CHƯƠNG
XXIV: QUÁN TỨ ĐẾ
Hỏi:
Phá được bốn điên đảo, thông đạt bốn Thánh đế, đắc
bốn quả sa môn.
Nếu
tất cả đều không,
Không
sanh cũng không diệt;
Như
thế thì không có,
Pháp
bốn Thánh đế ấy.[1] [1]
Vì
bốn Thánh đế không;
Thấy
khổ cùng đoạn tập,
Chứng
diệt và tu đạo,
Việc
như thế đều không. [2]
Bởi
vì việc ấy không,
Không
có bốn đạo quả.
Vì
không có bốn quả,
Đắc,
hướng[2] ấy cũng không. [3]
Nếu
không Tám Hiền Thánh[3],
Thì
không có Tăng bảo.
Do
vì không Tứ đế,
Cũng
không có Pháp bảo. [4]
Pháp,
Tăng bảo không có,
Cũng
không có Phật bảo.
Nói
nghĩa không như vậy,
Thế
là phá Tam Bảo. [5]
Nếu
tất cả thế gian đều không, không thật có, tức không sanh
không diệt. Bởi vì không sanh, không diệt nên không có pháp
bốn Thánh đế. Vì sao? Từ Tập đế sanh Khổ đế. Tập đế
là nhân, Khổ đế là quả. Diệt “khổ tập đế”0 gọi
là Diệt đế. Có khả năng đưa đến Diệt đế gọi là Đạo
đế. Đạo đế là nhân, Diệt đế là quả. Như thế Tứ
đế có nhân, có quả. Nếu không sanh không diệt thì không
Tứ đế. Vì Tứ đế không có, nên không thấy khổ, đoạn
tập, chứng diệt, tu đạo. Vì bốn sự kiện ấy là không
nên không có bốn Sa môn quả; và không bốn sa môn quả cho
nên không có bốn hướng và bốn đắc. Nếu không có bốn
bậc Hiền Thánh này thì không có Tăng bảo. Lại vì bốnThánh
đế không; Pháp bảo cũng không. Nếu không Pháp bảo và Tăng
bảo, làm sao có Phật bảo? Đắc Pháp gọi là Phật, không
pháp làm thế nào có Phật? Ông nói các pháp đều không thì
phá hoại Tam bảo.
Lại
nữa:
Pháp
Không, hoại nhân quả,
cũng
hoại lý tội phước.
Cũng
là hoại tất cả,
Nhất
thiết pháp thế gian. [6]
Nếu
người chấp nhận pháp không thì phá tội phước và quả
báo tội phước, cũng phá luôn pháp thế tục. Vì có những
lỗi như thế v.v.. nên các pháp chẳng thể không.
Đáp:
Nay
ông thật không thể,
Biết
không, nhân duyên không[4];
Và
chẳng biết nghĩa không;
Thế
nên tự sanh não. [7]
Ông
không hiểu rõ tánh không là gì? vì nhân duyên gì mà nói không?
Cũng chẳng hiểu rõ nghĩa không. Vì không thể biết như thật
nên sanh khởi nghi nạn như thế.
Lại
nữa:
Chư
Phật y hai đế,
Vì
chúng sanh nói pháp.
Một
là thế tục đế.
Hai
đệ nhất nghĩa đế. [8]
Nếu
người không thể biết,
Phân
biệt hai đế này;
Đối
thậm thâm Phật Pháp,
Không
biết nghĩa chân thật. [9]
Thế
tục đế, theo đó, tất cả pháp tánh là không, nhưng vì thế
gian điên đảo sanh khởi pháp hư vọng; đối với thế gian,
nó là thật. Chư Hiền Thánh biết một cách chân thật tánh
nó điên đảo; biết tất cả pháp đều không, không sanh.
Đối với bậc Thánh nhân đệ nhất nghĩa đế đó được
gọi là thật. Chư Phật y trên hai đế vì chúng sanh nói pháp.
Nếu người không thể biết như thật phân biệt hai đế,
đối với pháp thậm thâm của Phật, không thể biết nghĩa
chân thật. Nếu nói, tất cả pháp không sanh là đệ nhất
nghĩa đế mà không cần cái thứ hai là thế tục đế; điều
ấy cũng không đúng. Tại sao?
Không
y thế tục đế,
Không
được đệ nhất nghĩa.
Không
đạt đệ nhất nghĩa,
Thì
không đắc Niết-bàn. [10]
Đệ
nhất nghĩa đều nhơn ngôn thuyết; ngôn thuyết là thế tục.
Thế nên, nếu không y thế tục thì đệ nhất nghĩa không
thể nói. Nếu không được đệ nhất nghĩa, làm thế nào
đạt đến Niết-bàn? Thế nên, các pháp tuy không sanh mà có
hai đế.
Lạinữa:
Không
thể chánh quán không,
Độn
căn tất tự hại.
Như
không khéo chú thuật,
Không
khéo bắt rắn độc. [11]
Nếu
người độn căn không khéo hiểu rõ pháp không; do hiểu sai
lạc Không mà sanh khởi tà kiến. Như người vì ham lợi mà
bắt rắn dộc; không biết khéo bắt, trở lại bị nó làm
hại. Cũng như chú thuật, muốn làm điều gì mà không thể
khéo thành, tất trở lại tự hại. Người độn căn quán
pháp không cũng như thế.
Lại
nữa:
Thế
Tôn biết pháp ấy,
Tướng
thậm thâm vi diệu;
Độn
căn không thể đạt,
Thế
nên chẳng muốn nói. [12]
Đức
Thế Tôn đối với pháp thậm thâm vi diệu, chẳng phải kẻ
độn căn có thể hiểu; thế nên không muốn nói.
Lại
nữa:
Ông
nói tôi chấp Không,
Mà
bảo tôi sai lầm.
Sai
lầm mà ông nói,
Không
có trong Tánh không. [13]
Ông
nói tôi vì chấp Không là tôi có lỗi. Nhưng tánh Không mà
tôi tuyên bố là Không cũng không, nên chẳng có lỗi như thế.
Lại
nữa:
Bởi
vì có nghĩa không,
Tất
cả pháp được thành.
Nếu
không có nghĩa không,
Nhất
thiết pháp không thành. [14]
Vì
có nghĩa không nên tất cả pháp thế gian và Xuất thế gian
đều tựu thành. Nếu không có nghĩa Không thì không tựu thành.
Lại
nữa:
Nay
ông tự có lỗi,
Mà
xoay về cho tôi.
Như
người cỡi lưng ngựa,
Tự
quên mình đang cỡi! [15]
Ông
đối trong pháp Có, có những lỗi lầm không thể tự biết;
mà đối trong pháp Không lại thấy lỗi tôi. Như người cỡi
trên lưng ngựa mà quên con ngựa đang cỡi. Vì sao?
Nếu
ông thấy các pháp,
có
tánh quyết định ấy;
Tức
là thấy các pháp,
Không
nhân cũng không duyên. [16]
Ông
nói các pháp có tánh quyết định; nếu thế, tất thấy các
pháp không nhân, không duyên. Tại sao? Nếu pháp có tánh quyết
định thì lẽ ra không sanh không diệt. Pháp như thế cần
gì đến nhân duyên? Nếu các pháp từ nhân duyên khởi thì
không có tự tánh. Những pháp ấy quyết định có tự tánh
thì không nhân duyên. Nếu nói các pháp quyết định trụ tự
tánh, thế thì không đúng. Vì sao?
Tức
là phá nhân quả,
Tác,
tác giả, tác pháp.
Cũng
là hoại tất cả,
Sanh
diệt của vạn vật. [17]
Các
pháp có tánh cố định thì không có những điều nhân quả
v.v. Như bài tụng nói:
Pháp
do các duyên sanh,
Tôi
nói đó là không,
Cũng
chính là giả danh,
Cũng
là nghĩa Trung đạo. [18]
Chưa
từng có một pháp,
Chẳng
từ nhân duyên sanh.
Thế
nên tất cả pháp,
Không
gì không phải Không. [19]
Pháp
do các duyên sanh, tôi nói tức là không. Vì sao? Các duyên đầy
đủ hòa hiệp phát sanh sự vật. Sự vật ấy thuộc các duyên,
nên không có thể tánh. Vì không tự tánh nên không. Cái Không
đó cũng không, chỉ vì dẫn đạo chúng sanh dùng giả danh
mà nói. Lìa hai bên có và không gọi là Trung đạo. Bởi pháp
ấy không tự tánh không thể nói Có. Vì cũng chẳng có cái
Không nên chẳng được nói không. Nếu pháp có thể tính và
thật tướng thì không đợi các duyên mà có. Nếu không nhờ
các duyên thì không có pháp. Thế nên chẳng có pháp bất không.
Pháp Không mà ông chỉ trích là sai lầm ở trên, sai lầm ấy
nay trở về ông. Vì sao?
Nếu
tất cả bất không,
Thì
không có sanh diệt.
Như
thế là không có,
Pháp
bốn Thánh đế ấy. [20]
Nếu
tất cả pháp mỗi mỗi có thể tính, không phải là không,
thì không có sanh diệt. Vì không sanh, không diệt nên không
có pháp bốn Thánh đế. Vì sao?
Nếu
không từ duyên sanh,
Làm
thế nào có khổ?
Nghĩa
khổ là vô thường,
Định
tánh chẳng vô thường. [21]
Nếu
không từ duyên sanh thì không có khổ. Vì sao? Kinh nói vô thường
là nghĩa khổ. Nếu khổ có tánh quyết định, làm sao có vô
thường, vì nó không bỏ mất tự tánh.
Lại
nữa:
Nếu
khổ có tự tánh,
Làm
sao từ tập sanh?
Thế
nên không có tập,
Bởi
vì phá nghĩa Không. [22]
Nếu
khổ quyết định có tự tánh thì không thể sanh nữa, vì
trước đã có. Nếu vậy, không có Tập đế, vì ông phá hủy
nghĩa không.
Lại
nữa:
Khổ
nếu cố định tánh,
Thì
không nên có diệt.
Ông
chấp tánh cố định,
Tức
phá nghĩa Diệt đế. [23]
Khổ
nếu có tánh cố định thì không thể diệt. Vì sao? Tánh,
tất không hoại diệt.
Lại
nữa:
Nếu
khổ, tánh cố định,
Thì
không có tu Đạo.
Đạo
có thể tu tập,
Thì
tánh không cố định. [24]
Pháp
nếu có tánh cố định thì không có tu đạo. Vì sao? Nếu
pháp thật tức là thường. Thường nên không thể thêm. Nếu
Đạo có thể tu tất không có tánh cố định.
Lại
nữa:
Nếu
không có Khổ đế,
Và
không Tập, Diệt đế.
Thì
Đạo diệt trừ khổ,
Sẽ
đi đến chỗ nào? [25]
Các
Pháp nếu trước có tánh cố định thì không có Khổ, Tập,
Diệt đế. Vậy nay Đạo diệt khổ sẽ dẫn đến chỗ diệt
khổ nào?
Lại
nữa:
Nếu
khổ có định tánh,
Từ
trước giờ không thấy.
Nay
đây làm sao thấy,
Vì
tánh kia không khác. [26]
Nếu
trước kia khi còn là phàm phu, không thể thấy tánh khổ, nay
cũng không thể thấy. Tại sao? Vì không thấy tánh cố định.
Lại
nữa:
Như
thấy Khổ, không đúng,
Đoạn
Tập và chứng Diệt,
Tu
Ðạo và chứng quả,
Cũng
đều là không đúng. [27]
Như
tự tánh trước Khổ đế trước không thể thấy, sau cũng
không nên thấy. Như thế cũng không nên có đoạn Tập, chứng
Diệt, tu Đạo. Vì sao? Tánh của Tập ấy, từ trước tới
giờ không đoạn, nay cũng không thể đoạn. Vì tự tánh thì
không thể bị đoạn. Diệt từ trước đến giờ không chứng,
nay cũng không thể chứng, vì từ trước đến giờ không chứng.
Đạo không thể tu, vì từ trước đến giờ không tu. Thế
nên bốn hành tướng của bốn Thánh đế là kiến, đoạn,
chứng và tu, đều không thể có. Vì bốn hành tướng không,
bốn Đạo Quả cũng không. Vì sao?
Tánh
bốn Đạo Quả ấy,
Trước
giờ không thể đắc.
Nếu
các pháp định tánh,
Nay
làm sao khả đắc? [28]
Nếu
các pháp có tánh cố định, bốn quả Sa môn trước giờ chưa
chứng đắc, nay làm thế nào có thể chứng đắc? Nếu có
thể
chứng đắc, thì tánh không cố định.
Lại
nữa:
Nếu
không có tứ quả,
Thì
không có Đắc, Hướng.
Vì
không có Tám, Thánh,
Nên
không có Tăng bảo. [29]
Vì
không có bốn quả Sa môn nên không có đắc quả, hướng quả.
Vì không có tám bậc Hiền Thánh nên không có Tăng bảo; mà
kinh nói tám bậc Hiền Thánh là Tăng bảo.
Lại
nữa:
Vì
không bốn Thánh đế,
Cũng
không có Pháp bảo.
Không
Pháp bảo,Tăng bảo,
Làm
sao có Phật bảo.[30]
Tu
hành bốn Thánh đế đắc pháp Niết-bàn. Nếu không có bốn
Thánh đế thì không có Pháp bảo. Không có hai bảo, làm thế
nào có Phật bảo? Ông bằng nhơn duyên như thế mà nói các
pháp có tánh cố định, tất là phá hoại Tam bảo:
Hỏi:
Ông tuy phá các pháp, nhưng cứu cánh đạo Vô thượng Chánh
đẳng Chánh giác nên có, vì nhơn Đạo ấy mà gọi là Phật.
Đáp:
Nói
thế thì, chẳng phải
Nhơn
Bồ đề có Phật.
Cũng
không phải nhơn Phật
Mà
có đạo Bồ đề. [31]
Ông
nói các pháp có tánh cố định thì không nên nhơn Bồ đề
mà có Phật; nhơn Phật[5] có Bồ đề; vì hai tánh ấy thường
quyết định.
Lại
nữa;
Tuy
là cần tinh tấn,
Tu
hành đạo Bồ đề.
Nếu
trước không Phật tính,
Chẳng
thể đắc Phật quả. [32]
Do
vì trước không có tánh, như sắt không có tánh chất của
vàng, tuy được luyện lọc theo nhiều cách, nhưng không thể
thành vàng.
Lại
nữa:
Nếu
các pháp bất không,
Không
người tạo tội phước.
Bất
không tác dụng gì?
Bởi
vì kia định tánh. [33]
Nếu
các pháp Bất không, thì không bao giờ có người tạo tội,
tu phước. Tại sao? Vì tánh tội phước trước đã cố định,
lại do không có tác, tác giả.
Lại
nữa:
Ông
cho trong tội phước,
Không
sanh quả báo ấy.
Thế
thì lìa tội phước,
Mà
có các quả báo? [34]
Ông
cho rằng trong nhân duyên của tội phước, thảy đều không
có quả báo; thế thì lìa nhân duyên của tội phước mà có
quả báo. Tại sao? Vì quả báo không đợi nhân mà phát hiện.
Hỏi:
Lìa tội phước có thể không có quả báo thiện, ác, nhưng
từ tội phước có quả báo thiện, ác.
Đáp:
Nếu
nói từ tội phước,
Mà
phát sanh quả báo.
Quả
từ tội phước sanh,
Làm
sao nói bất không. [35]
Nếu
lìa tội phước thì không có quả thiện, ác; vậy làm thế
nào nói quả là bất không? Nếu vậy, lìa tác và tác giả
thì không tội phước: Ở trên ông nói các pháp bất không,
điều ấy không đúng.
Lại
nữa:
Ông
phá tất cả pháp,
Các
nhân duyên, nghĩa không;
Cũng
hủy phá tất cả,
Các
pháp thế tục khác. [36]
Ông,
nếu bác bỏ đệ nhất nghĩa không của các pháp do nhân duyên,
thì cũng phá tất cả pháp thế tục. Tại sao?
Nếu
hủy phá nghĩa không,
Tức
là không tạo tác.
Không
tác mà có tác,
Không
tác gọi tác giả. [37]
Nếu
phá nghĩa không thì tất cả quả đều không có nhân. Lại,
cái không tạo tác mà tạo tác. Lại nữa, tất cả tác giả
không thể có sở tác gì cả. Lại nữa, lìa tác giả nên
có nghiệp, có quả báo, có thọ giả. Song những điều ấy
không đúng. Thế nên không thể bác bỏ Không.
Lại
nữa:
Nếu
có tánh cố định,
Mọi
tướng trạng thế gian.
Sẽ
không sanh không diệt,
Thường
trú mà không hoại. [38]
Nếu
các pháp có tánh cố định, thì mọi tướng trạng sai biệt
của thế gian như trời, người, súc sanh, vạn vật, đều
nên không sanh, không diệt, thường tồn không hoại diệt.
Tại sao? Vì có thật tánh nên không thể biến đổi. Nhưng
hiện thấy vạn vật đều có tướng biến đổi sanh diệt
biến dị, thế nên không thể có tánh cố định.
Lại
nữa;
Nếu
mà chẳng có Không,
Chưa
đắc không thể đắc;
Cũng
không đoạn phiền não,
Cũng
chẳng việc khổ tận. [39]
Nếu
chẳng có pháp không, thì những công đức thế gian và xuất
thế gian vốn chưa chứng đắc đều không thể chứng đắc;
cũng không nên có đoạn phiền não và không có sự diệt tận
khổ. Tại sao? Vì tánh cố định.
Thế
nên trong kinh nói,
Nếu
thấy pháp nhơn duyên.
Thế
là hay thấy Phật,
Thấy
Khổ, Tập, Diệt, Đạo.[6] [40]
Nếu
người thấy tất cả pháp đều từ các duyên mà sanh khởi;
người ấy tức thấy pháp thân Phật, thêm lớn trí tuệ,
có thể thấy được bốn Thánh đế Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
Thấy bốn Thánh đế, chứng đắc bốn Thánh quả, diệt những
khổ não; bởi thế không nên hủy phá nghĩa Không. Nếu phá
nghĩa Không tức phá pháp nhân duyên. Phá pháp nhân duyên thì
phá Tam bảo. Nếu hủy phá Tam bảo tức là tự phá hủy mình.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Chương này đặt lại vấn đề là có Tứ Thánh đế hay không?
Bởi lẽ tất cả pháp đều không, trong ấy có pháp tứ diệu
đế. Khổ, tập, diệt và đạo. Nếu cho rằng Tứ Thánh đế
là pháp thật có thì thành ra chấp thường. Thật có tức
là do định tánh. Có định tánh thì nó không thể thay đổi,
không thay đổi thì khi người hiểu biết khổ, họ cần phải
tu tập, diệt khổ, chứng Niết-bàn không thành vấn đề,
vì khổ nó có định tánh, thay đổi, đoạn diệt. Tập đế,
diệt đế và đạo đế cũng vậy, đều có định tánh cả,
có tu hay không tu, nó vẫn như thế không đổi thay.
Nếu
nói rằng Tứ Thánh đế không có. Ấy là chấp đoạn. Tứ
Thánh đế thuộc Pháp bảo, nếu Pháp bảo không có thì Tăng
bảo và Phật bảo cũng không. Tăng bảo là nhân vật thực
hành giáo pháp tu tập chánh lý, giác pháp chánh lý không,
tu hành cái gì mà gọi là Tăng bảo. Không có Tăng chúng tu
hành thì ai thành Phật mà gọi là Phật bảo.
[2]
Tức bốn quả và bốn hướng, gồm tám bậc Hiền Thánh trong
bốn bậc Thanh văn.
[3]
Tám Hiền Thánh, tức bốn quả và bốn hướng nói trong bài
kẽ trước. Xem cht. trên.
[4]
Phạn: ...zùnyatayàư na tvaư vetsi prayojanaư..., vì ông không
hiểu mục tiêu (nguyên nhân hay động cơ) của tánh không.
[5]
Các bản Tống-Nguyên-Minh: nhơn Phật đạo.
[6]
Phạn: yahï pratìtyasamutpàdaư pazytìdaư sa pazyati, duhïkhaư
samudayaư caiva nirodhaư màrgam eva ca, ai thấy duyên khởi,
người ấy cũng thấy cái này, là khổ, tập, diệt và đạo.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt