CHƯƠNG
V: QUÁN LỤC CHỦNG[1]
Hỏi:
Sáu đại chủng đều có tướng nhất định. Vì có định
tướng nên có sáu đại chủng.
Đáp:
42)Tướng
không khi chưa có,
Thì
không pháp hư không.
Nếu
trước có hư không,
Tức
hư không, không tướng[2] [1]
Nếu
khi chưa có tướng hư không , mà đã có trước pháp hư không,
thì hư không chẳng có tướng. Vì sao? Chỗ nào không có sắc,
gọi đó là tướng hư không. Sắc là pháp được tạo tác,
vô thường. Sắc nếu chưa phát sanh, mà chưa sanh thì không
có hoại diệt, bấy giờ chẳng có tướng hư không. Nhơn sắc
nên có chỗ không sắc. Chỗ không sắc đó được gọi là
tướng hư không.
Hỏi:
Nếu không có tướng mà có hư không thì có lỗi gì?
Đáp:
43)Trong
tất cả mọi nơi,
Không
có pháp không tướng.
Ở
trong pháp không tướng[3],
Tướng
không có sở tướng. [2]
Nếu
đi tìm pháp không có tướng, ở trong pháp thường hay vô thường
thì chẳng thể được[4]. Như Luận giả nói: “Là có, là
không”; làm thế nào để biết? Vì mỗi cái đều có tướng
trạng riêng của nó. Sanh, trụ, diệt là tướng hữu vi; không
sanh, trụ, diệt là tướng vô vi. Hư không nếu không có tướng
thì chẳng có hư không. Nếu nói rằng trước vốn không có
tướng, sau tướng hiện đến để làm thành tướng trạng
cũng không đúng. Nếu trước vốn không có tướng thì chẳng
có pháp sở tướng. Vì sao?
44)Tướng
trạng không tồn tại,
Trong
có tướng, Không tướng.
Nó
cũng không tồn tại,
Ngoài
có tướng, không tướng. [3]
Như
có cục cổ, có đôi sừng, ở chót đuôi có lông, dưới cổ
có diều thòng xuống gọi là tướng của con bò. Lìa những
tướng ấy không có con bò. Nếu không có con bò thì các tướng
ấy chẳng có chỗ an trú. Thế nên nói trong pháp không có
tướng tất chẳng có sở tướng. Tướng cũng không tồn tại
trong cái có tướng, vì trước đã có tướng. Như tướng
lửa không tồn tại trong tướng trạng nước, vì trước đã
có tự tướng. Lại nữa, nếu tướng tồn tại trong cái không
có tướng, thế là không có nhân. Không nhân nghĩa là không
có pháp mà lại có tướng, vì năng tướng và sở tướng
thường làm nhân đối đãi nhau. Lìa pháp có tướng và không
có tướng, chẳng thể có trường hợp thứ ba để có sở
tướng. Thế nên lời tụng nói, “Tướng không tồn tại
ngoài có tướng, không tướng.”
Lại
nữa:
45)Vì
năng tướng chẳng có,
Pháp
sở tướng cũng không.
Pháp
sở tướng không có,
Thì
năng tướng cũng không. [4]
Vì
tướng không có chỗ nào để an trụ nên chẳng có pháp sở
tướng. Vì chẳng có pháp sở tướng nên pháp năng tướng
cũng không. Tại sao? Nhơn năng tướng mới có sở tướng,
nhơn sở tướng có năng tướng, vì chúng làm nhơn đối đãi
nhau.
46)Thế
nên không năng tướng,
Cũng
chẳng có sở tướng.
Lìa
tướng năng sở ra,
Làm
thế nào có vật. [5]
Trong
pháp nhơn duyên suy cứu từ gốc đến ngọn không thể tìm
thấy có tính chất quyết định của năng tướng và sở tướng.
Vì không thể thấy có hai cái đó nên tất cả Pháp đều
không. Bởi tất cả các pháp nhiếp thuộc ở năng tướng,
sở tướng. Hoặc năng tướng tác thành sở tướng hay sở
tướng tác thành năng tướng, như lửa lấy khói làm tướng,
khói cũng lấy lửa làm tướng.
Hỏi:
Nếu không có cái Hữu lẽ ra nên có cái Vô?
Đáp:
47)Giả
sử không có Hữu,
Làm
gì có cái Vô.
Hữu
Vô đã là không,
Biết
hữu vô là ai? [6]
Phàm
sự vật gì tự nó hoại diệt hay bị cái khác hủy diệt
gọi là Vô[5]. Cái Vô không tự nó có, mà nó có từ cái hữu
thế nên nói: “Giả sử không cái hữu làm sao có pháp vô”.
Cái mà mắt thấy được, tai nghe được còn không thể hiện
hữu, huống hồ cái không hiện hữu.
Hỏi:
Bởi không có pháp hữu nên pháp vô cũng không, vậy có thể
có người biết đến cái hữu và cái vô ấy không?
Đáp:
Nếu có người biết thì người đó phải thuộc về hữu
hay thuộc về vô? Hữu và vô đã bị bác bỏ thì người biết
cũng bị bác bỏ theo.
48)Thế
nên biết hư không,
Chẳng
Hữu cũng chẳng Vô,
Không
năng không sớ tướng
Năm
kia đồng Hư Không.[6] [7]
Cũng
như hư không, bằng mọi cách vẫn không tìm thấy tướng trạng
của nó, năm đại chủng còn lại cũng giống như thế.
Hỏi:
Hư không, không ở trước, không ở sau, tại sao bị bác bỏ
trước?
Đáp:
Đất, nước, lửa, gió do các duyên hòa hợp cho nên dễ phá.
Thức bởi do nhân duyên khổ vui nên biết nó vô thường, biến
dị, vì vậy dễ phá. Hư không chẳng có tướng trạng như
thế; chỉ do phàm phu hư vọng chấp có; thế nên phá hủy
trước. Lại nữa, hư Không có khả năng duy trì tứ đại,
do nhân duyên tứ đại mà có thức. Vì thế trước phá hủy
căn bản, còn bao nhiêu tự phá hủy.
Hỏi:
Người thế gian đều thấy các pháp; hoặc hiện hữu hoặc
không hiện hữu. Tại sao riêng ông cùng thế gian trái ngược,
nói rằng, “không có cách gì được thấy?”
Đáp:
49)Thiển
trí chấp các Pháp,
Hoặc
có tướng hay không.
Người
đó không thể thấy,
Pháp
an ổn diệt kiến. [8]
Nếu
người chưa đắc đạo không thể trực nhận “Thật tướng
các pháp.” Do nhân duyên ái và kiến mà phát khởi đủ thứ
hí luận. Khi thấy các pháp phát sinh cho rằng có; chấp thủ
tướng mà nói rằng hữu. Khi thấy hoại diệt thì cho là đoạn
diệt, chấp thủ tướng mà nói là vô. Người có trí tuệ
nhìn thấy các pháp phát sanh thì diệt trừ được kiến chấp
về vô; thấy các pháp lúc hoại diệt liền hủy diệt kiến
chấp hữu. Thế nên đối với tất cả pháp tuy có thấy,
nhưng đều như huyễn như mộng. Cho đến kiến ở giai đoạn
vô lậu đạo còn bị hủy diệt huống là những kiến chấp
khác. Thế nên, nếu ai không thấy được pháp an lành do diệt
trừ kiến chấp, người ấy sẽ thấy có hữu, thấy có vô.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Lục chủng cũng gọi lục giới hay lục đại, gồm có: địa,
thủy, hỏa, phong, hư không và thức.
[2]
Trong sáu đại, bốn đại trước địa, thủy, hỏa, phong,
người ta dễ nhận thức, vì nó có hình tướng đối tượng
cảm xúc, nó là do nhân duyên hòa hiệp. Món thứ năm là hư
không, là một thứ vô hình vô tướng tương đối khó lãnh
hội hư không là có hay không có, hơn là các đại khác như
địa đại, thủy đại…. Đặt nghi vấn hư không có tướng
trạng hay không, hình như không phải cách. Song suy nghĩ kỹ,
nếu hư không không có tướng pháp thì làm thế nào biết
có hư không. Còn nói hư không có tướng thì nó cũng như tướng
khác như: đất, nước v.v… sao gọi là hư không?
[3]
Tướng, tiếng Phạn là lakwaịa, được hiểu là đặc tính,
yếu tính, hay đặc trưng. Trong ngữ pháp, bất cứ một danh
từ nào cũng đều có ít nhất một tính từ thích ứng để
mô tả. Cũng vậy, không một tồn tại nào được nhận thức
mà không mang trong nó yếu tính đặc trưng nào đó. TS
[4]
Nói theo ngữ pháp, một pháp là một danh từ. Vô thường,
v.v.. cho đến, có (hiện hữu, tính từ) hay không (không hiện
hữu, tính từ), đều là những tính từ mô tả hay phẩm định
danh từ đó. TS
[5]
Vô, tiếng Phạn là abhàva, cái không tồn tại, hay không hiện
hữu, không là cái gì cả. Tức là phủ định của cái đang
tồn tại. Nếu không có cái đang tồn tại, nó không phủ
định cái gì cả, do đó không chứng minh được nó là cái
gì. Câu tụng ở đây , theo bản Phạn, có thể hiểu
như vầy: trong khi không chứng minh được cái bhàva, thế thì
cái abhàva sẽ là của cái gì” : kasyàbhàvo bhaviwyati. Cần
lưu ý một chút về ngữ pháp trong câu tiếng Phạn này. Cả
danh từ abhàva (vô, hay vô thể) và động từ hoạt dụng thời
vị lai, trực thuyết, bhaviwyati (nó sẽ là) đều có chung ngữ
căn là BHÙ (là). Cho nên câu tiếng Phạn nếu dịch sát tiếng
Việt sẽ là “ cái-không-là sẽ là.” Đó là một mệnh
đề mâu thuẩn nội tại. TS
[6]
Hư không là vô tướng nên không có trú xứ. Không trụ xứ
chứ không phải không trú chỗ nào. Vì hư không mặc dù không
hình tướng song nó là cái khả tướng (đáng gọi là tướng)
một thứ đối tượng trống rỗng so sánh với tướng đông
đặc như đất, đá v.v.. Người trí nên hiểu rằng đất,
nước, gió, lửa là yếu tố nhân duyên thì hư không kia cũng
thế. Đất, nước.. kia không thể nói là có thật tướng,
thì hư không, một đại trong sáu đại cũng là như thế. Biết
có hình tướng đặc chất là nhờ có hư không trống rỗng.
Biết có hư không vì nó không phải đặc chất, chấp có chấp
không là vọng chấp.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt