CHƯƠNG
III: QUÁN LỤC TÌNH
Hỏi:
Trong kinh nói có sáu tình[1]. Đó là:
25)Sáu
tình là: mắt, tai,
Mũi,
lưỡi, và thân ý.[2]
Sáu
tình gồm mắt này….
Hành
sáu trần là sắc…[3] [1]
Trong
đây, mắt là nội tình, sắc là ngoại trần. Mắt có khả
năng thấy sắc, cho đến ý là nội tình. Pháp là ngoại trần.
Ý có khả năng nhận thức pháp.
Đáp:
Chúng không hiện hữu. Tại sao?
26)Con
mắt ấy không thể,
Tự
thấy thể của nó.
Nếu
chẳng thể tự thấy,
Làm
sao thấy cái khác? [2]
Con
mắt chẳng thể thấy tự thể của nó. Vì sao? Như ngọn đèn
có thể soi sáng chính nó đồng thời có thể soi sáng cái
khác. Mắt, nếu có đặc tính thấy thì nó phải thấy nó
đồng thời thấy cái khác. Nhưng sự thật không phải vậy.
Thế nên bài tụng[4] nói: “Nếu mắt chẳng tự thấy làm
thế nào thấy cái khác?”.
Hỏi:
Mắt tuy không thể tự thấy nhưng có thể thấy cái khác;
như lửa có thể đốt cháy vật khác mà chẳng thể tự đốt.
Đáp:
27)Dụ
lửa thì không thể,
Chứng
thành cho mắt thấy.
Đi,
chưa đi, đang đi.
Đã
tổng đáp điều này. [3]
Ông
tuy dùng lửa để thí dụ, nhưng không thể chứng thành cho
sự thấy của con mắt. Điều này trong “chương Khứ Lai”:
cũng như cái đã đi – không đi, cái chưa đi-không đi, cái
đang đi cũng không đi. Và cũng như cái đã đốt, cái chưa
đốt, cái đang đốt đều không có đốt. Cũng vậy, cái đã
thấy, cái chưa thấy, cái đang thấy đều chẳng có tính năng
thấy.
Lại
nữa:
28)Cái
thấy khi chưa thấy,
Thì
chẳng gọi là thấy.
Mà
nói cái thấy thấy[5],
Tất
lẽ này chẳng đúng.[6] [4]
Mắt
khi chưa tiếp xúc sắc trần thì không thể thấy, bấy giờ
nó không được gọi là cái thấy. Tiếp xúc sắc trần bấy
giờ mới gọi là cái thấy. Thế nên lời tụng nói: “Khi
chưa thấy thì không thấy”. Vậy làm thế nào cái thấy có
thể thấy?
Lại
nữa: Trong cả hai trường hợp đều không có sự kiện thấy.
29)Cái
thấy không có thấy,
Cái
không thấy chẳng thấy.
Nếu
cái thấy đã phá,
Thì
phá luôn người thấy[7] [5]
Cái
thấy không thể nhìn thấy, trên kia đã nêu rõ sự sai lầm.
Cái không thấy cũng chẳng thấy, vì không có đặc tính thấy;
nếu chẳng có đặc tính thấy làm thế nào nó có thể thấy?
Vì chẳng có sự kiện thấy mà có người thấy thì người
không có mắt có thể dùng cơ quan khác để thấy. Nếu dùng
cái thấy để trông thấy, thì trong cái thấy có tính năng
thấy. Thế nên lời tụng nói: “Nếu phá cái thấy thì phá
luôn người thấy”.
Lại
nữa:
30)Lìa
thấy chẳng lìa thấy,
Người
thấy đều không thấy.
Vì
chẳng có người thấy,
Đâu
có thấy, bị thấy. [6]
Nếu
có sự thấy thì người thấy không thành. Nếu không có sự
thấy, người thấy cũng không được chứng thành. Vì không
có người thấy, làm thế nào có cáí thấy? Bởi thế nên
bài tụng nói: “Vì không có người thấy, làm sao có cái
thấy, cái bị thấy.”
Lại
nữa:
31)Năng
kiến, sở kiến không.
Bốn
pháp: thức.. đều không,
Bốn
thủ và các duyên,
Làm
sao có thể có?[8] [7]
Vì
cái thấy và cái bị thấy đều không nên bốn pháp: thức,
xúc, thọ và ái cũng đều không. Vì chẳng ái nên bốn thủ[9]
v.v… và 12 phần Nhân duyên cũng không.
Lại
nữa:
32)Tai,
mũi, lưỡi, thân, ý,
Tiếng
và cả người nghe.
Nên
biết nghĩa như thế,
Đều
đồng như nói trên [8]
Cũng
giống như cái thấy và cái bị thấy vốn là không, vì lệ
thuộc các duyên nên không quyết định hữu. Các tình còn
lại như tai .v.v.. và 5 trần như âm thanh v.v.. nên biết nghĩa
cũng giống như cái thấy và cái bị thấy, đây không cần
nói riêng.
--------------------------------------------------------------------------------
[1]Lục
tình là lục căn. Nhưng luận không dùng chữ lục căn, mà
nói lục tình, vì trong luận tụng, luận chủ thay vì nói “con
mắt” thì dùng chữ “cái thấy (darzaịam)” để chỉ nhãn
căn. Dịch giả dùng chữ “tình” với nội hàm là “tồn
tại như là tác dung” chứ không chỉ là “tồn tại” vật
lý. Nguyên đề tiếng Phạn của chương này là “Cakzur-indriya-parìkzà”
(phê bình về căn con mắt). TS.
[2]
Nguyên tiếng Phạn: darzanaư... indriyàni wađ: sáu căn là “cái
thấy...” Không nói là “con mắt” cụ thể vật lý như
trong bản dịch Hán.
[3]
Tác giả dịch thoát. Nguyên tiếng Phạn: “môi trường hành
động của chúng là cái được thấy...” (etewư drawỉavyadìni
gocarahï). Lưu ý chữ dùng trong nguyên bản để hiểu rõ quan
hệ chủ thể nhận thức và đối tượng nhận thức (cái
thấy và cái được thấy) mà luận nhắm đến trong chương
này. TS.
[4]
Bài tụng nói (hiểu theo nguyên bản tiếng Phạn): “Cái thấy
không nhìn thấy tự ngã của chính nó” cho nên có thể nói
ngọn đèn có thể tự chiếu, nhưng không thể nói ánh đèn
tự chiếu. TS.
[5]
Mâu thuẩn nội tại ngay trong câu: “Cái thấy thấy.” TS.
[6]
Long Thọ Bồ tát đem lục căn lục thức để phân tích sự
liên quan giữa căn, trần, thức bằng cách nào. Ngài lấy nhãn
căn để phân tích cái thấy của con mắt như thế nào, nó
từ ngoài đến hay tự nó có.
[7]
Mắt không thể tự thấy nó, làm thế nào thấy được cảnh
vật bên ngoài, đây là câu nghi vấn. Ngài nêu lên để mọi
người tìm hiểu. Như trong kinh Lăng Nghiêm Đức Phật bảo
ngài A nan tìm thử cái tâm ở chỗ nào.
[8]
Câu 44 nói không thể đem lửa làm thí dụ, nghĩa là lửa tự
nó tự cháy và chiếu sáng. Con mắt không thể như thế được,
nghĩa là mắt không thể thấy mắt. Câu 45, 46 cho biết mắt
nếu khi chưa tiếp xúc (năng duyên) với trần cảnh (sở duyên)
thì không thể nói mắt có thấy, như lửa tự cháy tự sáng.
Hơn nữa thấy nó không có tướng trạng cái thấy, thấy không
thể tự thấy, huống hồ cái không thấy (phi kiến) mà có
tướng thấy (kiến tướng) ư? Cái thấy lý luận không thành
thì người thấy cũng không thể đứng vững được.
[9]
Bốn thủ, bốn chấp thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm
thủ và ngã ngữ thủ. TS.
Đọc
Thêm:
-Trung
Luận, Bồ Tát long Thọ, Việt dịch: Thích Viên Lý
-Luận
Giải Trung Luận - Tánh Khởi và Duyên Khởi, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Lịch
Sử Tư Tưởng Và Triết Học Tánh Không, TT. Thích Tâm Thiện
-Tìm
Hiểu Trung Luận - Nhận Thức và Không Tánh, Hồng Dương Nguyễn
Văn Hai
-Tánh
không luận là gì ? Tuệ Sỹ
-Yếu
Chỉ Trung Quán Luận, HT. Thích Duy Lực
-Nhất
Nguyên Luận và Thể Cách Tri Nhận Tánh Không, Phổ Nguyệt