TRUNG
LUẬN QUYỂN THỨ HAI
PHẨM
THỨ BẨY:
QUÁN
SÁT BA TƯỚNG
(* Pháp hữu
vi có ba tướng: Sanh, Trụ và Diệt)
Nếu sự sanh khởi là pháp
hữu vi thì lẽ ra nó phải có đủ ba tướng, còn nếu sự
sanh khởi là pháp vô vi thì tại sao gọi nó là hữu vi tướng?
Ba tướng (sanh, trụ, diệt)
nếu tụ hoặc tán (* Tụ: trong cùng một thời gian đồng lúc
hiện hữu, hoặc có trước, có sau) đều cũng không thể tạo
thành tướng hữu vi, (không thể có sở tướng) thế thì làm
sao trong cùng một nơi, đồng một lúc mà đồng thời hiện
hữu đủ cả ba tướng?
Nếu bảo rằng sanh, trụ, diệt
(ba tướng này là hữu vi pháp, nhưng đồng thời cũng thừa
nhận rằng ba tướng hữu vi này) lại cũng riêng có (sanh,
trụ, diệt) tướng hữu vi nữa, và nếu cứ như thế tức
là vô cùng, mà đã vô cùng thì tức thị là chẳng phải hữu
vi.
Sự sanh khởi sản sanh ra sự
sanh khởi (* có hạt nhân đầu tiên sanh khởi ra quả, quả
đó lại làm nhân và cũng lại sanh ra quả: sanh sanh), sự sanh
khởiđược sản sanh từ nơi nguồn gốc của sự sanh khởi
và cái sanh sản ra nguồn gốc sanh sản trở lại được sanh
ra từ nơi cái vừa được sanh ra (cái sinh của cái sinh chỉ
là cái sinh ra cái sinh căn bản; rồi cái sinh của cái sinh
căn bản lại tạo ra cái sinh của sinh).
Nếu chủ trương rằng cái
có khả năng sanh khởi ở (đó) và cái được sanh khởi có
thể được sanh ra từ cội nguồn của sự sanh khởi, vậy
thì, sự sanh khởi được khởi sanh từ cội nguồn của sự
sanh khởi làm thế nào có thể sanh ra nguồn gốc của sự
sanh khởi (bản sanh)?
Nếu chủ trương rằng cái
nguồn gốc (nguyên nhân đầu tiên) của sự sanh khởi này
có thể được sanh ra từ cái được chính cái do nguồn gốc
sanh khởi sanh ra và nguồn gốc của sự sanh đã được sanh
ra từ chính cái do nguồn gốc sanh khởi sanh ra như thế thì
làm thế nào sự sanh đó lại có thể sanh ra cái do nguồn
gốc sanh? (*nếu bảo rằng "bản sanh" được sanh ra từ "sanh
sanh" mà "bản sanh" đã được sanh ra từ "sanh sanh" thế thì
làm sao nó có thể sanh ra cái "sanh sanh"?)
Nếu khi cái được sanh đang
sanh (mà bảo rằng) được sanh từ cội nguồn của sự sanh
thì thử hỏi lúc ấy cái được sanh (còn) chưa hiện hữu
vậy thì làm thế nào nó (cái được sanh) có thể sanh ra cái
gọi là cội nguồn của sự sanh?
Nếu nguồn gốc của sự sanh
đang sanh mà đã có khả năng sanh ra vật khác (sanh sanh) như
thế thì lúc ấy nguồn gốc của sự sanh khởi (còn) chưa
có thế thì làm sao có thể có khả năng sinh ra vật khác (sanh
sanh)?
Chẳng khác nào ngọn đèn,
tự nó có khả năng soi chiếu chính mình (soi chiếu tự thân)
nhưng đồng thời cũng có thể soi chiếu những vật khác.
(Pháp) sự sanh khởi cũng thế, nó không chỉ có khả năng
tự sanh ra chính nó mà còn có khả năng sanh ra những cái khác.
(* lời phản bác của đối thủ).
Trong ngọn đèn, tự nó không
có bóng tối, cũng không có bóng tối trong bất cứ nơi nào
mà ánh sáng của đèn chiếu đến (do tác dụng) phá tan bóng
tối nên gọi là chiếu rọi, nếu không có (đối tượng là)
bóng tối thì đã không có (cái gọi là) sự chiếu phá. (*
sự trả của bồ tát Long Thọ).
Làm thế nào khi ánh sáng của
ngọn đèn mới vừa phát sanh mà đã có khả năng phá tan mọi
bóng tối? Ánh sáng của ngọn đèn đó khi vừa mới phát sanh
(chắc chắn) không thể tỏa kịp tới bóng tối được.
Nếu ánh sáng của ngọn đèn
chưa tỏa kịp tới bóng tối mà đã có khả năng phá tan mọi
bóng tối như thế thì ánh sáng của ngọn đèn chỉ ở tại
một chỗ (trong thời gian này) mà vẫn có thể phá tan tất
cả bóng tối trên mọi chỗ.
Nếu ngọn đèn có khả năng
tự soi chiếu chính nó nhưng đồng thời cũng có khả năng
chiếu soi những vật khác thì lẽ ra bóng tối cũng tự che
tối chính nó nhưng đồng thời cũng có thể che tối những
vật khác.
Làm thế nào sự sanh khởi
này nếu khi chưa sanh mà đã có thể tự sanh (chính mình)?
và nếu sự sanh khởi đó là đã tự sanh, thế thì, đã sanh
rồi thì cần gì phải sanh nữa?
Sự sanh khởi chẳng phải được
sanh ra từ cái đã sanh cũng chẳng phải từ cái chưa sanh mà
sanh ra và cái đang sanh cũng chẳng sanh như đã được giải
đáp trong phần chuyển động (trong phẩm thứ hai).
Nếu bảo rằng (các pháp) được
sanh khởi từ cái đang sanh là một sự kiện sai lầm (bất
thành) thế thì tại sao (lại có thể khẳng quyết rằng) khi
các duyên hòa hợp thì (các pháp) được sanh khởi?
Nếu các pháp được sanh ra
từ các duyên (nhiều yếu tố, điều kiện) thì nó-pháp đó
chính là tịch diệt tánh (* đã tịch diệt thì không thể
sanh khởi, thì tự tánh của pháp đó là tịch lặng rỗng
không, không có tự tánh) như thế thì vật được sanh khởi
(sanh pháp) và (cái gọi là thời gian) đang sanh cả hai đều
tịch diệt (vắng lặng rỗng không).
Giả thiết rằng (nếu) có
một pháp (vật thể) nào đó sẽ được sanh khởi thì có
thể bảo rằng (chắc chắn sẽ) phải có (pháp: vật) được
sanh khởi, như thế thì cái pháp này đã có trước rồi, vậy
thì tại sao lại phải cần đến sự sanh khởi làm gì?
Nếu bảo rằng cái đang sanh
sanh khởi như vậy thì nó, cái đang sanh có khả năng sanh khởi
thế thì làm thế nào lại có sự sanh khởi có khả năng sanh
ra sự đang sanh khởi ấy?
Giả sử lại có một cái sanh
khởi nào đó sanh ra sự sanh khởi này và, sự sanh khởi sanh
ra sự sanh khởi rồi sự sanh khởi lại sanh ra sự sanh khởi
như thế thì là vô cùng tận, và nếu, tách rời sự được
sanh khởi (sanh sanh?) nhưng vẫn có sự sanh khởi thế thì các
pháp đều có khả năng tự sanh (sanh ra chính mình).
Nếu pháp đã có rồi thì không
cần sanh khởi nữa và nếu không có thì lẽ ra cũng chẳng
cần sanh khởi làm chi. Có hoặc không có cũng chẳng sanh khởi,
ý nghĩa này như trước đã đề cập.
Nếu các pháp đang trong trạng
thái hủy diệt, và đang hủy diệt thì lẽ ra không sanh khởi
và nếu các pháp không là đang hủy diệt thì hoàn toàn không
có sự việc như thế.
Pháp bất trụ thì chẳng dừng
một chỗ (pháp chẳng đứng yên một chỗ thì chẳng đứng
yên), pháp đứng yên một chỗ cũng chẳng đứng yên, lúc
đang đứng yên cũng chẳng đứng yên, vì (vô sanh) đã không
có sự sanh khởi thì làm gì có sự đình trụ (đứng yên)?
Nếu đang khi các pháp hủy
diệt thì (lúc ấy) lẽ ra không có sự đình trụ (* bởi vì
pháp đã diệt thì không có pháp, không có pháp thì cái gì
trụ?) và các pháp nếu không là đang diệt thì việc đó hoàn
toàn không bao giờ có (* vì đã là pháp hữu vi tức sanh diệt
vô thường).
Tất cả pháp hữu vi đều
là tướng già chết (tức sanh diệt tướng), hoàn toàn không
hề thấy bất cứ pháp hữu vi nào có thể tách rời tướng
(sự) già chết mà có sự đình trụ (đứng yên).
Sự đình trụ không đình trụ
nơi chính tự tướng (sự đứng yên không đứng yên nơi tự
tướng) và cũng chẳng đình trụ nơi dị tướng (tướng khác),
giống như sự sanh khởi không thể tự sanh và cũng không thể
sanh từ nơi tướng khác (dị tướng).
Pháp đã diệt thì không diệt,
pháp chưa (sẽ) diệt thì cũng chẳng diệt và pháp đang diệt
thì cũng chẳng diệt vì đã vô sanh (không có sự sanh khởi)
thì làm gì có sự hủy diệt?
Nếu các Pháp mà có sự đình
trụ (*đứng yên, không biến dị, vô thường) như thế thì
nó không thể diệt, còn các pháp nếu là không đình trụ
thì dĩ nhiên nó cũng chẳng thể (nên) diệt.
Pháp đó đang khi trụ, không
thể đồng lúc diệt, và pháp đó trụ nơi thời điểm khác,
thì cũng không thể diệt ngay đang trong thời điểm khác đó
được.
Giống như tất cả các pháp,
không thể có được cái gọi là tướng sanh khởi và bởi
vì không có tướng sanh khởi nên chính nó cũng không có tướng
hủy diệt.
Nếu các pháp là có (có tự
tánh) thì tức (chính nó) không có sự hủy diệt, không lẽ
chỉ ở nơi một pháp mà có cả hai tướng là hữu và vô
(có và không)?
Nếu pháp đích thị là không
thì tức là không có sự hủy diệt, thí như chặt cái đầu
thứ hai (của một người nào đó), vì không có cái đầu
thứ hai như thế cho nên không thể chặt được. (* thí như
không có cái đầu thứ hai của một người nào đó nên không
thể chặt được).
Tự tướng của các pháp chẳng
diệt, tha tướng của các pháp cũng chẳng diệt; giống như
tự tướng (các pháp) chẳng sanh khởi mà tha tướng cũng chẳng
sanh khởi.
Sanh, trụ, diệt đã bất thành
cho nên không có pháp hữu vi, mà hữu vi pháp đã không có
thì lý do gì lại có pháp vô vi?
Giống như huyễn hóa, như mộng
mị (chiêm bao), như thành của càn thát bà (* không có thật
như lầu đài giữa hư không: không trung lầu các). Tướng
của sanh, trụ, diệt được đề cập cũng như thế.
_______________
PHẨM
THỨ TÁM:
QUÁN
TÁC VÀ TÁC GỈA
(* Tác:
tác nghiệp, nghiệp được tạo;
Tác giả:
người tạo nghiệp)
Ðã khẳng định là thật sự
có tác giả (đã quyết định có tác giả) (* kẻ tạo nghiệp,
năng tác) không tạo ra một cái nghiệp thật sự (quyết định
nghiệp) (* vì nếu tác giả tức năng tác đã thật sự (quyết
định) có thì nghiệp tức sở tác cũng thật sự đã có như
thế thì không có nguyên nhân là tác giả nhưng vẫn có tác
nghiệp và nếu vậy thì không hợp đạo lý) và nếu quả
quyết rằng thật sự không có (cái gọi là) tác giả thì
cũng không thể tạo tác được cái gọi là Vô định nghiệp
(* không có nghiệp chắc chắn thật sự).
Nếu quyết định rằng nghiệp
là vô tác (không có cái nghiệp được tác tạo) thì cái nghiệp
ấy không có tác giả (kẻ tạo tác ra nghiệp) còn nếu quyết
định là có tác giả (kẻ tạo nghiệp) nhưng không tạo tác
(không có cái nghiệp được tạo tác) thì chính tự thân tác
giả (kẻ tạo tác) cũng không có nghiệp.
Nếu quyết định có tác giả
nhưng đồng thời cũng quyết đinh có cái nghiệp được tạo
tác (tác nghiệp) như thế thì cả tác giả (kẻ tạo ra nghiệp)
và tác nghiệp (cái nghiệp được tạo tác nên) đều bị
rơi vào (sai lầm là) không có nguyên nhân, nguồn gốc (vô
nhân).
Nếu đã rơi vào (tình trạng
chấp cho rằng) không có nguyên nhân (vô nhân) như vậy thì
không có nhân, không có quả, không có nghiệp được tạo
tác nên (tác nghiệp), không có kẻ tạo ra nghiệp (tác giả)
và sự tạo tác (tác pháp) cũng không cần.
Nếu không có tác giả, tác
nghiệp và tác pháp thì không có tội lỗi và phước đức.
Vì không có tội phước vân vân... (nghiệp nhân) cho nên quả
báo của tội và phước cũng không có.
Và nếu không có quả báo của
tội lỗi và phước đức thì cũng không có niết bàn, như
thế thì, những việc đã tạo tác được đều Không, không
có không có kết quả.
Dẫu rằng tác giả (kẻ tạo
tác) chắc chắn thật sự hiện hữu (định) hay không thật
sự hiện hữu (bất định) thì cũng không thể tạo tác ra
cái (gọi là) thật sự có nghiệp hay không thật sự có nghiệp
(*nhị nghiệp: định, bất định). Vì Có và Không trái nghịch
nhau cho nên trong cùng một chỗ thì không thể có hai thứ được
(* hai tánh định và bất định).
Ðã có tác giả (* có chẳng
thể tạo ra không) thì không thể tạo ra cái vô tác (*vì có
tạo tác mới gọi là tác giả). Không có tác giả thì cũng
không thể có được cái nghiệp được tạo tác (hoặc: cũng
không thể tạo ra cái nghiệp đã hiện hữu: vì không chẳng
thể tạo ra có). Nếu tác giả và nghiệp được tạo tác
đồng thời hiện hữu thì lại bị kẹt vào những sai lầm
như đã trình bày ở trước.
Tác giả không tạo định nghiệp
cũng không tạo bất định nghiệp (* tạo ra cái nghiệp thật
sự hay không thật sự, có nghiệp thật sự, chắc chắn hay
không có nghiệp thật sự), định và bất định nghiệp, sự
sai lầm của nó như trước đã đề cập.
Tác giả là định hay bất
định, vừa định vừa bất định (tác giả quyết định
có hay quyết định không có, vừa thật sự có vừa thật
sự không có) thì cũng không thể tạo ra nghiệp, sự sai lầm
này như đã đề cập.
Nhân vì (có) nghiệp nên có
tác giả, nhân (có) tác giả mới có nghiệp. Trong ý nghĩa
như thế, nghiệp được hình thành (nghiệp được thành lập
với một ý nghĩa như thế), ngoài ra thì đã không có bất
cứ một nguyên nhân nào khác hơn.
Tác giả và tác nghiệp (nghiệp
được tạo tác) như đã được phá hủy bác khước (nên)
thọ (* nghiệp quả thân ngũ uẩn- pháp) và thọ giả (*người
thọ nghiệp báo thân) cũng thế, nghĩa là tất cả các pháp
đều quán sát như thế để phá trừ, bác khước.
______________
PHẨM
THỨ CHÍN:
QUÁN
SÁT BẢN TRỤ
(* Bản
Trụ là một tên gọi khác của Thần Ngã)
Mắt, tai, vân vân... các căn,
khổ đau và an lạc vân vân... các pháp; ai là kẻ đã có những
sự việc (căn và pháp) như thế thì gọi họ là bản trụ
(thần ngã) (* bản là bản lai xưa nay vốn có, vốn đã hiện
hữu, bản hữu thường trụ bất biến; trụ có nghĩa là an
định mà bất động; ý nói các căn và các pháp khổ vui đều
dựa vào thần ngã (bản trụ) để kiến lập).
Nếu không có bản trụ (thần
ngã) thì ai là người có mắt vân vân... các pháp? Thế nên
biết rằng trước vốn đã có bản trụ (thần ngã). (* ý
nói nếu không có bản trụ thì lục căn và các pháp khổ
vui vân vân... đều không có nơi sở y và vì vô sở y nên
không thể kiến lập).
Nếu tách rời mắt vân vân...
các căn và khổ vui vân vân... các pháp nhưng bản trụ (thần
ngã) vốn đã hiện hữu trước, đã có sẵn rồi thì bằng
cách nào để có thể tri nhận được (* ý là bằng cách nào
để có thể có được kiến văn giác tri vì có lục căn mới
có kiến văn giác tri do đó mới có thể biết là đã có bản
trụ-thần ngã).
Nếu tách rời mắt, tai vân
vân... các căn nhưng (thần ngã) bản trụ vẫn hiện hữu thì
lẽ ra tách rời bản trụ (thần ngã) cũng vẫn có các căn
như mắt, tai vân vân... (Các căn như mắt, tai vân vân... vẫn
hiện hữu).
Do (vì có) pháp nên biết có
người, và vì (có) người nên biết có pháp, tách lìa pháp
thì làm thế nào có người, tách lìa người thì làm sao có
pháp?
Tất cả các căn như mắt,
tai vân vân... thật sự đã không có (cái gọi là) bản trụ
(thần ngã). Mắt, tai vân vân... các căn mỗi căn đều có
tướng sai khác để phân biệt (* dị tướng: mỗi căn đều
có tác dụng phân biệt khác nhau như nhãn căn thì có tác dụng
phân biệt về sắc trần, nhĩ căn có tác dụng phân biệt
về hương trần...)
Nếu các căn như mắt vân vân...
đã không có (cái gọi là) bản trụ (thần ngã) thế thì mắt
tai vân vân... mỗi một căn làm thế nào có thể nhận biết
được sắc trần? (ngoại cảnh).
Người thấy tức là, đích
thị là người nghe mà người nghe chính là người cảm thọ
(* thọ giả: có cảm giác vui buồn... Thọ gồm có ba: lạc
thọ, khổ thọ và xả thọ) như thế thì các căn vân vân...
lẽ ra phải có bản trụ (thần ngã).
Nếu người thấy người nghe
(mỗi căn) đều (có sự) sai khác thì người cảm thọ (thọ
giả) (mỗi căn) cũng có sự khác biệt, như vậy thì, khi có
một người thấy thì lẽ ra cũng phải có một người nghe
và như thế thì phải có rất nhiều thần ngã.
Mắt, tai vân vân... các căn,
khổ vui vân vân... các pháp vốn được sinh ra từ các đại
(* các chất đất, nước, gió, lửa...) và trong các đại đó
cũng không có thần ngã.
Nếu mắt, tai vân vân... các
căn, khổ vui vân vân... các pháp (trong chính tự bản thân
của các căn và các pháp) đã không có (cái gọi là) bản
trụ (thần ngã-thực thể) thì lẽ ra mắt vân vân... các căn
cũng không có.
Mắt vân vân... các căn vốn
đã không có bản trụ (thần ngã) thì hiện tại và mai hậu
nhất định cũng không có. Vì ba đời (* quá khứ, hiện tại
và vị lai) đều không có nên (tất cả các pháp không có,
và, vì các pháp không có, nên) không có sự phân biệt (vô
phân biệt).
________________
PHẨM
THỨ MƯỜI:
QUÁN
LỬA VÀ NHIÊN LIỆU
Nếu lửa chính là nhiên liệu
thì tác nghiệp (nghiệp được tạo tác) và tác giả là một,
là đồng nhất, và nếu lửa không là nhiên liệu, là khác
nhiên liệu thì khi tách rời nhiên liệu đương nhiên lửa
vẫn (có khả năng) hiện hữu.
Như thế thì lửa tự nó phải
cháy một cách hằng vĩnh và không cần phải có cái nhân là
nhiên liệu mới khởi sanh. Thế thì không cần hỏa công đốt
lên, (nên) cũng gọi là lửa vô tác (có lửa không được
tạo tác ra).
Lửa đã không đợi, không
mượn nhờ vào nhiên liệu (mới hiện hữu) thì rõ ràng nó
cũng đã không phải được sanh ra từ nhân duyên và, lửa
nếu tự nó đã cháy một cách hằng vĩnh thì cần gì đến
nhân công (nhân công lẽ ra cũng Không, không có).
Nếu ông bảo rằng chính lúc
đang cháy đích thị là (gọi là) nhiên liệu như vậy khi ấy
chỉ có nhiên liệu thôi thế thì vật gì đốt nhiên liệu?
Nếu nhiên liệu là cái gì
khác thì không thể vói tới được, mà đã không vói tới
được thì không thể bắt lửa và đã không thể bắt lưa
thì đó chính là không tắt-bất diệt, mà đã bất diệt thì
thường trụ bất biến.
Lưa và nhiên liệu nếu là
khác nhau thì lửa có thể tìm đến với nhiên liệu chẳng
khác nào người này (* trong bản tiếng Phạn thì nói rõ là
người đàn bà) đến với người kia (* bản tiếng Phạn:
đàn ông) và người kia (đàn ông) đến với người này (đàn
bà).
Nếu cho rằng lửa và nhiên
liệu cả hai tách rời nhau, như thế thì, lửa có thể bắt
bén đến nhiên liệu được.
Nếu nhân nhiên liệu có lửa
và nhân lửa có nhiên liệu thì nhất định phải có một
pháp nào trong hai thứ ấy xuất hiện trước để nhiên liệu
và lửa được hiện hữu.
Nếu nhân (nhờ) nhiên liệu
có lửa thì hóa ra lửa đã được hình thành rồi trở lại
hình thành, như vậy thì, trong nhiên liệu không có lửa.
Nếu pháp (nào) được hình
thành nhờ bằng vào sự đối đãi thì pháp đó sẽ trở thành
đối đãi mà hiện tại thì không có nhân đối đãi nên cũng
không có pháp nào được hình thành (bởi sự đối đãi).
Nếu pháp nhờ nương vào sự
đối đãi mà hình thành, vậy thì, khi chưa hình thành làm
thế nào có thể đối đãi nương tựa nhau, và nếu đã thành
rồi (sau đó) mới có sự nương tựa đối đãi như thế thì,
đã thành rồi thì cần chi đến sự đối đãi nương tựa
nữa?
Không phải nhân nhiên liệu
mới có lửa, cũng không phải không nhân nhiên liệu mà có
lửa. Không phải nhân lửa mà có nhiên liệu và cũng không
phải không nhân lửa mà có nhiên liệu. (Dịch cách khác: Nhân
nhiên liệu không có lửa, không nhờ nhiên liệu cũng không
có lửa, Nhân lửa không có nhiên liệu, không nhân lửa cũng
không có nhiên liệu).
Lửa đã không đến từ một
nơi khác ngoài nó (để nhập vào nhiên liệu). Trong nhiên liệu
cũng không có lửa (lửa không đến từ nơi nào khác, nơi
lửa cũng không có lửa). Nhiên liệu cũng như thế, ngoài ra
những khía cạnh khác đều đã được đề cập trong phẩm
Ði và Ðến (*Khứ Lai thứ hai: Sự chuyển động và không
chuyển động).
Và, nhiên liệu chính nó không
phải là lửa, nhưng tách rời nhiên liệu thì không có lửa.
Lửa không hiện hữu trong nhiên liệu, nhiên liệu cũng không
hiện hữu trong lửa và, trong nhiên liệu cũng không có lửa.
Sử dụng pháp lửa và nhiên
liệu để trình bày pháp thọ và thọ giả (* thọ: ngũ ấm;
thọ giả: người), ngoài ra cũng để trình bày về cái bình,
chiếc áo vân vân..., tất cả các pháp.
Nếu người nào bảo rằng
có cái (thật) ngã và các pháp đều có tướng sai biệt thì
phải hiểu rằng những người như thế không nếm được
pháp vị của Phật (không liễu giải giáo lý của Phật).
__________________
PHẨM
THỨ MƯỜI MỘT:
QUÁN
SÁT BẢN TẾ
(* Trong tiếng
Phạn Pùrvàpara-koti-parĩksa
có nghĩa
Biên Tế Trước Sau)
Ðấng đại thánh (Phật) đã
dạy rằng: không thể nào tìm thấy được cái biên tế căn
bản tối sơ vì sự sanh tử đã không có sự bắt đầu (thủy)
và lại cũng không có sự kết thúc (chung).
Nếu không có sự bắt đầu
và kết thúc (thủy chung) thì khoảng giữa của sự bắt đầu
và kết thúc làm thế nào có thể có được, vì thế mà,
trong đó không có trước, khoảng giữa và sau (tam tế).
Giả định rằng vì trước
đã có sự sanh ra nên sau đó mới có sự suy lão và tử vong,
(như thế thì), không có sự suy lão và tử vong mà vẫn có
sự sống, sự sanh trưởng (trước đó) và, không có sự sanh
ra mà vẫn có sự già và chết.
Nếu trước đã có già và
chết rồi (nên) sau đó mới có sự sanh trưởng (ra đời)
như thế thì là không có nguyên nhân (vì không có nguyên nhân
nên mới có sự việc là) không hề sanh trưởng ra mà vẫn
có sự già chết!
Sự sanh trưởng, sự suy lão
và sự chết chóc đã chẳng phải (được) xảy ra đồng lúc
vì như thế thì ngay đang khi sanh ra cũng là lúc đang chết,
vậy thì cả hai đều (ở trong trường hợp là) không có nguyên
nhân.
Nếu giả định rằng cái trước
(* trước có sanh sau mới có chết), cái sau (* trước có chết
sau mới sanh) và hai cái cọng lại (* chết sống xuất hiện
đồng thời) thì đều không đúng vậy, đã không đúng thì
tại sao lại phải hý luận cho rằng có sự sanh trương, sự
suy già và sự chết chóc?
Các nhân và quả sở hữu (nhân
và quả đã có được), các pháp tướng và khả tướng, thọ
và thọ giả vân vân... tất cả các pháp sở h ữu (hiện
có) chẳng những không chỉ không tìm thấy được cái biên
tế cội gốc tối sơ (bản tế) trong sanh tử luân hồi mà
ngay như tất cả các pháp cũng thế, không hề có cái bản
tế (biên tế tối sơ) đó.
______________
PHẨM
THỨ MƯỜI HAI:
QUÁN
SÁT VỀ SỰ THỐNG KHỔ
Một số người quan niệm rằng
sự khổ đau hoặc do chính mình tự tạo, hoặc do những điều
kiện, yếu tố khác tạo ra, hoặc do cả hai (kết hợp tạo
ra) mà cũng có thể là không do bất cứ nguyên nhân nào. Những
quan niệm về sự khổ đau như thế đã hoàn toàn không đúng
với cái quả của sự khổ.
Sự khổ đau nếu là do chính
mình (tự) tạo ra thì nó đã không phải được sanh ra từ
các Duyên, vì nhân nhờ có ấm này nên (mới) có ấm kia sanh
ra (* ấm tức là uẩn. Ấm là ngăn che, chữ do Ngài La Thập
dịch. Uẩn là chứa nhóm, do Ngài Huyền Trang dịch từ chữ
kiền độ (skandha); có một số người khác dịch là chúng).
Nếu cho rằng năm ấm này là
khác biệt hoàn toàn với năm ấm kia thì lẽ ra phải nói rằng
khổ đau đã được tạo nên từ những yếu tố khác.
Nếu sự khổ đau là do chính
con người tạo ra như thế thì, khi tách rời khỏi sự khổ
đau, làm thế nào con người có thể hiện hữu (làm sao có
con người) mà bảo rằng người đó (có khả năng) tự tạo
khổ đau cho chính mình.
Nếu khổ đau là do tha nhân
(người khác) tạo ra rồi đem gán cho người này nếu thế
thì, đang khi tách rời sự đau khổ (khoảng giữa sự chuyển
tiếp) làm thế nào có thể có người thọ khổ này.
Khổ đau nếu là do người
khác (kia) tạo ra rồi đem gán cho người này như vậy thì,
làm thế nào có thể có một con người đã thoát ly sự đau
khổ nhưng vẫn có khả năng trao sự khổ đau cho người này?
Tự mình tạo tác nếu đã
bất thành thì làm thế nào có thể tạo ra sự khổ đau cho
kẻ khác được, và nếu người khác kia tạo ra sự khổ thì
cái khổ đó tức cũng được gọi là tự tạo tác (* vì người
khác đã tự tạo thì sự tạo tác của chính họ đích thực
là sự tự tác).
Không thể bảo (gọi) rằng
sự khổ đau là tự tác (là một cái gì tự hình thành, tự
tạo ra) vì lẽ chính pháp không thể tự tạo tác ra pháp,
cũng thế, sự đau khổ đó vốn đã không có tự thể thì
làm thế nào nó lại có khả năng tạo ra sự thống khổ.
Nếu sự khổ đau được tựu
thành bởi cái này và cái kia (* tự tạo và do người khác
tạo-tự tác và tha tác) thì lẽ ra phải có cái khổ được
thành tựu bởi sự cộng tác (* tự và tha cọng lại tạo
ra khổ). Cái này và cái kia (tự mình và người khác) vẫn
còn không thể tạo nên sự thống khổ huống chi là không
có nguyên nhân (mà có thể) tạo ra.
Chẳng phải chỉ đề cập
đến bốn loại ý nghĩa (* tự tác, tha tác, cọng tác và vô
nhân tác) của sự khổ đau đều không thể thành lập mà
tất cả vạn vật ngoại thân (bên ngoài) đều cũng không
thể thành lập nếu y cứ vào bốn nghĩa trên để quan sát.
________________
PHẨM
THỨ MƯỜI BA:
QUÁN
SÁT CÁC HÀNH
Như trong các kinh, đức Phật
đã dạy: hư huyễn không thật (* hư cuống-Mrsà) chính là
vọng tưởng thủ chấp vào cảnh tướng (* Mosadharma) (hiện
tượng hiện khởi). Vì do vọng ttưởng thủ chấp vào các
hành nên gọi đó là hư cuống.
Kẻ vọng tưởng (suy tưởng
mê lầm không thật) chấp thủ (bám giữ) vào những tướng
hư huyễn không thật ấy thử hỏi trong (các hành) đó cái
gì là sở thủ (cảnh tướng bị chấp giữ)? Ðức Phật chỉ
dạy những sự việc như thế là vì muốn hiển thị Không
Nghĩa (* ý nghĩa của Không tánh).
Vì các pháp hữu vi đều sanh
diệt biến dị (biến dịch thay đổi miên tục) thế nên biết
rằng (các pháp) đều không có tự tánh (vô tánh). Và ngay
cả (cái gọi là) Pháp không có tự tánh (pháp vô tự tánh)
đó cũng không có nốt nên, tất cả các pháp đều Không vậy.
(không có thật thể).
Các pháp nếu không có tự
tánh, thế thì, làm thế nào có thể bảo rằng có (rất nhiều)
sự thay đổi biến dị từ khi là một trẻ con cho đến lúc
tuổi già? (* từ một đứa trẻ mới sanh đến lúc tuổi già
vẫn có các thứ thay đổi).
Nếu các pháp mà có tự tánh
thì làm thế nào có thể thay đổi biến dị được? và nếu
các pháp không có tự tánh thì tại sao có sự thay đổi biến
dị?
Chính nópháp (một pháp này)
thì không có thay đổi biến dịch và Pháp biến dị thay đổi
thì cũng không có thay đổi biến dịch giống như trẻ không
tạo ra già và cũng không thể trẻ tạo ra trẻ được. (*tráng
niên không thể tạo ra lão niên và lão niên không thể tác
thành tuổi tráng niên).
Nếu tự thể của pháp chính
là sự thay đổi biến dị thì lẽ ra sữa cũng phải chính
là bơ nhưng khi tách rời sữa ra thì nào có pháp gì khác để
có thể làm thành bơ!
Nếu có một pháp nào chẳng
Không thì lẽ ra cũng phải có một pháp nào đó gọi là Không,
nhưng thật tế thì đã không có cái pháp gọi là chẳng Không
thế thì làm thế nào có thể có được cái pháp gọi là
Không? (không pháp).
Ðấng Ðại Thánh (đức Phật)
dạy rằng: Không Pháp là viễn ly các kiến chấp, nhưng nếu
trở lại chấp thấy có cái Không (kiến chấp về Không),
thì chư Phật cũng không thể hóa độ.
________________
PHẨM
THỨ MƯỜI BỐN:
QUÁN
SÁT SỰ HÒA HỢP
Cái thấy (* kiến: nhãn căn),
đối tượng bị thấy (* khả kiến: sắc trần ) và người
thấy (* kiến giả: nhãn thức) ba cái này mỗi một cái ở
một phương vị khác biệt mà ba pháp (cái) đã sai biệt như
thế thì hoàn toàn không thể có một lúc nào đó sẽ có sự
hòa hợp được.
Sự tham đắm, đối tượng
của sự tham đắm và người tham đắm cũng phải được quán
sát như thế, ngoài ra, các Nhập (*năm nhập: nhập là sự
liên quan ra vào như trong kinh thường gọi lục nhập...) khác
và phiền não vân vân... đều cũng nên quán sát như thế.
Nếu là pháp (vật gì) sai khác
thì đương nhiên (phải) có sự hòa hợp, nhưng, cái thấy
vân vân... không có tướng sai khác, và vì tướng sai khác
đã bất thành (không thể thành lập) nên cái thấy vân vân...
làm thế nào có thể hòa hợp được?
Chẳng những không chỉ có
đối tượng của cái thấy vân vân... (* đối tượng bị
thấy và người thấy) không thể tìm thấy được tướng
sai biệt của nó không thôi mà ngay cả tất cả pháp hiện
hữu đều cũng không thể tìm thấy tướng sai biệt (dị tướng).
Sở dĩ sai biệt (* các duyên
hòa hợp thành một pháp) là vì cái nhân sai biệt (nhân hòa
hợp những sai biệt) nên có sự sai biệt. Sai biệt mà tách
rời sự sai biệt thì không còn là sai biệt. Nếu pháp đã
từ nhân xuất sanh (nguyên nhân) thì pháp ấy không khác nhân.
Nếu tách rời nơi cái sai khác
ấy mà vẫn có pháp sai khác thì lẽ ra ngoài sự sai biệt
vẫn có sự sai biệt (sự sai biệt vẫn hiện hữu). Nhưng,
khi tách rời khỏi nơi sai biệt thì không còn là sai biệt,
vì thế nên, không có sai biệt.
Trong sự sai biệt không có
tướng sai biệt, không phải ở trong sự sai biệt cũng không
có tướng sai biệt, vì không có tướng sai biệt nên không
có sự sai biệt giữa cái này và cái kia.
Tự thể của (một) pháp không
thể tự hòa hợp, pháp sai biệt khác cũng không thể hòa hợp.
Pháp được hòa hợp, thời điểm để hòa hợp và chủ thể
đứng ra hòa hợp đều không thể có được. (hợp giả, hợp
thời, hợp pháp).