cũng lại như thế,
Làm
sao một phần phá,
Và
một phần không phá?
Điếu
ấy tất không đúng. [29]
Năm
ấm bị chấp thủ ấy, làm thế nào một phần bị phá một
phần không bị phá? Cùng một sự thể, không thể vừa thường
vừa vô thường. Thủ cũng như thế, làm sao một phần bị
phá, một phần không bị phá? Vì có lỗi về hai tướng thường
và vô thường. Thế nên, thế gian vừa hữu biên vừa vô biên;
ấy tất không đúng.
Nay
sẽ hủy phá kiến chấp, phi hữu biên, phi vô biên.
Vừa
hữu biên, vô biên,
Hai
điều ấy nên thành;
Phi
hữu, phi vô biên,
Điếu
này mới được thành. [30]
Trái
với hữu biên mà có vô biên; trái với dài mà có ngắn; trái
với cái có và không thì mới có cái vừa có vừa không. Trái
với cái vừa có vừa không thì mới có cái phi có cái phi
không. Nếu cái vừa hữu biên vừa vô biên quyết định tựu
thành thì mới có phi hữu biên phi vô biên. Tại sao? Vì tương
đãi vậy. Trên đã phá cú nghĩa thứ ba là vừa hữu biên
vừa vô biên, nay làm thế nào có phi hữu biên phi vô biên?
Bởi vì không đối đãi nhau. Như thế suy tìm hữu biên, vô
biên v.v.. bốn kiến chấp y chỉ đời vị lai đều không thể.
Lại
nữa:
Vì
tất cả pháp không,
Thế
gian thường vân vân,
Ở
xứ nào thời nào,
Ai
khởi các kiến đó? [31]
Trên
đã dùng pháp Thanh văn phá các kiến chấp. Nay đây trong pháp
Đại thừa nói các pháp từ xưa đến nay cứu kính Không tánh,
trong pháp tánh Không như thế, không người, không pháp, không
nên sanh tà kiến, chánh kiến.
Xứ
là chỉ đất đai. Thời chỉ cho số ngày tháng năm. Ai [7]là
chỉ về người. Đó là thể của những kiến chấp. Nếu
có kiến chấp hữu thường vô thường v.v.. , thì quyết định
phải có người xuất sanh kiến chấp này. Vì phá ngã cho nên
không người sanh khởi kiến chấp ấy. Sắc pháp có nơi chốn
được thấy bằng hiện thực, còn có thể bị phá, huống
là thời gian phương sở. Nếu có những tà kiến thì nên có
quyết định thật, nếu có định thật thì không nên phá.
Từ trước đến đây đã dùng mọi cách để phá; thế nên
phải biết kiến chấp không có tự thể cố định, làm thế
nào được sanh? Như bài tụng nói: “Chỗ nào, thời nào,
ai khởi cá kiến chấp ấy.”
Đại
Thánh chúa Cù-đàm,
Thương
tưởng nói pháp này;
Đoạn
tất cả kiến chấp,
Con
nay cúi đầu lễ.
Tất
cả kiến chấp, lược nói năm thứ, nói rộng thì 62 kiến
chấp. Vì để đoạn trừ những kiến chấp mà nói pháp. Đức
Đại Thánh Chúa Cù Đàm là người trí tuệ vô lượng, vô
biên bất khả tư nghì, thế nên con cúi đầu đảnh lễ.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Chương Quán Tà Kiến là chương cuối cùng trong bộ T.Q.L. Ngài
Long Thọ Bồ Tát mục đích muốn để chương này sau cùng
là muốn nhắc hành giả nghiên cứu chân lý Phật giáo. Sở
dĩ chúng sanh say đắm trong lục đạo sanh tử luân hồi, chính
là do nhận thức sai lầm, nhận giả làm chân, thấy tà làm
chánh, chấp các pháp vô thường cho là thường. Nếu nhận
thức sai lầm, cực đoan thiên vị, thì tâm hồn được thanh
thoát. Muốn chấm dứt tà kiến, thì phải nhận định rằng
các pháp đều do nhân duyên sanh, không thật có. Như trong chương
I giải bày.
[2]
Phạn: sa evàtmeti tu bhaved upàdànaư viziwyate, upàdànavinirmukta
àtmà te katamahï punahï, Nếu cho rằng ‘Nó là tự ngã’ thế
thì nó khu biệt với thủ. Nếu tách biệt thủ, làm sao có
tự ngã của ngươi?
[3]
.Hai câu 416, 417, Long Thọ Bồ Tát đem cái ngã thời quá khứ
và thân ngã hiện tại và cái ngã vị lai, dùng để phân tích
cái ngã thời nào có thật, hay không thật. Nó là thường
tồn hay đoạn diệt; Nó là thuộc hữu biên, có gia hạn, hay
vô biên không ngằn mé? Ngã quá khứ có đồng với thân hay
khác với thân ngã hiện tại… Ngã quá khứ hiện tại, nó
có thể tạo cái ngã tương lai không?
Kết
Luận: Đức Phật thuyết pháp giáo hóa, có sự, có lý, có
tánh, có tướng. Đứng về phương diện sự tướng, thì muôn
sự muôn vật ngoại cảnh không phải không có. Nhưng đứng
về lý tánh, thì tất cả các pháp là Chân không tánh không
bao la pháp giới, không pháp nào đứng ngoài mà có.
[4]
Để bản: hữu ngã. Tống-Nguyên-Minh: hữu ngã tác.
[5]
Hán: thọ và thọ giả.
[6]
Tứ bách quán luận, hay Tứ bách luận, tác phẩm của Thánh
Thiên (Àrya-Deva). Cát Tạng phân vân không biết bài tụng
này do chính Long Thọ tự dẫn hay do người chú giải trích
dẫn. Trong bản Phạn hiện không ghi bài kệ này.
[7]
Xứ, thời và ai: Các từ trong bài kệ được giải thích.
HẾT
Chân
Thành Cảm Tạ Sư Bà Thích Nữ Chân Hiền Đã Trao Tặng Thư
Viện Hoa Sen Cuốn Sách Này Nhân Dịp Ban Biên Tập Đến Thăm
Sư Bà Vào Đầu Xuân Giáp Thân 2004 tại Huế (Tâm Diệu)
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt