CHƯƠNG
XVII: QUÁN NGHIỆP
Hỏi:
Ông tuy dùng mọi cách để phá các pháp, nhưng nghiệp quyết
định có, nên khiến tất cả chúng sanh thọ quả báo. Như
kinh nói: “Tất cả chúng sanh đều tùy nghiệp thọ sanh. Như
kẻ làm những việc ác đọa vào địa ngục; người tu phước
sanh thiên đường, người hành đạo được Niết-bàn.” Thế
nên, tất cả pháp chẳng thể không.
Nghiệp
ấy là:
192)Người
hay hàng phục tâm,
Làm
lợi ích chúng sanh;
Ấy
gọi là từ thiện,
Hạt
giống quả hai đời.[1] [1]
Con
người có ba thứ độc. Vì để gây tổn hại cho kẻ khác
mà phát sanh hành động. Người thiện, trước tự diệt những
điều ác. Thế nên nói “Hàng phục tâm mình làm lợi ích
người khác.” “Lợi ích người khác” là làm việc bố
thí trì giới v.v.. không gây tổn hại cho chúng sanh. Đó là
làm lợi ích cho người, cũng gọi là từ thiện phúc đức,
cũng gọi hạt giống của quả báo an lạc ở đời này và
đời sau.
Lại
nữa:
193)Đại
Thánh nói hai nghiệp,
Tư
và từ tư sanh.
Biệt
tướng của nghiệp ấy,
Phân
biệt thành nhiều loại. [2]
Đức
Đại Thánh nói tóm tắt rằng nghiệp có hai thứ: 1) Tư nghiệp.
2) Từ tư sanh[2]. Hai nghiệp này nó được nói đầy đủ trong
A-tì-đàm.
194)Cái
Phật nói là tư,
Đó
tức là ý nghiệp.
Được
phát sanh từ tư,
Tức
là nghiệp, thân khẩu. [3]
Tư,
là tâm sở pháp; trong các tâm sở pháp nó có khả năng phát
khởi hành động, nên gọi nó là nghiệp. Nhơn bởi tư tâm
sở này mà phát xuất nghiệp bên ngoài là thân và khẩu. Tuy
là nhơn các tâm và tâm sở pháp khác vẫn có hành động,
nhưng tư là gốc của hành động. Do đó mới nói tư là nghiệp.
Nghiệp ấy nay sẽ nói rõ tướng trạng của nó.
195)Thân
nghiệp và khẩu nghiệp,
Biểu
cùng vô biểu nghiệp[3].
Như
thế trong bốn điều,
Cũng
có thiện, bất thiện. [4]
196)Từ
dụng sanh phúc đức,
Tội
sanh cũng như thế.
Và
tư là bảy pháp,
Nêu
rõ tướng các nghiệp. [5]
Khẩu
nghiệp, bốn nghiệp thuộc khẩu. Thân nghiệp, là ba nghiệp
thuộc thân. Bảy loại nghiệp này có hai thứ sai biệt, biểu
và vô biểu; khi đang hành động nó được gọi là biểu nghiệp[4];
Sau khi hành động nó vẫn tiềm tàng lưu chuyển nên gọi là
vô biểu nghiệp[5]. Hai thứ ấy có thiện và bất thiện. Bất
thiện là không tránh xa việc ác. Lại có những phước đức
sanh ra từ sự thọ dụng, như người thí chủ bố thí cho
người thọ thí; nếu người thọ ấy thọ dụng thì thí chủ
được hai phước, một là do chính sự bố thí của mình và
hai là sự thọ dụng của người kia. Như người dùng mũi
tên bắn kẻ khác, nếu mũi tên giết chết người thì có
hai thứ tội, một là do từ chính sự bắn của mình và hai
là do từ sự chết của người khác. Nếu bắn mà không chết,
chỉ mắc tội bắn không có tội giết. Thế nên trong bài
tụng nói: “Tội và phúc từ thọ dụng mà phát sanh.” Như
thế gọi là sáu thứ nghiệp. Thứ bảy là tư nghiệp. Bảy
thứ này chính là tướng trạng sai biệt của nghiệp. Nghiệp
ấy có quả báo đời này, đời sau. Thế nên quyết định
có nghiệp, và có quả báo; cho nên các pháp chẳng thể là
không.
Đáp:
197)Nghiệp
trú đến thọ báo,
Nghiệp
ấy tức là thường.
Nếu
diệt tức vô thường,
Làm
sao sanh quả báo. [6]
Nghiệp,
nếu thường trú cho đến khi thọ quả báo tức là thường;
điều ấy không đúng. Vì sao? Nghiệp là hình thái có sanh
có diệt, ngay trong một niệm nó còn không dừng trú, huống
là dẫn đến quả báo. Nếu nói nghiệp bị hủy diệt, hủy
diệt tức không có, làm thế nào phát sanh quả báo?
Hỏi:
198)Dòng
tương tục của chồi (v.v..)
Đều
sanh từ hạt giống;
Từ
ấy phát sanh quả.
Lìa
giống không tương tục. [7]
199)Từ
giống có tương tục,
Từ
tương tục có quả.
Trước
giống, sau có quả,
Không
đoạn cũng chẳng thường. [8]
200)Cũng
vậy từ sơ tâm,
Tương
tục của tâm sanh.
Từ
đó mà có quả,
Lìa
tâm không tương tục. [9]
201)Từ
tâm có tương tục,
Từ
tương tục có quả.
Trước
nghiệp, sau có quả.
Không
đoạn cũng không thường. [10]
Như
từ hạt lúa có mầm, từ mầm có dòng tương tục của cành
lá v.v…Từ dòng tương tục ấy phát sanh quả. Lìa hạt giống,
không có dòng tương tục phát sanh. Thế nên từ hạt lúa có
dòng tương tục. Từ dòng tương tục có quả. Trước hết
có hạt giống sau đó có quả, cho nên không đoạn cũng chẳng
thường. Cũng như ví dụ về hạt giống ấy, nghiệp quả
cũng như thế. Tâm sát na tối sơ phát khởi tội và phúc,
cũng như hạt giống lúa. Do bởi tâm ấy, mà dòng tương tục
của tâm và tâm sở pháp này phát sanh, cho đến khi tạo quả
báo. Nghiệp có trước, quả có sau nên không đoạn cũng không
thường. Nếu lìa nghiệp có quả báo thì bị lỗi đoạn thường.
Ở đây, nhân duyên của thiện nghiệp là:
202)Hay
thành phúc nghiệp ấy,
Do
mười bạch nghiệp đạo.
Năm
dục lạc hai đời,
Tức
quả báo bạch nghiệp. [11]
Bạch
tức là thiện, tịnh. Những nhân duyên để thành tựu phúc
đức ấy phát sanh từ mười bạch nghiệp đạo. Mười bạch
nghiệp là, không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không
nói dối, không nói hai lưỡi, không nói lời ác, không nói
lời vô ích, không tật đố, không sân giận và không tà kiến.
Đó gọi là thiện, phát sanh từ thân, khẩu, ý. Quả báo của
chúng là được danh lợi ở đời này và đời sau sanh vào
nơi tôn quý trong cõi nhơn, thiên. Sự bố thí, cung kính v.v…
tuy có nhiều loại phúc đức khác nữa, nhưng tóm tắt lại
cũng được bao gồm trong mười thiện nghiệp đạo.
Đáp:
203)Nếu
phân biệt như ông,
Lỗi
kia thì rất nhiều.
Thế
nên ông nói ra,
Nghĩa
ấy tất không đúng. [12]
Nếu
do nghiệp, quả báo tương tục, dùng tỉ dụ hạt lúa giống,
lỗi rất nhiều; song trong đây không nói rộng. Ông nói dụ
hạt lúa giống, dụ ấy không đúng. Vì sao? Hạt lúa giống
có xúc chạm, có hình tướng nên có thể thấy là có tương
tục. Tôi suy nghĩ việc ấy còn chưa nhận lời ông, huống
là tâm và nghiệp vốn không xúc chạm, không hình tướng,
không thể thấy, sanh diệt không ngừng, nhưng muốn lấy điều
đó cho là tương tục thì không đúng. Lại nữa, từ hạt
lúa mà có dòng tương tục của mầm v.v..; ấy là hủy diệt
rồi tương tục hay là không hủy diệt mà tương tục? Nếu
hạt giống diệt rồi tương tục, tất không nhơn. Nếu hạt
lúa không hoại diệt mà tương tục thì từ hạt lúa giống
thường phát sanh rất nhiều lúa. Nếu thế, một hạt lúa
phát sanh tất cả lúa đầy thế gian, điều ấy chẳng phải.
Thế nên nói có sự tương tục của nghiệp và quả báo là
điều không đúng.
Hỏi:
204)Nay
tôi sẽ lại nói,
Nghĩa
thuận nghiệp quả báo.
Chư
Phật, Bích-chi-phật,
Hiền
thánh đều khen ngơị. [13]
Tức
là nói:
205)Pháp
“không mất”[6] như khoán.
Nghiệp
như là món nợ.
Tánh
này là vô ký,
Phân
biệt có bốn thứ. [14]
206)Kiến
đế chưa đoạn được,
Chỉ
tư duy mới đoạn.
Do
pháp “không mất” ấy,
Các
nghiệp có quả báo. [15]
207)Nếu
do kiến đế đoạn,
Mà
nghiệp đến tương tợ [7].
Như
thế phạm sai lầm,
Là
nghiệp bị phá vỡ. [16]
208)Tất
cả các hành nghiệp;
Tương
tợ, không tương tợ.
Một
cõi mới thọ thân,
Bấy
giờ báo riêng sanh. [17]
209)Hai
thứ nghiệp như thế,
Đời
này, thọ quả báo.
Hoặc
nói thọ báo rồi,
Mà
nghiệp vẫn tồn tại. [18]
210)Hoặc
“vượt quả” thì diệt,
Hoặc
chết rồi thì diệt.
Ở
trong ấy phân biệt,
Hữu
lậu và vô lậu. [19]
Pháp
“không mất”giống như chứng khoán. Nghiệp giống như sự
vay nợ. Pháp không mất ấy hệ thuộc dục giới, hệ thuộc
sắc giới, hệ thuộc vô sắc giới, hay không lệ thuộc sắc
giới nào? Nếu phân biệt theo thiện, bất thiện và vô ký
thì nó chỉ là vô ký. Ý nghĩa vô ký này được nói rộng
trong A-tì-đàm. Nó không bị đoạn trừ ở kiến đạo[8].
Từ một Thánh quả này tiến lên một Thánh quả khác, nó
bị đoạn trừ bởi tu đạo. Cho nên, do bởi pháp “không
mất” mà các nghiệp đi đến quả. Nếu nó bị đoạn trừ
ở kiến đạo, mà nghiệp đi đến tương tợ[9], thì phạm
sai lầm là phá nghiệp. Điều này được nói rõ trong A-tì-đàm.
Lại nữa, pháp “không mất” có nghĩa là các nghiệp tương
tợ và không tương tợ ở trong một giới địa khi ban đầu
mới thọ thân bấy giờ duy chỉ quả báo riêng sanh. Nơi thân
hiện tại, từ nghiệp lại phát sanh ra nghiệp, nghiệp ấy
có hai thứ, tùy nghiệp nào nặng thọ quả báo trước. Hoặc
có người nói nghiệp ấy vẫn tồn tại sau khi đã thọ quả
báo; do vì niệm niệm không diệt. Nói rằng, hoặc vuợt[10]
quả thì diệt, hay chết rồi hủy diệt có nghĩa là nó hủy
diệt sau khi đã siêu việt thánh quả như Tu-đà-hoàn v.v..
ở nơi các A-la-hán và các phàm phu nó hủy diệt sau khi đã
chết. Nói rằng, “Trong đây phân biệt hữu lậu, vô lậu,”
nghĩa là đối với các Hiền Thánh như Tu-đà-hoàn v.v.. thì
cần phân biệt hữu lậu, vô lậu.
Đáp:
Ý nghĩa ấy đều không lìa được lỗi đoạn, và thường.
Thế nên cũng không thể chấp nhận.
Hỏi:
Nếu thế không có quả báo của nghiệp sao?
Đáp:
211)Tuy
không cũng không đoạn.
Tuy
có mà không thường.
Quả
của nghiệp không mất,
Ấy
gọi lời Phật dạy.[11] [20]
Ý
nghĩa mà luận này nói là lìa cả đoạn, thường. Tại sao?
Vì nghiệp rốt ráo không; là tướng tịch diệt; tự tánh
lìa có; thì pháp gì có thể đoạn? pháp nào có thể mất?
Chỉ vì nhơn duyên điên đảo mà qua lại trong sanh tử, Đó
cũng không phải là thường. Vì sao? Nếu pháp từ điên đảo
phát khởi tức là hư vọng không thật; không thật nên không
thường. Lại nữa, vì tham đắm điên đảo, chẳng biết thật
tướng, cho nên nói “Nghiệp không mất.” Đây là lời Phật
dạy.
Lại
nữa:
212)Các
nghiệp vốn không sanh,
Vì
không tánh cố định.
Các
nghiệp cũng không diệt,
Vì
chúng chẳng sanh vậy. [21]
213)Nếu
nghiệp có tự tánh,
Ấy
tức gọi là thường;
Không
tạo cũng gọi nghiệp,
Thường
thì không thể tạo. [22]
214)Nếu
có nghiệp không tạo,
Chẳng
tạo mà có tội.
Không
làm mất phạm hạnh,
Mà
có lỗi bất tịnh? [23]
215)Thế
thì phá tất cả,
Pháp
ngôn ngữ thế gian.
Tạo
tội và làm phúc,
Cũng
chẳng có sai biệt. [24]
216)Nếu
nói nghiệp quyết định,
Mà
có tánh cố định.
Thọ
nơi quả báo rồi,
Mà
thọ lại nữa sao? [25]
217)Nếu
các nghiệp thế gian,
Từ
phiền não phát xuất,
Phiền
não ấy không thật,
Nghiệp
lẽ nào có thật. [26]
Trong
đệ nhất nghĩa, các nghiệp không sanh. Tại sao? Vì không tánh,
cho nên không sanh. Do nhân duyên, nên chẳng diệt. Không phải
do thường mà không diệt. Nếu chẳng phải thế, thì nghiệp
tánh mới quyết định có. Nếu nghiệp quyết định có, tức
là thường. Thường thì không tạo nghiệp. Vì sao? Pháp thường
không có tạo tác.
Lại
nữa, Nếu có nghiệp do không tạo, thì người kia tạo tội,
người này chịu quả báo. Lại người khác đoạn phạm hạnh
mà người này có tội, thì phá pháp thế tục. Nếu nghiệp
trước có thì mùa đông không thể nghĩ việc mùa xuân; mùa
xuân không thể nghĩ việc mùa hạ; có những lỗi như thế.
Lại
nữa, người làm phúc và kẻ tạo tội sẽ chẳng có sai biệt.
Khởi nghiệp bố thí, trì giới v.v… gọi là phúc; khởi nghiệp
sát sanh, trộm cắp v.v.. gọi là tạo tội. Nếu không tạo
mà có nghiệp thì chẳng phân biệt!
Lại
nữa, nghiệp nếu quyết định có tánh, thì một lúc thọ
quả báo rồi lại nên thọ nữa. Thế nên, ông nói do pháp
không mất nên có nghiệp báo cố định, có những lỗi như
thế.
Lại
nữa, nếu nghiệp từ phiền não khởi; phiền não chẳng quyết
định, chỉ từ nhớ tưởng phân biệt mà có. Nếu các phiền
não không thật, nghiệp làm thế nào có thật? Tại sao? Vì
nhơn không tự tánh, nghiệp cũng không tự tánh.
Hỏi:
Nếu các phiền não và nghiệp không tự tánh, không thật.
Nhưng nay thân quả báo hiện có, nên phải thật?
Đáp:
218)Các
phiền não và nghiệp,
Là
nhân duyên của thân.
Phiền
não các nghiệp không,
Huống
là có các thân. [27]
Các
bậc Hiền Thánh nói, phiền não và nghiệp là nhân duyên của
thân. Trong ấy tham ái có khả năng làm tươi nhuận sự sanh;
nghiệp có khả năng đưa đến quả báo tốt, xấu, sang, hèn
v.v.. với mức độ thượng, trung và hạ. Nay bằng mọi
cách để xét nghiệm mà không thấy có tánh quyết định của
các phiền não và nghiệp, huống là có quả báo quyết định
của các thân. Tại sao? Vì quả báo tùy nhân duyên.
Hỏi:
Ông tuy dùng mọi cách, phá nghiệp và quả báo. Nhưng trong
kinh nói có người tạo nghiệp. Vì có người tạo nghiệp,
nên có nghiệp có quả báo.
Như
nói:
219)Bị
vô minh che lấp,
Bị
ái kết ràng buộc.
Nhưng
tác giả, thọ giả;
Không
khác cũng không một. [28]
Trong
kinh “Vô thỉ” nói chúng sanh bị vô minh che lấp, do ái kết
ràng buộc, qua lại trong sanh tử từ vô thỉ, thọ đủ những
khổ vui. Người đời nay thọ đối với người tạo đời
trước, không phải một cũng chẳng phải khác. Nếu một thì
người tạo tội chịu hình trâu, tức người không làm trâu,
trâu không làm người. Nếu khác thì mất quả báo của nghiệp,
rơi vào vô nhơn. Vô nhơn là đoạn diệt. Thế nên người
thọ đối với người tạo trước, không phải một cũng chẳng
phải khác.
Đáp:
220)Nghiệp
không từ duyên sanh,
Chẳng
từ phi duyên sanh.
Thế
nên không thật có,
Người
hay khởi nghiệp ấy. [29]
221)Không
nghiệp, không người tạo,
Quả
nào do nghiệp sanh.
Nếu
kia không có quả,
Sao
có người thọ quả. [30]
Nếu
không nghiệp, không có người tạo nghiệp, làm thế nào có
quả sanh ra từ nghiệp? Nếu không có quả báo làm sao có người
thọ quả báo? Nghiệp có ba thứ. Con người giả danh trong
năm ấm gọi là tác giả. Nghiệp ấy hoặc sanh từ chỗ nào
thiện, ác, gọi là quả báo. Nếu người tạo nghiệp còn
không huống là có nghiệp có quả báo và có người thọ quả
báo.
Hỏi:
Ông tuy dùng mọi cách phá nghiệp, quả báo và người tạo
nghiệp, nhưng nay hiện thấy chúng sanh tạo nghiệp, thọ quả
báo, điều ấy thế nào?
Đáp:
222)Thế
Tôn dùng thần thông,
Hóa
ra người biến hóa.
Người
biến hóa như thế,
Lại
biến hóa người nữa.[12] [31]
223)Như
người biến hóa đầu,
Ấy
gọi là tác giả.
Các
người hóa tạo ra,
Ấy
tức gọi là nghiệp.[13] [32]
224)Các
phiền não và nghiệp,
Người
tạo và quả báo.
Đều
như huyễn như mộng,
Như
quang nắng, âm vang. [33]
Như
sức thần thông của Phật biến hóa ra một người huyễn
hóa; rồi người huyễn hóa ấy, lại hóa làm người hoá khác
như thế. Người biến hóa sự thật không có, chỉ có thể
trông thấy. Lại người huyễn hóa ấy hóa khẩu nghiệp nói
pháp, thân nghiệp bố thí v.v..
Nghiệp
tuy không thật mà mắt có thể thấy. Vậy nên thân sanh tử,
tác giả và nghiệp cũng nên biết như thế.
Các
phiền não là ba độc, phân biệt thành vô lượng phiền não.
Có 98 sử, 9 kết, 10 triền, 6 cấu v.v.. Nghiệp là nghiệp thân,
khẩu, ý, dời nay, đời sau; phân biệt có thiện, bất thiện,
vô ký. Có những quả báo khổ, lạc, không khổ không lạc;
nghiệp hiện báo, nghiệp sanh báo và nghiệp hậu báo. Như
thế v.v.., vô lượng.
Tác
giả là người hay tạo khởi các nghiệp phiền não. Người
hay thọ quả báo là thọ giả.
Quả
báo là từ nghiệp thiện, ác phát sanh thân năm ấm vô ký.
Các nghiệp như thế đều không; không tự tánh, như huyễn,
như mộng, như âm vang, như quáng nắng.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Có người hỏi rằng: Các pháp chấp vọng tưởng đã bị
công kích, nhưng các nghiệp không thể không có. Như trong kinh
nói: “Tất cả chúng sinh đều từ nghiệp mà sinh. Kẻ tạo
ác, đọa địa ngục, người tu phước được sanh thiên, người
tu đạo đắc Niết-bàn”. Cho nên không thể nói không có
nghiệp. Long Thọ Bồ Tát dẫn lời Phật dạy: Nghiệp có ba
là từ ý nghiệp, thân và khẩu nghiệp. Từ thân, khẩu, ý
nghiệp tạo ra mười nghiệp ác và mười nghiệp lành. Tức
gọi là thập thiện và thập ác. Người hành nghiệp lành
thì hưởng quả an vui trong hiện tại và tương lai. Kẻ tạo
ra mười điều ác thì bị quả báo khổ sở. Nghiệp còn chia
hai thứ là hữu lậu và vô lậu. Người tạo phước nghiệp
hữu lậu là hạnh nghiệp của Thánh nhân Siêu Thượng, diệt
trừ những phiền não vi tế vô minh, đắc sanh Niết-bàn.
[2]
Câu xá nói: tư cập tư sở tác.
[3]
Nguyên bản Hán là tác nghiệp và vô tác nghiệp. Đây dịch
theo chữ của luận Câu xá.
[4]
Gọi là biểu, vì nó biểu ra bên ngoài cho người khác có
thể nhận biết.
[5]
Từ khi thành tựu căn bản nghiệp đạo, cho đến lúc phát
sanh kết quả, nghiệp được tồn tại trong trạng thái không
biểu lộ ra ngoài cho nên nói là vô biểu.
[6]
Cát Tạng, Trung quán luận sớ 8A, dẫn Luật minh liễu nhị
thập luận, về chủ trương của Chánh lượng bộ. Bộ này
nói, khi một niệm ác khởi lên, hình thành hai loại nghiệp
là chí đắc và bất thất. Chí đắc gồm cả ba tánh thiện,
ác và vô ký. Bất thất duy chỉ vô ký. Với nghiệp ác đã
tạo, nhưng trong khi kết quả chưa phát, sám hối mà diệt
được; đó là chí đắc. Nghiệp bất thất thì không thể
sám hối mà diệt được. Chỉ khi nào quả đã sanh, tức đã
có báo ứng, bấy giớ cái bất thất mới mất. Như tờ khoán
vay nợ. Chỉ khi nào món nợ được trả, tờ khoán mới bị
hủy. Bất thất, tiếng Phạn là avipraịàza, không bị hủy.
[7]
Nguyên Hán: nghiệp chí tương tợ. Giải thích của Thanh Biện,
Bát nhã đang luận 10, “pháp không mất, cùng với nghiệp
đi đến đời sau.” Túc nghiệp chuyển đến đời sau, rồi
biến thái; lúc bấy giời nghiệp này được coi là diệt,
hay nợ đã được thanh toán. Nguyên tiếng Phạn là saưkrama,
nghĩa là cùng tiến hành, hay cùng đi. Giải thích của Cát
Tạng: chí tức chí đắc (xem chú thích trên). Vì nghiệp chí
đắc thông cả ba tánh, nên khi kết quả phát sanh, quả này
cũng mang tánh thiện, ác hay vô ký, dó đó nói là tương tợ.
[8]
Giai đoạn bắt đầu thấy Thánh đế, chứng Tu-đà-hoàn hướng.
Sau đó tiếp tục tu tập để chứng từ Tu-đà-hoàn quả cho
đến A-la-hán hướng, gọi là tu đạo. A-la-hán quả thuộc
vô học đạo.
[9]
Chí tương tợ, xem các chú thích trên.
[10]
Từ quả thấp vượt lên quả cao. Ở đây giải thích sự
tồn tại và báo ứng của nghiệp nơi các Thánh giả.
[11]
Có người hỏi rằng: Các pháp chấp vọng tưởng đã bị
công kích, nhưng các nghiệp không thể không có. Như trong kinh
nói: “Tất cả chúng sinh đều từ nghiệp mà sinh. Kẻ tạo
ác, đoạ địa ngục, người tu phước được sanh thiên, người
tu đạo đắc Niết-bàn”. Cho nên, không thể nói không có
nghiệp. Long Thọ Bồ Tát dẫn lời Phật dạy: Nghiệp có ba
là từ ý nghiệp, thân và khẩu nghiệp. Từ thân, khẩu, ý
nghiệp tạo ra muời nghiệp ác và mười nghiệp lành. Tức
gọi là thập thiện và thập ác. Người thực hành nghiệp
lành thì hưởng quả an vui trong hiện tại và tương lai. Kẻ
tạo ra muời điều ác thì bị quả báo khổ sở. Nghiệp còn
chia hai thứ là hữu lậu và vô lậu. Người tạo phước nghiệp
hữu lậu thì được sanh cõi nhân thiên, hưởng phước báo.
Người tạo nghiệp vô lậu là hạnh nghiệp của Thánh nhân
Siêu Thượng, diệt trừ những phiền não vi tế, vô minh, đắc
sanh Niết-bàn.
[12]
Biến hoặc là các phiền não được đoạn trừ ở kiến đạo
tức giai đoạn chứng nghiệm bốn Thánh đế và do đây mà
chứng Tu đà hoàn. Tư hoặc là các phiền não được đoạn
trừ ở Tu đạo tức giai đoạn tư duy và tu tập và do đấy
mà đắc bốn quả của Thanh văn là Tu Đà Hoàn quả, Tư Đà
hàm quả, A na hàm quả và A la Hán quả.
[13]
Bồ tát (vị tương tợ) trừ hết Trần sa hoặc chứng đắc
thập địa và khi nào diệt hết vô minh hoặc liền chứng
đắc vô thượng Phật quả.
Đúng
trên phương diện tương đối tục đế thì chúng ta thấy
có nghiệp nhân thọ báo và người tạo nghiệp chịu quả.
Trên phương diện tuyệt đối, Chân đế, thì nghiệp nhân
quả báo cũng như người tạo tác, tất cả đều không. Nó
như khói lửa, như tiếng vang đầu gành, hiệp rồi tan.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt