CHƯƠNG
XXIII: QUÁN ĐIÊN ĐẢO
Hỏi:
Từ
ức tưởng phân biệt,
Phát
sanh tham, sân, si.
Tịnh,
bất tịnh điên đảo,
Đều
từ chúng sanh duyên[1] [1]
Trong
kinh nói: “Nhơn ức tưởng điên đảo mà phân biệt tịnh,
bất tịnh, rồi phát khởi tham, sân, si.” Thế nên biết có
tham, sân, si.
Đáp:
Nếu
nhân tịnh, bất tịnh,
Điên
đảo sanh ba độc.
Ba
độc là không tánh,
Nên
phiền não không thật. [2]
Nếu
các phiền não do tưởng tượng điên đảo phân biệt tịnh
và bất tịnh mà phát sanh, tức không tự tánh. Thế nên, các
phiền não không thật.
Lại
nữa:
Ngã
pháp, có và không,
Điều
ấy không tự thành.
Không
ngã, các phiền não,
Có
không cũng chẳng thành. [3]
Ngã
không thành do bởi nhân duyên hoặc có hoặc không. Nay ngã
không có, các phiền não làm thế nào có hay không để có
thể tựu thành? Vì sao?
Ai
có phiền não này?
Không
thể chứng thành được.
Lìa
người ấy mà có,
Phiền
não sẽ không chủ. [4]
Phiền
não nghĩa là cái hay làm não hại người khác. Cái người
khác bị não hại ấy chính là chúng sanh. Chúng sanh ấy đối
tất cả mọi trường hợp tìm kỹ không thể có. Nếu nói
ngoài chúng sanh riêng có phiền não; phiền não ấy tức không
sở thuộc. Nếu nói, tuy không có ngã mà phiền não thuộc
về tâm, điều ấy cũng không đúng. vì sao?
Như
năm loại thân kiến,
Tìm
ngã không thể được.
Phiền
não nhiễm ô tâm,
Năm
thứ tìm không có. [5]
Cũng
như trong năm trường hợp đều không tìm thấy có thân kiến.
Trong năm ấm cũng vậy, trong năm trường hợp cũng không tìm
thấy các phiền não trong tâm ô nhiễm. Lại nữa, trong năm
trường hợp cũng không tìm thấy có tâm ô nhiễm trong phiền
não.
Lại
nữa:
Tịnh,
bất tịnh điên đảo,
Đó
là không tự tánh.
Sao
nhơn hai cái này,
Mà
sanh những phiền não? [6]
Tịnh,
bất tịnh điên đảo; điên đảo gọi là hư vọng. Nếu là
hư vọng, là không tự tánh. Không có tự tánh thì không điên
đảo. Nếu không có điên đảo, làm thế nào nhơn điên đảo
mà khởi những phiền não?
Hỏi:
Sắc,
thanh, hương, vị, xúc
Và
pháp là sáu thứ.
Như
thế sáu thứ là,
Căn
bản của ba độc. [7]
Cội
gốc của ba độc ấy là sáu nhập. Do lục nhập này sanh khởi
điên đảo tịnh, bất tịnh. Nhân bởi điên đảo tịnh, bất
tịnh mà phát khởi tham, sân, si.
Đáp:
Sắc,
thanh, hương, vị, xúc,
Và
pháp thể sáu thứ,
Không,
như quáng, như mộng,
Như
thành phố giữa trời. [8]
Trong
sáu thứ như thế,
Nào
có tịnh, bất tịnh.
Ví
như người huyễn hóa,
Cũng
như ảnh trong gương. [9]
Tự
thể của sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp khi chưa cùng
tâm hòa hiệp, thì không có gì cả, chỉ như quáng nắng, như
giấc mộng, như người huyễn hóa, như ảnh trong gương, không
có tướng quyết định, chỉ do tâm mê hoặc. Như thế trong
sáu nhập, có cái gì có tướng tịnh và bất tịnh?
Lại
nữa:
Không
nhân nơi tướng tịnh,
Không
có tịnh,bất tịnh.
Nhơn
tịnh có bất tịnh,
Thế
nên không bất tịnh. [10]
Nếu
chẳng nhơn nơi tịnh, trước không có bất tịnh; do đâu mà
nói bất tịnh? Thế nên không có bất tịnh.
Lại
nữa:
Chẳng
nhơn nơi bất tịnh,
Thì
cũng không có tịnh.
Nhơn
bất tịnh có tịnh,
Thế
nên không có tịnh. [11]
Nếu
chẳng nhơn bất tịnh, trước không có tịnh; do đâu mà nói
tịnh? Thế nên, không có tịnh.
Lại
nữa:
Nếu
là không có tịnh,
Do
đâu mà có tham?
Nếu
không có bất tịnh,
Do
đâu mà có sân? [12]
Vì
không có tịnh và bất tịnh, tất không sanh khởi tham, sân,
si.
Hỏi:
Kinh nói: “Bốn thứ điên đảo, thường v.v.” Nếu trong
vô thường mà thấy thường gọi là điên đảo. Bằng trong
vô thường mà thấy vô thường; đây không phải điên đảo.
Ngoài ra ba thứ điên đảo khác cũng như thế. Vì có điên
đảo cũng nên có người điên đảo, do gì nói đều không?
Đáp:
Đối
vô thường chấp thường,
Thế
gọi là điên đảo.
Trong
không chẳng có thường,
Nào
có thường điên đảo. [13]
Nếu
đối trong vô thường mà chấp thường gọi là điên đảo.
Trong tánh không của các pháp, không có thường; trong ấy,
chỗ nào có sự điên đảo về thường? Ngoài ra, ba thứ kia
cũng thế.
Lại
nữa:
Nếu
ở trong vô thường,
Chấp
vô thường không đảo.
Trong
không, chẳng vô thường,
Đâu
có không điên đảo. [14]
Nếu
chấp rằng, vô thường nói là vô thường thì chẳng gọi
là điên đảo; nhưng trong tánh không của các pháp, chẳng
có vô thường. Vì vô thường không có, thế thì cái gì không
phải là điên đảo? Ngoài ra ba thứ kia cũng như thế.
Lại
nữa:
Người,
sở chấp, cái chấp,
Và
phương tiện để chấp;
Đều
là tướng tịch diệt,
Làm
thế nào có chấp? [15]
Người
chấp là tác giả. Sở chấp là sự vật. Cái chấp là nghiệp.
Pháp sở dụng chấp là phương tiện để chấp; thảy đều
tánh không, tướng tịch diệt, như trong chương “Như Lai”
đã nói; thế nên không có cái chấp.
Lại
nữa:
Nếu
không có pháp chấp,
Nói
tà là điên đảo.
Nói
chính không điên đảo,
Cái
gì có như thế? [16]
Chấp
nghĩa là tưởng tượng phân biệt vật này, vật kia, có, không
v.v… Nếu không có những pháp chấp này thì cái gì là tà
điên đảo, cái gì là chánh không điên đảo?
Lại
nữa:
Có
đảo không sanh đảo,
Không
đảo chẳng sanh đảo.
Người
đảo không sanh đảo,
Không
đảo cũng chẳng đảo. [ 17]
Nếu
chính khi điên đảo,
Cũng
không sanh điên đảo.
Ông
có thể quán sát,
Cái
gì sanh điên đảo? [18]
Cái
gì điên đảo, thì không sanh điên đảo nữa, vì đã sanh
khởi điên đảo. Cái không điên đảo cũng chẳng khởi điên
đảo, vì không có điên đảo. Cái đang điên đảo cũng không
điên đảo, vì có hai lỗi. Nay ông nên trừ tâm kiêu mạn,
khéo tự quán sát, cái gì là người điên đảo?
Lại
nữa:
Những
điên đảo không sanh,
Làm
sao có nghĩa này?
Vì
không có điên đảo,
Đâu
có người điên đảo? [19]
Vì
dùng mọi cách để phá điên đảo tận cùng đến chỗ bất
sanh, kia lại chấp bất sanh; cho rằng bất sanh là thật tướng
của điên đảo. Thế nên lời tụng nói, “Làm thế nào bất
sanh, gọi là tướng điên đảo?” Cho đến pháp vô lậu còn
không gọi tướng bất sanh, huống là điên đảo là tướng
bất sanh. Vì điên đảo không, làm gì có pháp điên đảo
mới có người điên đảo. Nhơn điên đảo mà có người
điên đảo.
Lại
nữa,
Nếu
thường,lạc,ngã,tịnh,
Mà
là thật có ấy;
Thường,lạc,ngã,tịnh
đó,
Tất
chẳng phải điên đảo. [20]
Nếu
bốn thứ thường, lạc, ngã và tịnh có thật tánh; thì thường,
ngã, lạc, tịnh ấy tức chẳng phải điên đảo. Tại sao?
Vì quyết định có sự thật làm sao nói điên đảo? Nếu
nói bốn thứ thường, lạc, ngã, tịnh là không; thế thì
bốn thứ vô thuờng, khổ, vô ngã, bất tịnh ấy thật có,
không gọi điên đảo vì cùng điên đảo trái nhau. Nếu nói
không điên đảo, điều ấy không đúng. Tại sao?
Nếu
ngã, thường, lạc, tịnh,
Mà
là thật không có.
Vô
thuờng, khổ, bất tịnh,
Thì
cũng nên không có. [21]
Nếu
bốn thứ thường, lạc, ngã và tịnh thật không; vì thật
không, nên bốn điều vô thường v.v.. cũng không nên có. Tại
sao?
Vì không làm nhân đối đãi nhau.
Lại
nữa:
Như
thế điên đảo diệt,
Vô
minh tất cũng diệt.
Do
vì vô minh diệt,
Hành
vân vân cũng diệt. [22]
Như
thế, nghĩa là theo như ý nghĩa đó, vì diệt những điên đảo
thì vô minh là căn bản của hai nhân duyên cũng diệt. Vì hủy
diệt vô minh; ba thứ hành nghiệp cho đến lão tử v.v.. đều
hủy diệt.
Lại
nữa:
Nếu
phiền não thật tánh,
Mà
là có sở thuộc.
Làm
sao có thể đoạn,
Ai
sẽ đoạn tánh kia? [23]
Nếu
những phiền não tức là điên đảo mà thật có tự tánh,
làm thế nào có thể đoạn? cái gì đoạn tánh kia? Nếu nói
các phiền não đều hư vọng, không tánh mà có thể đoạn
thì không đúng. Vì sao?
Nếu
phiền não hư vọng,
Không
tánh không sở thuộc.
Làm
sao có thể đoạn,
Ai
hay đoạn không tánh? [24]
Nếu
những phiền não hư vọng không có tánh, thì không có sở
thuộc, làm thế nào có thể đoạn, cái gì đoạn pháp không
có tánh?
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Trong chương này, Long Thọ Bồ tát nhấn mạnh sự quan sát
điên đảo phiền não, tam độc tham sân si, từ đâu có phát
sanh. Phiền não tự nó không có tự tánh. Nếu thật có tự
tánh thì không thể nào diệt được. Chính bản ngã và tất
cả phiền não điên đảo đều do nhân duyên hòa hợp mà có.
Nó không thật có thể tánh. Do đó người tạo phiền
não và sự tạo tác phiền não chính cũng không có, không có
sở thuộc. Cho nên, không ai là người sở hữu phiền não.
Phiền não không sở hữu của ai, nên không có người đoạn
phiền não. Tất cả là nhân duyên sanh. Nếu nói có người
có pháp, có phiền não, có đoạn diệt phiền não, là chính
mình bị vô minh ràng buộc lấy mình.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt