CHƯƠNG
XXI: QUÁN THÀNH, HOẠI[1]
Hỏi:
Tất cả sự kiện thế gian, chính có hiện tướng hoại diệt,
thế nên có hoại.
Đáp:
Lìa
thành và cọng thành,
Trong
ấy không có hoại.[2]
Lìa
hoại và cọng hoại,
Trong
đó cũng không thành.[3] [1]
Hoặc
có thành hay không có thành, vẫn không hoại. Hoặc có hoại
hay không hoại, đều không có thành. Vì sao?
Nếu
lìa thành ấy ra,
Làm
thế nào có hoại?
Như
lìa sanh có tử,
Điều
ấy tất không đúng. [2]
Thành,
hoại cùng có chung,
làm
sao có thành hoại?
Như
thế gian sanh tử,
Đồng
thời thì không đúng. [3]
Nếu
lìa hoại ấy ra,
Làm
thế nào có thành?
Không
bao giờ vô thường,
Không
ở nơi các pháp. [4]
Nếu
lìa thành, hoại không có thể có. Vì sao? Nếu lìa thành mà
có hoại thì không nhân nơi thành mà có hoại, hoại ấy tất
không nhân. Lại nữa, không có pháp thành mà có thể hoại.
Thành, là các duyên phối hiệp. Hoại, là chúng duyên ly tán.
Nếu lìa thành mà có hoại; không có tựu thành, cái gì hoại
diệt? Như không có cái bình, chẳng được nói chiếc bình
hủy hoại. Thế nên là thành không có hoại. Nếu nói cùng
với thành mà có hoại, cũng không đúng. Vì sao? Sự vật trước
tựu thành riêng sau mới có hiệp. Pháp hiệp không thể không
có tính cách dị biệt. Nếu hoại mà không có tính cách dị
biệt thì hoại ấy không nhân. Thế nên, cùng với thành cũng
không hoại. Nói rằng lìa hoại hay cùng với hoại không có
thành, nghĩa là nếu lìa hoại có thành tất thành đó thường;
thường là tướng không hoại diệt. Nhưng sự thật chẳng
thấy có pháp thường hằng tướng hoại diệt, thế nên lìa
hoại không có thành. Nếu nói rằng cùng với hoại mà có
thành cũng không đúng. Vì sao? Thành và hoại nó trái nhau,
làm thế nào trong một lúc có cả thành và hoại. Như người
không thể cùng một lúc vừa có tóc vừa không tóc; thành
hoại cũng vậy. Thế nên, cùng với hoại mà có thành, điều
ấy không đúng. Vì sao? Nếu bảo phân biệt pháp, nói trong
thành thường có hoại, điều ấy không đúng. Vì sao? Nếu
trong thành thường có hoại thì không thể có pháp đình trú.
Nhưng thật có pháp trú. Thế nên lìa hoại hay cùng hoại không
thể có thành.
Lại
nữa:
Thành
hoại chung, không thành;
lìa
cũng không có thành.
Hai
cái đều không thể,
Làm
thế nào có thành? [5]
Nếu
thành hoại chung, không có thành. Lìa cũng chẳng có thành.
Nếu chung thành thì hai pháp trái nhau, làm thế nào đồng thời
có? Nếu lìa thì không có nhơn, cả hai đều không tựu thành,
làm sao sẽ có thành? Nếu có thì hãy nói thử.
Hỏi:
Hiện có pháp có tướng tận diệt. Pháp vốn là tướng diệt
tận ấy. Nói là tận cũng nói là bất tận. Như thế, tất
có thành hoại.
Đáp:
Tận
thì không có thành;
Không
tận cũng chẳng thành.
Tận
thì không có hoại;
Không
tận cũng chẳng hoại. [6]
Các
pháp trong ngày đêm mỗi niệm mỗi niệm thường diệt tận
quá khứ; như dòng nước chảy mãi không ngừng nên gọi là
tận diệt. Cái ấy không thể chấp thủ, không thể nói. Như
bóng ngựa đồng[4] không thể tìm thấy tánh quyết định.
Cũng thế, diệt tận không có tánh quyết định để có thể
nắm được; làm thế nào có thể phán biệt mà nói thành?
Thế nên, nói tận cũng không thành. Vì thành không, nên cũng
chẳng có hoại. Thế nên nói tận cũng không có hoại. Lại,
niệm niệm sanh diệt tương tục không dứt, nên gọi bất
tận. Như thế pháp quyết định thường trụ không đọan;
làm sao phân biệt được rằng hiện nay là thành? Thế nên
nói không có diệt tận cũng không thành. Vì thành không, nên
không hoại. Thế nên nói bất tận cũng không hoại. Như thế,
tìm xét kỹ sự thật không thể được, nên không thành không
hoại.
Hỏi:
Hãy gác lại việc thành hoại đi, chỉ cho hiện nay có pháp
có, có lỗi gì?
Đáp:
Nếu
lìa thành hoại ra,
Thì
không có pháp có.
Nếu
lìa các pháp ra,
Cũng
không có thành hoại.[5] [7]
Lìa
thành và hoại, không có pháp. Nghĩa là nếu pháp không có
thành, hoại; pháp ấy phải hoặc là không, hoặc là thường.
Nhưng thế gian này không có pháp nào thường. Ông nói lìa
thành hoại có pháp, điều ấy không đúng.
Hỏi:
Nếu lìa pháp chỉ có thành hoại, có lỗi gì?
Đáp:
Lìa pháp, có thành hoại cũng không đúng. Vì sao? Nếu lìa
pháp, cái gì thành, cái nào hoại? Thế nên, lìa pháp có thành,
hoại, điều ấy không đúng.
Lại
nữa:
Nếu
pháp tánh là không,
cái
gì có thành, hoại.
Pháp
tánh nếu bất không,
Cũng
chẳng có thành hoại. [8]
Nếu
pháp tánh là không; không, thì nào có thành hoại. Nếu các
pháp tánh bất không; bất không tức là quyết định có, cũng
không thể có thành hoại.
Lại
nữa:
Thành
hoại nếu nhất thể,
Điều
ấy thì không đúng.
Thành
hoại nếu dị thể,
Điều
ấy cũng không đúng. [9]
Tìm
xét kỹ thành, hoại là một không thể được. Tại sao? Bởi
tướng khác, vì nhiều khía cạnh phân biệt. Lại thành và
hoại là khác, cũng không thể. Tại sao? Vì không có riêng
khác, và cũng không có nhân.
Lại
nữa:
Nếu
nói cho mắt thấy,
Có
những pháp sanh diệt.
Thì
đó do vọng si,
Nên
thấy có sanh diệt. [10]
Nếu
nói do mắt nhìn thấy có sanh diệt, vì sao dùng ngôn ngữ để
phá? Điều ấy không đúng. Tại sao? Mắt thấy sanh diệt là
vì kẻ ngu si điên đảo. Thấy các pháp tánh không, không có
quyết định, như huyễn như mộng. Chỉ những kẻ phàm phu
bởi nhơn duyên điên đảo đời trước mà có được con mắt
này; vì đời này do nhơn duyên nhớ nghĩ phân biệt, nói mắt
thấy sanh diệt. Trong đệ nhất nghĩa thật không có sanh diệt;
điều ấy đã nói rộng trong chương phá tướng[6].
Lại
nữa:
Từ
pháp không sanh pháp[7],
Cũng
không sanh phi pháp.
Từ
phi pháp không sanh,
Pháp
và cả phi pháp. [11]
Từ
pháp không sanh pháp là, hoặc “đến” (đến: từ cái này
sanh cái kia); hoặc “mất” (hoại mất cái này thành cái
kia) cả hai đều không đúng.
Từ
pháp sanh pháp là, hoặc đến, hoặc mất đều là vô nhân.
Vô nhân thì rơi vào thường kiến, đoạn kiến. Nếu đã đến,
từ pháp sanh pháp; pháp ấy đã đến mà gọi là sanh, tức
là thường. Lại, sanh rồi sanh nữa và cũng là vô nhân mà
phát sanh; điều ấy không đúng. Nếu do mắt mà từ pháp sanh
pháp tức là mất nhân, sanh ấy vô nhân. Thế là từ cái đã
mất cũng không sanh pháp.
Từ
pháp không sanh phi pháp; phi pháp[8] là không có gì cả. Pháp
là có, làm thế nào từ tướng có phát sanh tướng không?
Thế nên, từ pháp không sanh phi pháp.
Từ
phi pháp không sanh pháp; phi pháp là không. Không làm thế nào
sanh có? Nếu từ không phát hiện có, tức là vô nhân. Không
nhân có lỗi rất lớn. Thế nên, không từ phi pháp sanh pháp.
Không
từ phi pháp sanh phi pháp; phi pháp gọi là không, làm thế nào
từ không có mà sanh không? Như sừng con thỏ không sanh lông
rùa. Thế nên không từ phi pháp sanh phi pháp.
Hỏi:
Pháp và phi pháp, được phân biết dưới nhiều hình thức
nên không sanh. Nhưng theo lẽ, pháp sanh pháp.
Đáp:
Pháp
không từ tự sanh,
Cũng
không từ tha sanh.
Không
từ tự, tha sanh,
Làm
thế nào có sanh. [12]
Sự
vật lúc chưa phát sanh là không có gì cả. Vả lại, tự nó
không sanh nó. Thế nên pháp không tự sanh. Nếu pháp chưa sanh
thì cũng không có cái khác. Vì cái khác không có, chẳng được
nói từ cái khác sanh. Lại, chưa sanh thì không có tự. Không
tự đâu có tha? Cộng[9] cũng không sanh. Nếu trong cả ba trường
hợp đều không sanh; làm thế nào có từ pháp sanh pháp?
Lại
nữa:
Nếu
có pháp chấp nhận[10],
Tức
rơi vào đoạn thường.
Phải
biết pháp chấp nhận,
Hoặc
thường hoặc vô thường. [13]
Pháp
chấp nhận, nghĩa là phân biệt thiện, bất thiện, thường,
vô thường v.v.. Người ấy, tất rơi vào hoặc thường kiến
hay đoạn kiến. Tại sao? Pháp được chấp nhận có hai thứ,
hoặc thường hoặc vô thường. Cả hai đều không đúng. Vì
sao? Nếu thường tức rơi bên thường kiến, nếu vô thường
là rơi bên đoạn kiến.
Hỏi:
Những
gì được chấp nhận,
Không
rơi vào đoạn thường.
Vì
nhân quả tương tục,
Không
đoạn cũng không thường. [14]
Có
người tuy tín thọ phân biệt nói các pháp, nhưng không rơi
vào đoạn thường. Như kinh nói, năm ấm là vô thường, khổ,
không, vô ngã mà không đoạn diệt. Tuy nói tội phúc vô lượng
kiếp số không mất, nhưng không phải thường kiến. Tại
sao? Vì pháp ấy, do nhân quả, thường sanh diệt tương tục,
qua lại không chấm dứt. Bởi sanh diệt nên không thường.
Vì tương tục nên không đoạn.
Đáp:
Nếu
nhân quả sanh diệt,
Tương
tục mà không đoạn.
Diệt
rồi không sanh nữa,
Nên
nhơn tức đoạn diệt. [15]
Nếu
ông nói các pháp do nhơn quả tương tục nên không đoạn,
không thường. Nếu pháp diệt rồi, không có sanh nữa; thế
thì nhân đoạn. Nếu nhân đoạn làm thế nào có tương tục;
vì đã diệt rồi không sanh vậy.
Lại
nữa:
Pháp
trú ở tự tánh,
Không
nên có hữu vô.
Niết-bàn
diệt tương tục,
Thì
rơi vào đoạn diệt. [16]
Pháp,
nếu quyết định trong tướng có, lúc bấy giờ chẳng có
tướng không. Như chiếc bình quyết định ở trong tướng
bình, lúc ấy không có tướng hoại diệt. Tùy khi có bình
không có tướng hoại diệt, lúc ấy không bình cũng chẳng
có hoại tướng. Vì sao? Nếu không bình tất không có tướng
để hoại. Do ý nghĩa ấy nên diệt không thể có được.
Vì lìa diệt, nên cũng không sanh. Tại sao? Sanh diệt là nhân
đối đãi. Lại, có lỗi thường v.v.. Thế nên, không thể
trong một pháp mà có cả hữu lẫn vô. Lại, vì trước ông
nói, “Nhân quả do sanh diệt tương tục, tuy thọ các pháp
mà không rơi vào đoạn, thường.” Điều ấy không đúng.
Tại sao? Ông nói, do nhân quả tương tục cho nên có ba cõi
tương tục; hủy diệt tương tục gọi đó Niết-bàn. Nếu
vậy, thì Niết-bàn sẽ rơi vào đoạn diệt. Bởi vì diệt
sự tương tục của ba cõi.
Lại
nữa:
Nếu
thân sơ hữu diệt,
Thì
không có hậu hữu.
Sơ
hữu nếu không diệt,
Cũng
không có hậu hữu. [17]
Sơ
hữu là thân đời hiện tại, hậu hữu là thân đời vị
lai. Nếu thân sơ hữu hủy diệt, kế đó là thân hậu hữu;
thế tức là không nhân. Điều ấy không đúng. Thế nên không
được nói thân ban đầu diệt có thân sau. Nếu sơ hữu không
diệt cũng không nên có hậu hữu. Vì sao? Nếu sơ hữu chưa
diệt mà có hậu hữu tức là đồng thời có hai thân. Điều
ấy không đúng. Thế nên, sơ hữu không diệt cũng không có
hậu hữu.
Hỏi:
hậu hữu không do sơ hữu diệt mà sanh; chẳng do không diệt
mà sanh; chỉ khi đang hủy diệt nó phát sanh, có lỗi gì?
Đáp:
Nếu
sơ hữu hủy diệt,
Mà
hậu hữu phát sanh.
Khi
diệt, một cái hữu.
Lúc
sanh là một hữu. [18]
Nếu
khi diệt sơ hữu, sanh hậu hữu; tức hai thân đồng một thời.
Một thân đang diệt, một thân đang sanh.
Hỏi:
Đang diệt, đang sanh; hai cái đều có thì không đúng. Nhưng
hiện thấy thân sơ hữu hoại diệt, thân hậu hữu phát sanh.
Đáp:
Nếu
nói đối sanh diệt,
Mà
gọi là nhất thời.
Ngay
khi ấm này diệt,
Tức
là ấm kia sanh. [19]
Nếu
đang sanh và đang diệt, cùng một thời không có hai cái hữu,
mà nói rằng lúc sơ hữu diệt, sanh hậu hữu; thì nay phải
ở trong ấm nào mà chết, ngay trong ấm ấy mà sanh; chứ không
thể ở trong ấm khác sanh. Tại sao? Vì chết tức là sanh.
Như thế, pháp sanh tử trái nhau, không thể đồng thời có.
Thế nên, trước ông nói, đang diệt, đang sanh, cùng một lúc
không có hai sự hữu, chỉ hiện thấy khi diệt sơ hữu có
sanh hậu hữu. Điều ấy không đúng.
Lại
nữa:
Trong
ba đời tìm hữu,
Tương
tục không thể được.
Trong
ba đời nếu không,
Đâu
có thân tương tục. [20]
Tam
hữu là cõi Dục, cõi Sắc và cõi Vô sắc. Bởi trong sanh tử
từ vô thỉ, vì không được thật trí, thường có ba cõi
tương tục. Nay đối trong ba đời tìm kỹ không thể. Nếu
trong ba đời không có, sẽ ở chỗ nào có hữu tương tục?
Nên biết rằng, hữu tương tục đều từ ngu si điên đảo
nên có, trong chân thật thì không.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Tiêu đề theo bản Phạn hiện tại: sambhava-vibhava-pàrìkwà,
khảo sát về khái niệm sambhava (xuất sanh) và vibhava (phi hữu),
tức là vấn đề xuất hiện và biến mất. Như vậy, hai từ
thành và hoại ở đây không nằm trong ngữ cảnh thành trụ
hoại không như là chu kỳ không đầu không cuối. TS
[2]
Tham chiếu Phạn văn: vinà và saha và nàsti vibhavahï sambhavena
vai, “Tách rời (ly) sự xuất hiện hay câu hữu (cọng) với
sự xuất hiện (thành), đều không có sự biến mất (hoại).”
[3]
Quán thành hoại là quán sát các pháp hình thành và hoại diệt.
Vũ trụ quan thì có thành, trụ, hoại và không. Nhân sanh quan
thì có sanh, lão, bịnh và tử. Câu 281, 282, ý nói rằng khi
các pháp cùng nhau hòa hiêp hình thành thì gọi là thành. Khi
không còn hòa hiệp thì gọi đó là hoại diệt. Không có tướng
thành thì không có tướng hoại diệt và ngược lại.
[4]
Xem chú thích 1 trang 61 trên.
[5]
Thành và hoại không thể đồng thời có. Như tối và sáng,
không thể một lúc có. câu 286… là nói các pháp trong ngày
đêm. Mỗi niệm mỗi niệm sanh rồi diệt, diệt rồi sanh,
tưởng tượng như nó có tận cùng. Nhưng sự thật sanh diệt
nó tiếp tục mãi mãi, tợ hồ như vô tận. Do đó, nên không
thể chấp đoạn, chấp thường, trụ hay không trụ….
[6]
Tức chướng “Quán Ba tướng.”
[7]
Hán: pháp; bản Phạn: bhàva, cái hữu; thề, tánh; hữu thể,
hữu tánh.
[8]
Hán: phi pháp. Phạn: abhàva, vô thể.
[9]
Các bản Tống-Nguyên-Minh: bất cọng.
[10]
Hán: sở thọ pháp. Phạn: bhàvam abhyupapannasya, (đối với
ai chấp nhận (đồng ý, tin tưởng) hữu. Xem các chú thích
trang trước.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt