TRUNG
LUẬN QUYỂN THỨ TƯ
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI HAI:
QUÁN
SÁT ÐỨC NHƯ LAI
Ðức Như Lai chẳng phải là
các ấm (ngũ uẩn sanh diệt), mà cũng không tách lìa khỏi
ngũ ấm, Như Lai không hiện hữu trong ngũ ấm và ngũ ấm cũng
chẳng hiện hữu trong Như Lai. (Như Lai không ở trong và ngoài
ngũ ấm). Trong ngũ ấm đã không có sự hiện hữu của Như
Lai vậy thì Như Lai hiện hữu ở nơi nào?
Nếu sự hiện hữu của đức
Như Lai là do ngũ ấm hòa hợp thì đức Như Lai không có tự
tánh, và nếu không có tự tánh thì làm thế nào có thể nhân
nhờ vào tha tánh mà hiện hữu?
Pháp nếu nhân nhờ vào tha
tánh mà sanh khởi thì nó chính là phi ngã (chẳng phải ngã).
Nếu pháp là chẳng phải ngã thì làm sao là đức Như Lai được?
Nếu không có tự tánh làm
sao có tha tánh? Tách rời tự tánh và tha tánh thì cái gì được
gọi là đức Như Lai?
Nếu bảo rằng không nhờ vào
ngũ ấm nhưng trước đó đức Như Lai đã hiện hữu và vì
hiện tại Ngài thọ thân ngũ ấm nên gọi là đức Như Lai
thì không đúng, vì sự thật thì, hiện tại Ngài đã không
thọ bất cứ ấm nào và cũng không có pháp gì gọi là Như
Lai cả. Nếu đức Như Lai đã không hiện hữu vì đã không
thọ năm ấm thì hiện tại phải thọ cái gì để Ngài hiện
hữu? Nếu Ngài chưa thọ thì cái được thọ không thể gọi
là thọ. Không có cái pháp không thọ (vô thọ pháp) nào được
gọi là đức Như Lai. Nếu ở trong cái đồng nhất và sai
biệt cũng như trong năm ấm đã không thể tìm thấy sự hiện
hữu của đức Như Lai như thế thì làm thế nào có thể cho
rằng đức Như Lai hiện hữu trong khi thọ ngũ ấm? Vả lại
ngũ ấm được thọ đã không từ tự tánh hiện hữu và nếu
tự tánh không hiện hữu thì làm thế nào tha tánh có thể
hiện hữu? (không có tự tánh nên cũng không có tha tánh).
Vì những ý nghĩa như thế
mà những ấm được thọ (thọ) và kẻ đang thọ (thọ giả:
đức Như Lai) cả hai đều Không, và, (nếu đã là Không, tất
cả đều không có tự tánh, thế thì), làm thế nào có thể
sử dụng cái Không (không có tự tánh của ngũ ấm) để bảo
rằng không có tự tánh nên đức Như Lai không thể hiện hữu?
Ðã Không (không tự tánh) thì
không thể luận thuyết (bất khả thuyết) mà chẳng phải
Không (phi không) thì cũng không thể nói năng bàn cãi. Vừa
Không vừa phi không (chẳng phải không), chẳng phải không,
chẳng phải chẳng không (cộng bất cộng: diệc không diệc
bất không - cộng; phi không phi bất không - bất cộng) cũng
đều không thể bàn thảo được, nên, chỉ sử dụng giả
danh (danh tự không thật có tự tánh) để nói (là có đức
Như Lai).
Ngay trong tướng tịch diệt
(thật tướngkhông tánh) vốn không có thường và vô thường,
vân vân..., bốn điều (tứ cú: thường, vô thường; vừa
thường vừa vô thường, chẳng phải thường, chẳng phải
vô thường). Và, ngay trong tướng tịch diệt cũng không hề
có biên, vô biên, vân vân, bốn điều (* hữu biên, vô biên;
vừa hữu biên vừa vô biên, chẳng phải hữu biên chẳng phải
vô biên).
Kẻ tà kiến thâm hậu (sâu
nặng) thì bảo là không có đức Như Lai đã đành, nhưng đối
với tướng tịch diệt của Như Lai mà khởi tâm phân biệt
cho là có thì đó cũng là điều phi lý nốt.
Như thế trong tánh Không, dù
tư duy cách nào, cũng không thể vói và nắm bắt được; thế
mà sau khi đức Như Lai diệt độ cứ hoài mãi (khởi tâm)
phân biệt hữu vô!
Ðức Như Lai đã siêu vượt
qua mọi hý luận, thế nhưng con người (vì vô minh) cứ sanh
khởi ra không biết bao nhiêu hý luận, và vì hý luận nên
huệ nhãn bị phá hủy, vì huệ nhãn bị phá hủy nên không
thể thấy Phật.
Tự tánh mà đức Như Lai có
chính là tự tánh của thế gian. Ðức Như Lai không có tự
tánh nên thế gian cũng không có tự tánh.
_________________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI BA:
QUÁN
SÁT ÐIÊN ÐẢO
Xuất phát từ những ức niệm
vọng tưởng phân biệt, tham, nhuế, si (tham, sân, si) khởi
sanh. Những điên đảo, tịnh và bất tịnh (* trong sạch và
không trong sạch) cũng đều từ các duyên khởi sanh.
Nếu nhân vì tịnh và bất
tịnh điên đảo (mà) sanh khởi tam độc (tham, sân, si) thì
tam độc chính nó không có tự tánh (vô tánh) nên phiền não
cũng không có thật.
Ngã và pháp (* chỉ cho phiền
não) có hay không, vấn đề này hoàn toàn bất thành. Không
có thật ngã thì dù các phiền não có hay không có, cũng không
thể cấu thành.
(Nếu cho rằng vô ngã nhưng
phiền não vẫn có thể thành lập được thì thử hỏi đã
vô ngã thì) ai là người sở hữu chủ của những phiền não
này? (và nếu không có ai là sở hữu chủ của những phiền
não này) thì tất nhiên nó chính là cái không thể cấu thành
được. Nếu tách rời con người nhưng phiền não vẫn hiện
hữu một cách độc lập thì chính những phiền não đó đã
không hệ thuộc vào bất cứ đâu (cái gì hoặc người nào).
Giống như vì thân kiến (*
chấp có ngã và dẫu cho rằng: 1- Lìa uẩn có ngã, 2- Uẩn
chính là ngã, 3- Trong năm uẩn có ngã, 4- Trong ngã có ngũ uẩn
và 5- Ngũ uẩn thuộc về ngã) dùng năm thứ (quan sát như thế)
để truy cầu thì cũng không thể nào tìm thấy Ngã được.
Sử dụng năm phương pháp trên để truy cầu phiền não nơi
tâm ô cấu (* cấu nhiễm: không trong sạch thanh tịnh) cũng
không thể tìm thấy.
Hai thứ điên đảo tịnh và
bất tịnh đều không có tự tánh, mà vốn đã không có tự
tánh thì làm thế nào nhân nhờ vào hai thứ này mà các phiền
não có thể sanh khởi?
Sáu trần (cảnh): sắc, thanh,
hương, vị, xúc và pháp chính là nguồn gốc của tam độc.
Thể tánh của sáu trần: sắc,
thanh, hương, vị, xúc và pháp đều là Không, không có tự
tánh, nó giống như những quáng nắng (viêm), những giấc mộng,
và như thành của càn thát bà.
Sáu trần chính nó đã không
có tự tánh, như thế thì làm gì có vấn đề tịnh và bất
tịnh trong đó? Nó (tịnh và bất tịnh) chẳng khác nào như
người huyễn hóa và hình ảnh trong gương.
Không (nhân) nhờ vào tịnh
tướng (tướng trong sạch) thì không có tướng bất tịnh.
Nhân (nhờ vào) tịnh (mới) có bất tịnh, vì thế nên không
có bất tịnh. (* vì nếu không có tịnh làm duyên thì bất
tịnh làm sao hiện hữu?)
Không nhân nhờ nơi bất tịnh
thì cũng không có thanh tịnh, vì nhân nhờ bất tịnh mới
có thanh tịnh, thế nên không có thanh tịnh.
Nếu không có sự thanh tịnh
thì do đâu lại có (lòng) tham ái? Và nếu không có sự bất
tịnh thì tại sao lại có (tâm) sân nhuế?
Ðối với các pháp vô thường
nhưng chấp là thường tại thì đó chính là sự điên đảo.
Trong tánh Không, không có pháp thường tại thì nơi nào có
cái gọi là điên đảo về sự thường tại bất biến?
Nếu cho rằng đối với các
pháp vô thường mà chấp nó là vô thường thì đó chẳng
phải là sự điên đảo, nhưng, trong tánh Không đã không có
sự vô thường thì làm gì có cái gọi là chẳng phải điên
đảo?
Ðối tượng (cảnh giới) của
sự chấp trước, kẻ chấp trước, sự chấp trước (khởi
tâm chấp) và tất cả các pháp dùng làm công cụ để chấp
trước (* chỉ cho lục căn tiếp xúc với lục trần) đều
là tướng tịch diệt rỗng lặng, thế thì làm gì lại có
sự chấp trước?
Nếu không có cái pháp (sự)
chấp trước thì khi cho rằng tà chấp là điên đảo và chánh
quán (quán sát chân chánh) là không điên đảo vậy thì thử
hỏi (tất cả đều rốt ráo không tịch, không có tự tánh)
như thế ai là người có những sự điên đảo ấy?
Sự điên đảo không sanh khởi
khi đã có sẵn những điên đảo (những điên đảo đã hiện
hữu sẵn), và đã không có điên đảo thì cũng không thể
sanh khởi những điên đảo. Người điên đảo không sanh ra
sự điên đảo, người không điên đảo cũng không thể sanh
ra những điên đảo. Và nếu ngay đang khi điên đảo cũng
không sanh khởi những điên đảo vậy ông có thể (nên) tự
quán sát thử xem ai là người khởi sanh những điên đảo?
Làm thế nào ý nghĩa nầy có
thể đứng vững khi những điên đảo đã không sanh khởi?
và làm gì có người điên đảo khi đã không có những sự
điên đảo?
Nếu thường, lạc, ngã, tịnh
là những cái gì thật có thì những thường, lạc, ngã, tịnh
đó chính là những điều không phải điên đảo.
Nếu thường, lạc, ngã, tịnh
là những cái thật sự không có thì những sự như vô thường,
khổ đau và bất tịnh lẽ ra cũng phải không có.
Như vậy điên đảo diệt thì
vô minh diệt, vì vô minh diệt nên các hành, vân vân, cũng
diệt.
Nếu thể tánh của phiền não
là thật (phiền não là một cái gì thật có) nhưng vẫn bị
lệ thuộc vào một sở hữu chủ (người, tâm ô cấu hay tự
ngã) nào đó thì làm thế nào có thể đoạn trừ? Và ai là
người có thể đoạn trừ cái thể tánh đó (của phiền não)?
Nếu phiền não là hư vọng,
là không có tự tánh (và) là không thuộc về ai thì làm thế
nào có thể đoạn diệt và ai là người có khả năng đoạn
diệt vô tánh (cái không có tự tánh)?
__________________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI BỐN:
QUÁN
SÁT TỨ ÐẾ
(Bốn Chân
Lý, Bốn Sự Thật)
Nếu tất cả (các pháp) đều
Không (không có tự tánh), không sanh cũng không diệt, như thế
thì không có giáo pháp Tứ Thánh Ðế. Vì không có Tứ Ðế
nên những sự việc như kiến khổ (nhận chân được thực
trạng khổ đau của đời sống) và đoạn tập (dứt trừ
nguyên nhân của đau khổ), chứng diệt (chứng được quả
vị tịch diệt niết bàn) và tu đạo (con đường tu tập)
đều không có và vì những điều trên không có nên không
có bốn đạo quả, vì không có bốn đạo quả nên người
chứng đắc và người đang hướng đến sự chứng đắc cũng
không có (Tứ hướng tứ quả cần chú thích kỹ). Nếu không
có tám bậc thánh hiền thì không có Tăng bảo, và vì không
có giáo pháp Tứ đế nên cũng không có Pháp bảo và vì không
có Tăng bảo nên cũng không có Phật bảo. Như thế thì, người
đề cập về Không thuyết (không tánh) chính là kẻ phá hoại
Tam bảo.
Không pháp (tất cả pháp đều
không) không chỉ hủy hoại (luật tắc) nhân quả, tội phước
mà còn hủy hoại tất cả các pháp của thế tục (* chỉ
cho những nguyên tắc căn bản của pháp luật như đúng sai,
phạm không phạm tội vân vân...)
Hiện tại quả thật ông đã
không có khả năng tri nhận được Không tánh và nhân duyên
của Không tánh kể cả Không nghĩa (* ý nghĩa của Không tánh)
nên đã tự mình sanh khởi những não hại!
Vì chúng sanh, chư Phật đã
y cứ vào Nhị Ðế (hai chân lý) để thuyết giảng giáo pháp,
Nhị Ðế đó chính là Thế tục đế và Ðệ nhất nghĩa đế.
Nếu người nào đối với nhị đế mà không có khả năng
tri nhận, phân biệt (để liễu giải toàn vẹn sự hỗ tương
quan hệ của nó) thì kẻ đó đã không thể tri nhận được
ý nghĩa chân thật của giáo pháp sâu xa vi diệu (thậm thâm)
của chư Phật (Phật Pháp).
Nếu không y cứ (nhờ) tục
đế, thì không đạt được đệ nhất nghĩa đế và nếu
không đạt được đệ nhất nghĩa đế thì không chứng được
quả vị niết bàn.
Vì căn tánh ám độn, không
có khả năng chánh quán Không tánh (quán sát một cách chân
xác rằng các pháp vốn không có tự tánh chỉ do nhân duyên
hòa hợp mà giả hữu), nên tự hại, chẳng khác nào không
giỏi về chú thuật bắt rắn nên không thể bắt những rắn
độc một cách thiện xạ.
Ðức Thế Tôn biết rõ pháp
này là pháp sâu xa mầu nhiệm (thậm thâm vi diệu), chẳng
phải là pháp mà kẻ độn căn có thể vói tới (hiểu được)
vì thế mà Ngài không muốn dạy.
Ông cho rằng tôi là người
chấp trước Không tánh nên vì tôi mà sanh ra những lỗi lầm,
kỳ thật những lỗi lầm mà hiện ông đang nói, đối với
Không tánh thì nó hoàn toàn không có.
Tất cả các pháp sở dĩ được
cấu thành là do nhờ có Không nghĩa (ý nghĩa các pháp đều
không có tự tánh). Nếu không có ý nghĩa rằng các pháp đều
Không thì tất cả các pháp đã không thể cấu thành được.
Hiện chính ông đang có lỗi
nhưng ông lại đổ ngược lỗi ấy cho tôi thế thì chẳng
khác nào người cưỡi ngựa nhưng chính mình lại quên mất
con ngựa đang cưỡi.
Nếu ông thấy rằng các pháp
chắc chắn thật có tự tánh, tức là ông thấy (thừa nhận)
các pháp không có nhân và (cũng) không có duyên.
Như thế có nghĩa là (tức
là) phá hủy nhân và quả, sự tạo tác, kẻ tạo tác và pháp
được tạo tác, cũng như sự sanh diệt của vạn vật, tất
cả đều bị hủy hoại.
Các pháp được sanh khởi từ
các nhân và duyên, tôi tuyên bố rằng chính nó là không thật
có, điều đó cũng chính là giả danh và cũng còn được gọi
là nghĩa trung đạo. Chưa từng thấy có bất cứ pháp nào
đã không được khơi sanh từ nhân duyên, vì thế mà tất
cả các pháp, không pháp nào mà không là Không cả (* tất
cả các pháp đều không có tự tánh).
Nếu tất cả là không phải
Không (chẳng là Không) thì đã không có sanh diệt và như thế
thì pháp Tứ Thánh Ðế đã không có.
Sự khổ đau nếu không từ
các duyên sanh khởi thì làm thế nào có cái gọi là khổ đau?
Khổ có nghĩa là vô thường (ý nghĩa của sự thống khổ
chính là vô thường), định tánh (quyết định có tự tánh)
thì không là vô thường.
Nếu khổ đau mà có tự tánh
nhất định (định tánh) thì vì lý do gì nó lại sanh ra từ
Tập (nguyên nhân của đau khổ)? (và nếu quả đúng) như thế
thì không có Tập đế (tập đế: nguồn gốc của khổ đau),
vì lẽ (nếu khổ đế mà có định tánh thì) ý nghĩa của
Không tánh tất bị phá hủy. (câu này có thể dịch: nếu
khổ đế mà có định tánh, thì tại sao nó lại được sanh
ra từ tập đế; vì do hủy phá Không nghĩa cho nên mới có
(vấn đề là) không có tập đế.)
Sự đau khổ mà nếu là có
định tánh (tự tánh nhất định) thì ắt hẳn đã không có
diệt đế. Vì ông chấp có định tánh tức (chính là, cũng
có nghĩa là) phá hủy diệt đế.
Nếu sự đau khổ mà có định
tánh thì không đã có con đường tu tập và nếu có con đường
có thể tu tập thì điều này đích thị là đã không có định
tánh.
Nếu không có Khổ đế, Tập
đế, và Diệt đế thì sự khổ đau được tận diệt bởi
con đường tu tập (Ðạo đế) chung cuộc (cứu cánh) sẽ đưa
dẫn đến nơi nào? (con đường có khả năng diệt trừ mọi
đau khổ cuối cùng (rốt ráo) sẽ đưa dẫn đến nơi nào?)
Nếu đau khổ chắc chắn có
tự tánh nhất định thì tại sao trước đó (trước khi tu
quán) không thấy (tự tánh của nó) nhưng nay (do tu quán) mới
thấy; lý do vì (nếu thật có) tự tánh (của khổ đau) thì
đã không có sự biến đổi sai biệt (*trước và sau vẫn
thấy hoặc không thấy).
Giống như những kiến giải
về sự thống khổ, sự chấm dứt cội nguồn của mọi thống
khổ (đoạn tập), sự chứng đắc quả vị niết bàn (chứng
diệt), con đường tu tập chánh pháp và bốn quả vị thanh
văn (tứ quả) đều hoàn toàn không hợp lý.
Tự thể tánh của bốn đạo
quả đó xưa nay chưa hề có được (bất khả đắc) vả lại
tự tánh của các pháp nếu là thật có (định: nhất định,
cố định, không thay đổi) thì vì lý do gì mà hiện tại
mới có thể có được? (* vì nếu thật thì đã có sẵn rồi).
Nếu không có bốn quả thì
không có người đắc quả và cũng không có người đang hướng
đến bốn quả. Vì không có tám bậc thánh thì không có Tăng
bảo.
Vì lẽ không có bốn Thánh
đế nên cũng không có Pháp bảo. Ðã không có Pháp bảo và
Tăng bảo thì làm thế nào có Phật bảo?
Ông bảo rằng không nhân nhờ
(phát tâm) Bồ đề nhưng có Phật và ngược lại không nhân
nhờ Phật nhưng vẫn có (đạo quả vô thượng) Bồ đề (*
trí giác ngộ siêu việt).
Nếu không sẵn có Phật tánh
(chẳng phải là Phật tánh) trước đó thì dù cần mãnh (siêng
năng dõng mãnh) tinh tấn tu hành bồ đề đạo (con đường
trí giác) đến cách mấy cũng vẫn không thể chứng thành
Phật quả được.
Các pháp nếu là chẳng Không
(Không tánh), thì không có người tạo tội và phước, như
thế (thư hỏi) đã không là Không thì cái gì là cái được
tạo tác vì lẽ những thứ đó (* kỳ: đại danh từ chỉ
cho tác giả, tội và phước được tạo nên) đều có tự
tánh nhất định?
Ðối với ông, trong tội lỗi
và phước đức không có vấn đề quả báo phát sanh, thế
thì (không khác nào ông khẳng định rằng) tách lìa hẳn tội
lỗi và phước đức nhưng vẫn có những quả báo.
Nếu quan niệm rằng quả báo
được sanh ra từ tội lỗi và phước đức như thế rõ ràng
tội lỗi và phước đức đã sanh ra quả báo thì tại sao
bảo là chẳng Không?
Ông phá đổ tất cả pháp
và các nhân duyên Không nghĩa (* nhân duyên giả hợp sanh ra
các pháp, tự nó không có tự tánh) cũng có nghĩa là phá hủy
bao nhiêu học lý pháp tắc hiện hữu (* đã và đang có) của
thế tục.
Nếu phá hủy Không nghĩa thì
đích thị là không có gì để và được làm. Không làm nhưng
vẫn có làm (Vô tác nhi hữu tác) và chẳng làm (nhưng vẫn)
gọi là tác giả (bất tác danh tác giả). (* tánh không sở
dĩ có là vì các duyên hòa hợp tạo thành các pháp, chính
các pháp đó không có tự tánh nên gọi: tánh không. Nếu phá
hủy Không nghĩa [ý nghĩa Không tánh] thì hóa ra các pháp là
có tự tánh nhất định và nếu các pháp đã có tự tánh
nhất định thì không phải tạo tác để cấu thành do đó
khi phá hủy Không nghĩa thì tất cả pháp biến thành không
có sự tạo tác và như thì không có nguyên nhân. Vô tác nhi
hữu tác có nghĩa là vì cho rằng các pháp đều có tự tánh
nên dù không cần tạo tác để cấu thành, tức là không cần
có nguyên nhân nhưng nó đã có sẵn, đã tạo thành những
pháp cố định bất biến. Bất tác danh tác giả có nghĩa
là dù cho có tác giả thì cũng không có nghiệp được tạo
tác nên gọi là tác giả. Vì như đã nói vô tác nhi hữu tác
nên tuy rằng không có tác giả nhưng vẫn có tác nghiệp, có
quả báo).
Nếu đoan quyết rằng (các
pháp) có tự tánh nhất định thì bao nhiêu tướng trạng của
thế gian đều (trở thành) không sanh không diệt, thường trụ
một cách miên viễn và không bao giờ bị hoại diệt.
Nếu không có Không tánh thì
những gì chưa đạt được lẽ ra sẽ không đạt được.
Cũng không có việc chấm dứt phiền não và các khổ não được
diệt tận (diệt sạch).
Vì thế trong kinh dạy rằng,
nếu thấy pháp nhân duyên (* nếu ai có khả năng nhận chân
được rằng các pháp do nhân duyên sanh khởi đều không có
tự tánh) thì chính là có khả năng thấy Phật, nhận chân
được thực trạng của sự thống khổ, nguyên nhân đưa dẫn
đến sự thống khổ (tập), quả vị giải thoát an lạc (diệt)
và con đường dẫn đến quả vị giải thoát an lạc (đạo).
___________________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI LĂM:
QUÁN
SÁT NIẾT BÀN
Nếu tất cả các pháp đều
Không, không sanh cũng không diệt thì đoạn trừ và diệt tận
cái gì mà gọi là niết bàn?
Nếu các pháp chẳng là Không,
thì không sanh và không diệt, như thế thì, cái gì được
đoạn trừ và tận diệt mà gọi là niết bàn?
Không có sự chứng đắc, cũng
không có sự đạt đến (cảnh giới niết bàn), không đoạn
tuyệt cũng chẳng thường hằng, chẳng sanh cũng không diệt,
những điều được trình bày như thế đích thị là niết
bàn.
Niết bàn không là pháp hữu
vi, vì hữu vi chính là tướng già chết. Và vì hoàn toàn (chung
cục) không có pháp Hữu, nên, viễn ly tướng già chết.
Nếu niết bàn là thật hữu
thì niết bàn chính là hữu vi, đã hoàn toàn không có bất
cứ một pháp nào là vô vi cả (* vì có cái gọi là vô vi
thì niết bàn lập tức kẹt vào cái có).
Nếu niết bàn là thật hữu
thì tại sao gọi là vô thọ (không thọ tướng sanh tử)? (vì
lẽ đã) không có bất cứ pháp nào không xuất phát từ thọ
chấp (lãnh thọ và chấp thủ) mà được gọi là pháp hữu
cả.
Hữu (có) còn không phải là
niết bàn huống chi là vô (không)? Niết bàn đã không có cái
gọi là Hữu thì nơi nào có cái Vô?
Nếu Vô (không có gì cả) là
niết bàn thì tại sao lại gọi là không thọ chấp? đã chưa
bao giờ từng có sự không thọ chấp mà gọi là pháp Vô (vật
không có).
Vì thọ chấp các nhân duyên
nên xoay vần (luân chuyển) trong sanh tử. Không thọ các nhân
duyên, đó chính là niết bàn.
Như trong kinh đức Phật đã
từng dạy là hãy đoạn tuyệt cả hữu và phi hữu (không
phải là hữu) (* cũng có nghĩa là đoạn trừ thật hữu và
thật vô) vì vậy mà biết rằng niết bàn là chẳng phải
hữu mà cũng chẳng phải vô (phi hữu diệc phi vô).
Nếu cho rằng niết bàn là
sự cộng hợp của (giữa) hữu và vô thì hữu và vô tức
là (chính là) giải thoát, sự kiện này không thể hợp lý.
Nếu bảo rằng niết bàn là
sự tập họp của hữu và vô thì niết bàn là một cái gì
chẳng phải là vật không có sự thọ chấp vì cả hai (hữu
và vô) đều từ thọ chấp khởi sanh.
Ðã do hữu và vô cộng hợp
để cấu thành thì làm thế nào có thể gọi là niết bàn
được vì niết bàn gọi là vô vi mà hữu và vô thì là (thuộc
về) hữu vi?
Hữu và vô hai cái cộng lại
thì làm sao có thể là niết bàn? vì hai sự kiện đã có chỗ
bất đồng (đã không có đồng một xuất xứ) giống như
việc không thể đồng lúc có mặt của cả sáng và tối.
Nếu cái gì chẳng phải hữu
và chẳng phải vô thì gọi cái đó là niết bàn thế thì
cái chẳng phải hữu và chẳng phải vô này lấy gì để phân
biệt? (* vì đã phi hữu và vô thì làm sao phân biệt được)
Vả lại nếu tư duy phân biệt
(cái này là) phi hữu (chẳng phải hữu) (cái kia là) phi vô
(chẳng phải vô) (và dựa vào những phân biệt) như thế gọi
đó là niết bàn vậy thì nếu hữu và vô được thành lập
thì phi hữu và phi vô không thể thành lập được (* đã hữu
thì phi vô, đã vô thì phi hữu nên hữu và vô mà thành thì
nhất định phi hữu và phi vô phải bất thành).
Sau khi đức Như Lai diệt độ
không thể bảo rằng ngài hiện hữu hay không hiện hữu, cũng
không thể bảo rằng ngài vừa hiện hữu vừa không hiện
hữu mà cũng không thể bảo rằng ngài không phải hiện hữu
và không phải không hiện hữu (phi hữu cập phi vô). Khi đức
Như Lai còn tại thế không thể bảo rằng ngài hiện hữu
và không hiện hữu, cũng không thể bảo là ngài vừa hiện
hữu vừa không là hiện hữu mà cũng không thể bảo rằng
ngài chẳng phải hiện hữu và chẳng phải không hiện hữu.
Giữa niết bàn và thế gian
đã không có mảy may sai biệt. Giữa thế gian và niết bàn
cũng không có chút gì sai biệt.
Thật tế thì đã không có
sự khác biệt nào giữa biên giới (ngằn mé) của niết bàn
và của thế gian, hai biên tế như thế đã không có mảy may
sai biệt.
Sau khi (đức Như Lai) diệt
độ những kiến giải về hữu và vô vân vân..., về hữu
biên vân vân..., và về thường trụ bất biến vân vân...
(* tam chủng thập nhị kiến, lục thập nhị kiến...) (những
kiến giải này) đã y cứ vào niết bàn mà khởi lên những
hý luận về các đời vị lai và quá khứ.
Vì tất cả pháp đều Không
(không có tự tánh) thì làm gì có chuyện hữu biên, vô biên?
Vừa hữu biên vừa vô biên và chẳng phải hữu biên chẳng
phải vô biên? Làm gì có sự đồng nhất và sai biệt? Làm
thế nào có thường và vô thường? Vừa thường vừa vô thường
và chẳng phải thường cũng chẳng phải vô thường?
Các pháp (cứu cánh không tịch),
không thể vói đến và nắm bắt được; (với cứu cánh không),
tất cả hý luận đều bị diệt sạch, không còn có người
mà cũng không còn nơi chốn và, đức Phật cũng đã không
hề dạy bảo bất cứ một lời nào.
______________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI SÁU:
QUÁN
MƯỜI HAI NHÂN DUYÊN
Chúng sanh vì bị si mê (vô
minh) che lấp nên đã khởi sanh ba nghiệp (ba hành: thân, khẩu
và ý) và vì bị nghiệp (hành) dẫn khởi nên theo nghiệp (hành)
mà đọa lạc trong sáu thú (* sáu nẻo đường, cảnh giới:
thiên, nhân, a tu la, địa ngục, ngạ quỷ và súc sanh).
Vì nhân và duyên của các hành
nên thức cảm thọ lấy cái thân mạng của sanh tử sáu đường
và vì có sự đeo níu thủ chấp của thức (* thức nhập vào
bào thai bám giữ lấy tinh cha huyết mẹ để cấu thành sinh
mạng) nên danh (tâm) và sắc (pháp, thân, vật thể) được
tăng trưởng.
Vì danh sắc tăng trưởng nên
nhân đó sanh ra lục nhập (sáu căn được hoàn thành) do sự
hòa hợp của lục tình (lục căn), lục trần và lục thức
nên sanh ra lục xúc, vì nhân lục xúc mà liền (tức khắc)
khởi sanh ba cảm thọ (tam thọ) vì nhân ba cảm thọ nên sanh
ra khát ái, nhân ái mà có bốn thủ (* bốn loại thủ chấp:
dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã ngữ thủ), nhân
thủ nên có hữu. Nếu người chấp thủ (bám giữ chặt chẽ)
mà không thủ chấp (bám giữ đeo níu chặt chẽ) thì được
giải thoát và không còn sanh tử luân hồi. Từ hữu mà có
sanh, từ sanh nên có già chết, từ già chết cho nên có các
ưu bi khổ não (buồn sầu khổ đau dằn vặt). Như vậy vân
vân..., những sự kiện trên đều xuất phát (bắt nguồn)
từ quá trình phát triển của một sinh mạng mà có (hiện
hữu). Chỉ vì (mười hai) nhân duyên này mà tập đại thành
(nhóm họp và hình thành) khổ ấm (* Ấm, giới, nhập hòa
hợp - thân tâm). Cái gọi là sanh tử chính là cội nguồn
của các hành (nghiệp) được tạo ra bởi kẻ vô minh. Bậc
trí giả (người có trí tuệ bát nhã) không tạo nên những
sự kiện ấy, vì thế vô minh diệt nên những sự kiện ấy
(hành thức vân vân...) không thể sanh khởi, chỉ vì vô minh
mà những khổ ấm tụ họp sanh khởi; thế nên vô minh diệt
thì chính là diệt trừ tận gốc mọi khổ đau sanh tử luân
hồi.
________________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI BẨY:
QUÁN
SÁT VỀ NHỮNG TÀ KIẾN
Những thường kiến, (đoạn
kiến) vân vân... của thế gian đều y cứ vào đời quá khứ,
vậy thì, đã có hay không một cái "ngã" trong đời quá khứ?
Những kiến chấp về hữu
biên vân vân... đều y cứ vào đời vị lai, vậy thì, cái
ngã ở đời vị lai sẽ là cái được tạo tác hay là không
tạo tác?
Ðời quá khứ có ngã là việc
không thể có được, vì nếu trong đời quá khứ đã có ngã
thì đời hiện tại không cần phải tạo tác ra ngã nữa.
Nếu cho rằng ngã chính là
như thế (*ngã tức thị là thân ngũ uẩn được tạo tác
ơ đời này) nên thân thể có những tướng trạng khác biệt,
và nếu tách lìa khỏi thân thì ở nơi biệt lập nào có ngã?
Tách lìa thân thì không có
ngã (tách rời hữu, vô, thân, ngã?), việc (lý luận) này đã
được thành lập, nhưng nếu cho rằng thân chính là ngã thì
(vốn thân) hoàn toàn cũng không có ngã (vì đã tách rời ra
nhưng không thể tìm thấy ngã).
Chỉ có thân không phải là
ngã vì lẽ thân tướng luôn luôn sanh diệt, thế thì làm thế
nào có thể vì sự thọ chấp mà tạo nên người thọ chấp?
Nếu như tách rời thân thể
mà có ngã thì việc này không hợp lý, vì không có thọ chấp
nhưng ngã vẫn có thì điều này quả thật không thể tìm
thấy (không hề xảy ra, chưa từng được có: bất khả đắc).
Vả lại, nếu hiện tại ngã
không tách lìa thọ chấp (thân) mà cũng không chính là thọ
chấp, chẳng phải là không có thọ chấp, chẳng phải là
(thọ chấp nên) không có ngã, điều này chính là ý nghĩa
mang tính quyết định.
Ðã không hợp lý khi quan niệm
rằng Ngã đã không được tạo nên trong quá khứ. Và, Ngã
trong đời quá khứ khác biệt hẳn với Ngã của đời hiện
tại cũng hoàn toàn sai.
Nếu cho rằng có sự sai khác
thì khi tách rời cái ngã thuộc đời quá khứ vẫn có cái
ngã thuộc đời hiện tại, cho nên, dù Ngã trụ ơ đời quá
khứ nhưng hiện tại (đứng biệt lập hẳn ngoài cái ngã
của quá khứ) Ngã tự sanh ra lấy.
Như thế thì là đoạn diệt,
mất hẳn (không còn) nghiệp lực và quả báo, vì là, cái
Ngã đời quá khứ tạo nhưng cái Ngã đời này phải thọ
lãnh, như thế là có không biết bao nhiêu lầm lỗi!
Cũng vô cùng sai lầm khi quan
niệm rằng (ngã là một cái gì) trước không nhưng nay có,
vì lẽ, Ngã chính là một pháp được tạo tác nên (mà pháp
được tạo tác nên là pháp vô thường sanh diệt, nên, trước
không sau có thì nó) cũng chính là vô nhân (* cái không được
cấu thành bởi bất cứ nguyên nhân nào!).
Như chấp thấy có Ngã, không
có Ngã, vừa có Ngã, vừa không có Ngã trong đời quá khứ
những kiến chấp như thế đều hoàn toàn không đúng.
Cái Ngã ở đời vị lại là
được tạo thành, là không được tạo thành, những kiến
chấp như thế, đều giống hệt những lỗi lầm khi kiến
chấp về Ngã trong đời quá khứ.
Nếu trời tức là người thì
rơi vào cái chấp của thường biên, vì trời là kẻ vô sanh
(không được sanh ra), mà đã không sanh thì đó là pháp (vật)
thường tại.
Và nếu trời là vật gì khác
biệt với con người, thì tức là vô thường, và nếu trời
khác biệt với con người thì là không có sự tương tục
(sự nối tiếp quan hệ).
Nếu là nửa trời nửa người,
thì rơi vào nhị biên của thường và vô thường, việc đó
thì không đúng.
Nếu thường và vô thường
cả hai đều được thành lập, như vậy thì lẽ ra sự chẳng
phải thường và chẳng phải vô thường cũng có thể thành
lập.
Pháp nếu chắc chắn có kẻ
đến, và nhất định có kẻ đi thì sự sanh tử chính là
không có nguồn cội (sự bắt đầu), nhưng, sự thật thì
đã không có việc ấy.
Hiện tại nếu không có sự
thường hằng thì làm thế nào có sự vô thường, vừa thường
vừa vô thường và phi thường phi vô thường (* chẳng phải
thường, chẳng phải vô thường)?
Nếu thế gian là hữu biên
(có giới hạn) thì làm thế nào có hậu thế (đời sau), và
nếu thế gian là vô biên (* không giới hạn) thì cũng làm
thế nào có hậu thế?
Năm ấm luôn luôn (thường)
tương tục chẳng khác nào sự tương tục của ngọn lửa
của một cây đèn, vì thế mà thế gian chẳng phải là hữu
biên hay vô biên gì cả.
Nếu năm ấm trước bị hủy
hoại, (mà, đã bị hủy hoại thì không thể sanh ra thân năm
ấm sau nhưng) không có nhân là ngũ ấm mà lại sanh năm ấm
sau, như thế thì thế gian là có giới hạn (hữu biên), (*thiếu
sự tương tục chính là có và bị giới hạn).
Nếu năm ấm trước đó đã
không bị hủy hoại mà cũng không có nhân là ấm nhưng vẫn
sanh năm ấm sau, thế thì, thế gian sẽ là không giới hạn
(vô biên).
Giáo pháp chân thật, người
thuyết pháp cũng như thính giả đều rất khó được (vì
chánh pháp thì ly ngôn tuyệt lự, viễn ly ngôn ngữ, dứt bặt
tư duy, còn người thuyết pháp thì vô thuyết vô thị, chẳng
nói một câu, không bày một nghĩa và, thính giả thì vô văn
vô đắc, không nghe không có gì để chứng đắc) vì thế
nên vấn đề sanh tử đã chẳng phải là hữu biên hay vô
biên.
Nếu thế gian hoặc một nửa
là hữu biên, một nửa là vô biên, hoặc vừa là hữu biên
vừa là vô biên thì không đúng.
Làm thế nào người thọ năm
ấm kia một phần bị phá hủy nhưng phần khác không bị phá
trừ? Ðó là một sự kiện hoàn toàn không hợp lý.
Cũng hệt như thế, sự thọ
chấp làm thế nào một phần bị phá và phần khác thì không?
Sự kiện này hiển nhiên cũng không đúng.
Nếu trường hợp vừa hữu
biên vừa vô biên cả hai đều thành lập được thì vấn
đề chẳng phải hữu biên và chẳng phải vô biên cũng phải
thành lập được.
Bởi vì, tất cả pháp vốn
đều là Không tánh, nên các kiến chấp cho rằng thế gian
là thường vân vân... trên mặt không gian thì không luận là
ở đâu, trên phương diện thời gian thì bất luận là vào
lúc nào, thử hỏi ai là người khởi lên những kiến chấp
như thế?
Nay con khể thủ đảnh lễ
đấng Cồ Ðàm, bậc Ðại Thánh Chủ đã từ bi lân mẫn (lòng
thương xót) thuyết giảng giáo pháp thậm thâm vi diệu này
để đoạn trừ tất cả mọi vô minh kiến chấp.