CHƯƠNG
XIII: QUÁN HÀNH
Hỏi:
154)Như
kinh Phật có nói,
Pháp
bị cướp[1] là dối.
Các
hành bị cướp đoạt,
Cho
nên là hư dối. [1]
Trong
kinh Phật có nói: “Pháp bị (vô thường) cướp đoạt, là
hư dối.” Pháp chân thật đệ nhất được gọi là Niết-bàn,
không phải là pháp bị (vô thường) cướp đoạt. Vì kinh
có nói như vậy, cho nên biết rằng có các hành, vốn là pháp
hư dối, vì bị vô thường cướp đoạt.
Đáp:
155)Hư
dối, bị cướp đoạt;
Cái
gì bị cướp đoạt?
Phật
dạy việc như thế,
Muốn
chỉ bày nghĩa không. [2]
Nếu
pháp bị cướp đoạt là hư dối, thì trong các hành ấy cái
gì bị cướp đoạt? Phật nói điều đó nên biết, đó là
nói về tánh Không.
Hỏi:
Làm thế nào biết tất cả các “hành” đều là tánh “không”.
Đáp:
Vì tất cả các hành có tính chất hư đối, cho nên không.
Các hành sanh diệt không dừng nghỉ, không tự tánh nên không.
Các hành là năm ấm. Từ hành sanh ra, nên năm ấm được gọi
là hành. Năm ấm đó đều hư dối, không có tướng quyết
định. Vì sao?
Như
sắc của đức bé khi là hài nhi không phải như sắc đứa
bé lúc biết bò; sắc đứa bé lúc biết bò chẳng phải như
sắc đứa trẻ khi biết đi; sắc của đứa trẻ lúc biết
đi không phải như sắc của trẻ thiếu niên; sắc tướng
của trẻ khi thiếu niên không phải như sắc lúc tráng niên;
sắc tướng của người lúc tráng niên không phải như sắc
tướng của người già nua. Như thế sắc từng sát na không
đình trụ, do đó khi phân tích, không thể tìm thấy tính chất
quyết định. Sắc của đứa hài nhi chính là sắc của đứa
bé biết bò, cho đến sắc lão niên, hay là khác? Cả hai đều
có lỗi. Vì sao? Nếu sắc của hài nhi tức là sắc biết bò
cho đến sắc lão niên, như thế chỉ có một sắc đều là
hài nhi, không có sắc khi biết bò cho đến lão niên. Lại
như đất sét chỉ là đất sét thì không bao giờ thành cái
bình. Tại sao? Vì sắc luôn luôn cố định. Nếu sắc khi hài
nhi khác với sắc khi biết bò thì hài nhi không thể trở thành
bé biết bò, biết bò không thể làm nên hài nhi. Tại sao?
Vì hai sắc khác nhau. Như thế sắc của đồng tử thiếu niên,
tráng niên cho đến lão niên, không thể tương tục, sẽ sai
lầm ở chỗ mất pháp thân thuộc; Không cha, không con. Nếu
thế chỉ có hài nhi mới có cha, ngoài ra, từ biết bò cho
đến già đều không thể có phần. Thế nên cả hai đều
có lỗi.
Hỏi:
Sắc tuy không quyết định, nhưng sắc của hài nhi diệt rồi
tương tục tái sanh khởi; cho đến tái sanh khởi sắc khi lão
niên; như vậy không có lỗi như trên.
Đáp:
Sắc của hài nhi nếu tương tục sanh khởi; là hủy diệt
rồi tương tục sanh, hay là không diệt mà tương tục sanh?
Nếu sắc hài nhi hủy diệt, làm thế nào có tương tục? Bởi
vì không nhơn. Ví như, tuy có củi bị đốt nhưng lửa đã
diệt nên không có tương tục. Nếu mà hài nhi không hủy diệt
mà tương tục thì sắc hài nhi không diệt là thường trú
bổn tướng cũng không tương tục.
Hỏi:
Đây tôi không nói do hủy diệt hay không hủy diệt mà tương
tục phát sanh; tôi chỉ nói nó không định trụ, mà sanh khởi
theo tính chất tương tợ cho nên nó đã tương tục sanh khởi.
Đáp:
Nếu ông nói thế ấy thì đã có sắc xác định rồi lại
phát sanh nữa, như thế sẽ có nghĩa là có muôn vạn thứ
sắc sanh ra, song điều ấy không đúng. Thế là cũng không
có tương tục. Như thế, trong tất cả mọi trường hợp,
tìm kỹ các sắc, không có tướng quyết định; chỉ vì do
ngôn ngữ thế tục mà có thôi. Như nơi cây chuối, tìm lõi
thật không thể có, chỉ có bẹ lá. Như thế, người trí
suy nghiệm về sắc tướng, mỗi niệm mỗi niệm hoại diệt,
không có thật sắc nào có thể có được. Sắc hình sắc
tướng không định trụ, tương tợ tiếp nối phát sanh; khó
có thể phân biệt. Như nơi ánh lửa, phân biệt sắc quyết
định của nó chẳng thể được. Thế nên, sắc do không có
tự tánh, nên không, chỉ do ngôn ngữ thế tục mà nói có.
Thọ
v.v.. cũng như thế. Người trí quán sát bằng mọi cách, thấy
rằng vì nó tiếp nối tương tợ nên sanh và diệt; khó có
thể phân biệt mà biết. Như dòng nước tương tục chảy.
Chỉ do sự giác tri mà nói có ba thứ thọ ở thân. Thế nên,
phải biết thọ cũng được nói như sắc.
Tưởng,
do bởi danh tướng mà phát sanh, nếu lìa danh tướng thì không
sanh. Thế nên Phật dạy, “Phân biệt, biết danh tự tướng
nên gọi là tưởng.” Nó không phải quyết định có trước.
Từ các duyên phát sanh nên không có tánh quyết định. Vì
không có định tánh, như bóng theo hình; nhân hình có bóng;
không hình thì không bóng. Bóng không có tánh cố định. Nếu
quyết định có, thì lìa hình, nên có bóng; mà thật không
như thế. Thế nên từ các duyên phát sanh vì không tự tánh
nên không thể hiện hữu. Tưởng cũng như thế, chỉ nhân
danh tướng bên ngoài, do ngôn ngữ thế tục mà có.
Thức
do bởi sắc, thanh, hương, vị, xúc; và mắt, tai, mũi, lưỡi,
thân mà phát sanh. Vì các căn mắt v.v.. riêng biệt, nên thức
nó có sự riêng biệt. Thức ấy ở mắt hay là ở nơi sắc,
hay là ở khoảng giữa? Không có quyết định, chỉ có phát
sanh rồi mới nhận thức trần cảnh, nhận thức người này,
nhận thức người kia. Cái nhận thức về người này chính
là cái nhận thức với người kia, hay hai cái khác nhau, cả
hai đều khó có thể phân biệt. Như cái nào là thức con mắt,
cái nào là thức lỗ tai cũng khó phân biệt. Do vì khó phân
biệt, nên dù có một, hay nói khác đều không có sự phân
biệt quyết định. Vì nó từ các duyên mà phát sanh. Mắt
v.v.. do phân biệt nên không có tự tánh. Như con hát ngậm
hạt châu, sau khi nhả ra, rồi lại cho người khác thấy, người
ta sẽ nghi ngờ, đó có phải là hạt châu cũ không, hay là
hạt khác? Thức cũng như thế. Sanh rồi lại sanh; thức ấy
vốn là cái thức gốc hay là cái thức nào khác? Thế nên
biết, thức không đình trú nên không có tự tánh, hư dối
như huyễn.
Các
hành cũng như thế. Các hành là thân, khẩu, ý. Hành có hai
thứ; tịnh và bất tịnh. Những gì là bất tịnh? Những sự
tham trước gây tổn hại cho chúng sanh gọi là bất tịnh.
Làm các việc gì chẳng não hại chúng sanh; nói lời chân thật,
không tham trước v.v.. gọi là tịnh. Hành có tăng, có giảm;
Hành thuần tịnh sẽ sanh trong cõi người và các cõi trời,
Dục, Sắc, Vô sắc; thọ quả báo rồi thì giảm, lại tạo
nữa gọi là tăng. Hành bất tịnh cũng như thế. Ở trong địa
ngục, ngạ qủy, súc sanh, A tu la thọ quả báo rồi thì giảm;
trở lại tạo nên gọi là tăng. Thế nên, các hành vi có tăng
có giảm, do đó không dừng trụ. Như người có bịnh, tùy
trường hợp chữa trị thích hợp thì bịnh được lành, nếu
không thích hợp, bịnh sẽ trở lại. Các hành cũng như thế,
có tăng có giảm nên không cố định; chỉ do ngôn thuyết
của thế tục mà có. Nhơn thế tục đế mà thấy được
đệ nhất nghĩa đế. Đó là, duyên vô minh có các hành, từ
các hành mà có thức kết sanh, do thức kết sanh nên có danh
sắc, từ danh sắc có sáu nhập, từ sáu nhập có xúc, từ
xúc có thọ, từ thọ có ái, từ ái có thủ, từ thủ có
hữu, từ hữu có sanh, từ sanh có lão tử, ưu bi khổ não,
ân ái biệt ly khổ, oán tăng hội khổ v.v. Như thế các khổ
đều do hành làm gốc. Đức Thế Tôn theo thế tục đế mà
nói. Nếu chứng đắc đệ nhất nghĩa đế, phát sanh trí huệ
chân thật, thì dứt được vô minh. Vô minh dứt, các hành
cũng không tập khởi. Các hành không tập khởi thì các phiền
não bị đọan trừ ở kiến đạo như thân kiến, nghi, giới
cấm thủ v.v.. cũng bị đoạn trừ, và các phiền não bị
đoạn trừ bởi tư duy (tu đạo) như tham, nhuế, sắc ái, vô
sắc ái, vô minh cũng đoạn. Do sự đoạn trừ như vậy mà
từng phần một bị hủy diệt. Tức là vô minh, các hành,
thức, danh sắc, sáu nhập, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh,
lão tử, ưu bi khổ não, ân ái biệt ly, oán tăng hội khổ
v.v. đều diệt. Do sự diệt trừ như vậy mà thân năm ấm
hoàn toàn bị diệt không còn nữa, duy chỉ có tánh không.
Thế nên, đức Phật vì muốn chỉ bày nghĩa không, nên
Ngài nói các hành là hư dối.
Lại
nữa, vì các pháp không tự tánh nên hư vọng, vì hư vọng
nên không. Như bài tụng nói:
156)Các
pháp vì dị biệt,
Nên
biết không tự tánh.
Pháp
không tánh cũng không,
Vì
tất cả Pháp không.[2] [3]
Các
pháp không có tánh. Vì sao? Các pháp tuy sanh khởi, nhưng không
trú tự tánh, thế nên Không tánh. Như đứa hài nhi nếu quyết
định thường trú tự tánh sẽ không bao giờ trở nên đứa
bé biết bò cho đến lão niên. Nhưng đứa hài nhi theo sự
tương tục tiếp nối có xuất hiện tướng dị biệt từ
biết bò cho đến lão niên. Thế nên nói, vì thấy tướng
dị biệt của các pháp nên biết không tự tánh.
Hỏi:
Nếu các pháp do tướng dị biệt nên không có tự tánh; vậy
thì có pháp vốn vô tánh, điều ấy có lỗi gì?
Đáp:
Nếu không tự tánh làm thế nào có pháp? Làm gì có tướng.
Vì sao? Vì không cội gốc, mà chỉ do phá tánh nên nói không
có tánh. Pháp vô tánh nếu có thì không nói rằng tất cả
pháp đều không, nếu tất cả pháp đều không, làm thế nào
có pháp vô tánh?
Hỏi:
157)Các
pháp nếu vô tánh,
Làm
sao nói hài nhi.
Cho
đến lúc lão niên,
Có
rất nhiều dị biệt? [4]
Các
pháp nếu không tự tánh thì không có tướng dị biệt; mà
ông nói có tướng dị biệt nên mới có tánh của các pháp.
Nếu không có tự tánh của các pháp làm sao có tướng dị
biệt?
Đáp:
158)Nếu
các pháp có tánh,
Làm
sao có dị biệt?
Nếu
các pháp vô tánh,
Làm
sao có dị biệt? [5]
Nếu
các Pháp quyết định có tánh, làm thế nào có thể có tánh
dị biệt? tánh nghĩa là hiện hữu cố định, không thể biến
đổi. Như vàng ròng chẳng thể biến đổi. Lại như tánh
tối không thể biến đổi thành sáng, tánh sáng chẳng thể
biến thành tối.
Lại
nữa:
159)Pháp
này không dị biệt,
Pháp
khác cũng không dị.
Như
trẻ không thành gia,
Già
cũng chẳng thành trẻ. [6]
Nếu
pháp có dị biệt, tất phải có tướng dị biệt. Vậy chính
pháp ấy dị biệt, hay pháp khác dị biệt? Cả hai đều không
đúng. Nếu chính pháp ấy là dị biệt, thì sự già mới trở
thành già. Nhưng thật ra sự già không trở thành già. Nếu
pháp khác là dị biệt thì già và trẻ khác nhau mới có thể
trẻ trở thành già. Nhưng thật ra, trẻ không trở thành già.
Cả hai đều có lỗi.
Hỏi:
Nếu chính Pháp ấy là dị biệt, có lỗi gì? Như ngày nay
mắt thấy, thiếu niên trải qua bao nhiêu ngày, tháng, năm thành
già.
Đáp:
160)Nếu
chính pháp ấy dị, cộng
Sữa
phải chính là bơ.
Lìa
sữa có pháp gì,
Có
thể trở thành bơ. [7]
Nếu
chính pháp ấy là dị biệt, thì sữa lẽ ra phải là bơ, chứ
không cần nhân duyên; điều ấy không đúng. Vì sao? Về sữa
và bơ có nhiều sự sai khác nhau, nên sữa không thể chính
là bơ. Thế nên, chính pháp đó không phải là dị biệt. Nếu
cho rằng, pháp khác là dị biệt, cũng không đúng. Vì lìa
sữa chẳng có vật gì thành ra bơ. Như thế suy nghĩ chính
pháp đó không phải là dị biệt. Nếu cho rằng pháp khác
là dị biệt, cũng không đúng. Vìa lìa sữa chẳng có vật
gì thành ra bơ. Như thế suy nghĩ chính pháp đó không dị biệt,
pháp khác cũng không dị biệt. Do đó, không nên có sở chấp
phiến diện.
Hỏi:
Dù bác bỏ không phải chính cái đó hay cái khác, vẫn còn
có tánh không. Tánh không chính là pháp?
Đáp:
161)Nếu
có pháp bất không,
Thì
mới có pháp không.
Thật
không pháp bất không,
Làm
sao có pháp không? [8]
Nếu
có pháp bất không, do quan hệ nhau, có thể có pháp không.
Mà từ trước đến nay đã dùng mọi cách phá pháp bất không.
Không có pháp bất không, thì không có sự đối đãi nhau;
do không có sự đối đãi nhau, làm thế nào có pháp không?
Hỏi:
Ông nói vì pháp bất không không có nên pháp không cũng không
có. Nếu thế, đó chính là nói về không. Nhưng vì không có
sự quan hệ đối đãi, cho nên không nên có chấp trước.
Nếu có sự tương đối thì phải có quan hệ đối đãi. Nếu
không có tương đối, thì không quan hệ đối đãi. Không có
quan hệ đối đãi nên không có tướng, vì không có tướng,
nên không có chấp. Như thế chính là chủ trương có tánh
không.
Đáp:
162)Đại
thánh nói pháp không,
Vì
để lìa kiến chấp.
Nếu
lại thấy có không,
Chư
Phật khó hóa độ. [9]
Đức
Đại Thánh vì phá 62 thứ kiến chấp và các phiền não như
vô minh, tham ái v.v… nên nói tánh không. Nếu người đối
với tánh không lại phát sanh kiến chấp, người ấy không
thể hóa độ. Thí như, người có bịnh cần uống thuốc để
điều trị, nếu thuốc lại thành bịnh thì không thể điều
trị. Như lửa từ củi phát xuất, dùng nước tưới có thể
mát; nếu nó từ nước phát sanh lửa thì dùng gì để dập
tắt? Như tánh không là nước, hay hủy diệt được các lửa
phiền não. Có người tội nặng, tâm tham lam chấp trước
sâu dày, trí tuệ cạn cợt, nên đối với tánh không phát
sanh kiến chấp, hoặc nói, có tánh không, hay nói không có
tánh không. Nhơn nơi có, không trở lại sinh khởi phiền não.
Nếu dùng không mà hóa độ người này, thì họ nói rằng,
“Tôi lâu nay đã biết không ấy.” Nếu lìa không, chẳng
có đại Niết-bàn. Như kinh dạy, “Lìa ba môn không, vô tướng
và vô tác mà có thể giải thoát, ấy chỉ là nói suông.”
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Hán: vọng thủ tướng, tướng của sự chấp thủ một cách
sai lầm. Bản Phạn nói: mowa-dharma: pháp hư vọng, cũng có
nghĩa pháp bị cướp đoạt. Luận Câu-xá phẩm 1 tụng 7 nói:
“các pháp bị vô thường nuốt chững.”
[2]
Quán hành là quán tưởng các hành nghiệp hư ảo vô minh. Trong
kinh đức Phật thường diễn bày, những thứ vọng tưởng
và các thứ thủ chấp mê hoặc. Và Ngài cũng chỉ bày phương
pháp các hạnh tu hành chỉ quán, để dẹp trừ các hư vọng
thủ chấp. Việc làm của đức Phật là tùy theo phương tiện,
cơ duyên, khi nói có, khi nói không. Nói có để dẹp thành
kiến chấp không; nói không để gạt bỏ quan niệm thủ hữu.
Sự thật tất cả đều vô tánh. Vô tánh nên không có cái
gì gọi là thật có thủ chấp hư vọng. Nhưng nếu lại chấp
có cái không tánh, đó cũng là rơi vào hư vọng, mê chấp.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt