TRUNG
LUẬN QUYỂN THỨ BA
PHẨM
THỨ MƯỜI LĂM:
QUÁN
HỮU VÔ
(Nếu cho rằng) Tự tánh hiện
hữu trong các duyên là một sự kiện sai lầm. (vì) Tự tánh
mà từ các duyên phát sanh thì tự tánh ấy chính là pháp hữu
vi sanh diệt (* tác pháp: pháp được tạo tác thành, tức chỉ
cho hữu vi sinh diệt).
Làm thế nào có thể có ý
nghĩa nếu tự tánh là một cái gì được tạo thành (nếu
tự tánh là pháp hữu vi sanh diệt)? Tự tánh chính là cái
không phải do được (nhân duyên) tạo ra, không phải nhờ
vào một pháp khác mà được hình thành.
Pháp nếu đã không có tự
tánh thì làm thế nào có tha tánh? Vì tự tánh đối tha tánh
cũng còn được gọi là tha tánh.
Tách lìa tự tánh và tha tánh
thì làm sao lại có Pháp. Các pháp chỉ được hình thành nếu
có tự và tha tánh.
Hữu (thật có tự tánh) nếu
đã không thành lập được thì làm thế nào mà Vô (vô tự
tánh) có thể thành lập được? Nhân vì Hữu (có tự tánh)
cho nên có Pháp, nếu Hữu (có tự tánh) bị hoại diệt thì
gọi đó là Vô (vô tự tánh).
Nếu người nào thấy (chấp
trước) có Hữu (có tự tánh) và Vô (không có tự tánh), và
thấy có tự tánh và tha tánh (như thế) thì họ (đã) không
thấy được nghĩa chân thật của Phật pháp.
Ðức Phật có khả năng diệt
trừ cả hữu lẫn vô như trong kinh đã trình bày về việc
(Thế tôn) giáo hóa tôn giả Ca Chiên Diên nên xa lìa cả vô
và hữu.
Nếu pháp thật có tự tánh
thì sau đó lẽ ra không có sự biến dị (thay đổi). Tự tánh
nếu còn có tướng biến dị thì sự kiện này hoàn toàn không
hợp lý.
Nếu pháp thật sự có tự
tánh thì làm thế nào mà nó có thể thay đổi biến dị được?
Và nếu pháp thật sự không có tự tánh thì cũng làm thế
nào mà nó có thể thay đổi biến dị được?
Quyết định rằng là Hữu
thì bị rơi vào sự chấp thường mà quyết định rằng là
Vô thì rơi ngay vào chấp đoạn, thế nên người có trí (bậc
hữu trí) không nên chấp hữu vô.
Nếu các pháp có tự tánh nhất
định (chắc chắn có tự tánh) thì nó chẳng phải là vô
mà chính là thường hằng và nếu trước Hữu nay Vô, như
thế là đoạn diệt.
_______________
PHẨM
THỨ MƯỜI SÁU:
QUÁN
SÁT VỀ SỰ TRÓI BUỘC VÀ GIẢI THOÁT
Nếu cho rằng các hành là sự
qua lại đến đi (luân hồi sanh tử) thì trong cái thường
tại không có vấn đề đi đến. Trong sự vô thường cũng
không nốt luôn sự đi đến, chúng sanh cũng y hệt như thế
(*nghĩa là không còn hiện tượng lại qua trong luân hồi sanh
tử nữa).
Nếu quan niệm rằng chúng sanh
luân hồi qua lại thì trong ngũ Ấm, các Giới và các Nhập
dù có tận triển năm thứ phương pháp (* Sắc không phải
là ngã, tách rời sắc cũng không có ngã, không lìa sắc cũng
không có ngã, trong ngã không có sắc, trong sắc không có ngã)
để truy tầm cũng không thể tìm thấy có ai là kẻ luân hồi
qua lại (trong sanh tử).
Nếu từ thân này chuyển đến
thân khác thì khi luân hồi qua lại tức là không có thân hình
và nếu kẻ ấy không có thân hình thì đương nhiên họ không
có sự luân hồi qua lại.
Các hành nếu hoại diệt thì
sự kiện này hoàn toàn không đúng, và nếu chúng sanh hoại
diệt thì việc đó cũng không hợp lý.
Tướng sanh diệt của các hành
(tự nó) không trói buộc mà cũng chẳng giải trừ và chúng
sanh như đã trình bày là (tự chúng) chẳng trói buộc cũng
chẳng giải thoát.
Nếu thân thể được gọi
là sự trói buộc thì khi có thân thể đương nhiên không bị
trói buộc (* vì thân ngũ ấm có trước, sự triền phược
có sau). Không có thân cũng không bị trói buộc, thế thì nơi
nào là nơi có sự trói buộc?
Nếu cho rằng sự trói buộc
hiện hữu trước đối tượng của sự trói buộc thì lẽ
ra đối tượng bị trói buộc ấy đã bị trói buộc. Nhưng
thật tế trước đó đã không có sự trói buộc, ngoài ra
những khía cạnh khác có liên hệ đều đã được giải đáp
trong phần đã di chuyển, đang di chuyển và chưa di chuyển
(phẩm thứ hai).
Kẻ bị trói buộc thì không
có sự giải thoát và kẻ không bị trói buộc thì cũng không
cần giải thoát. Khi có kẻ bị trói buộc thì mới có kẻ
được giải thoát, thế thì, sự trói buộc và giải thoát
đương nhiên phải xảy ra cùng lúc.
Nếu không thọ nhận các pháp,
đương nhiên tôi phải chứng niết bàn, người nào chấp trước
như thế, sẽ bị nhận chịu sự trói buộc, (* vì còn chấp
có chứng đắc niết bàn nên bị cái chấp ràng buộc).
Không phải tách rời, lìa bỏ
sự sanh tư mà có cảnh giới niết bàn riêng biệt (biệt
lập). Nghĩa thật tướng như thế thì làm gì có sự phân
biệt?
________________
PHẨM
THỨ MƯỜI BẨY:
QUÁN
SÁT VỀ NGHIỆP
Người nào có khả năng hàng
phục, chế ngự tâm mình và làm những điều từ thiện lợi
ích đối với chúng sanh thì đó chính là gieo trồng hạt giống
quả báo cho hai đời (đời này và đời sau). (Dịch cách khác:
Người nào có khả năng hàng phục tâm mình, đối với chúng
sanh làm những điều lợi ích thì người đó gọi là người
làm những việc từ thiện gieo trồng quả báo cho hai đời).
Ðức Phật dạy có hai loại
nghiệp đó chính là ý chí và những điều từ ý chí phát
sanh (* Tư cập tùng Tư sanh. Tư chính là tâm sở pháp, lấy
sự tạo tác làm dụng, có khả năng suy động sự tạo tác
của nội tâm, phát động sự hoạt động của thân thể,
sự nói năng của miệng lưỡi. Tư chính là ý chí, từ sự
tư duy, suy nghĩ đưa dẫn đến quyết định hành động, vì
thế nó chính là động lực của nghiệp, nhân sự phát động
của tư tâm sở mà nó có khả năng biểu hiện những động
tác và nói năng của thân thể nên gọi là từ tư tâm sởhát
sanh ra) những biệt tướng của nghiệp trong kinh đã phân biệt
thuyết minh từng loại.
Ðức Phật dạy tư nghiệp
(ý chí) đó chính là (cái gọi là) ý nghiệp và những điều
từ ý chí phát sanh (tư sanh) chính là thân và khẩu nghiệp.
Thân nghiệp và khẩu nghiệp,
tác và vô tác nghiệp (tạo nghiệp và không tạo nghiệp) trong
bốn sự việc như thế, vừa thiện vừa bất thiện.
Từ (tác thọ) dụng sanh ra
phước đức, tội lỗi cũng như thế mà được sanh ra, và
Tư (ý chí) là bảy pháp (* 1. thân nghiệp, 2. khẩu nghiệp,
3. tác nghiệp, 4. vô tác nghiệp, 5. thiện nghiệp, 6. bất thiện
nghiệp và 7. tư nghiệp), bảy pháp này có khả năng liễu
giải các nghiệp tướng (làm sáng tỏ các hành tướng của
nghiệp).
Nếu nghiệp (lực) vẫn tồn
tại (trụ) mãi cho đến khi thọ (quả) báo thì nghiệp đó
chính là cái thường hằng và nếu nghiệp không tồn tại
(diệt) thì là không có nghiệp, không có nghiệp thì làm thế
nào có thể sanh ra quả báo?
Chẳng khác nào sự tương tục
của cái mầm vân vân..., nó đều được sanh ra từ hạt giống
(chủng tử), từ đó mà sanh ra quả, nếu tách rời hạt giống
thì không có sự tương tục.
Từ hạt giống mới có sự
tương tục, từ sự tương tục mới có quả. Trước có hạt
giống sau đó mới có quả, không đoạn cũng chẳng thường.
Như thế từ lúc sơ tâm, tâm
pháp phát sanh một cách tương tục, từ đó mà có quả. Tách
rời tâm thì không có sự tương tục.
Từ nơi tâm mà có được sự
tương tục, từ nơi sự tương tục mà có quả, nghiệp có
trước, quả có sau (trước có nghiệp sau mới có quả), không
đoạn mà cũng chẳng thường.
Có thể thành tựu những phước
đức bằng con đường thập bạch nghiệp (*mười điều thiện
thanh tịnh trong sạch). Năm thứ dục lạc của hai đời (đời
này và đời sau) chính là quả báo bạch nghiệp (nghiệp trong
sạch thanh tịnh).
Nếu như ông (chỉ ngoại đạo)
nảy sanh các thứ phân biệt thì đó chính là một lầm lỗi
rất lớn (nhiều), vì thế nên, những điều ông trình bày,
ý nghĩa đã không đúng như thế.
Nay, một lần nữa, sẽ phải
trình bày lại về ý nghĩa của thuận nghiệp quả báo (* tùy
thuận theo nghiệp lực mà chiêu cảm, thọ lãnh lấy quả báo)
mà chư Phật, Bích Chi Phật và Thanh văn thánh hiền đã cùng
nhau xưng tán (tán dương, xưng tụng).
Cái pháp không mất (* chỉ
cho sự tương tục không gián đoạn của nghiệp lực) thì
giống như cái giấy chứng khoán hợp đồng về nợ nần,
và nghiệp thì giống như của cải tiền bạc (tài vật) bị
mắc nợ, (người bị mắc nợ của cải tiền bạc) tánh của
nó thì vô ký, nếu phân biệt thì có bốn loại (* 1. Dục
giới nghiệp hệ, 2. sắc giới hệ, 3. vô sắc giới hệ và
4. vô lậu hệ).
Không thể đoạn trừ nghiệp
lực bằng cách kiến đạo (kiến đế) được. Chỉ có thể
đoạn trừ chấm dứt nghiệp lực bằng con đường tu tập
đạo lý (tu đạo = tư duy) mà thôi, do đó nhờ cái pháp (sự)
không mất ấy mà các nghiệp đưa dẫn đến việc có quả
báo.
Nếu kiến đế (kiến đạo
= thấy đạo) mà có thể đoạn trừ (chấm dứt) được (sự
tương tục không mất) thì nghiệp vẫn xảy đến tương tợ,
như thế thì vướng mắc vào nhiều lầm lỗi là đã phá hủy
các nghiệp.
Tất cả các hành nghiệp dù
giống nhau hay không giống nhau đều thuộc về một cảnh giới
vừa mới thọ thân, lúc ấy (duy nhất) chỉ có quả báo đơn
độc sanh khởi.
Hai loại nghiệp như thế (*
theo ngài Thanh Biện: tác và vô tác nghiệp; theo ngài Thanh Mục
thì: khinh và trọng nghiệp, có thuyết khác thì bảo: tương
tợ và bất tương tợ) hiện thế (đời này) lãnh thọ quả
báo, hoặc bảo là đã thọ báo xong (* báo gồm có hoa báo,
quả báo và dư báo) nhưng nghiệp vẫn còn tồn tại.
Nếu đắc độ (chứng được)
(tứ) quả (nhập niết bàn) xong rồi (nghiệp lực) mới diệt
hết và nếu chết rồi mới diệt, trong đó phải phân biệt
kỹ giữa hữu lậu và vô lậu (* nếu chứng tứ quả, nhập
niết bàn thì không thọ hậu hữu, nghiệp đã dứt sạch nên
gọi là vô lậu; và nếu chúng sanh quả báo chấm dứt nên
chết thì nhứt kỳ nghiệp báo cũng diệt tuy nhiên chỉ diệt
nhứt kỳ nghiệp báo nhưng vẫn còn thọ hậu hữu nên gọi
là hữu lậu).
Dẫu là Không đi nữa cũng
không đoạn tuyệt và dẫu là Hữu thì cũng vẫn chẳng thường
hằng, nghiệp và quả báo không bao giờ bị mất, đó chính
là lời Phật dạy.
Các nghiệp vốn chẳng sanh,
vì nó không hề có định tánh (tự tánh nhất định, cố
định). Các nghiệp cũng chẳng diệt, vì nó vốn chẳng sanh.
Nếu nghiệp mà có tự tánh
thì nó chắc chắn là thường hằng (gọi là thường). Không
tạo tác cũng gọi là nghiệp, lý do là vì đã thường hằng,
thường tại nên không thể tạo tác.
Nếu có cái nghiệp mà không
hề được tạo tác ra và dù không tạo tác ra nghiệp nhưng
vẫn có tội thì (chẳng khác nào dù) không chấm dứt (rời
bỏ) đời sống phạm hạnh thanh tịnh những vẫn có lỗi
bất tịnh.
Như thế thì phá hủy tất
cả những pháp tắc, tập quán, ngữ ngôn pháp của thế gian,
như thế thì tạo tội và tạo phước cũng không có bất cứ
sự sai biệt nào.
Nếu cho rằng nghiệp là một
cái gì nhất định (quyết định nghiệp) chính tự nó có
tự tánh, như thế thì, khi đã lãnh thọ quả báo xong nhưng
lại trở lại phải thọ lãnh nữa.
Nếu các nghiệp của thế gian,
được sanh ra từ phiền não mà phiền não (là một cái gì)
chẳng phải thật có, thế thì nghiệp làm sao có thể có thật?
Các phiền não và nghiệp báo
được trình bày như là những nhân duyên của thân mạng (*
vì thân mạng sở dĩ có được là do có quả báo của sự
thống khổ làm nhân duyên tạo thành). Phiền não và các nghiệp
tự chính nó đều là Không (không có tự tánh) huống chi là
các thân mạng?
Vì bị vô minh che lấp, ái
kết buộc ràng (sự trói buộc của những ái dục cô kết
chặt chẽ) nhưng chính tác giả (kẻ tạo nghiệp) tác nghiệp
(nghiệp được tạo tác) và thọ giả (kẻ thọ quả báo)
(* ba cái gọi chung là bổn tác giả) không đồng nhất cũng
không sai biệt.
Nghiệp không từ các duyên
sanh ra mà cũng không từ không phải các duyên sanh ra vì thế
nên không có kẻ có khả năng sanh khởi ra nghiệp báo.
Không có nghiệp và không có
kẻ tạo ra nghiệp (tác giả) thì làm gì lại có cái nghiệp
sanh ra quả báo? Và nếu nó không có quả báo thì làm gì lại
có người thọ lãnh quả báo?
Giống như đức Thế Tôn sử
dụng thần thông tạo ra một người biến hóa và cũng như
thế người biến hóa này lại tạo ra một người biến hóa
khác. Như người biến hóa trước nhất thì gọi là tác giả
(chính là kẻ tạo tác) và người biến hóa được tạo ra
thì gọi là nghiệp (đích thị là nghiệp). Các phiền não
và nghiệp, tác giả (kẻ tạo nghiệp) và quả báo, đều như
huyễn hóa và mộng mị (chiêm bao) chẳng khác nào quáng nắng
(* giữa sa mạc quáng nắng tạo cho ta có cảm tưởng như là
đang thấy nước ở trước mặt) và sự đồng vọng của
một tiếng vang.
________________
PHẨM
THỨ MƯỜI TÁM:
QUÁN
PHÁP
(Àtma-parĩksà)
Nếu ngã chính là năm ấm thì
ngã tức là, đích thị là (thuộc về những cái) sanh diệt;
nếu ngã là sai khác với năm ấm thì nó không phải là tướng
ngũ ấm.
Nếu không có cái gọi là ngã
thì làm thế nào có được những thuộc tính của ngã (ngã
sở). Vì diệt trừ cái ngã và thuộc tính của ngã (ngã sở
cho nên gọi là chứng đắc Vô Ngã Trí. Người chứng được
vô ngã trí thì gọi đó là Thật quán. Người chứng được
Vô Ngã Trí là bậc vô cùng hy hữu. Vì nội tâm và ngoại
cảnh, ngã và thuộc tính của ngã (* ngã sở: những cái thuộc
về của tôi) đều bị diệt sạch không mảy may còn nên các
Thọ (*các thủ: ngã ngữ thủ, dục thủ, kiến thủ, giới
cấm thủ) lập tức cũng bị diệt sạch, thọ diệt thì thân
diệt. Vì nghiệp và phiền não diệt nên gọi đó là giải
thoát. Nghiệp và phiền não là những cái không có thật, một
khi đã thâm nhập vào Không Tánh thì tức khắc mọi hý luận
đều bị tận diệt. Chư Phật hoặc dạy về ngã hoặc dạy
về vô ngã đều khẳng quyết là trong thật tướng của các
pháp không có cái vô ngã và không có cái chẳng phải ngã
(vô ngã vô phi ngã).
Thật tướng của các pháp
thì đoạn bặt, cắt đứt cả tâm hành lẫn ngôn ngữ (* sự
tư duy và nói năng), (nó-thật tướng của các pháp) không
sanh cũng không diệt, tịch diệt (vắng lặng) như niết bàn,
tất cả những điều thật và không phải thật, vừa thật
vừa phi thật, phi thật và không phải phi thật (phi phi thật:
chẳng phải chẳng phải thật) đó chính là giáo pháp của
chư Phật. Tự mình tri nhận, (chính mình thể nghiệm) chứ
không tùy thuộc vào (theo sự thuyết giải của) kẻ khác (mà
tín giải). Tịch diệt không hý luận, không còn có sự sai
khác và phân biệt (vô phân biệt) đó chính là thật tướng.
Nếu các pháp được sanh ra từ các duyên, thì nó chẳng chính
là (đồng nhất với) nhân mà cũng chẳng sai khác với nhân
(bất tức bất dị) vì thế gọi là thật tướng. Không đoạn
cũng không thường, không đồng nhất cũng chẳng sai biệt,
không thường cũng không đoạn, đó chính là những vị cam
lồ (giáo pháp bất tử) mà chư Phật đã giáo hóa (giảng
dạy để hóa độ). Nếu đức Phật không xuất thế và Phật
pháp đã diệt tận (* ý nói khi Phật pháp đã diệt nhưng
Phật vẫn chưa thị hiện) thì trí tuệ của những vị Bích
chi Phật sẽ từ sự viễn ly (xa lìa các pháp chấp) mà phát
sanh.
________________
PHẨM
THỨ MƯỜI CHÍN:
QUÁN
THỜI GIAN
Nếu nhân nhờ vào quá khứ
mà hiện tại và vị lai hiện hữu thì hiện tại và vị lai
lẽ ra phải hiện hữu ngay trong thời quá khứ.
Nếu hiện tại và vị lai đã
không hiện hữu trong thời gian quá khứ thì làm thế nào (có
thể bảo rằng) hiện tại và vị lai đã nhân nhờ vào quá
khứ (mà hiện hữu)?
Không nhân nhờ vào thời quá
khứ thì không có thời vị lai và thời hiện tại, như thế
thì hai thời đều không có.
Vì ý nghĩa như thế nên biết
là hai thời gian còn lại và những ý niệm về cái trên, cái
giữa và cái dưới; về sự đồng nhất và sự sai biệt,
vân vân..., các pháp đều không có.
Không thể có được một khoảng
thời gian đứng yên không biến thiên (trụ). Cũng không thể
có được khoảng thời gian luôn xê dịch di động (khứ).
Nếu thời gian mà không có (bất khả đắc: không thể nắm
bắt được) thì làm thế nào có thể đề cập đến tướng
trạng của thời gian?
Nhân nhờ vào vật thể (biến
dị) mà (biết) có thời gian, tách rời vật thì làm sao thời
gian hiện hữu. Vật thể còn không có huống hồ là thời
gian. (vật thể còn không có huống chi là có thời gian).
________________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI:
QUÁN
SÁT NHÂN VÀ QUẢ
Nếu do sự hòa hợp của các
duyên mà quả được sanh khởi thì nó (quả) đã hiện hữu
sẵn trong sự hòa hợp, thế thì cần gì phải nhờ vào sự
hòa hợp mới sanh khởi?
Nếu không có quả trong sự
hòa hợp của các duyên thì làm thế nào cái quả đó có thể
sanh khởi từ trong sự hòa hợp của các duyên?
Nếu quả hiện hữu trong sự
hòa hợp của các duyên thì tất nhiên trong sự hòa hợp phải
có quả nhưng sự thật thì đã không thể tìm thấy được
(bất khả đắc).
Nếu quả không hiện hữu trong
sự hòa hợp của các duyên thì các nhân duyên và chẳng phải
nhân duyên là giống nhau (đồng nhất).
Nếu Nhân chuyển trao cho Quả
cái năng lực mà Nhân có thể tạo tác trước khi tự diệt
(đã trao xong), thì lúc ấy Nhân có hai loại thể tướng, đó
là cái được chuyển trao và cái bị hủy diệt.
Nếu Nhân không chuyển trao
cho Quả xong cái năng lực mà Nhân có khả năng tạo tác (tác
nhân) nhưng đã bị diệt (như thế) Nhân đã bị hủy diệt
mà Quả vẫn khởi sanh, vậy thì Quả đó là không có Nhân.
Nếu đang khi các duyên hòa
hợp mà quả được sanh khởi cùng lúc thì kẻ sanh và cái
được sanh đồng thời hiện hữu.
Nếu trước đó có quả sanh
khởi nhưng sau đó các duyên mới hòa hợp thì điều đó cũng
có nghĩa (tức: chính là) là tách lìa khỏi nhân duyên, và
như vậy đích thị là cái quả không có nhân.
Nếu nhân (bị hủy diệt để)
chuyển biến làm quả thì tức là nhân đã đến với quả,
như thế thì nhân đã được sanh trước đó nhưng đã sanh
xong rồi trở lại sanh ra nữa.
Làm thế nào mà một cái nhân
đã bị diệt mất nhưng vẫn có khả năng sanh khởi ra quả?
vả lại nếu nhân hiện hữu (tồn tại) trong quả thì làm
thế nào nhân có thể sanh quả?
Nếu nhân đã bao trùm các quả
hiện hữu thế thì tại sao lại phải sanh khởi các quả làm
gì? trong nhân thấy hoặc không thấy quả cả hai trường hợp
đều không sanh khởi (ra quả). (* ý nói nếu trong nhân thấy
có quả thì quả đã có rồi, có rồi thì không cần phải
sanh nữa. Và nếu không thấy quả trong nhân thì lìa rời nhân
vẫn có quả vì quả không hiện hữu trong nhân và ngược
lại. Như thế thì quả không do nhân sanh và nhân không do quả
sanh).
Nếu bảo rằng cái nhân quá
khứ hòa hợp với cái quả quá khứ, cái quả hiện tại và
cái quả vị lai thì điều đó hoàn toàn không thể có. Nếu
bảo rằng cái nhân vị lai hòa hợp với cái quả vị lai,
cái quả hiện tại và cái quả quá khứ thì hoàn toàn không
hợp lý. Nếu bảo rằng cái nhân hiện tại hòa hợp với
cái quả hiện tại, cái quả vị lai và cái quả của quá
khứ thì hoàn toàn không thể được (* đoạn này nói về
tam thế và cưu trùng nhân quả).
Nếu không thể hòa hợp thì
làm thế nào nhân có thể sanh quả? và giả định rằng có
sự hòa hợp thì cũng làm thế nào nhân có thể sanh quả?
Nếu nhân là Không, không có
quả thì nhân làm sao có khả năng sanh ra quả? và nếu nhân
là không phải Không không có quả (tức trong nhân có quả)
thì nhân làm thế nào có thể sanh quả?
Quả chẳng phải Không thì
không thể sanh (* vì chẳng không tức là có nếu đã có thì
không sanh), quả chẳng Không chẳng diệt, vì quả chẳng Không
nên không sanh cũng không diệt. Vì Quả Không nên không sanh,
vì quả Không nên không diệt, vì quả chính là Không, cho nên
không sanh cũng chẳng diệt.
Nếu nhân và quả là một,
là đồng nhất thì hoàn toàn không hợp lý và nếu nhân và
quả là khác biệt nhau thì sự kiện này cũng không đúng.
Nếu nhân và quả là đồng nhất, thì sự sanh khởi và cái
được sanh khởi cũng phải đồng nhất. Nếu nhân và quả
là khác biệt thì cái nhân đồng với cái chẳng phải nhân
(phi nhân).
Nếu quả mà có tự tánh nhất
định thì nhân làm thế nào có thể sanh ra nó? Nếu quả nhất
định không có tự tánh thì nhân cũng làm thế nào có thể
sanh ra nó? Nếu nhân không sanh ra quả thì không có cái thể
tướng của nhân, và nếu không có thể tướng của nhân thì
cái gì (ai, hoặc đâu) có thể có cái quả đó? (quả đó
thuộc về cái gì?)
Nếu cho rằng từ các nhân
duyên mà có sanh ra sự hòa hợp, nhưng, sự hòa hợp tự nó
không sanh thì làm thế nào nó có thể sanh ra quả? Thế nên,
quả đã không từ các duyên hòa hợp hay không hòa hợp sanh
ra. Vì nếu không có quả thì nơi nào có pháp hòa hợp?
_______________
PHẨM
THỨ HAI MƯƠI MỐT:
QUÁN
SÁT VỀ SỰ SINH THÀNH VÀ HOẠI DIỆT
Tách rời sự sinh thành và
sự cộng thành (hoại và thành cộng lại đồng lúc hiện
hữu), trong đó không có sự hoại diệt. Tách rời sự hoại
diệt và cộng diệt (sự hoại diệt và sự sinh thành cộng
lại: hai cái đồng thời có mặt) thì sự sinh thành cũng không
hiện hữu trong đó.
Nếu tách rời khỏi sự sinh
thành thì làm thế nào sự hoại diệt có thể hiện hữu?
Ðiều đó không đúng vì chẳng khác nào cho rằng lìa bỏ
sự sống thì sự chết mới hiện hữu. Nếu sự sinh thành
và sự hoại diệt đồng lúc hiện hữu thì làm thế nào có
thể có sự sinh thành và sự hoại diệt (* vì thành và hoại
hai tướng khác nhau và nếu nó là một thì nhất định không
thể là thành hay hoại). Giống như sự chết và sống của
thế gian, sẽ một sai lầm lớn khi cho rằng hai vấn đề đồng
lúc xảy ra. Sự sinh thành làm sao có thể hiện hữu nếu nó
bị tách rời khỏi sự hoại diệt? Chưa từng bao giờ thấy
có sự kiện là không có sự vô thường trong các pháp.
Cộng sự sinh thành và sự
hoại diệt lại (thành và hoại đồng lúc xuất hiện) cũng
không có sự sinh thành mà tách rời nó thì cũng không có sự
sinh thành. Trong hai nơi ấy đều không tìm thấy, thế thì
làm thế nào mà sự sinh thành có thể hiện hữu?
Ðã tận diệt thì không thể
có sự sinh thành và không tận diệt thì cũng chẳng có sự
sinh thành. Ðã tận diệt thì tướng hư hoại không còn hiện
hữu và không tận diệt thì hoại tướng cũng chẳng hiện
hữu.
Nếu tách khỏi sự sinh thành
và hoại diệt thì cũng không có bất cứ pháp nào hiện hữu,
và nếu phải rời khỏi các pháp thì sự sinh thành và hoại
diệt cũng không thể hiện hữu.
Nếu tự tánh của các pháp
là Không thì cái gì sẽ là cái (ai) có sự sinh thành và hoại
diệt? Và nếu tự tánh của các pháp không là Không thì sự
sinh thành và hoại diệt cũng không thể có được.
Sự sinh thành và hoại diệt
nếu là một, là đồng nhất thì sự kiện ấy không đúng,
và sự sinh thành và sự hoại diệt nếu là khác biệt nhau
thì sự kiện ấy cũng chẳng đúng.
Nếu quan niệm rằng do mắt
thấy nên có sự sanh diệt thì đó chính là si mê vọng tương,
vì si vọng nên thấy có sanh diệt.
Một pháp không thể sanh khởi
từ một pháp, một pháp cũng không thể sanh khởi từ một
cái chẳng phải là pháp. Từ cái chẳng phải pháp không thể
khởi sanh ra pháp và cái chẳng phải pháp (phi pháp).
Pháp không phải được sanh
khởi từ chính nó (bất tùng tự sanh), pháp cũng không phải
được sanh khởi bởi từ một cái gì khác (bất tùng tha sanh).
Ðã không được sanh khở từ chính bản thân và cái gì khác
bên ngoài thì làm thế nào có thể có cái gọi là sự sanh
khởi?
Nếu có sự thọ chấp vào
các pháp (*thọ chấp: nhãn căn đối sắc trần có sự cảm
thọ và chấp trước vào cảm thọ ấy) thì chính (tức) là
đã rơi vào thường kiến và đoạn kiến. Phải biết rằng
các pháp được cảm thọ thì đều hoặc là thường hoặc
vô thường.
Những ai đang bị vướng mắc
bởi sự thọ chấp vào các pháp mà không rơi vào đoạn và
thường kiến là bởi lý do nhân và quả luôn luôn tương tục
nên không đoạn mà cũng chẳng thường.
Nếu nhân và quả, mà có sự
sanh khởi và hoại diệt tương tục không dứt (đoạn) như
thế thì cái nhân chính là đoạn diệt và vì đã là đoạn
diệt cho nên không thể tái sanh.
Nếu pháp mà thường trụ nơi
tự tánh thì lẽ ra đã không có hữu và vô, và sự diệt
sạch chuỗi tương tục (của sanh tử) của cảnh giới niết
bàn thì (bị) rơi vào chỗ đoạn diệt!
Nếu lúc ban đầu mà có sự
hoại diệt thì chắc chắn sau đó không có sự hiện hữu,
và lúc ban đầu nếu đã hiện hữu và không bị hoại diệt
thì cũng không có sự hiện hữu sau đó.
Nếu lúc đầu đã có sự hoại
diệt nhưng sau đó vẫn có sự sanh khởi thì rõ ràng có một
cái đang diệt và có một cái đang sanh (hai cái khác nhau).
Nếu bảo rằng sanh và diệt
xảy ra cùng lúc thì chẳng khác nào bảo rằng cái ấm (uẩn)
này chết ngay khi ấm này đang sanh (sanh tử đồng thời).
Không thể nào tìm thấy sự
hiện hữu của chuỗi tương tục trong ba đời (quá, hiện
và vị lai) được. Nếu sự tương tục đã không có trong
ba đời thì làm thế nào có thể có cái gọi sự tương tục?
__________________