CHƯƠNG
IV: QUÁN NGŨ ẤM[1]
Hỏi:
Kinh nói có năm ấm; sự kiện ấy như thế nào?
Đáp:
[2]
33)Nếu
ngoài nhân của sắc,
Thì
sắc không thể được[3].
Nếu
lìa sắc quả ra,
Nhân
của sắc cũng không. [1]
Nhân
của sắc; như nhân của vải là sợi. Ngoài sợi không có
vải, ngoài vải không có sợi. Vải như sắc, chỉ sợi như
nhân.
Hỏi:
Nếu lìa nhân của sắc mà có sắc thì có lỗi gì?
Đáp:
34)Lìa
nhân sắc có sắc,
Thì
sắc ấy không Nhân.
Không
nhân mà có Pháp,
Thì
điều ấy không đúng. [2]
Như
là sợi có vải, thì vải ấy không nhân; không nhân mà có
pháp, trong thế gian không hề có điều đó.
Hỏi:
Trong pháp Phật, pháp ngoại đạo và pháp thế gian, đều có
những pháp không nhân. Như Pháp Phật thì có ba thứ vô vi.
Vô vi là thường nên không nhân. Pháp ngoại đạo thì có hư
không, thời gian, phương sở, bản ngã, vi trần[4], Niết-bàn
v.v… Trong pháp thế gian, hư không, thời gian, phương sở,
ba pháp ấy chẳng có chỗ nào là không có nên gọi là thường.
Thường cho nên không nhân. Tại sao lại nói thế gian không
có cái gì là không nhân?
Đáp:
Pháp không nhân này chỉ có ở ngôn thuyết, nếu suy nghĩ phân
tích thì chúng không thực hữu. Nếu pháp do nhân duyên mà
có thì không nên nói không nhân. Nếu không nhân duyên, thì
như tôi đã nói.
Hỏi:
Có hai thứ nhân; một là tác nhân hai là ngôn thuyết nhân.[5]
Pháp không nhân ấy không có nhân tạo tác mà chỉ có nhân
ngôn thuyết để khiến người ta biết đến được.
Đáp:
Tuy rằng có nhân ngôn thuyết nhưng cũng không đúng. Hư không
sẽ được bác bỏ trong “Phẩm Lục chủng.” Những thứ
còn lại sẽ được bác bỏ sau.
Lại
nữa, những sự thể hiện thấy còn có thể bị bác bỏ huống
là vi trần v.v… là pháp không thể thấy. Thế nên nói thế
gian không có gì là pháp không nhân.
Hỏi:
Nếu lìa sắc mà có nhân của sắc thì có lỗi gì?
Đáp:
35)Nếu
lìa sắc có nhân,
Thế
là nhân không quả.
Có
nhân mà không quả,
Như
thế là vô lý. [3]
Nếu
lìa sắc quả chỉ có sắc nhân tức là có nhân mà không quả
Hỏi:
Nếu nhân không quả, thì có lỗi gì?
Đáp:
Thế gian không có cái nhân gì mà không quả. Tại sao? Vì có
quả nên gọi nhân, nếu không quả làm thế nào gọi nhân?
Lại nữa, nếu trong nhân không có quả thì tại sao mọi vật
lại không sinh ra từ cái không phải là nhân của chính nó?
Điều ấy như trong chương “Nhân duyên” đã phá. Thế nên
không có cái nhân không quả.
Lại
nữa:
36)Nếu
sắc đã có rồi,
Cần
gì nhân có sắc.
Nếu
sắc vốn không có,
Cũng
chẳng cần nhân sắc.[6] [4]
Có
hai trường hợp cho thấy không thể có nhân của sắc. Nếu
sắc đã có sẵn trước trong nhân thì nhân đó không thể
gọi là nhân của sắc. Nếu sắc không sẵn trước trong nhân,
thì nhân đó cũng chẳng gọi là nhân của sắc.
Hỏi:
Nếu cả hai trường hợp đều chẳng đúng, nhưng có sắc
không nhân thì có lỗi gì?
Đáp:
37)Không
nhân mà có sắc,
Như
thế là không đúng.
Thế
nên người có trí,
Không
nên phân biệt sắc.[7] [5]
Như
trường hợp trong nhân có sẵn quả, hay trong nhân không sẵn
quả, điều này còn không đúng huống là thứ sắc không có
nhân. Thế nên nói, "Không nhân mà có sắc, Như thế là không
đúng. Không nên phân biệt sắc." Phân biệt chỉ cho phàm phu.
Vì vô minh ái nhiễm tham đắm sắc, sau đó do tà kiến mà
khởi sự phân biệt hí luận nói, "Trong nhân có quả hay không
quả,” v.v… Nay ở đây (sắc ấm) không thể tìm thấy có
sắc. Vì thế nên kẻ trí không nên phân biệt.
Lại
nữa:
38)Nếu
quả giống với nhân.
Như
thế là không đúng.
Quả
nếu không giống nhân,
Điều
ấy cũng chẳng đúng. [6]
Nếu
quả và nhân giống nhau thì không đúng. Vì nhân thì nhỏ nhiệm
mà quả thì to lớn. Nhân và quả khác nhau vì hình thái và
năng lực. Như vải giống chỉ tất chẳng gọi vải. Vì chỉ
nhiều mà vải chỉ có một. Vậy nên không thể nói nhân quả
giống nhau. Hoặc nói rằng nhân quả không giống nhau cũng
không đúng. Như chỉ gai không thể dệt thành ra lụa; chỉ
thô chẳng làm thành vải mịn. Thế nên không thể nói nhân
quả không giống nhau. Cả hai sự kiện đều chẳng đúng,
cho nên không có Sắc, không có nhân của sắc.
39)Thọ
ấm và tưởng ấm,
Cả
hành ấm, thức ấm.
Và
tất cả pháp khác,
Đều
đồng với sắc ấm. [7]
Bốn
ấm kia và tất cả pháp cũng nên suy nghĩ như thế để hủy
phá. Nay Ngài Luận chủ muốn tán thán nghĩa Không nên nói
bài tụng rằng:
40)Nếu
có đối phương Hỏi,
Lìa
Không mà ứng đáp.
Thế
là không thành đáp,
Vì
cũng đồng nghi kia. [8]
41)Hoặc
giả có nạn vấn,
Lìa
Không mà chỉ trích.
Thì
chẳng thành nạn vấn,
Vì
cũng đồng nghi kia. [9]
Trong
lúc luận thuyết, mỗi bên có chủ trương riêng. Nếu sự
Hỏi và đáp mà không căn cứ trên Nghĩa Không thì sự Hỏi
và đáp ấy bất thành, vì nó chỉ lặp lại nội dung của
sự nghi ngờ. Tỷ dụ như nói, “Chiếc bình là vô thường”.
Ngoại nhân Hỏi, “Tại sao vô thường?” Đáp, “Vì từ
nhân vô thường phát sinh.” Như thế chẳng gọi là đáp.
Tại sao? Vì trong cái nhân duyên đó vẫn còn có sự hoài nghi
là chẳng biết nó thường hay vô thường. Do đó, nội dung
của trả lời vẫn đồng với nghi vấn được đặt ra. Người
Hỏi khi muốn chỉ điểm sự sai lầm của nó, nếu chẳng
y vào Không tánh để nêu rõ rằng các pháp là vô thường,
thì đó không phải là nạn vấn được. Tại sao? Bởi vì
ông nhơn lý vô thường phá hủy nghĩa thường của tôi; tôi
cũng đem lý hằng thường trú để phá hủy nghĩa vô thường
của ông. Nếu thật vô thường thì không có nghiệp báo. Các
pháp như mắt, tai v.v.. niệm niệm hoại diệt cũng chẳng thể
hoại diệt, cũng chẳng thể phân biệt. Có những lỗi như
thế, nên đều không tựu thành nạn vấn, mà chỉ lặp lại
nghi vấn của người kia thôi. Nếu căn cứ tánh Không phá
hủy thường tánh thì không có lỗi. Tại sao? Vì người này
chẳng chấp thủ tướng Không. Thế nên, khi Hỏi và đáp mà
còn phải bằng vào tánh Không, huống là muốn cầu tướng
ly khổ tịch diệt.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]
Tiếng Phạn skandha, cựu dịch là “ấm”, tân dịch (Huyền
Tráng) là “uẩn.” TS
[2]
Chương III quán lục tình, nhận thức căn, trần, thức không
phải tự nó có, mà do sự tương quan, tương duyên giữa căn
trần mà có thức tình phân biệt. Do đó các pháp từ nhân
duyên sanh, đều không thật có. Chương IV này, ý nghĩa không
khác gì chương III là phá trừ thành kiến cố chấp. Ngũ ấm
cũng gọi Ngũ Uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành và thức.
[3]
Hán: bất khả đắc, không thể thủ đắc, không thể quan
niệm được. TS
[4]
Chủ trương của phái Thắng luận về những tồn tại được
gọi là thật vật, hay thật thể.
[5]
Tác nhân và ngôn thuyết nhân, cũng gọi là sanh nhân, nhân
mà từ đó các pháp được sanh ra; và liễu nhân, nhân mà
từ đó các pháp được nhận thức. TS
[6]
Tụng 3-4, Long Thọ Bồ tát lấy một thứ Sắc ấm trong năm
ấm để biện minh nguyên nhân và kết quả của sắc. Sắc
pháp là từ nhân sanh ra hay phi nhân phát sanh. Nếu nó từ phi
nhân mà có sắc pháp, thì sắc pháp dĩ nhiên không cần đến
cái nhân. Nói cách khác là quả chẳng cần đến cái nhân.
Không nhân mà có quả là điều không thể. Ví như tấm vải,
là kết quả từ chỉ sợi dệt thành. Vải là quả, chỉ sợi
là nhân. Không chỉ sợi mà làm thành tấm vải là điều không
thể có được.
[7]
Từ câu 4-5 dựa vào các câu trên nói về sắc nhân sắc quả.
Ngài giải bày minh bạch thêm để chúng ta tránh ngộ nhận
có nhân không quả, có quả không nhân, trong nhân có quả,
trong nhân không có quả, hoặc trong quả có nhân…Nên hiểu
rằng, nhân quả diễn tiến một cách thầm ẩn và tế nhị.
Phàm phu thiểu trí khó phân biệt. Phân biệt trước sau trong
ngoài, có không là rơi vào vọng chấp. Vì các pháp duyên sanh
là Tánh không. Nếu chẳng hiểu tánh không (Sùnya) thì không
thể nào giải quyết được nghi vấn, trong lúc người có
nghi vấn về thuyết Hữu hay Vô. Nếu người nghi vấn, chấp
là có thì người giải đáp phải áp dụng lý không để giải
thích sự lỗi lầm của người chấp HỮU. Nếu chẳng dùng
KHÔNG để phá HỮU, thì chính người đáp đồng lỗi như
người nghi vấn.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt